1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4, 5

91 376 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4, 5..... Mục đích của đề tài là ứng dụng trò chơi vào trong dạy học phân mô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=====o0o=====

TRẦN QUỲNH TRANG

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã nhận được sự giúp đỡ của cácthầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình và quan tâm của cô giáo ThS Vũ Thị Tuyết.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô và cô giáo hướng dẫn trựctiếp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót,rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Trần Quỳnh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Cấu trúc đề tài 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4, 5 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 4,5 8

1.1.2 Lí thuyết về từ và câu 11

1.1.3 Khái quát về trò chơi 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu 21

1.2.2 Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu 23

1.2.3 Định hướng trong việc tổ chức dạy học LTVC 27

1.2.4 Các kiểu bài tập trong phân môn Luyện từ và câu 29

1.2.5 Các kiểu bài học trong phân môn LTVC 29

1.2.6 Quy trình dạy học LTVC 30

1.2.7 Thực tiễn việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn LTVC lớp 4, 5 33

Trang 5

Chương 2 THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG PHÂN MÔN

LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4, 5 39

2.1 Nguyên tắc lựa chọn và thiết kế trò chơi học tập 39

2.1.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi học tập 39

2.1.2 Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập 39

2.2 Quy trình lựa chọn và tổ chức trò chơi học tập 41

2.3 Cấu trúc của trò chơi học tập 43

2.4 Yêu cầu chung khi tổ chức trò chơi học tập 43

2.4.1 Đối với giáo viên 43

2.4.2 Đối với học sinh 44

2.5 Lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập 44

2.6 Thiết kế trò chơi học tập trong phân môn LTVC lớp 4, 5 45

2.6.1 Trò chơi “Phân biệt nhanh” 46

2.6.2 Trò chơi “Xếp trật tự” 47

2.6.3 Trò chơi “Đoán từ” 48

2.6.4 Trò chơi “Hái hoa đố chữ” 48

2.6.5 Trò chơi “Mật mã” 49

2.6.6 Trò chơi “Bức tranh diệu kì” 51

2.6.7 Trò chơi “Câu cá vàng” 52

2.6.8 Trò chơi “Phóng viên” 54

2.6.9 Trò chơi “Đấu trường 45” 55

2.6.10 Trò chơi “Bông hoa đẹp nhất” 57

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 59

3.3 Nội dung thực nghiệm 60

3.4 Phương pháp thực nghiệm 61

Trang 6

3.5 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 61

3.6 Kết quả thực nghiệm 62

3.7 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 64

3.7.1 Khả năng hoàn thành bài tập của học sinh 64

3.7.2 Hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò chơi 65

3.7.3 Mức độ chú ý của học sinh 67

3.8 Giáo án thực nghiệm 68

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 7

Vì vậy trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi giáodục đào tạo nói chung và trường tiểu học nói riêng phải xác định rõ nhữngmục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp với xu thế phát triển của đất nước.

Trường tiểu học là nơi đánh dấu bước ngoặt trong đời sống của trẻ, nó

mở ra cánh cửa diệu kỳ đầy bí ẩn, đưa các em đến thăm một thế giới mới lạvới biết bao tri thức mới Có nhiều môn học mà HS phải làm quen trong đó cómôn Tiếng Việt với các phân môn như: Chính tả, Tập đọc, Kể chuyện, Tậplàm văn, Luyện từ và câu… Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ giúp học sinhchiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp

Luyện từ và câu là một phân môn trong chương trình Tiếng Việt tiểuhọc Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình, nó đảm nhiệmviệc rèn luyện và phát triển cho học sinh kĩ năng giao tiếp thông qua việc pháttriển vốn từ; rèn luyện kĩ năng sử dụng từ chính xác, tinh tế để đặt câu; rènluyện kĩ năng tạo lập câu và sử dụng câu phù hợp với tình huống giao tiếp _một trong những kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiêntrong chương trình phổ thông Phân môn học này đóng vai trò quan trọngtrong việc rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

Phương pháp tổ chức trò chơi học tập được coi là một trong những phươngpháp dạy học tích cực Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến, để tổchức cho học sinh học tập có hiệu quả ở nhiều môn học trong chương trìnhtiểu học như môn Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên xã hội, Đạo đức… Sử dụng tròchơi trong dạy học là một trong những xu hướng của dạy học hiện đại

Trang 8

Khổng Tử đã từng dạy học trò rằng: “Biết mà học, không bằng thích màhọc, thích mà học không bằng vui say mà học” Vì vậy một trong những giảipháp đảm bảo sự thành công trong dạy học cho học sinh Tiểu học là tạo được

sự hứng thú nhận thức cho các em Trò chơi với tính hấp dẫn tự thân củamình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả,kích thích sự hứng thú nhận thức, niềm say mê học tập và tích cực sáng tạo ởhọc sinh

Trong thực tế, phân môn Luyện từ và câu ngày càng được quan tâm,chú ý Nhiều chương trình mới được xây dựng, nhiều phương pháp và hìnhthức dạy học mới được nghiên cứu và ứng dụng đã mang lại những hiệu quảgiáo dục đáng trân trọng Tuy nhiên, người giáo viên Tiểu học phần lớn mớichỉ chú ý đến việc bằng mọi cách cung cấp hết kiến thức trong sách giáokhoa mà ít quan tâm đến thái độ cảm xúc của trẻ Chính vì vậy nhiều tiết học

đã trở nên nặng nề, mệt mỏi đối với học sinh Nhất là trong giai đoạn hiệnnay, khi áp lực do đòi hỏi từ phía xã hội, gia đình, nhà trường nên đứa trẻcàng lớn thì ngày càng xuất hiện những học sinh sợ mà học chứ không phảithích mà học Để khắc phục nhược điểm này, cũng có một số giáo viên đãđưa trò chơi vào trong dạy học và giáo dục Tuy nhiên, do các trò chơi thiếutính hấp dẫn và chưa có tổ chức thích hợp nên đã không có được hiệu quảdạy học như mong muốn

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài:

“Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4, 5” Mục đích của đề tài là ứng dụng trò chơi vào trong dạy học phân môn

Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5 bậc Tiểu học; nhằm giúp cho học sinhlĩnh hội các kiến thức về từ và câu, đảm bảo nguyên tắc “học mà chơi, chơi

mà học”

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Việc tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả nhất là vấn đề đã được nhiềunhà khoa học, nhà cải cách giáo dục quan tâm Từ thập kỉ 60 của thế kỉ XX, ởnước ta việc nghiên cứu giảng dạy theo hoạt động trò chơi trong các phânmôn được đặt ra nhưng nó mới chỉ trên cơ sở lí luận Có thể khái quát các kếtquả nghiên cứu trò chơi học tập theo các hướng sau đây:

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu các trò chơi học tập nói chung

Trò chơi học tập không phải là vấn đề mới Vào những năm 40 của thế kỉ

XX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như P.A.Bexonova, OP Senima,E.A.Pokrovxki đã đánh giá cao vai trò của giáo dục, đặc biệt là tính hấp dẫncủa trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo E.A.Pokrovxki trong lời đề

tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc

biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga Bên cạnh kho tàng trò chơihọc tập, trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi học tập khác do cácnhà giáo dục có tên tuổi xây dựng

Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi học tập làm phương tiệnphát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người TiệpKhắc I.A.Komenxki (1592 - 1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt độngcần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi học tập làmột dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em đượcphát triển, mở rộng hơn vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vuisướng của tuổi thơ là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Konenxki

đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướngdẫn, chỉ đạo cho trẻ

Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạyhọc được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm ngườiĐức Ph.Phroebel (1782 - 1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý

Trang 10

tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi, trẻnhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi,nhận thức được những quy luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thânmình Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tích cực của trẻ trong khi chơi.Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có của trẻ, ông

đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làmgiàu vốn ngôn ngữ cũng như phát triển trí tư duy, tưởng tượng của trẻ

I.B.Bazedow cho rằng trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếutrên triết học giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiếnhành triết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học

và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi họctập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kĩ năng, trò chơi đoán từtrái nghĩa, điền những từ còn thiếu,…Theo ông những trò chơi này mang lạicho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng

Vào những năm 30 - 40 - 60 của thế kỉ XX, vấn đề sử dụng trò chơi họctập trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucvoxikaia,VR.Bexpalona, E.I.Udalsova,… R.I.Giucvoxikaia đã nâng cao vị thế dạy họcbằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dướihình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là một hình thức dạy học,giúp người học lĩnh hội những tri thức mới Từ những ý tưởng đó bà đã soạn

ra một số “tiết học - trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.Trong quá trình đổi mới nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiềunhà giáo dục trong nước nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi nhằm

hoàn thiện hứng thú học tập cho các em, có thể kể đến cuốn: “Trò chơi ở tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho HS” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sỹ Tụng và Trần Quang Đức

(đồng chủ biên) Ở các tài liệu này tác giả đã đề cập rất rõ vai trò cũng như tác

Trang 11

dụng của trò chơi và đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng và tổ chức trò chơi trong môn học cụ thể.

Hướng thứ 2: Nghiên cứu các trò chơi học tập trong phân môn Luyện

từ và câu

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu vànhiều ý kiến xung quanh trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập trongquá trình dạy học phân môn Luyện từ và câu:

Theo Nguyễn Trí, dạy học ở bậc tiểu học nhất là các lớp 1, 2, 3 nếu biết

sử dụng đúng lúc đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác dụng rất tích cực,kích thích hứng thú học tập và tạo chất lượng cao cho bài học Tiếng Việt.Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (tác giả cuộc thi viếtsách bài tập và sách tham khảo) của Nhà xuất bản Giáo dục đã nêu ra nhữngvấn đề cơ bản:

- Đưa trò chơi vào lớp học nhằm mục đích gì?

- Trò chơi nào có thể đưa vào lớp học?

- Trò chơi được sử dụng vào lúc nào?

- Tổ chức trò chơi trong giờ học như thế nào?

Tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên) khi biên soạn tài liệu sử dụng tròchơi học tập trong phân môn Tiếng Việt lớp 2, 3 đã chú ý tới trò chơi cụ thểphù hợp với từng phân môn, tuy nhiên các tác giả không đi sâu vào từng địabàn, từng đối tượng HS để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi

học tập như luận văn thạc sĩ “Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Tiếng việt cho học sinh lớp 2” của Trần Thị Tâm, luận văn thạc sĩ “Tổ chức trò chơi cho học sinh trong dạy học môn Tập đọc ở tường Tiểu học” của Phạm Thị Vui; khóa luận tốt nghiệp đại học “Thiết kế trò chơi học tập trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3” của bạn Trương Thị Mỹ Hoa…

Trang 12

Điểm qua các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập nói chung vàtrong phân môn Luyện từ và câu nói riêng, chúng tôi thấy chủ yếu các côngtrình đi vào diện rộng quan tâm giới thiệu các trò chơi và một số ví dụ về cách

tổ chức Việc xem xét các biện pháp cụ thể để tổ chức các trò chơi trong giờhọc phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5 vẫn chưa có công trìnhnào đi sâu xem xét Đây chính là khoảng trống dành cho đề tài của chúng tôi

đi tiếp

3 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế các trò chơi học tập sử dụng trong phân môn Luyện từ và câulớp 4, 5 nhằm giúp HS chiếm lĩnh các kiến thức tiếng Việt một cách tự nhiên,

từ đó góp phần nâng cao năng lực giao tiếp cho các em

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải thực hiện những nhiệm vụ cơbản sau:

- Tổng hợp vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài

- Thiết kế các trò chơi học tập được sử dụng trong phân môn LTVC ởlớp 4 và lớp 5

- Thiết kế một số giáo án LTVC cho học sinh lớp 4, 5 trong đó có sửdụng trò chơi học tập

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Các trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4, 5

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ khóa luận, phạm vi nghiên cứu đề tài này chỉ xindừng lại ở việc sử dụng các trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ vàcâu lớp 4, 5

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp điều tra, khảo sát

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN

LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4, 5 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 4,5

1.1.1.1 Đặc điểm nhận thức

a Chú ý của HS tiểu học

Chú ý là một trạng thái tâm lí của HS giúp các em tập trung vào mộthay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cáchtốt nhất Lứa tuổi tiểu học có hai loại chú ý: chú ý không chủ định và chú ý

có chủ định

Đặc điểm chú ý của HS lớp 4, 5: ở cuối bậc tiểu học trẻ dần hình thành

kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần

và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập nhưhọc thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài Trong sự chú

ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượngđược khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoànthành công việc trong khoảng thời gian quy định

b Trí nhớ của HS tiểu học

Trí nhớ là quá trình tâm lí giúp HS ghi lại, giữ lại những tri thức cũngnhư cách thức tiến hành hoạt động mà các em tiếp thu được khi cần có thểnhớ lại, nhận lại Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không cóchủ định

Đặc điểm trí nhớ của HS lớp 4, 5: giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ của học sinh

có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã pháttriển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫncủa nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em

Trang 15

c Tưởng tượng của HS tiểu học

Tưởng tượng của HS là một quá trình tâm lí nhằm tạo ra các hình ảnhmới dựa vào các hình ảnh đã biết Ở học sinh tiểu học có hai loại tưởngtượng: tưởng tưởng tái tạo và tưởng tưởng sáng tạo

Ở giai đoạn lớp 4, 5 tính có mục đích, có chủ định trong tưởng tượng của

HS tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi Do yêu cầu của hoạt động học, HSmuốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng

d Tư duy của HS tiểu học

Tư duy của học sinh tiểu học là quá trình mà các em hiểu được, phản ánhđược bản chất của đối tượng, của các sự vật hiện tượng được xem xét nghiêncứu trong quá trình học tập của học sinh Có hai loại tư duy: tư duy cụ thể và

tư duy trừu tượng

Ở cuối bậc tiểu học, tư duy trừu tượng của HS bắt đầu chiếm ưu thế sovới tư duy cụ thể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằngcách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại kí hiệu quy tắc

1.1.1.2 Đặc điểm tâm, sinh lí

Muốn sử dụng phương pháp trò chơi có hiệu quả, đạt được mục đích đề

ra ngoài việc nắm vững mục tiêu giáo dục cần hiểu một số đặc điểm tâm sinh

lí của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4, 5 nói riêng Vì đây chính

là cơ sở khoa học của việc xác định mục tiêu, nội dung, đồng thời là điều kiệnlựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức trò chơi cho học sinh Theo giáo

trình Tâm lí học Tiểu học của tác giả Bùi Văn Huệ, đặc điểm tâm sinh lí của

HS Tiểu học nói chung và của học sinh lớp 4, 5 nói riêng có một số đặc điểmnhư sau:

- Tính thiếu kiên trì, thiếu bền bỉ Do cơ thể các em chưa hoàn thiện vìcác chức năng sinh lí (hệ thần kinh, hệ xương) vì vậy các em dễ bị mỏixương, mỏi cơ trong quá trình học tập, hoạt động

Trang 16

- Tính hưng phấn nhưng cũng dễ chán nản Khi được khích lệ các em dễ

bị kích động, dễ hưng phấn, xuất hiện những biểu hiện nhiệt tình, say sưa, dễcười, dễ khóc Khi gặp rủi ro, thất bại các em sẽ dễ chán nản, bi quan, mấtlòng tin, dễ có hoạt động xốc nổi, buồn, dỗi, khóc Đây là một trong nhữngđặc điểm cần lưu ý khi tiến hành các hoạt động vui chơi cho trẻ

- Trẻ giàu cảm xúc, cả tin, dễ chia sẻ với bạn bè và người mình tin yêu

Vì dễ có cảm xúc lại thiếu kinh nghiệm sống nên các em hay tin người, tinvào những điều tốt đẹp và luôn mong muốn chia sẻ, giúp đỡ người khác vàcũng mong muốn an ủi, giúp đỡ từ người khác

- Đặc điểm về năng lực hoạt động trí tuệ Trẻ em thường hiếu động thíchcác hoạt động mang tính chất vui chơi, giải trí Tuy nhiên khả năng kiềm chế

và thao tác chân tay của các em còn vụng về, thiếu linh hoạt

- Đặc điểm nhận thức, tư duy của các em: trẻ em nhận thức cảm tính làchủ yếu, nhận thức lí tính chưa phát triển Tư duy trực quan chiếm ưu thế, tưduy trừu tượng còn hạn chế Trẻ em chưa có khả năng chú ý lâu dài, có trínhớ tốt nhưng gắn với ghi nhớ máy móc, ghi nhớ cụ thể

1.1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Nhờ có ngôn ngữphát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với quá trình nhận thức tình cảm

và lí tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy và tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được hiểu cụ thể thông qua ngôn ngữ nói

và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ, ta có thể đánhgiá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Khó có thể kết luận năng lực từ ngữ của học sinh một cách chính xác vàtoàn diện bởi lẽ khảo sát vốn từ cũng như khả năng sử dụng vốn từ của các

Trang 17

em là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp Song qua nhiều lỗi dùng từ

mà học sinh lớp 4, 5 thường mắc phải trong khi làm bài và trong giao tiếphàng ngày có thể thấy rằng năng lực từ ngữ của các em còn chưa thật sự tốt.Nhiều em còn nhầm lẫn giữa từ đồng âm hoặc gần âm Một số từ các em dùng

từ chưa đúng do không hiểu hoặc chưa nắm quy tắc kết hợp với các từ khác

1.1.2 Lí thuyết về từ và câu

1.1.2.1 Từ

a Khái niệm từ

Hiện nay có khoảng hơn 300 định nghĩa khác nhau về từ Tác giả Đỗ

Hữu Châu cho rằng: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những khoảng cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [19, tr.16]

Phương thức tạo từ là những cách thức tác động khác nhau vào hình vị

để tạo ra những từ mới Theo tác giả Đỗ Hữu Châu có 3 phương thức tạo từ:phương thức từ hóa, phương thức láy, phương thức ghép

Các tiêu chí nhận diện từ:

- Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có âm thanh được biểu thị bằng một hoặcmột hoặc một số âm tiết

- Từ là đơn vị mang nghĩa

- Từ có cấu tạo hoàn chỉnh

Trang 18

- Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo nên câu.

c Phân loại từ

Có rất nhiều cách phân loại về từ, dưới đây là một số cách phân loại từthông dụng

Phân loại từ theo cấu tạo, từ được chia thành từ đơn và từ phức:

- Từ đơn: là từ do một hình vị tạo thành Trong TV có từ đơn một âm tiết

và từ đơn đa âm tiết VD: đẹp, xấu,…

- Từ phức: gồm từ ghép và từ láy

+ Từ ghép: là từ có hai hình vị trở lên Căn cứ vào quan hệ giữa cácthành tố trong từ ghép thì chúng ta chia thành từ ghép đẳng lập và từ ghépchính phụ VD: hoa lá, đẹp xấu,…

+ Từ láy: là từ được cấu tạo bởi hai hình vị trở lên, trong đó giữa cáchình vị có mối quan hệ về ngữ âm Căn cứ vào số lượng âm tiết của từ chialàm láy đôi, láy ba và láy bốn VD: sang sảng, trong trắng,…

Phân loại từ theo ý nghĩa, từ được chia thành từ một nghĩa, từ nhiềunghĩa, từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa:

- Từ một nghĩa: là từ chỉ có một nghĩa duy nhất….VD: định luật, định lí,vận tốc, …

- Từ nhiều nghĩa: là từ có từ hai nghĩa trở lên, các nghĩa trong từ nhiềunghĩa gồm hai loại nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giữa các nghĩa của từ bao giờcũng có quan hệ với nhau

VD: ngôi nhà đã được xây xong (công trình xây dựng để ở, làm việc)

Cả nhà đều có mặt đông đủ (gia đình, những người sống cùng nhà)

- Từ đồng nghĩa: là những từ có nghĩa giống nhau Từ đồng nghĩa đượcphân thành từ đồng nghĩa hoàn toàn và từ đồng nghĩa không hoàn toàn

VD: con lợn = con heo, xe lửa = tàu hỏa,…

- Từ trái nghĩa: là những từ có nghĩa trái ngược nhau, sử dụng từ tráinghĩa nhằm mục đích làm nổi bật những sự việc, tính chất đối lập với nhau

Trang 19

VD: đứng - ngồi, vui - buồn,…

Phân loại từ theo nguồn gốc, từ được chia thành từ thuần việt và từvay mượn:

- Từ thuần việt: ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việttiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn - Âu, các từ còn lại là từ thuầnViệt Cụ thể đó là những từ biểu thị các sự vật, hiện tượng cơ bản nhất và tồntại từ lâu đời

VD: giàu mạnh, to lớn, cha mẹ,…

- Từ vay mượn: là từ mượn từ tiếng nước ngoài để làm phong phú thêmcho vốn từ vựng của ngôn ngữ việt Từ vay mượn gồm có từ Hán Việt và từvay mượn ngôn ngữ Ấn - Âu

+ Từ Hán Việt: là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếngTrung Quốc nhưng đọc theo âm Việt VD: thiên, địa, tử, tam,…

+ Từ vay mượn ngôn ngữ Ấn - Âu: nửa cuối thế kỉ XIX, từ ngữ tiếngPháp đã xâm nhập vào tiếng Việt khá nhiều, thông qua đó một số từ ngữ củanhững ngôn ngữ Ấn - Âu khác như tiếng Anh hay tiếng Nga cũng đi vào tiếngViệt VD: đĩa cứng, nhà văn hóa, giết thời gian,…

Phân loại từ theo phạm vi sử dụng, từ được chia thành từ toàn dân và

a Khái niệm câu

Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, diễn đạt một nội dung, thông tinđầy đủ và trọn vẹn, câu là tập hợp các từ Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về

Trang 20

câu, trong cuốn “từ vựng và ngữ nghĩa tiếng Việt” tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” [19, tr.106]

b Đặc điểm của câu

- Tính độc lập về mặt ngữ pháp

- Câu bao giờ cũng có một ngữ điệu kèm theo nhất định

- Câu bao giờ cũng phải mang một nội dung thông báo

- Câu bao giờ cũng phải thể hiện một tình thái nhất định Đó là thái

độ chủ quan của người nói đối với hiện thực khách quan và với đối tượnggiao tiếp

c Phân loại câu

Có hai cách phân loại câu đó là phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp vàphân loại câu theo mục đích nói

 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp: câu được chia thành câu đơn,

câu phức và câu ghép:

- Câu đơn: gồm câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt

+ Câu đơn bình thường: là câu được tạo nên bởi một kết cấu chủ vịnòng cốt

VD: Thất bại // là mẹ thành công.

CN VN + Câu đơn đặc biệt là “kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (có thể

có thêm các thành phần ngoài nòng cốt câu), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ” [2, tr.152]

Trang 21

VD: Điều mà anh nói với tôi là đúng.

Sản phẩm do công ty này sản xuất rất chất lượng.

+ Câu phức được phân loại thành: câu phức chủ ngữ, câu phức vị ngữ,câu phức trạng ngữ, câu phức định ngữ và câu phức bổ ngữ

- Câu ghép:

+ Định nghĩa: Câu ghép là “câu được làm thành từ hai cụm chủ vị trở lên, mỗi cụm chủ vị đó tương đương một nòng cốt câu đơn, tức là không cụm chủ vị nào bao hàm cụm chủ vị nào” [2, tr.200]

+ Câu ghép phân loại thành câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ

VD: Mưa to và gió lớn.

Vì trời mưa nên tôi không đi chơi.

 Phân loại câu theo mục đích nói: phân loại câu theo mục đích

VD: Ngoài kia, bầu trời trong xanh như ngọc.

Câu nghi vấn là kiểu câu dùng để hỏi những thông tin chưa biết hoặc biết

ít, chưa hiểu hết, còn hoài nghi và cần được nghe trả lời, giải thích Câu nghivấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi (?) và có các từ để hỏi (mấy, bao nhiêu, ai,nào, đâu, sao, bao giờ, chưa, gì…)

Trang 22

VD: Bạn đã ăn cơm chưa?

Câu cầu khiến là kiểu câu dùng để tỏ ý muốn nhờ vả, đề nghị, mongmuốn hoặc bắt buộc ai đó thực hiện điều nêu lên trong câu Câu được tạobằng trợ từ, phụ từ Nhấn giọng vào nội dung mệnh lệnh Câu cầu khiến kếtthúc bằng dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm (.) và thường có các từ ngữ thểhiện yêu cầu (hãy, đừng, chớ…)

VD:Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi.

Câu cảm thán là kiểu câu dùng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm (vui mừng,thán phục, đau xót, ngạc nhiên…) đối với người nghe hoặc sự vật, hiện tượngđược nói tới trong câu Câu được tạo bởi những thán từ Câu cảm thán thườngkết thúc bằng dấu chấm than (!) và có các từ bộc lộ tình cảm, cảm xúc (ôi, ối,

ủa, ái chà, chao ôi,…)

VD: Chao ôi! Thế là mùa xuân mong ước đã về.

1.1.3 Khái quát về trò chơi

1.1.3.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của trò chơi

Trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhấtđịnh và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ

Nếu vui chơi là thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự nguyện củamọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về thần kinh, tâm lí thì trò chơi là sựvui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ màngười tham gia phải tuân theo

Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên vàchủ yếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi.Qua trò chơi, người chơi còn được rèn luyện trí tuệ, thể lực, tạo cơ hội giaolưu với mọi người cùng hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, tổ…

Nếu vui chơi của cá nhân được tổ chức dưới dạng trò chơi thì nó sẽmang lại ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người chơi, đặc biệt đối với thiếu

Trang 23

niên, nhi đồng và sẽ có tác dụng hình thành nên những phẩm chất, nhân cáchcho trẻ.

Trò chơi có những đặc trưng cơ bản sau:

- Trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người cũng như hoạtđộng học tập

- Trò chơi có chủ đề và nội dung nhất định, có những nguyên tắc nhấtđịnh mà người tham gia phải tuân theo

- Trò chơi mang tính chất vui chơi, giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dục vàgiáo dưỡng lớn đối với con người

1.1.3.2 Phân loại trò chơi

Trò chơi của trẻ em rất đa dạng, phong phú về nội dung, tính chất cũngnhư cách thức tổ chức chơi Do đó có nhiều cách phân loại khác nhau Cụ thểnhư sau:

- Phân loại trò chơi theo chức năng giáo dục và phát triển:

+ Nhóm 1: Gồm các trò chơi thực hành

+ Nhóm 2: Gồm các trò chơi theo bản năng

- Phân loại trò chơi theo nguồn gốc, cấu trúc gồm:

+ Các trò chơi luyện tập dành cho trẻ dưới 2 tuổi

+ Các trò chơi kí hiệu dành cho trẻ từ 2 - 4 tuổi

+ Các trò chơi có luật (có quy tắc) dành cho trẻ từ 4 - 7 tuổi, 7 - 12 tuổi(nhưng chủ yếu là dành cho trẻ từ 7 - 12 tuổi)

- Từ những năm 80 trở lại đây, các trường Tiểu học ở Việt Nam áp dụng

hệ thống phân loại trò chơi của Liên Xô cũ, chia trò chơi thành 2 nhóm là:

+ Nhóm 1: Những trò chơi sáng tạo, bao gồm các trò chơi:

 Trò chơi đóng vai theo chủ đề

 Trò chơi lắp ghép - xây dựng

 Trò chơi đóng kịch

Trang 24

+ Nhóm 2: Trò chơi có luật, bao gồm các trò chơi:

a Khái niệm và bản chất của trò chơi học tập

Trong lí luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như làphương pháp, hình thức tổ chức và tập luyện cho trẻ, không tính đến nội dung

và tính chất của trò chơi đều là TCHT hay còn gọi là trò chơi dạy học TCHT

được chúng tôi hiểu như sau: “TCHT là trò chơi có luật và có nội dung định trước Đó là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa biểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh, hướng đến sự phát triển năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết cho trẻ Trong đó nội dung học tập được kết hợp với hình chơi nhẹ nhàng, hấp dẫn.” [5, 12].

Trò chơi học tập là một trong những phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ

em Nó giúp trẻ:

- Phát triển những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác

- Chính xác hóa những hiểu biết về sự vật, hiện tượng xung quanh

- Phát triển trí thông minh, sự nhanh trí và khả năng về ngôn ngữ

Trò chơi học tập không chỉ làm cho trẻ hứng thú hơn mà còn giúp các

em tự tin hơn, có cơ hội tự khẳng định mình và tự đánh giá nhau trong họctập Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượngphân môn LTVC nói riêng

Như vậy, trò chơi học tập ngoài mục đích giải trí còn nhằm mục đíchgóp phần củng cố tri thức, kĩ năng học tập cho học sinh

Trang 25

Bản chất của trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạtđộng cho học sinh Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạtđộng bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi truyền tải mụctiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học,đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.

b Đặc điểm trò chơi học tập

Mỗi trò chơi học tập gồm 3 phần:

- Nội dung chơi: đây chính là nhiệm vụ học tập, nó có tính chất như mộtbài toán mà trẻ phải dựa trên những điều kiện đã cho Nội dung chơi là thànhphần cơ bản của trò chơi học tập, nó khêu gợi hứng thú sinh động của trẻ

- Hành động chơi: là những hành động trẻ làm trong lúc chơi Nhữnghành động ấy càng phong phú, nhiều hình nhiều vẻ bao nhiêu thì số trẻ thamgia trò chơi càng nhiều bấy nhiêu và bản thân trò chơi càng lí thú bấy nhiêu.Những động tác chơi do cô giáo thực hiện cho phép cô có thể hướng dẫn trò

chơi thông qua “tiến trình làm thử”.

- Luật chơi: mỗi trò chơi học tập đều có luật do nội dung chơi quy định.Những luật này có một vai trò: nó xác định tính chất, phương pháp hànhđộng, tổ chức và điều khiển hành vi cùng mối quan hệ lẫn nhau của đứa trẻtrong khi chơi Những luật này là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúnghay sai

Trong trò chơi học tập thì ba bộ phận trên có liên quan chặt chẽ với nhau

và chỉ cần thiếu một trong ba bộ phận chơi thì không thể tiến hành trò chơiđược

Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định, đó là kết thúctrò chơi, học sinh hình thành một nhận thức nào đó Đối với học sinh thì kếtquả của trò chơi khuyến khích các em tích cực hơn trong các trò chơi tiếptheo, còn đối với cô giáo thì kết quả trò chơi luôn là chỉ tiêu về mức độ thànhcông hoặc sự lĩnh hội tri thức của các em

Trang 26

c Ý nghĩa trò chơi học tập

Theo nhiều chuyên gia giáo dục, việc sử dụng trò chơi học tập trong quátrình dạy học sẽ làm cho việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng bớt đi vẻ khôkhan, có thêm sự sinh động, hấp dẫn Trò chơi là phương tiện rất quan trọng

để giáo dục trí tuệ cho các em Cụ thể:

- Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn họcsinh do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học

- Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức học tập bằng hoạt động trí tuệ,

do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là giờ học kiến thức líthuyết mới

- Trò chơi học tập có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện

kĩ năng học tập hợp tác cho học sinh, tăng hiệu quả giao tiếp giữa thầy trò, trò - trò

Trò chơi học tập giúp trẻ phát triển về tính chất, trí tuệ, hoàn thiện cácquá trình tri giác, chú ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng, sáng tạo

- Trò chơi học tập giúp trẻ hình thành ý chí và tính cách, bồi dưỡng chocác em năng lực hoạt động tập thể, biết thống nhất với nhau cùng nỗ lực đểgiải quyết một nhiệm vụ nào đó

- Trò chơi học tập giúp học sinh thay đổi động hình, tăng cường khảnăng thực hành vận dụng các kiến thức đã học, phát triển hứng thú, tập thóiquen tập trung, tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận

- Qua trò chơi học tập, học sinh có cơ hội để thí nghiệm những chuẩnmực hành vi, tinh thần trách nhiệm và khả năng ứng xử trong cuộc sống.Cũng trong chính trò chơi học tập trẻ học được cách đánh giá và tự đánh giá

về kết quả đã đạt được

Như vậy, trò chơi học tập vừa là phương tiện dạy học, vừa là hình thức

tổ chức dạy học cho trẻ Trò chơi là phương thức nhận biết thế giới, là con

Trang 27

đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí Trẻ không chỉ học trong lúc học mà còn học

cả trong lúc chơi Trẻ em học cách tổ chức, nghiên cứu cuộc sống “Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc…”

(N.K.Crupxkaia)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

1.2.1.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu

Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đã sát nhập hai phân môn Từ ngữ

và Ngữ pháp thành phân môn Luyện từ và câu Cơ sở của việc sát nhập này làxuất phát từ mối quan hệ chặt chẽ giữa từ và câu trong giao tiếp, đồng thời coitrọng yêu cầu thực hành của môn học

Từ và câu có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ

là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiệnchức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết địnhtầm quan trọng của việc dạy LTVC ở Tiểu học Việc dạy luyện từ và câunhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh đặc biệt là

hệ thống từ ngữ cung cấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng lớpnhằm tăng cường sự hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực của cuộc sống,cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh

kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tìnhcảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh hiểu các câu nói của người khác.LTVC có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triểnngôn ngữ và trí tuệ của các em

Chính vì vậy, học sinh được làm quen với từ và câu ngay từ lớp 1 vàđược học với tư cách là một phân môn độc lập của môn Tiếng Việt từ lớp 2đến lớp 5 Vì vậy, việc dạy LTVC cho học sinh phải gắn với các phương pháp

và KTDH đa dạng để học sinh nhớ kiến thức về từ và câu nhằm đạt hiệu quảgiao tiếp cao

Trang 28

1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

- Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ): là giúp HS sắp xếp các từthành một trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh,nhiều và tạo ra được tính thường trực của từ

- Tích cực hóa vốn từ (luyện tập sử dụng từ): là giúp HS biến những từngữ tiêu cực (những từ ngữ hiểu nghĩa của từ nhưng không sử dụng trong khinói, viết) thành những từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giaotiếp hàng ngày

- Văn hóa hóa vốn từ: là giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữkhông văn hóa nghĩa là những từ ngữ thô tục hoặc sử dụng sai phong cách.Mặt khác còn phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm lí thuyết cơbản và sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ vềnghĩa… để học sinh có cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệthống hóa vốn từ một cách có ý thức

 Về mặt luyện câu:

Phân môn này phải tổ chức cho học sinh thực hành để rèn luyện các kĩnăng cơ bản về ngữ pháp như kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử dụngcác dấu câu, kĩ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói, tìnhhuống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết các câu để tạothành đoạn văn, văn bản

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải

cung cấp cho học sinh một số khái niệm, một số quy tắc ngữ pháp cơ bản, sơ

Trang 29

giản và cần thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu,quy tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu Bên cạnh đó, quaphân môn này còn giúp học sinh tiếp thu một số quy tắc chính tả như quy tắcviết hoa, quy tắc sử dụng dấu câu.

Ngoài các nhiệm vụ trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc

rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

1.2.2 Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu

Phân môn LTVC có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và trang bịcho các em một số kiến thức về từ và câu Ở lớp 2 và lớp 3, các kiến thức họcsinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài tập thực hành Ở lớp

4 và lớp 5 các kiến thức lí thuyết được học thành một tiết riêng Đó là các nộidung từ và cấu tạo từ, các lớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiềunghĩa), từ loại, câu, các kiểu câu, thành phần câu, dấu câu, biện pháp liên kếtcâu Ngoài ra chương trình còn cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ

âm - chính tả như tiếng, cấu tạo tiếng

Những nội dung trên được phân bố theo các lớp như sau:

Trang 30

thương, chia sẻ Như vậy, chương trình từ ngữ ở tiểu học phải phù hợp vớiyêu cầu phát triển ngôn ngữ của học sinh, đồng thời phải đảm bảo nguyên tắcgiáo dục trong dạy từ.

Lớp 2: HS học thêm khoảng 300 đến 350 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục

ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủđề: học tập; ngày, tháng, năm; đồ dùng học tập; các môn học; họ hàng; đồdùng và công việc trong nhà; tình cảm gia đình, công việc gia đình; vật nuôi;các mùa, thời tiết; chim chóc, các loại chim, muông thú, loài thú; sông biển;cây cối; Bác Hồ; nghề nghiệp

Ngoài ra vốn từ còn được cung cấp ở các chủ đề mở rộng vốn từ theo ýnghĩa khái quát của từ (từ loại) trong các bài như: từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạtđộng, trạng thái, từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất và trong một bài về lớp từ:

từ trái nghĩa

Lớp 3: HS thêm khoảng 400 đến 450 từ ngữ (kể cả một số thành ngữ,

tục ngữ quen thuộc và ý nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng và một

số từ ngữ địa phương) theo các chủ đề: thiếu nhi; gia đình; trường học; cộngđồng, quê hương; từ địa phương; các dân tộc; thành thị, nông thôn; Tổ quốc;sáng tạo, nghệ thuật, lễ hội, thể thao, các nước, thiên nhiên Ngoài ra vốn từcòn được mở rộng trong các bài ôn tập về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động,trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tính chất

Lớp 4: HS học thêm khoảng 500 đến 550 từ ngữ (kể cả một số thành

ngữ, tục ngữ quen thuộc và ý nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng vàmột số từ ngữ địa phương) theo các chủ đề: nhân hậu, đoàn kết, trung thực, tựtrọng, ước mơ, ý chí, nghị lực, trò chơi, đồ chơi, tài năng, sức khỏe, cái đẹp,dũng cảm, khám phá, phát minh, du lịch, thám hiểm, lạc quan

Lớp 5: HS học thêm hoảng 600 đến 650 từ ngữ (kể cả một số thành ngữ,

tục ngữ quen thuộc và ý nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng và một

Trang 31

số từ ngữ địa phương) theo các chủ đề: Tổ quốc, nhân dân; hòa bình, hữunghị, hợp tác; thiên nhiên; bảo vệ môi trường; hạnh phúc; công dân, trật tự, anninh; truyền thống; nam và nữ; trẻ em, quyền và bổn phận.

1.2.2.2 Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu

- Các kiểu câu: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?, khẳng định, phủ định

- Cấu tạo câu (thành phần câu): đặt và trả lời câu hỏi “Khi nào?” Đặt vàtrả lời câu hỏi “Ở đâu?” Đặt và trả lời câu hỏi “Như thế nào?” Đặt và trả lờicâu hỏi “Vì sao?” Đặt và trả lời câu hỏi “Để làm gì?”

- Dấu câu: dấu hỏi, dấu hai chấm, dấu chấm than, dấu chấm

- Ngữ âm - chính tả: tên riêng, cách viết tên riêng

Ôn tập về kiểu câu: “Ai là gì?”

Ôn tập về kiểu câu: “Ai làm gì?”

Ôn tập về kiểu câu: “Ai thế nào?”

- Cấu tạo của câu:

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi: “Khi nào?”

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi: “Ở đâu?”

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi: “Vì sao?”

Trang 32

Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi: “Bằng gì?”

- Dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm

Lớp 4:

- Cấu tạo từ: từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy

- Từ loại: danh từ, danh từ chung, danh từ riêng, động từ, tính từ

- Các kiểu câu: câu hỏi và dấu chấm hỏi, dùng câu hỏi với mục đíchkhác Giữ phép lích sự khi đặt câu hỏi Câu kể “Ai làm gì?”, câu kể “Ai thếnào?”, câu kể “Ai là gì?”, luyện tập câu kể “Ai làm gì?” Câu khiến, cách đặtcâu khiến, giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị Câu cảm

- Cấu tạo câu (thành phần câu):

VN trong câu kể “Ai làm gì?”, CN trong câu kể “Ai làm gì?”, VN trongcâu kể “Ai thế nào?”, CN trong câu kể “Ai thế nào?”, VN trong câu kể “Ai làgì?”, CN trong câu kể “Ai là gì?” Thêm trạng ngữ trong câu, thêm trạng ngữchỉ nơi chốn cho câu, thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu, thêm trạng ngữchỉ nguyên nhân cho câu, thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu, thêm trạngngữ chỉ phương tiện cho câu

- Dấu câu: dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu hỏi, dấu gạch ngang

- Ngữ âm - chính tả: cấu tạo tiếng, cách viết tên người, tên địa lí ViệtNam; cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài; cách viết tên các cơ quan, tổchức, giải thưởng, danh hiệu, huân chương

Lớp 5:

- Các lớp từ: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, dùng từ đồng âmchơi chữ, từ nhiều nghĩa

- Cấu tạo từ: ôn tập về từ và cấu tạo từ

- Từ loại: đại từ, đại từ xưng hô; quan hệ từ, luyện tập về quan hệ từ, ôntập về từ loại

- Dấu câu: ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than) Ôn tập

về dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang

Trang 33

- Liên kết câu: liên kết các câu trong bài bằng phép lặp từ ngữ; liên kếtcác câu trong bài bằng phép thay thế từ ngữ, liên kết bằng phép nối.

1.2.3 Định hướng trong việc tổ chức dạy học LTVC

1.2.3.1 Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ và câu

Phân môn Luyện từ và câu mang tính chất thực hành nên các kiến thức líthuyết ở đây được đưa đến cho HS ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đếncác quy tắc sử dụng từ, câu

Phần luyện tập là trọng tâm của giờ dạy Phần này giúp HS củng cố vàvận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể Các bàitập này có hai nhiệm vụ ứng dụng với hai dạng bài tập: bài tập nhận diện vàbài tập vận dụng

- Bài tập nhận diện: giúp HS nhận ra hiện tượng về từ và câu cầnnghiên cứu ở mức độ thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữliệu khác

- Bài tập vận dụng: tạo điều kiện cho HS sử dụng những đơn vị từ ngữ,ngữ pháp đã học vào hoạt động nói năng của mình

Để chuẩn bị dạy một kiến thức lí thuyết về từ và câu, chúng ta cần đặtkhái niệm cần dạy trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó, đồngthời phải nắm chắc nội dung khái niệm, nghĩa là những dấu hiệu bản chất của

nó Đây cũng chính là nội dung dạy học mà chúng ta cần đưa đến cho HS.Chúng ta cần hiểu rằng trước một hiện tượng ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học

có thể có những cách lí giải, những giải pháp khác nhau Dựa vào mục tiêudạy học của chính mình, các tác giả SGK đã chọn giải pháp phù hợp

1.2.3.2 Tổ chức dạy bài thực hành - bài tập làm giàu vốn từ

Làm giàu vốn từ còn được gọi là mở rộng vốn từ Đó cũng chính là căn

cứ để chia các bài tập làm giàu vốn từ thành 3 nhóm lớn: bài tập nghĩa từ, bàitập hệ thống hóa vốn từ, bài tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ)

- Bài tập dạy nghĩa từ: để tăng vốn từ cho HS, phải cung cấp những từ

mới, do đó công việc đầu tiên của dạy từ là làm cho HS hiểu nghĩa từ Việc

Trang 34

dạy nghĩa từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp

từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ

- Giải nghĩa bằng trực quan: giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa

ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ để giải nghĩa từ Lúc này, vật thật, tranh ảnh,biểu bảng, sơ đồ được dùng để đại diện cho nghĩa của từ

- Bài tập hệ thống hóa vốn từ: trong SGK Tiếng Việt, kiểu bài tập hệ

thống hóa vốn từ chiếm tỉ lệ cao suốt từ lớp 2 đến lớp 5 Dựa vào đặc trưngcủa hoạt động liên tưởng khi tìm từ ngữ, có thể treo bài tập hệ thống hóa vốn

từ thành nhiều nhóm hạng:

+ Nhóm bài tập tìm từ có cùng chủ đề: các từ cần tìm ở đây thuộc cùng

một chủ điểm từ ngữ, hay nói cách khác là cùng trong một hệ thống liêntưởng.Vì vậy, dạng bài tập này có tác dụng giúp HS hình thành, phát triển tưduy một cách hệ thống

+ Nhóm bài tập tìm từ cùng lớp từ vựng: nhóm bài tập hệ thống hóa vốn

từ theo các lớp từ vựng có số lượng nhiều, chúng không chỉ có mặt trong cácbài học có tên gọi mở rộng vốn từ mà còn chiếm số lượng lớn trong các bàihọc theo các mạch kiến thức về từ như các bài từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từđồng âm Ngay từ lớp 2 đã xuất hiện kiểu bài tập như “tìm từ cùng nghĩa (gầnnghĩa hoặc trái nghĩa) với từ cho sẵn”

+ Nhóm bài tập tìm từ có cùng đặc điểm cấu tạo: bài tập phân loại từ là

những bài tập cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh phân loại theo một căn cứ nào

đó Bài tập có thể cho sẵn các từ rời, cũng có thể để các từ trong câu, đoạn.Căn cứ để phân loại cũng chính là căn cứ để tìm từ trong nhóm bài tập tìm từ

- Bài tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ): những bài tập này nhằm mục

đích làm giàu vốn từ cho HS bằng quan hệ ngôn ngữ, quan hệ liên tưởng vàquan hệ hình tuyến để lựa chọn và kết hợp từ Chúng mang tính chất bài tập

từ vựng - ngữ pháp Các bài tập sử dụng từ sẽ giúp học sinh nắm được nghĩa

Trang 35

và khả năng kết hợp của từ Các đo nghiệm cho thấy HS tiểu học đã nói, viếtnhững câu như: “Hôm nay em dũng cảm”, “Em rất đoàn kết”, “Em ở giữa Tổquốc”, “Chị kiên nhẫn em bé”… là do không nắm chắc nghĩa và khả năng kếthợp của từ.

1.2.4 Các kiểu bài tập trong phân môn Luyện từ và câu

Bài tập LTVC được phân loại theo các cơ sở khác nhau Dựa vào mụctiêu dạy học, phạm vi nội dung kiến thức, kĩ năng được hình thành, trước hết

có thể chia bài tập LTVC thành hai mảng lớn: mảng bài tập làm giàu vốn từ

và mảng bài tập theo các mạch kiến thức về từ và câu Ngoài ra trong phânmôn LTVC còn có cả những bài tập ngữ âm - chính tả Đó là những bài tập vềcấu tạo tiếng và quy tắc viết hoa

 Bài tập làm giàu vốn từ: trong kiểu bài tập này có các loại bài tập nhỏ

- Bài tập dạy nghĩa từ

- Bài tập hệ thống hóa vốn từ.

- Bài tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ).

 Bài tập theo các mạch kiến thức, kĩ năng về từ và câu:

- Bài tập nhận diện, phân loại, phân tích

- Bài tập xây dựng, tổng hợp (bài tập lời nói).

Nhìn chung các bài tập trong SGK Tiếng Việt 4, 5 được chia thành 5dạng bài tập chính sau đây:

Dạng 1: tìm từ ngữ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho

Dạng 2: bài tập xác định nghĩa của từ ngữ và các yếu tố cấu tạo từ

Dạng 3: bài tập xác định nghĩa của thành ngữ, tục ngữ

Dạng 4: bài tập phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo, theo từ loại

Dạng 5: bài tập nhận diện các thành phần của câu dễ lẫn

1.2.5 Các kiểu bài học trong phân môn LTVC

Phần lớn các bài học LTVC trong SGK được cấu thành từ một tổ hợp bàitập Đó là toàn bộ các bài học LTVC ở lớp 2, 3 và các bài luyện tập, ôn tậpLTVC ở lớp 4, 5 Ngoài ra ở lớp 4, 5 còn có bài lí thuyết về từ và câu

Trang 36

Bài LTVC ở lớp 2, 3 trong SGK được ghi tên theo phân môn, còn cáctên bài chỉ được ghi ở phần mục lục Hầu hết các bài học LTVC ở lớp 2, 3bao gồm cả nhiệm vụ luyện từ và luyện câu Các tên bài thể hiện điều này.

VD: mở rộng vốn từ: từ ngữ về học tập - dấu chấm hỏi (lớp 2 tuần 1), mở rộng vốn từ: thiên nhiên - ôn tập câu “Ai là gì?” (lớp 3 tuần 1)

Bài LTVC ở lớp 4, 5 đã tách thành những bài luyện từ và luyện câuriêng VD các tên bài: từ ghép và từ láy (lớp 4 tuần 4), câu hỏi và dấu chấmhỏi (lớp 4 tuần 13)

Các bài học theo các mạch kiến thức từ và câu có thể chia thành hai kiểu:bài lí thuyết và bài luyện tập

- Những bài được xem là bài lí thuyết về từ và câu lớp 4, 5 là những bàiđược đặt tên theo một mạch kiến thức và có phần ghi nhớ được đóng khung.Bài lí thuyết về từ và câu gồm có ba phần Phần nhận xét đưa ngữ liệu chứahiện tượng cần nghiên cứu và hệ thống câu hỏi giúp HS nhận xét, phân tích đểtìm hiểu nội dung bài học, giúp HS rút ra được những nội dung của phần ghinhớ Phần ghi nhớ tóm lược những kiến thức và quy tắc của bài học Phầnluyện tập là một tổ hợp bài tập nhằm vận dụng kiến thức đã học vào tronghoạt động nói, viết

- Bài luyện tập là những bài có tên gọi “luyện tập”, chỉ gồm các bài tậpnhưng cũng có khi có thêm những nội dung kiến thức mới, ví dụ kiến thức vềcác tiểu loại danh từ ở bài luyện tập về danh từ, kiến thức về các kiểu từ ghéptrong bài luyện tập về từ ghép

- Bài ôn tập và kiểm tra là nhóm bài có tên gọi “ôn tập” và các bài có nộidung luyện từ và câu trong tuần ôn tập giữa học kì, cuối học kì, cuối năm

1.2.6 Quy trình dạy học LTVC

 Quy trình lên lớp môn LTVC lớp 2, 3:

1 Kiểm tra bài cũ

- GV yêu cầu HS lên bảng giải lại các bài tập ở nhà hoặc nêu ngắn gọnnhững điều đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh hoạ

Trang 37

- Lớp theo dõi, nhận xét.

- GV nhận xét, ghi điểm

2 Dạy bài mới

* Giới thiệu bài

- GV giới thiệu tên bài (gián tiếp hoặc trực tiếp)

- GV ghi tựa bài lên bảng, HS nhắc lại đầu bài

* Hướng dẫn HS luyện tập: GV tổ chức cho HS thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự:

- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập

- GV hướng dẫn HS làm mẫu

- Yêu cầu HS làm bài tập theo hướng dẫn của GV

- HS nhận xét, sửa chữa bài tập

- GV nhận xét, giảng những từ ngữ cần thiết hoặc nội dung bài Rút ranhững điểm cần ghi nhớ

(Các bài còn lại, GV hướng dẫn HS thực hiện theo các bước tương tự như trên Tuỳ theo nội dung từng bài cụ thể)

3 Củng cố, dặn dò

- GV chốt lại những kiến thức, kĩ năng cần nắm vững ở bài luyện tập

- Nhắc HS về nhà xem lại bài, làm bài tập theo yêu cầu của bài

- Nhận xét tiết học

 Quy trình lên lớp môn LTVC lớp 4, 5:

1 Kiểm tra bài cũ

- GV yêu cầu HS lên bảng giải lại các bài tập ở nhà hoặc nêu ngắn gọnnhững điều đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh hoạ

- Lớp theo dõi, nhận xét

- GV nhận xét, ghi điểm

Trang 38

2 Dạy bài mới

A Đối với loại bài dạy lí thuyết

* Giới thiệu bài

* Hình thành khái niệm:

- Phân tích các ngữ liệu bằng các phương pháp dạy học

- Ghi nhớ kiến thức

- Cho HS đọc thầm rồi nhắc lại phần ghi nhớ trong SGK

* Hướng dẫn luyện tập: GV hướng dẫn HS làm các bài luyện tập thực hành

B Đối với loại bài thực hành

* Giới thiệu bài

* Hướng dẫn HS luyện tập: GV tổ chức cho HS thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự:

- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập

- GV hướng dẫn HS làm mẫu

- Yêu cầu HS làm bài tập theo hướng dẫn của GV

- HS nhận xét, sửa chữa bài tập

- GV nhận xét, giảng những từ ngữ cần thiết hoặc nội dung bài Rút ranhững điểm cần ghi nhớ

(Các bài còn lại, GV hướng dẫn HS thực hiện theo các bước tương tự như trên Tuỳ theo nội dung từng bài cụ thể)

3 Củng cố, dặn dò

- GV chốt lại những kiến thức, kĩ năng cần nắm vững ở bài luyện tập

- Nhắc HS về nhà xem lại bài, làm bài tập theo yêu cầu của bài

- Nhận xét tiết học

Trang 39

1.2.7 Thực tiễn việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn LTVC lớp 4, 5

1.2.7.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò, tác dụng của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn LTVC lớp 4, 5

Qua phân tích số liệu thu được từ “Phiếu điều tra” (Phụ lục) của 50 GV

trường Tiểu học Hùng Vương (Phúc Yên - Vĩnh Phúc) chúng tôi thấy rằng:

- 100% GV khẳng định sử dụng trò chơi trong dạy học phân mônLTVC là cần thiết (câu hỏi 1)

- Về tác dụng của việc sử dụng TCHT trên lớp với 5 mức độ đánh giáquy ước là: 1: Hoàn toàn không có tác dụng; 2: Không tác dụng lắm; 3: Bìnhthường; 4: Tác dụng; 5: Rất có tác dụng (câu hỏi 2), ý kiến của GV thể hiệntrên bảng 1 như sau:

Bảng 1: GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi

Các tác dụng của việc sử dụng trò chơi học tập

Ý kiển của giáo viên

(%)

Hình thành không khí vui vẻ, hứng khởi trong học tập 75 25 0 0 0Học sinh hiểu và nắm kiến thức sâu hơn 20 50 25 5 0Hình thành xúc cảm, động cơ, hứng thú học tập đối với

môn học và tạo môi trường thuận lợi trong học tập

Rèn luyện kĩ năng tương tác, phối hợp giải quyết nhiệm

vụ học tập giữa học sinh với học sinh

Trang 40

- Nhìn vào bảng kết quả ta thấy:

100% ý kiến GV cho rằng trò chơi rất có tác dụng và có tác dụng trongviệc hình thành không khí vui vẻ, hứng khởi trong học tập cho HS; hình thànhxúc cảm, động cơ, hứng thú học tập đối với môn học và tạo môi trường thuậnlợi trong học tập; rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng ứng xửtrong học tập và rèn luyện trí nhớ cho HS

Có ¼ GV (chiếm 25%) ý kiến GV lựa chọn tác dụng “bình thường” củatrò chơi đối với việc giúp HS hiểu và nắm kiến thức sâu hơn; rèn luyện kĩnăng tương tác, phối hợp giải quyết nhiệm vụ học tập giữa HS với HS vànâng cao tương tác giữa GV với HS trong quá trình dạy học

Có 50% ý kiến GV cho rằng trò chơi chỉ có tác dụng bình thường đối vớiviệc tập trung sự chú ý của HS và phát triển tư duy sáng tạo, tìm cái mới củaHS

Đặc biệt có ý kiến GV cho rằng việc sử dụng trò chơi trong dạy học phânmôn LTVC không có tác dụng lắm trong việc tập trung sự chú ý của HS(25%) và giúp HS hiểu và nắm kiến thức sâu hơn (5%)

Qua đây, chúng tôi cho rằng: nhận thức của GV về tác dụng của việc sửdụng TCHT trong dạy học phân môn LTVC ở lớp 4, 5 là khá phù hợp.Tuy nhiên vẫn chưa có sự đồng đều trong việc nhận thức một cách đúng đắn

và chính xác về tác dụng của trò chơi học tập Qua thực tế tôi thấy trong cácgiờ dạy hầu hết các giáo viên đều mong các em học sinh hiểu bài, vận dụng líthuyết để làm bài tập và tham gia vào hoạt động giao tiếp Tất cả giáo viênđều nhận thấy ý nghĩa, tác dụng của TCHT là không thể thiếu được Tuynhiên vẫn tồn tại một số vấn đề: nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng, thiếu tựtin, còn có những sai sót trong khi dạy nên hiệu quả đạt được trong giờ họcchưa cao Trong quá trình cung cấp tri thức cho học sinh, giáo viên chưa thực

sự chú trọng đến phương pháp Họ chỉ chú trọng làm sao truyền tải hết nộidung sách giáo khoa Vì lí do đó mà việc dạy học chưa đạt được kết quả cao

Ngày đăng: 04/09/2019, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Văn Huệ (2006), Giáo trình tâm lí học Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học Tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcSư phạm
Năm: 2006
2. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga (2004), Trò chơi học tập Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tiếng Việt 4
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
3. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga (2004), Trò chơi học tập Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tiếng Việt 5
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
4. Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểuhọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Lê Thu Thủy (2003), Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể lực cho học sinh, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạtđộng vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể lực chohọc sinh
Tác giả: Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Lê Thu Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2007), Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạyhọc Luyện từ và câu ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), Hỏi đáp dạy học Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp dạy học Tiếng Việt 4
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 2007
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), Hỏi đáp dạy học Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp dạy học Tiếng Việt 5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập1
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
12. Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức (2006), 150 trò chơi thiếu nhi, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 trò chơi thiếu nhi
Tác giả: Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2006
13. Vũ Khắc Tuân (2004), Trò chơi thực hành Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi thực hành Tiếng Việt 2
Tác giả: Vũ Khắc Tuân
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục
Năm: 2004
14. Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành ( 1997), Tâm lí học đại cương, nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm líhọc đại cương
Nhà XB: nhà xuất bản Giáo dục
16. Chu Thị Thủy An (chủ biên), Chu Thị Hà Thanh, Dạy luyện từ và câu ở Tiểu học, NXB Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy luyện từ và câu ởTiểu học
Nhà XB: NXB Hà Nội
17. Trần Mạnh Hưởng, Vui học Tiếng Việt (Tập 1, 2), NXB Giáo dục - Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học Tiếng Việt (Tập 1, 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục - HàNội
18. Từ điển Tiếng Việt (2008). Viện ngôn ngữ, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2008
19. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w