1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn đạo đức

80 261 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌCLÊ THỊ YẾN BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên nghành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ YẾN

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA

DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên nghành: Giáo dục học

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS NGUYỄN DỤC QUANG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâusắc tới PGS.TS Nguyễn Dục Quang - Giảng viên khoa Giáo dục Tiểu Học -người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình tiến hành thực hiệnbài khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các quý thầy cô giáo trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, BanGiám hiệu và quý thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh khối lớp 4trường Tiểu học Thị Trấn A (Đông Anh - Hà Nội) đã quan tâm và tạo điềukiện giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian và trình độ nhận thức còn hạnchế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong được sự đónggóp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Thị Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức” là kết quả

nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Dục Quang.Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tôi đã kế thừanhững thành quả khoa học của các nhà khoa học, nhà giáo dục với sự trântrọng và biết ơn Tôi xin cam đoan rằng kết quả của đề tài này không trùngvới bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Xuân Hòa, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Thị Yến

Trang 4

BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Giáo viên GV Giáo viên tiểu học GVTH Giáo viên chủ nhiệm GVCNHọc sinh HSHọc sinh tiểu học HSTH

Kĩ năng giao tiếp KNGT

Kĩ năng sống KNS

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1 5

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài 5

1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp 5

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học 6

1.2 Kĩ năng 8

1.3 Giao tiếp 9

1.3.1 Khái niệm giao tiếp 9

1.3.2 Chức năng của giao tiếp 10

1.3.3 Vai trò của giao tiếp đối với học sinh Tiểu học 10

1.4 Kĩ năng giao tiếp 12

1.4.1 Khái niệm 12

1.4.2 Một số kĩ năng giao tiếp cơ bản 13

1.4.3 Con đường giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HSTH 16

1.5 Đặc điểm của học sinh lớp 4 17

1.5.1 Đặc điểm sinh lí của học sinh lớp 4 18

1.5.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4 18

Trang 6

1.5.3 Đặc điểm học tập kĩ năng 21

1.6 Đặc điểm môn Đạo đức lớp 4 21

1.6.1.Vị trí môn đạo đức 21

1.6.2 Mục tiêu môn Đạo đức lớp 4 22

1.6.3 Đặc trưng môn Đạo đức lớp 4 và vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng giao tiếp 23

Kết luận chương 1 25

Chương 2 27

THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 27

2.1 Khảo sát chương trình giáo dục và nội dung chương trình dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học 27

2.1.1 Khảo sát các chương trình giáo dục và hoạt động giáo dục ở Tiểu học 27

2.1.2 Khái quát nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 4 28

2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức 29

2.2.1 Mục đích khảo sát 29

2.2.2 Nội dung khảo sát 29

2.2.3 Đối tượng và phương pháp khảo sát 29

2.2.4 Kết quả khảo sát 30

Kết luận chương 2 39

Chương 3 40

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 40

3.1 Một số nguyên tắc trong việc rèn luyện KNGT cho HSTH (Lớp 4) 40

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo rèn luyện KNGT phù hợp với lứa tuổi HS lớp 4 40

Trang 7

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc trưng giảng dạy môn Đạo

đức lớp 4 41

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn giáo dục Tiểu học ngày nay 42

3.2 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức 42

3.2.1 Biện pháp 1: Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp để tích hợp rèn luyện KNGT cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo đức 43

3.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng đa dạng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học trong dạy học đạo đức 46

3.2.3 Biện pháp 3: Luyện tập để rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua hoạt động sắm vai, trò chơi học tập 50

3.3 Thiết kế giáo án minh họa 54

Kết luận chương 3 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

PHỤ LỤC 1

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các biểu hiện giao tiếp của HS lớp 4 trong các hoạt động ở

lớp, trường 29Bảng 2.2 Mức độ sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học trong dạy

học môn Đạo đức lớp 4 31Bảng 2.3 Bảng kết quả khảo sát biểu hiện của KNGTcần rèn luyện cho

HS lớp 4 34Bảng 2.4 Mức độ thực hiện KNGT cho HS lớp 4 thông qua dạy học

môn Đạo đức 35Bảng 3.1 Các bài trong chương trình Đạo đức lớp 4 có nội dung giáo

dục KNGT 44

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở nước ta hiện nay, giáo dục Tiểu học là một bậc học “nền tảng” của hệthống giáo dục phổ thông Là bậc học có ý nghĩa rất quan trọng trong việchình thành và phát triển nhân cách của con người - đặt cơ sở nền tảng cho họcsinh phát triển toàn diện Mục tiêu giáo dục Tiểu học là hướng vào trang bịnhững kiến thức cơ bản và những kĩ năng cần thiết cho học sinh, và là cơ sở

để các em tiếp tục học ở những bậc học tiếp theo Bởi vậy, nhà trường Tiểuhọc rất là quan trọng trong việc hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinhngay từ khi các em học ở trường

Hiện nay, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đang được các nhàgiáo dục quan tâm Các nhà trường Tiểu học cũng đang tiến hành thực hiệngiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Kĩ năng sống bao gồm rất nhiều kĩ năngkhác mà trong đó, kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng quan trọngđối với mỗi người Bởi, giao tiếp là nhu cầu thiết yếu của mỗi con người trongcuộc sống.Vì mọi vấn đề trong cuộc sống con người muốn giải quyết đượcvấn đề đó thì con người phải giao tiếp với nhau Để giao tiếp đạt được hiệuquả cao thì người giao tiếp phải có kĩ năng giao tiếp như: biết lắng nghe ýkiến người khác, biết trình bày ý kiến bản thân, biết sử dụng ánh mắt, cử chỉkhi giao tiếp, tự tin khi giao tiếp,… Người có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ hòađồng và có mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh Học sinh tiểuhọc cũng vậy, rất cần có kĩ năng giao tiếp để giải quyết vấn đề học tập haynhững tình huống trong cuộc sống Vì vậy, nhà trường Tiểu học cần phải thựchiện rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp

Giao tiếp rất cần thiết đối với mỗi học sinh trong cuộc sống sinh hoạthằng ngày cũng như việc học tập ở trường Vậy câu hỏi đặt ra là “Làm thế

Trang 10

nào để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh?” Đây là một trong nhữngyêu cầu cấp thiết đối với mỗi nhà trường tiểu học Để giải quyết cái yêu cầunày nhà trường đã thực hiện việc rèn kĩ năng sống cho học sinh những chỉlồng ghép vào việc giảng dạy một số môn học và một số hoạt động trong nhàtrường Nhưng môn học nào có khả năng và thích hợp nhất để trang bị đầy đủnhững kĩ năng giao tiếp cần thiết cho học sinh.

Ở mỗi trường Tiểu học ta đều thấy khẩu hiệu: “TIÊN HỌC LỄ, HẬUHỌC VĂN” Nó có nghĩa là trước tiên phải học lễ nghĩa, sau đó mới học đếnvăn tự Đây cũng chính là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi trường Tiểu học.Chính

vì vậy, nhà trường Tiểu học không chỉ dạy cho học sinh những kiến thức khoahọc cơ bản, mà còn hình thành những nhân cách, phẩm chất tốt đẹp cho họcsinh Do đó, ngoài môn Tiếng Việt, Toán thì môn Đạo đức cũng được dạy ởtrường Tiểu học Môn Đạo đức là môn học rất quan trọng, nó có chức nănggiáo dục các phẩm chất đạo đức và nhân cách cho học sinh Dạy học mônĐạo đức cho học sinh Tiểu học cũng góp phần xây dựng ở các em những tínhcách tốt đẹp và bồi dưỡng tình cảm cho các em

Học sinh lớp 4 các em có sự phát triển về mặt tâm sinh lí, đặc biệt khảnăng ngôn ngữ và nhu cầu giao tiếp của các em rất phát triển Do đó giáo dụcKNGT cho học sinh lớp 4 là cần thiết để phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ.Hiện nay, các nhà trường tiểu học không đủ thời gian để rèn luyện kĩ nănggiao tiếp cho nên chúng ta cần phải tiến hành thông qua việc dạy học môn họcnào đó Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp thì môn Đạo đức là mônhọc phù hợp nhất Môn đạo đức dạy cho học sinh những phẩm chất đạo đức,hình thành nhân cách cho mỗi học sinh Qua các bài học đạo đức học sinh biếtcách giải quyết tình huống giao tiếp thông qua các hoạt động học tập như làlàm nhóm, thuyết trình,… từ đó hình thành kĩ năng giao tiếp cho các em.Chính vì vậy, giáo viên cần phải dựa vào nội dung bài học mà thiết kế những

Trang 11

tình huống để rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh Nhưng thời gian dành chomôn đạo đức rất ít do đó cần phải đưa ra những biện pháp phù hợp để có thểrèn luyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp.

Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là:

“Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn đạo đức”.

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được mục đích sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng giaotiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn đạo đức

- Đề xuất biện pháp để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4thông qua dạy học môn Đạo đức từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dụcTiểu học

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn đạo đức lớp 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 trong dạy họcmôn Đạo đức

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nhiên cứu việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinhlớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức lớp 4

4.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Điều tra thực trạng được tiến hành tại Trường Tiểu học Thị Trấn A Đông Anh - Hà Nội

-5 Giả thuyết khoa học

Trang 12

Nếu đề xuất được những biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinhthông qua dạy học môn Đạo đức lớp 4 sao cho phù hợp với đặc điểm của họcsinh lớp 4 và phù hợp với nội dung, chương trình của môn học thì sẽ nâng caohiệu quả học tập của học sinh và rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp4.

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để xử lí đề tài đã nêu, chúng tôi xác định cần phải thực hiện những nhiệm vụsau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho họcsinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức

- Điều tra thực trạng việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4thông qua dạy học môn Đạo đức

- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp

4 thông qua dạy học môn Đạo đức

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: phương pháp nghiên cứu tài liệu.-Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra,phương pháp quan sát,…

- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungchính của khóa luận bao gồm:

Chương 1 Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học

sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức

Chương 2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp

4 thông qua dạy học môn Đạo đức

Chương 3 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC

1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài

1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp

Giữa thế kỉ XIX, trong Bản thảo kinh tế triết học 1884, C.Mác (1818 1883) bàn về nhu cầu xã hội giữa con người với con người trong xã hội loàingười con người cần phải giao tiếp với nhau Ông còn chỉ ra rằng trong sảnxuất vật chất và tái tạo con người, buộc con người phải giao tiếp với nhau.Con người chỉ trở thành con người khi họ có mối quan hệ thực hiện và giaotiếp trực tiếp với những người khác

-Các tác giả Tara Winterton, David Warden, Rae Pica cũng quan tâm đếnvấn đề hình thành kĩ năng giao tiếp cho trẻ Trong đó, họ chỉ ra những yếu tố

cơ bản có thể ảnh hưởng đến sự phát triển giao tiếp của trẻ như: môi trường,hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng cũng như đặc điểm cơ quan phát âm và thái độ,tình cảm, trạng thái của trẻ trong giao tiếp Theo họ vấn đề quan trọng là tìmkiếm, quan sát và sử dụng các yếu tố để luyện tập kĩ năng giao tiếp

Các nhà khoa học khi nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp đều khẳng định:

Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người

Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm1970-1980 Những nghiên cứu về khía cạnh tâm lý giao tiếp của trẻ em, vấn

đề về đặc điểm giao tiếp, những nghiên cứu hình thành kĩ năng cho trẻ đượcnêu ra trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết,Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoan,…

Trang 14

Tác giả Chu Văn Đức có đưa ra khái niệm về giao tiếp trong cuốn Kĩnăng giao tiếp như sau: Giao tiếp là hoạt động xác lập, vân hành các mối quan

hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định.PGS.TS Đặng Đình Bôi cũng nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và ông chỉ

ra rằng: Kĩ năng giao tiếp là một trong những “kĩ năng mềm” vô cùng quantrọng với mỗi con người trong đời sống xã hội bởi vì giao tiếp là quá trìnhtrao đổi thông tin Muốn có kĩ năng giao tiếp tốt, con người phải hiểu rõ các

lý thuyết cơ bản về bản chất giao tiếp, từ đó người học vận dụng trải nghiệmvào tình huống giao tiếp thực tế qua việc quan sát và tự rút ra bài học cho bảnthân mình Trong cuộc sống của mỗi người đều cần có kĩ năng giao tiếp đểchia sẻ thông tin từ mọi người và lắng nghe mọi người nói về mình Chính vìvậy kĩ năng giao tiếp trờ thành kĩ năng không thể thiếu và cần được rèn luyện.Trong tâm lý học cũng có rất nhiều nghiên cứu nói về vấn đề giao tiếpnhư : tính tích cực trong giao tiếp, kĩ năng giao tiếp, chủ động trong giao tiếp,

… Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu nào về việc rèn cho học sinh những kĩnăng giao tiếp thông qua việc tích hợp vào dạy học các môn học ở nhà trườngTiểu học

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học

Môn Đạo đức là một môn học nằm trong chương trình giáo dục Tiểuhọc Môn học này là môn học giáo dục cho học sinh những tri thức cơ bản vàcần thiết về chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức và niềm tin), từ đó địnhhướng cho các em những giá trị đạo đức phù hợp và hình thành những kĩnăng, hành vi phù hợp với chuẩn mực đó và giáo dục những tình cảm, xúccảm, thái độ đạo đức đúng đắn Trong nhà trường Tiểu học môn học này đượcdạy từ lớp 1 đến lớp 5

Môn học này được rất nhiều tác giả nghiên cứu để đưa ra những biệnpháp hướng dẫn giảng dạy đối với GVTH Các nghiên cứu đó đã được viết

Trang 15

trang bị cho những giáo viên Tiểu học trong tương lai những hiểu biết cơ bản

về nội dung môn Đạo đức như: Cuốn giáo trình “Đạo đức và phương phápdạy học môn Đạo đức ở tiểu học” của tác giả PGS.TS Nguyễn Hữu Hợp

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu và đưa ra bộ vở bài tập đạo đức,sách Đạo đức, sách giáo viên của môn học Đạo đức nhằm cung cấp những tàiliệu phục vụ cho việc dạy và học tốt môn học này ở nhà trường Tiểu học.Trong đó có sách đạo đức dành cho học sinh lớp 4 nhằm cung cấp cho các emnhững kiến thức thông qua các câu truyện và giúp cho các em nắm chắc kiếnthức bằng cách làm bài tập Sách giáo viên Đạo đức lớp 4 của nhóm tác giảLưu Thu Thủy(chủ biên), Nguyễn Việt Bắc, Nguyễn Hữu Hợp, Trần TốOanh, Mạc văn Trang của NXB Giáo dục Việt Nam cung cấp cho giáo viêndạy môn Đạo đức lớp 4 để làm căn cứ và là tài liệu tham khảo để xây dựng kếhoạc bài dạy sao cho phù hợp từng đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn.Trong tài liệu giảng dạy này đã đưa ra những hướng dẫn chung về mục tiêubài học, những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng đưa ra nhữnghướng dẫn cho tiến trình dạy học cụ thể từng bài đạo đức

Tóm lại, tất cả những nghiên cứu về dạy học môn Đạo đức nhằmmục đích:

+ Phát triển năng lực và trình độ GVTH sao cho phù hợp với sự thay đổicủa xã hội ngày nay

+ Cung cấp cho giáo viên những cơ sở lý luận và thực tiễn để áp dụngvào quá trình giảng dạy để đạt được hiệu qủa trong việc dạy học

+ Môn học này tạo điều kiện cho học sinh tiểu học nói chung và học sinhlớp 4 nói riêng hứng thú với việc học, khám phá những tri thức mới và những

kĩ năng của môn học Đạo đức

Qua đó đào tạo những thế hệ học sinh tự tin, tích cực, chủ động và sángtạo trong việc lĩnh hội tri thức cũng như rèn luyện kĩ năng để thích nghi và

Trang 16

vận dụng vào cuộc sống hiện đại Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu củaviệc dạy học còn phải phụ thuộc rất nhiều vào người giáo viên khi thực hiệnquá trình giáo dục.

Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng rất cần thiết đối với HSTH.Nhận thức được điều này, nhiều nhà trường đã quan tâm và thực hiện rènluyện kĩ năng này cho học sinh thông qua dạy học các môn học Nhưng đếnbây giờ vẫn chưa có đề tài nào đưa ra biện pháp giúp việc rèn kĩ năng giaotiếp cho học sinh tốt nhất thông qua dạy học các môn học Chính vì vậy tôichọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu

1.2 Kĩ năng

Nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã đưa những quan niệm khácnhau về kĩ năng Ở mỗi quan điểm, ở mỗi cách nhìn khác nhau thì khái niệm

kĩ năng được thể hiện rất sinh động và phong phú

Theo tác giả A.V.Petrovski: “Kĩ năng chính là năng lực sử dụng các dữkiện, các tri thức hay những khái niệm có sẵn, năng lực vận dụng chúng đểphát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành côngnhững nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định” Một số tác giả như: NguyễnÁnh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Thị Quốc Minh cũng chung quan điểmnày và cho rằng kĩ năng là một mặt năng lực của con người khi thực hiện mộtcông việc và đạt kết quả

Kĩ năng là tri thức trong hành động, là “khả năng vận dụng những kiếnthức thu nhận được trong lĩnh vực nào đó vào thực tế” Kĩ năng thể hiện khảnăng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những kiến thức cóđược đối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra phù hợp với mục tiêu vàđiều kiện cho phép

Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả một công việc

để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cáchthức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định

Trang 17

Từ những quan điểm về kĩ năng đã nêu ở trên thì theo tôi: Kĩ năng làcách thức của con người khi thực hiện một hành động dựa trên sự hiểu biết vàkinh nghiệm của bản thân để vận dụng vào các tình huống nhất định.

1.3 Giao tiếp

1.3.1 Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, là hoạt động

có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi người Do đó giao tiếp

là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu

+ Nhà tâm lý học người Anh M.Argyle coi giao tiếp là thông tin mà nóđược biểu hiện bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (cử chỉ, ánh mắt, hànhđộng,…)

+ Nhà tâm lý học Xô Viết A.A.Leeonchev định nghĩa: Giao tiếp là một

hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữangười này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ

xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc đặc thù

mà trước hết đó là ngôn ngữ

Ở Việt Nam theo từ điển tiếng Việt thì “giao tiếp” là “trao đổi, tiếp xúcvới nhau” Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia : Giao tiếp là một quátrình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạtđược một mục đích nào đó

+ Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữangười và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, vềcảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau Hay nóitheo cách khác giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiệnthực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”

+ Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính

đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được qui định bởi các yếu tốvăn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân Giao tiếp có chức năng thỏa mãn

Trang 18

nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc địnhhướng, điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân và của người khác, từ đó

họ tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau”.Theo tôi: “Giao tiếp là quá tình trao đổi thông tin, tình cảm, những suynghĩ, là quá trình tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ giữa người vớingười nhằm đạt đến một mục đích đề ra

1.3.2 Chức năng của giao tiếp

Giao tiếp là một phần không thể thiếu trong đời sống mỗi người Do đógiao tiếp có những chức năng sau: Chức năng thông tin, chức năng cảm xúc,chức năng phối hợp hành động, chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng tạolập mối quan hệ, chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau, chức năng cânbằng cảm xúc và chức năng hình thành và phát triển nhân cách Như vậy giaotiếp có rất nhiều chức năng, điều này giúp con người ngày càng hoàn thiệnbản thân Do trong quá trình giao tiếp con người không chỉ tiếp nhận thông tin

mà còn có thể biểu đạt cảm xúc, bày tỏ ý kiến để người khác thấu hiểu mình.Hơn nữa, giao tiếp giúp con người có thể nhìn nhận và đánh giá hành vi củangười khác, cũng như tự đánh giá hành vi của bản thân, từ đó hình thànhnhững phẩm chất tốt đẹp và phát triển nhân cách HSTH đang trong giai đoạnhoàn thiện bản thân, phát triển nhân cách chính vì vậy mà việc rèn luyệnKNGT là việc làm rất cần thiết

1.3.3 Vai trò của giao tiếp đối với học sinh Tiểu học

Giao tiếp rất quan trọng đối với học sinh, đặc biệt là HSTH Qua giaotiếp, các em có điều kiện phát triển toàn diện đời sống cảm xúc, hình thành vàphát triển ý thức và tự ý thức, phát triển nhân cách và hình thành những phẩmchất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, phát triển nhận thức, phát triểnngôn ngữ

+ Giao tiếp đối với sự phát triển đời sống cảm xúc

Trang 19

Tình cảm và xúc cảm của mỗi người không phải là bẩm sinh mà đượchình thành trong quá trình mà con người tham gia vào các quan hệ xã hội.Thông qua giao tiếp, nhu cầu của con người được thỏa mãn hay không đượcthỏa mãn trong quá trình giao tiếp từ đó dẫn đến hình thành và phát triển cácxúc cảm và tình cảm Nhờ có giao tiếp với mọi người nên nhu cầu giao tiếpcủa trẻ được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh ở các em những cảm xúc như: vui, yêumếm, quý trọng,… hoặc là không thỏa mãn sẽ gây cho các em cảm xúc buồn,bực bội, khó chịu,…

+ Giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển ý thức và tự ý thức của cánhân HSTH

Trẻ thường xuyên tiếp xúc và giao tiếp với những người trong gia đình,bạn bè, thầy cô mà HSTH xuất hiện tự ý thức về bản thân mình đây là dấuhiện đầu tiên của sự phát triển nhân cách Các em ý thức được rằng mình làmột con người độc lập, riêng biệt, khác với những người xung quanh mình và

có những suy nghĩ, những ý muốn khác biệt có thể là cùng ý kiến hoặc khôngcùng ý kiến

Từ những lời nhận xét và động viên của thầy cô, cha mẹ,… HSTH bắtđầu biết nhìn nhận bản thân, trẻ không chỉ quan tâm đến thế giới bên ngoài

mà trẻ còn hướng tới bản thân mình, quan tâm đến những xung quanh trẻ, từ

đó trẻ bắt đầu biết tự nhận thức Hơn nữa trẻ còn biết nhận xét đánh giá hành

vi của người khác đặc biệt là trẻ biết tự nhận xét và đánh giá hành vi của bảnthân Ở tuổi này trẻ quan tâm đến thái độ của người khác, biết biết tham giavào các mối quan hệ để hoàn thiện bản thân, biết cư xử để phù hợp với nhữngtình huống khác nhau của cuộc sống

+ Giao tiếp đối với sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Giao tiếp giúp các em nhận thức và đánh giá được những phẩm chất vànăng lực của người khác Qua đó trẻ biết so sánh bản thân với những người

Trang 20

xung quanh trẻ để từ đó trẻ biết tự đánh giá và nhận xét hành vi của bản thân.Như vậy giao tiếp là con đường phát triển nhận thức cực kì quan trọng đối vớicon người đặc biệt là HSTH.

+ Giao tiếp đối với sự phát triển ngôn ngữ

Thông qua giao tiếp với mọi người xung quanh trẻ dần hiểu được ngônngữ - phương tiện giao tiếp cơ bản và biết đặc trưng đó chỉ có ở người Trẻ sửdụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ và ý kiến của bản thân Kĩ năng biểu đạtbằng ngôn ngữ cũng phát triển Qua giao tiếp trẻ thêm tư tin và hoạt ngôn sửdụng ngôn ngữ thành thạo và phù hợp với văn cảnh giao tiếp

+ Giao tiếp đối với sự hình thành nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt đẹpMọi phẩm chất và nhân cách của con người chỉ được hình thành trongquá trình giao tiếp với mọi người Giao tiếp giữa con người với con người sẽsản sinh ra mô hình nhân cách cho con người trong các mối quan hệ xã hộikhác nhau Qua hoạt động giao tiếp với mọi người học sinh dần hình thànhthói quen hành vi tốt đẹp từ đó hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp và pháttriển nhân cách

Như vậy, giao tiếp có vai trò rất quan trọng tới mọi mặt trong đời sốngcủa học sinh tiểu học Trẻ có giao tiếp thì trẻ mới phát triển và hình thànhnhân cách môt cách nhanh nhất, có giao tiếp trẻ sẽ phát triển về mọi mặt Giaotiếp cũng như sự quan tâm của mọi người dành cho trẻ trong cuộc sống

1.4 Kĩ năng giao tiếp

1.4.1 Khái niệm

Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng mềm cực kỳ quan trọng đốivới con người Đó là một tập hợp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đốiđáp được rút ra từ kinh nghiệm thực tế Có thể nói kĩ năng giao tiếp đã đượcnâng lên thành nghệ thuật giao tiếp bởi trong kĩ năng này có rất nhiều kĩ năngnhỏ khác như: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt ý kiến, kĩ năng sử dụng

Trang 21

ngôn ngữ cơ thể, kĩ năng sử dụng ngôn từ,… Để có kĩ năng giao tiếp tốt đòihỏi người giao tiếp cần phải thực hành, luyện tập thường xuyên, áp dụng vàomọi hoàn cảnh, mọi tình huống giao tiếp trong thực tế cuộc sống.

Thực chất KNGT là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hộicủa cá nhân với những cử chỉ, động tác của bản thân như : ánh mắt, nụ cười,hành động của tay chân đồng thời kết hợp với ngôn ngữ nói cùng ngôn ngữviết của chủ thể trong quá trình giao tiếp Sự phối hợp hài hòa và hợp lí giữanhững vận động để phản ánh tâm lí nhất định, phù hợp với mục đích, ngônngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được trong quá trình giao tiếp của chủ thểgiao tiếp

KNGT chính là khả năng mà con người có thể tự tin trình bày ý kiến cánhân theo ngôn ngữ nói hoặc viết, kết hợp sử dụng ngôn ngữ cơ thể như: ánhmắt, cử chỉ, điệu bộ,…phù hợp với hoàn cảnh và văn cảnh giao tiếp, đồngthời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác

Giao tiếp chính là quá trình thực hiện hóa và gắn kết những mối quan hệcủa con người Do đó KNGT đối với HSTH rất quan trọng bởi vì KNGT giúpcho quá trình tương tác giữa các cá nhân, tương tác trong nhóm và tập thể cóhiệu quả hơn Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng củamình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn Thái độ cảm thông đối với ngườikhác cũng góp phần giúp họ giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải trongcuộc sống

1.4.2 Một số kĩ năng giao tiếp cơ bản

Trong nhà trường Tiểu học việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đượcquan tâm rất nhiều Kĩ năng giao tiếp là một trong những kĩ năng được ưu tiên

để giảng dạy cho học sinh Dưới đây là một số kĩ năng giao tiếp cần thiết đểrèn luyện cho HS thông qua dạy học các môn học:

a Kĩ năng lắng nghe tích cực

Trang 22

Một trong những KNS quan trọng là kĩ năng giao tiếp có hiệu quả vớimọi người Để giao tiếp có hiệu quả cần có kĩ năng lắng nghe tích cực, sửdụng ngôn từ, cử chỉ điệu bộ thích hợp.

Trong giao tiếp việc lắng nghe có rất nhiều lợi ích như: thu nhập đượcnhiều thông tin, lắng nghe giúp giải quyết được nhiều vấn đề, tạo mối quan hệtốt đẹp với người khác, khi lắng nghe giúp ta hiểu được người khác một cáchtốt nhất bằng con đường ngắn nhất, giúp người giao tiếp thỏa mãn nhu cầugiao tiếp và trình bày giao tiếp một cách tốt nhất

Trong quá trình giao tiếp không phải ai cũng có kĩ năng lắng nghe bởi vì

có rất nhiều lí do cản trở quá trình đó như: người giao tiếp có tốc độ suy nghĩchậm khiến cho người đó không hiểu hết vấn đề mà người khác truyền đạt,hay sự phức tạp của vấn đề cho nên cần rèn cho học sinh kĩ năng suy nghĩnhanh, hiểu vấn đề một cách đơn giản nhất Do những thói quen xấu khi lắngnghe như giả bộ chú ý, hay cắt ngang lời người khác,buông bỏ sự chú ý,…khiến cho quá trình lắng nghe người khác không còn hiệu quả Trong giaotiếp, người giao tiếp cần tập trung lắng nghe để tiếp nhận thông tin và cầnphải có sự tương tác trong lời nói và sử dụng cả ánh mắt, nét mặt, điệu bộ đểgiao tiếp có hiệu quả

b Kĩ năng bày tỏ và tiếp thu ý kiến

Kĩ năng bày tỏ và tiếp thu ý kiến có nghĩa là trong quá trình giao tiếpngười giao tiếp cần đưa ra được những câu hỏi thông minh và đúng trọng tâm

để người trả lời có thể đưa ra những thông tin cần thiết cho bản thân từ đó tiếpthu ý kiến một cách tích cực Trong quá trình giao tiếp người giao tiếp cầnbày tỏ những quan điểm của mình một cách hợp lí, nhẹ nhàng để người đốidiện có thể hiểu và đồng cảm

Trang 23

Đối với học sinh tiểu học kĩ năng này khá quan trọng với các em và giúpích rất nhiều cho việc học tập Khi gặp vấn đề khó khăn các em có thể trao đổivới bạn bè hay nhận sự giúp đỡ của giáo viên để hoàn thành nhiệm vụ đó.

c Kĩ năng giao tiếp có lời và giao tiếp không lời

Trong quá trình giao tiếp người giao tiếp sử dụng hai hình thức giao tiếp

có lời và giao tiếp không lời Giao tiếp có lời là người giao tiếp sử dụng lờinói để truyền đạt thông tin đến người khác Giao tiếp không lời có nghĩa làngười giao tiếp sử dụng ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, hành động của bản thân đểdiễn tả thông tin cần truyền đạt Để giao tiếp có hiệu quả thì người giao tiếpcần có kĩ năng sử dụng từ ngữ giao tiếp đơn giản, dễ hiểu khiến người nghehiểu và không cảm thấy bị xúc phạm Cần kết hợp ánh mắt, nét mặt và điệu

bộ vào quá tình giao tiếp sẽ giúp cho quá trình giao tiếp thêm sinh động, giúpcho người giao tiếp hứng thú hơn khi giao tiếp từ đó mọi người truyền đạtđược nhiều thông tin và nắm bắt thông tin nhanh và hiệu quả

d Kĩ năng diễn đạt

Bên cạnh kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt cũng là một trong những kĩnăng quan trọng cần rèn luyện cho học sinh Kĩ năng diễn đạt được hiểu làkhả năng, trình độ diễn đạt ngôn ngữ phù hợp trong với tình huống giao tiếp

Kĩ năng diễn đạt không đơn thuần chỉ là kĩ năng nói mà còn có kĩ năng thểhiện giọng nói, cử chỉ điệu bộ, thái độ, tâm trạng,… Hơn nữa, trong quá trìnhgiao tiếp hai chủ thể phải có những hành động lời nói qua lại với nhau Khingười này nói người còn lại phải lắng nghe để đáp lại và ngược lại Như vậy,trong quá trình giao tiếp thì kĩ năng lắng nghe và kĩ năng diễn đạt trong giaotiếp có mối quan hệ thân thiết với nhau Chúng có mỗi quan hệ hai chiều,không tách rời mà còn bổ sung, phối hợp nhịp nhàng với nhau trong suốt quátrình giao tiếp

Người giao tiếp sử dụng lời nói phù hợp kết hợp với ánh mắt điệu bộ,giọng điệu, cùng lời nói nhịp nhàng trong quá tình giao tiếp sẽ giúp người

Trang 24

giao tiếp đạt được hiệu quả cao trong quá trình giao tiếp Cũng chính vì có sựkết hợp giữa kĩ năng lắng nghe cùng kĩ năng diễn đạt nên trong quá trình giaotiếp người nói bày tỏ được ý kiến của bản thân, làm những điều mình muốnlàm và người đó biết tôn trọng ý kiến của người khác, thấu hiểu, cảm thôngcho họ từ đó họ thấu hiểu nhau và đạt được kết quả giao tiếp cao Như vậyviệc rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh là rất cần thiết.

1.4.3 Con đường giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HSTH

Giáo dục KNGT là trang bị cho người học những kiến thức, thái độ, giátrị và tạo cơ hội cho học rèn luyện, trải nghiệm vào thực tế cuộc sống từ đógiúp người học làm chủ bản thân, và ứng xử phù hợp với mọi người trong mọitình huống hằng ngày

Giáo dục KNGT trong nhà trường Tiểu học hiện nay chưa được tổ chứcthành một môn học hay một lĩnh vực học tập cụ thể mà chỉ dừng lại ở việctích hợp và lồng ghép vào một số môn học phù hợp đang được giảng dạy ởnhà trường và các hoạt động ngoài giờ lên lớp

* Giáo dục kĩ năng giao tiếp thông qua dạy học các môn học

Để thực hiện giáo dục kĩ năng giao tiếp qua dạy học các môn học giáoviên cần phải thực hiện những công việc sau:

Thứ nhất là khai thác nội dung môn học, lựa chọn những bài học phùhợp với đối tượng học sinh để giáo dục KNGT Dựa trên cơ sở mục tiêu bàihọc, nội dung môn học, đặc điểm học tập, môi trường học tập,… giáo viên lựachọn những nội dung gần gũi với học sinh để tiến hành giáo dục KNGT

Trong những môn học hiện nay ở trường Tiểu học những môn học cónhiều khả năng để GV triển khai rèn kĩ năng giao tiếp cho HS như: mônTiếng Việt, môn Đạo đức, môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3), mônKhoa học (lớp 4, lớp 5) Trong quá trình dạy học các môn học này giáo viêncần khéo léo tích hợp, lồng ghép vào nội dung bài học để rèn kĩ năng giao tiếpcho học sinh

Trang 25

Thứ hai là trong khi giảng dạy giáo viên tăng cường sử dụng các phươngpháp, kĩ thuật dạy học tích cực để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh.Những phương pháp dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ độngsáng tạo của học sinh như: thảo luận, đóng vai, động não, xử lí tình huống, tròchơi học tập,… Qua đó giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng họctập và kĩ năng giao tiếp cũng như các kĩ năng khác.

* Giáo dục kĩ năng giao tiếp thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động được tổ chức ngoàigiờ học các môn học khác Có thể coi đó là hoạt động nối tiếp và thống nhấthữu cơ với các hoạt động giáo dục trong giờ học trên lớp

Giáo dục KNGT cho học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp được thựchiện với những hình thức sau:

Giáo dục KNGT qua hình thức sinh hoạt theo chủ điểm với nội dung nhưcuộc thi, sinh hoạt văn nghệ, giao lưu,… qua đó góp phần rèn luyện cho các

em kĩ năng giao tiếp và rất nhiều kĩ năng khác

Giáo dục KNGT qua các tiết học sinh hoạt tập thể như chào cờ, sinh hoạtđội, sinh hoạt sao, sinh hoạt lớp,…

Giáo dục KNGT cho học sinh qua hoạt động tự chọn, đây là hoạt độngkhông bắt buộc và tùy theo khả năng của học sinh mà giáo viên lựa chọn nộidung hoạt động sao cho phù hợp để có thể gây thứ cho học sinh mà còn rènluyện được kĩ năng giao tiếp cho các em

1.5 Đặc điểm của học sinh lớp 4

HSTH thường là những đứa trẻ có tuổi từ 6 - 7 tuổi đến 11 - 12 tuổi Đây

là lứa tuổi lần đầu tiên đến trường để trở thành học sinh và có hoạt động chủđạo là hoạt động học tập Hoạt động tập có vai trò và có ý nghĩa đặc biệt quantrọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học Ở bậc Tiểu học, trẻkhông những phải có ý thức và thái độ có trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụhọc tập của mình mà còn có khả năng thiết lập các mối quan hệ với các đối

Trang 26

tượng khác trong nhà trường Bậc Tiểu học được chia thành 2 giai đoạn: giaiđoạn đầu tiểu học (lớp 1,2,3) và giai đoạn cuối tiểu học (lớp 4,5) Đối vớitừng giai đoạn các em có sự chuyển biến tâm lí để phù hợp với những hoạtđộng học tập tại trường HS lớp 4 thuộc giai đoạn 2 nên có những sự pháttriển về mặt tâm sinh lí để phù hợp với những hoạt động học tập cũng như vuichơi.

1.5.1 Đặc điểm sinh lí của học sinh lớp 4

Ở lứa tổi học sinh lớp 4, cơ thể có các em có sự thay đổi rõ rệt, tốc độphát triển về chiều cao vào trọng lượng cơ thể tăng lên đáng kể, hệ cơ xươngđang trong thời kì phát triển mạnh Đặc biệt là ở học sinh lớp 4 trọng lượngnão phát triển gần bằng người lớn Khả năng phân tích tổng hợp của vỏ nãođang phát triển, quá trình ức chế và hưng phấn dần thay đổi Quá trình ức chếphát triển mạnh hơn nhưng quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế Với nhữngđặc điểm sinh lí như vậy thì HS lớp 4 có thể thích nghi với hoạt động học tậpcũng như vui chơi ở trường học một cách đảm bảo về măt thể chất

1.5.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4

Học sinh lớp 4 thuộc giai đoạn thứ 2 của bậc học Tiểu học Học sinh lớp

4 có đặc điểm tâm lý phát triển vượt trội so với giai đoạn trước Các quá trìnhtâm lý được hình thành và phát triển ở học sinh lớp 4 có sự tác động lẫn nhau

Trang 27

nghe giảng, vừa nhìn bảng, và vừa ghi bài Mặc dù vậy, chú ý của các em vẫn

có thiên hướng là hướng ra bên ngoài, hướng vào hành động vật chất, khả năng chú ý bên trong còn yếu Do đó khi rèn luyện KNGT GV cần phải đưa

ra những hoạt động để thu hút sự chú ý của học sinh

b Đặc điểm tư duy

Đối với học sinh lớp 4 tư duy trừu tượng đang dần dần chiếm ưu thế, tưduy mang đậm màu sắc cảm xúc, nghĩa là học sinh tiếp thu khái niệm từ cáckhái niệm đã biết được thay thế bằng ngôn ngữ kí hiệu Tuy nhiên tư duy trừutượng ở giai đoạn này vẫn phải dựa vào tư duy cụ thể Khả năng khái quát vàsuy luận của học sinh phát triển hơn Các em đã biết căn cứ vào dấu hiệu, vàobản chất của sự việc để hình thành cách giải quyết vấn đề của mọi tình huống.Trong giao tiếp, học sinh lớp 4 có thể tư duy nhanh, giúp các em có thể suynghĩ ra những cách ứng xử phù hợp khi giao tiếp

c Đặc điểm ngôn ngữ

Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói để giaotiếp, để truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử hoặc kế hoạch hóahoạt động của mình Ngôn ngữ ngoài chức năng làm công cụ của tư duy thìngôn ngữ chính là chức năng để giao tiếp

Hầu hết HSTH có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầuxuất hiện ngôn ngữ viết Đến giai đoạn cuối tiểu học thì ngôn ngữ viết đãthành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ

có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thếgiới xung quanh và tự khám phá bản thân mình thông qua các kênh thông tinkhác nhau Khả năng ngôn ngữ của HS lớp 4 đã hoàn thiện do đó thông quaviệc học trẻ có thể phát triển ngôn ngữ từ đó khả năng nói cũng như ứng xửtrong giao tiếp với người khác một cách hiệu quả

Trang 28

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với nhận thức cảm tính và lítính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy cũng như tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biệu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và ngôn ngữ viết Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giáđược sự phát triển trí tuệ của trẻ Với đặc điểm về ngôn ngữ này rất phù hợp

để rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp

d Đặc điểm giao tiếp

Nhờ có giao tiếp mà HSTH nói chung và HS lớp 4 nói riêng đã trao đổi,truyền đạt và học hỏi những tri thức và kinh nghiệm cho nhau Trong quátrình giao tiếp các em còn bộc lộ những cảm xúc khác nhau của bản thântrong mọi tình huống giao tiếp Đặc biệt nhờ giao tiếp mà các em điều chỉnhhành vi của bản thân, biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác và biếtcách phối hợp để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập và đạt được nhữngmục đích khác trong hoạt động giao tiếp

Học sinh lớp 4 có nhu cầu giao tiếp rất lớn bởi ngôn ngữ của học sinh lớp

4 rất phát triển HS lớp 4 có rất nhiều mối quan hệ đối với gia đình, bạn bè,thầy cô Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, nhu cầu kết bạn để làmđược điều đó thì trẻ phải có kĩ năng giao tiếp Cho nên, GV cần đưa ra nhữngbiện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh để giúp các em tự tin khi giao tiếpvới bạn bè, với thầy cô và những người xung quanh từ đó hình thành và pháttriển nhân cách

e Đặc điểm tính cách

HSTH thường có những nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết,lòng vị tha và đặc biệt là lòng yêu thương con người Điều dễ nhận thấy trongtính cách của học sinh tiểu học đó chính là tính xúc động trong hành vi, tức làhành động ngay lập tức mà không cần suy nghĩ HS lớp 4 có suy nghĩ chínchắn hơn, biết lắng nghe, biết tập trung trong giờ học Các em rất hay bắttrước những hành động của mọi người xung quanh Lên lớp 4 các em không

Trang 29

chỉ bắt chước đơn thuần mà biết suy nghĩ về hành động mình sẽ làm tốt hayxấu Học sinh lớp 4 bắt đầu quan tâm tới những mối quan hệ với bạn bè, vớinhững người xung quanh nên các em biết suy nghĩ trong lời nói, hành độngcủa mình trong mọi tình huống giao tiếp.

Hoạt động vui chơi được diễn ra song song với hoạt động học tập và córất nhiều các hoạt động khác của HSTH như: Hoạt động lao động: trẻ bắt đầutham gia lao động để tự phục vụ bản thân và giúp đỡ gia đình, ngoài ra trẻ còntham gia các hoạt động lao động tập thể ở trường như trực nhật, trồng cây,…Hoạt động xã hội trẻ bắt đầu hưởng ứng và tích cực tham gia vào phong tràocủa địa phương, của lớp, của trường, của đội thiếu niên tiền phong,…

Với học sinh lớp 4, các em đã có sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất

và tư duy, đặc biệt là tâm lí của các em thay đổi rõ rệt so với giai đoạn đầutiểu học Học sinh lớp 4 có những nhu cầu cần được đáp ứng đó là nhu cầukết bạn Ngoài việc học các em còn chưa tự tin và chủ động tham gia các hoạtđộng của trường lớp chính vì vậy mà các nhà giáo dục cần hình thành cho các

em kĩ năng giao tiếp để giúp các em tự tin tham gia các hoạt động, xây dựngmối quan hệ tốt đẹp với bạn bè

1.6 Đặc điểm môn Đạo đức lớp 4

1.6.1.Vị trí môn đạo đức

Môn Đạo đức là một học đặc biệt quan trọng và không thể thiếu đượctrong hệ thống những môn học ở trường Tiểu học, mà không có một môn học

Trang 30

nào có thể thay thế được Bởi lẽ chức năng của nó là giáo dục hành vi giáodục đạo đức cho học sinh với hệ thống chuẩn mực hành vi đạo đức được bộgiáo dục qui định trong chương trình của môn học này.

Như vậy môn Đạo đức đóng vai trò cực kì quan trọng không chỉ trongviệc giáo dục đạo đức cho học sinh mà còn rèn cho các em những kĩ năngsống cần thiết đối với mỗi em Dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học chính là cơ

sở để thực hiện quá trình dạy học môn Giáo dục công dân ở bậc học trên

1.6.2 Mục tiêu môn Đạo đức lớp 4

Chương trình môn Đạo đức nói chung và môn Đạo đức lớp 4 nói riêngbao gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi đạo đức được lựa chọn từ cácchuẩn mực ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội

Mục tiêu dạy học môn Đạo đức được quy định trong chương trình giáodục phổ thông môn Giáo dục công dân của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hànhngày 5 tháng 5 năm 2006

Mục tiêu môn Đạo đức lớp 4 nhằm giúp học sinh:

- Kiến thức: Các em nắm được những tri thức cơ bản và cần thiết về cácchuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi, phản ánh các mối quan hệhằng ngày thường gặp của các em như mối quan hệ với gia đình, với bạn bè,với xã hội, trách nhiệm với quê hương đất nước, với môi trường tự nhiên,…

từ đó hình thành bước đầu ở các em có niềm tin đạo đức và có ý thức đạo đức

tự giác

- Kĩ năng: Bước đầu hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi củabản thân và hành vi của những người xung quanh theo chuẩn mực hành vi đãhọc, biết có những kĩ năng vận dụng bài học đạo đức, biết lựa chọn và thựchiện được những hành vi phù hợp với chuẩn mực hành vi qui định, ứng xửphù hợp trong mỗi tình huống cụ thể từ đó các em rèn luyện được thói quenđạo đức tích cực

Trang 31

- Thái độ : Học sinh biết bày tỏ những xúc cảm và thái độ của bản thânphù hợp với mỗi hành vi đạo đức, biết thể hiện thái độ tự tin, tin tưởng vàokhả năng của bản thân và những người xung quanh và có trách nhiệm vớihành vi của bản thân mình, biết yêu thương, quý trọng và giúp đỡ mọi người,mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người, biết yêu quý và bảo

vệ thiên nhiên, biết đồng tình với cái đúng, cái thiện; không đồng tình với các

ác, cái sai

1.6.3 Đặc trưng môn Đạo đức lớp 4 và vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng giao tiếp

1.6.3.1 Đặc trưng của môn Đạo đức lớp 4

Môn Đạo đức ở Tiểu học nói chung và môn Đạo đức lớp 4 nói riêng, đưa

ra các chuẩn mực hành vi đạo đức dưới dạng những mẫu hành vi cụ thể MônĐạo đức hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ từ đó trẻ tự giác rèn luyệnnhững hành vi ứng xử theo chuẩn mực mà xã hội đã qui định đó là nhữngchuẩn mực đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ,… Do đó trẻ có những ứng xử phùhợp trong các mối quan hệ mà các em có như mối quan hệ của các em vớithiên nhiên, với xã hội, với những người xung quanh và với chính bản thâncác em Các chuẩn mực hành vi đạo đức trong chương trình môn Đạo đứcTiểu học có tình đồng tâm, được lặp lại từ lớp dưới lên lớp trên Càng lên lớptrên càng khái quát và được mở rộng và nâng cao hơn phù hợp với đặc điểmlứa tuổi học sinh ở từng khối Đặc biệt là mẫu hành vi đạo đức được đưa racho học sinh thông qua truyện kể đạo đức Truyện kể đạo đức được coi là mộttrong những loại hình phương tiện đặc biệt để truyền tải cho học sinh nhữngtri thức và giúp học sinh khắc sâu tri thức đó

Mỗi bài Đạo đức ở trường Tiểu học được thực hiện trong 2 tiết: tiết kểchuyện và tiết thực hành Tiết 1 có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho học sinhnhững mẫu hành vi ứng xử và cơ sở đạo đức sơ đẳng của chúng Hay nói theocách khác đó là giúp các em hiểu các em cần phải làm gì? Làm như thế nào?

Trang 32

Vì sao phải làm như vậy? Tiết 2 có nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cho học sinhluyện tập để hình thành kĩ năng ứng xử theo chuẩn mực và kĩ năng nhận xét,phê phán, đánh giá hành vi của bản thân, của người khác theo những chuẩnmực đã học.

Tiết 1 và tiết 2 liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, tiết 1 chuẩn bịcho tiết 2, tiết 2 dựa vào tiết 1 mà củng cố kiến thức đã dạy ở tiết 1

Môn Đạo đức ở Tiểu học không giống như những môn học khác MônĐạo đức hình thành ở học sinh mẫu hành vi tác động vào nhân cách conngười giúp con người có những ứng xử phù hợp với những tình huống củathực tế cuộc sống Với đặc trưng này của môn Đạo đức giáo viên cần lưu ýđến việc việc giáo dục đạo đức vừa rèn luyện những kĩ năng sống cần thiếtcho học sinh đặc biệt là kĩ năng giao tiếp

1.6.3.2 Khả năng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 qua dạy học môn Đạo đức

Môn Đạo đức được dạy 1 tiết trên một tuần tuy nhiên thì mỗi bài đạo đứclại được dạy 2 tiết Tiết 1 là hình thành tri thức mới về chuẩn mực hành vi từ

đó hình thành tri thức đạo đức thông qua truyện kể đạo đức, tiết 2 là thờigian củng cố vè rèn luyện kĩ năng, hành vi đã học ở tiết 1.Thời gian của tiết 2

là để giúp học sinh nắm chắc kiến thức qua việc xử lí tình huống, bày tỏ ýkiến đây cũng chính là khoảng thời gian thích hợp để GV rèn luyện KNGTcho HS Môn học này bước đầu hình thành cho các em những kĩ năng hành vi,cách ứng xử phù hợp trong những tình thực tế từ đó giúp các em hoàn thiệnnhân cách và bước đầu hình thành những kĩ năng quan sát, nhận xét hành vi,thắc mắc, đặt câu hỏi,… những kĩ năng cơ bản để rèn luyện kĩ năng giao tiếp.Nội dung môn Đạo đức cung cấp cho học sinh kĩ năng, hành vi đạo đứctheo hướng những mối quan hệ của bản thân người học trong mối quan hệ với

cá nhân, mối quan hệ với người khác, với công việc, với cộng đồng đất nước,nhân loại và với môi trường tự nhiên Chính vì vậy mà các em cần phải có kĩnăng giao tiếp tốt để ứng xử sao cho phù hợp trong những mối quan hệ đó

Trang 33

1.6.3.3 Điều kiện để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức

Như chúng ta đã biết, môn Đạo đức là một môn học rất quan trọng ởTiểu học Môn học này ngoài việc cung cấp kiến thức còn giúp các em biếtcách trình bày ý kiến đây là một trong những biểu hiện của KNGT Việc giáodục KNGT cho học sinh qua môn Đạo đức lớp 4 phải đảm bảo điều kiện sau:Thứ nhất giáo viên cần hiểu rõ bản chất của việc giáo dục kĩ năng giaotiếp và nắm được mục tiêu giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4thông qua dạy học môn Đạo đức đó là giúp học sinh giao tiếp tốt hơn, tự tinkhi giao tiếp, biết lắng nghe để ứng xử phù hợp với mỗi tình huống giao tiếp,xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh Để đạt được mụctiêu này giáo viên cần thường xuyên đổi mới phương pháp và hình thức dạyhọc tích cực nhằm kích thích sự ham muốn, hứng thú học tập của học sinhđồng thời kết hợp những kĩ thuật dạy học tích cực để đáp ứng nhu cầu về conngười của xã hội hiện đại từ đó lồng ghép giáo dục kĩ năng sống đặc biệt là kĩnăng giao tiếp cho học sinh qua từng bài học cụ thể

Thứ hai, đối với học sinh lớp 4 cần có những nhận thức và hiểu biết cơbản về kĩ năng giao tiếp và có ý thức tham gia tích cực vào các hoạt động tậpthể để rèn luyện cho mình những kĩ năng cần thiết, chủ động tham gia hănghái phát biểu để cải thiện kĩ năng giao tiếp của bản thân trong mọi tình huốngcủa cuộc sống

Thứ ba, về cơ sở vật chất phải được trang bị đầy đủ để tạo ra môi trườnghọc tập thuận lợi nhất để các em học tập, bên cạnh đó đồ dùng học tập đượctrang bị đầy đủ để nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục kĩ năng giao tiếpcho học sinh

Kết luận chương 1

1 Hiện nay các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến rèn luyện cho học sinh tiểu học đặc biệt là giáo dục KNGT Giáo dục KNGT cho HSTH hiện

Trang 34

nay đang được các nhà Giáo dục quan tâm và triển khai thực hiện Tuy nhiênvấn đề này còn khá mới mẻ nhất là khi triển khai ở bậc Tiểu học, việc giáodục kĩ năng giao tiếp chỉ thực hiện chủ yếu trong việc tích hợp, lồng ghép vớicác môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Việc triển khai thực hiệngiáo dục kĩ năng giao tiếp còn chưa đồng đều và nhất quan ở từng địaphương, từng vùng miền nhưng bước đầu đã đạt được một số kết quả nhấtđịnh.

2 Học sinh lớp 4 thuộc giai đoạn thứ hai của bậc Tiểu học cho nên các

em đã có sự phát triển toàn diện về mặt thể chất cũng như tinh thần, trí tuệ, sựhiểu biết về thế giới xung quanh, trẻ bắt đầu quan tâm đến những người xungquanh Khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển và nhu cầu kết bạn, làm quenxây dựng mối quan hệ được nâng cao chính vì vậy cần rèn luyện cho các emKNGT để các em biết ứng xử sao cho phù hợp trong mọi tình huống giao tiếp

3 Môn Đạo đức là một môn học phù hợp và có nhiềm tiềm năng để giáodục KNGTcho HSTH nói chung và cho HS lớp 4 nói riêng Bởi bản thân mônĐạo đức là cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức hình thành ở họcsinh những phẩm chất đạo đức, phát triển nhân cách và rèn cho học sinhnhững kĩ năng, ứng xử đúng đắn để các em vận dụng vào những tình huốngthực tế Do đó trong dạy học môn Đạo đức cần tích hợp, lồng ghép để rènluyện KNGT cho HS

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC

2.1 Khảo sát chương trình giáo dục và nội dung chương trình dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học

2.1.1 Khảo sát các chương trình giáo dục và hoạt động giáo dục ở Tiểu học

Thời lượng dành cho các môn học và hoạt động giáo dục của từng lớpthuộc bậc Tiểu học trong một tuần lễ được chúng tôi mô tả trong bảng thống

Trang 36

Nhìn vào bảng thống kê trên, ta thấy Đạo đức là môn học chiếm thờilượng ít Tỉ lệ của môn Đạo đức trong một tuần là 1 tiết /1 tuần chiếm 4%dành cho tất cả từ lớp 1 đến lớp 5.

Mặc dù số tiết dạy môn Đạo đức ở Tiểu học chiếm số lượng tiết dạy ítnhưng môn học này rất quan trọng bởi nó hình thành và giúp học sinh pháttriển nhân cách, có hành vi, thái độ và ứng xử đúng đắn trong mọi tình huốngcủa cuộc sống

2.1.2 Khái quát nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 4

Nội dung môn Đạo đức nói chung và môn Đạo đức lớp 4 nói riêng đượcdạy 1 tiết trên một tuần Nội dung môn Đạo đức lớp 4 được khái quát, cụ thểtrong 14 mẫu hành vi tương ứng với 14 bài trong sách Đạo đức lớp 4 nhằmhình thành và phát triển nhân cách cho học sinh:

- Bài 1: Trung thực trong học tập

- Bài 2: Vượt khó trong học tập

- Bài 3: Biết bày tỏ ý kiến

- Bài 4: Tiết kiệm tiền của

- Bài 5: Tiết kiệm thời giờ

- Bài 6: Hiếu thảo với ông bà cha mẹ

- Bài 7: Biết ơn thầy giáo, cô giáo

- Bài 8: Yếu lao động

- Bài 9: Kính trọng, biết ơn người lao động

- Bài 10: Lịch sự với mọi người

- Bài 11: Giữ gìn các công trình công cộng

- Bài 12: Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo

- Bài 13: Tôn trọng Luật giao thông

- Bài 14: Bảo vệ môi trường

Nội dung kiến thức môn Đạo đức lớp 4 được dạy theo nguyên tắc từ gầnđến xa, hình thành cho học sinh những tri thức đạo đức theo các mối quan hệ

Trang 37

của cá nhân với cá nhân; quan hệ với người khác; quan hệ với công việc; quan

hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại; quan hệ với môi trường tự nhiên Đây

là tất cả những mối quan hệ của mỗi con người trong cuộc sống chính nhữngmối quan hệ này đã tạo ra những tình huống cần phải giải quyết cho mỗingười do đó cần phải rèn luyện cho học sinh cách ứng xử phù hợp trong mọitình huống để có mối quan hệ tốt đẹp

2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức

2.2.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4thông qua dạy học môn Đạo đức Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp cụthể để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh thông qua dạy học môn Đạođức lớp 4 ở trường Tiểu học

2.2.2 Nội dung khảo sát

Căn cứ vào mục tiêu đã xác định tôi tiến hành khảo sát điều tra với banội dung:

- Thực trạng kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 4

- Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4

- Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạyhọc môn Đạo đức

2.2.3 Đối tượng và phương pháp khảo sát

a Đối tượng khảo sát

Khảo sát giáo viên giảng dạy khối lớp 4 và các em học sinh lớp 4 củatrường Tiểu học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội

b Phương pháp khảo sát

Dự giờ, quan sát các hoạt động giảng dạy của giáo viên và những hoạtđộng học tập cũng như những hành vi của học sinh lớp 4 trong giờ học Đạo

Trang 38

đức, tiến hành nghiên cứu giáo án của giáo viên nhằm đánh giá khách quanphiếu khảo sát.

Điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến: thu thập thông tin về kĩ năng giao tiếpcủa học sinh lớp 4, thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4 và thực trạng giáodục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Đạo đức lớp4

2.2.4 Kết quả khảo sát

2.2.4.1 Thực trạng kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 4

Để tìm hiểu về thực trạng kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 4 tôi tiếnhành theo hai con đường sau:

+ Thứ nhất, thiết kế phiếu điều tra để lấy ý kiến đánh giá của giáo viêndạy lớp ở trường Tiểu học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội

Để điều tra tôi sử dụng câu hỏi 10 (phần phụ lục) và phát cho 6 GVđang giảng dạy lớp 4 của trường Tiểu học Thị Trấn A - Đông Anh - Hà Nội,thu được kết quả như sau:

Bảng 2.1 Các biểu hiện trong giao tiếp của HS lớp 4 trong các hoạt động

Bảng 2.1 là kết quả mà GV đánh giá về biểu hiện trong giao tiếp của 225

HS lớp 4 của trường Tiểu học Thị Trấn A ta thấy rằng: số lượng HS có biểuhiện thân thiện, thoải mái, tự tin, sôi nổi trong giao tiếp là 135 HS

(chiếm

Trang 39

bị bạn bè bắt nạn có 12 HS (chiếm 5%); số lượng HS có biểu hiện thụ độngtrong giao tiếp có tới 14 HS (chiếm 7%) Tuy nhiên đây là những đánh giánày mang tính chủ quan của GV Đa số HS khối 4 đều có biểu hiện thân thiện,thoải mái và tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh Tuy nhiên vẫncòn một số HS còn nhút nhát, rụt rè, ngại giao tiếp thậm chí còn có biểu hiệnkhó tính, ương bướng, cực cằn, thụ động, và chưa chủ động trong giao tiếp.

HS có biểu hiện tự tin, thân thiệt, thoải mái và hào hứng khi giao tiếpthường là người dễ gần, có nhiều mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè và có họclực khá - giỏi, biêt quan tâm, giúp đỡ bạn bè, biết trả lời những câu hỏi mởrộng của GV, biết bày tỏ ý kiến và lắng nghe ý kiến của mọi người Ngượclại, những em có biểu hiện nhút nhát, ương bướng, khó tính, áp đặt, thụ độngtrong giao tiếp thường khó gần, ngại giao tiếp, không có mối quan hệ tốt vớibạn bè, thậm chí còn trêu chọc, bắt nạt bạn bè, ít quan tâm và giúp đỡ bạn bè

và có học lực trung bình và yếu, tiếp thu bài chậm, không tích cực tham giahoạt động của lớp

Từ kết quả khảo sát và điều tra tôi nhận thấy một số em đã có KNGT khátốt nhưng phần lớn thì các em chưa có KNGT tốt Chính vì lí do này mà tôithấy cần giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh thông qua việc lồng ghép vàocác môn học để rèn cho học sinh có được kĩ năng này

+ Thứ hai quan sát, dự giờ quá trình học tập và vui chơi của học sinh lớp

4 ở trường

Bên cạnh việc khảo sát ý kiến của giáo viên chủ nhiệm lớp 4 bằng phiếukhảo sát thì tôi còn tiến hành dự giờ để quan sát các em trong các hoạt độnghọc tập, vui chơi của các em ở trường Qua quan sát tôi thấy phần lớn họcsinh có ngôn ngữ nói khá phong phú, các em cũng đã biết quan tâm đến cácmối quan hệ như bạn bè, thầy cô, các em biết tập trung chú ý vào việc họctập, hăng hái tham gia vào các trò chơi, tích cực luyện tập thể dục để phát

Trang 40

triển trí tuệ và thể lực, các em ham học hỏi, ham tìm tòi kiến thức của các emrất phong phú Tuy nhiên đó chỉ là số ít, đa số các em còn khá là rụt rè, ngạigiao tiếp, khi giao tiếp thường ngấp ngứng, đưa ra câu hỏi lủng củng, chưabiết lắng nghe ý kiến của người khác, không chú ý khi giao tiếp Trong giờhọc hầu hết các em không đóng góp ý kiến khi thảo luận nhóm, khi tham giacác trò chơi hay những hoạt động tập thể mà thường chỉ có một số em khágiỏi Điều này làm cho không khí giờ học trở nên căng thẳng, , không sôi nổi.

Vì vậy trong giờ học giáo viên cần sử dụng các biện pháp và kĩ thuật dạy họctích cực vào tiết dạy làm cho bài học trở nên hấp dẫn từ dó thu hút sự quantâm của học sinh và tạo bầu không khí sôi nổi từ đó giúp các em chiếm lĩnh trithức và rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh

2.2.4.2 Thực trạng dạy học môn Đạo đức lớp 4

Để tìm hiểu thực trạng về dạy học môn Đạo đức của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn A Tôi đã sử dụng câu hỏi 11 trong phiếu điều tra(phần phụ lục), thu được kết quả như sau:

-Bảng 2.2 Mức độ sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học

trong dạy học môn Đạo đức lớp 4

STT Phương pháp, kĩ thuật dạy

Ngày đăng: 04/09/2019, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tô Thị Ánh và Nguyễn Thi Bích Hồng, (1991), Tâm lý học lứa tuổi, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi
Tác giả: Tô Thị Ánh và Nguyễn Thi Bích Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1991
5. Đặng Đình Bôi, “Bài giảng Kĩ năng giao tiếp”, Trường Đại học Nông lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kĩ năng giao tiếp
6. Chu Văn Đức (2005), Giáo trình Kĩ năng giao tiếp (Dùng trong các trường trung học chuyên dụng), NXB HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kĩ năng giao tiếp
Tác giả: Chu Văn Đức
Nhà XB: NXB HN
Năm: 2005
7. Nguyễn Hữu Hợp, Giáo trình Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạođức ở Tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
8. Nguyễn Hữu Hợp, (2013), Lí luận dạy học tiểu học, NXBĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXBĐHSP Hà Nội
Năm: 2013
9. Bùi Văn Huệ, Phan Thị Thanh Mai, Nguyễn Xuân Thức, Giáo trình - Tâm lí học Tiểu học, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình - Tâmlí học Tiểu học
Nhà XB: NXB ĐHSP
10. Đào Nguyên Phúc, Lịch sự trong giao tiếp Tiếng Việt, NXB Chính Trị 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sự trong giao tiếp Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Chính Trị2013
11. Phương pháp dạy học tích cực - Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối tiểu học - Vụ giáo dục Tiểu học - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực - Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVkhối tiểu học
12. Lưu Thu Thủy (chủ biên), Sách giáo khoa Đạo đức lớp 4, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Đạo đức lớp 4
Nhà XB: NXBGD
2. Bộ GD - ĐT, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2007), Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống trong dạy học Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học Khác
3. Bộ GD - ĐT, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2006), Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học Khác
4. Bộ GD - ĐT, Tài liệu dành cho giáo viên Tiểu học (2010), GDKNS trong các môn học ở tiểu học Khác
13. Lưu Thu Thủy (chủ biên), Sách giáo viên Đạo đức lớp 4, NXB GD Khác
14. Nguyễn Văn Trường, (2012), Chuẩn kiến thức kĩ năng (lớp 4) Khác
15. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình – Tâm lí học đại cương, NXB ĐHSP Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w