Việc sử dụng các bộ phận cơ thể con người trởthành những ẩn dụ ý niệm trong văn chương không còn là điều xa lạ, nhóm từchỉ bộ phận cơ thể người được sử dụng khá nhiều với những ý nghĩa p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả khảo sát được đưa ratrong bản khóa luận này là trung thực, và là kết quả nghiên cứu khoa học thực
sự của cá nhân tôi được thực hiện trong thời gian học tập tại trường và chưatừng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Khánh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm
ơn tới các thầy cô giảng viên, cán bộ trong khoa Ngữ Văn, tổ Ngôn ngữ vàđặc biệt là TS Nguyễn Thị Hiền - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫnnhững kiến thức chuyên môn và dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vàhoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai bậc sinh thành cùng gia đình,bạn bè đã luôn bên cạnh, quan tâm, giúp đỡ tôi để tôi đủ nghị lực vượt quacác khó khăn trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiệncông trình nghiên cứu của mình
Do trình độ, vốn kiến thức của bản thân chưa phong phú, nên khóa luậnvẫn chưa được đầy đủ và còn nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo cùng các bạn để bản khóa luận của tôiđầy đủ và tốt hơn
Trang 5H o à n g T h ị K h á n h H u y ề n
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5
1.1 Ngôn ngữ học tri nhận 5
1.2 Ẩn dụ ý niệm 5
1.2.1 Các quan niệm về ẩn dụ 5
1.2.2 Khái niệm ẩn dụ ý niệm 6
1.2.3 Phân loại ẩn dụ ý niệm 8
1.2.3.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) 8
1.2.3.2 Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container) 9
1.2.3.3 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors) 10
1.3 Khái quát về ý niệm bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt 11
1.4 Khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Xuân Quỳnh 13
1.4.1 Khái quát đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu 13
1.4.2 Khái quát đặc điểm thơ Xuân Quỳnh 14
Tiểu kết chương 1 15
Chương 2 CÁC LOẠI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH 17
2.1 Một số ý niệm bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh 17
2.2 Ẩn dụ vật chứa trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh 21
2.2.1 Lòng là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu 21
2.2.1.1 Lòng là vật chứa nỗi nhớ nhung 22
Trang 72.2.1.3 Lòng là vật chứa niềm vui 26
2.2.1.4 Lòng là vật chứa sự tức giận, lo lắng 27
2.2.1.5 Lòng là vật chứa những rung động mới mẻ trong tình yêu 28
2.2.2 Trái tim là vật chứa tâm trạng, cảm xúc 30
2.2.2.1 Trái tim là vật chứa cảm xúc nồng cháy, say mê và hăm hở, rạo rực 32 2.2.2.2 Trái tim là vật chứa nỗi buồn, lo âu, buồn bã, nuối tiếc 32
2.2.2.3 Trái tim là vật chứa sự bồi hồi, xao xuyến, yêu thương 34
2.2.2.4 Trái tim là vật chứa sự đau đớn trong tình yêu 35
2.2.3 Đôi mắt là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu 35
2.2.3.1 Đôi mắt là vật chứa tình cảm yêu thương tha thiết của lứa đôi 36
2.2.3.2 Đôi mắt là vật chứa sự lo lắng, ngại ngùng, băn khoăn 37
2.2.3.3 Đôi mắt là vật chứa niềm vui, nỗi buồn cụ thể 38
2.2.4 Bàn tay là vật chứa những tình cảm yêu thương 40
2.2.4.1 Bàn tay là vật chứa tình yêu thương lứa đôi 40
2.2.4.2 Bàn tay chứa đựng niềm say mê, khao khát 42
2.2.4.3 Bàn tay là vật chứa cho những nỗi vất vả, nhọc nhằn 42
2.2.4.4 Bàn tay là vật chứa nỗi lo sợ, sự đổ vỡ của tình yêu 43
2.2.5 Đầu là vật chứa 44
2.2.5.1 Đầu vật chứa là suy nghĩ, trí tuệ, ý tưởng 44
2.2.5.2 Đầu là vật chứa tình cảm cụ thể trong tình yêu 45
Tiểu kết chương 2 47
KẾT LUẬN 48 NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPCTN : Bộ phận cơ thể ngườiNxb : Nhà xuất bản
Trang 91 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 101.1 Trong ngôn ngữ học tri nhận, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngườiluôn được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ và có vai trò đặc biệt quantrọng trong văn hóa Việt Nam Việc sử dụng các bộ phận cơ thể con người trởthành những ẩn dụ ý niệm trong văn chương không còn là điều xa lạ, nhóm từchỉ bộ phận cơ thể người được sử dụng khá nhiều với những ý nghĩa phongphú và đa dạng.
1.2 Ẩn dụ ý niệm được xem như là cách nhìn một đối tượng này quamột đối tượng khác, theo quan niệm này đây chính là một phương thức biểutượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ, phương pháp này đáp ứng được nhu cầucủa con người qua cách thức con người suy nghĩ về sự vật
1.3 Xuân Diệu khi mới bước chân vào thi đàn văn học, ông đã lạc vàocon mắt xanh của những người có tên tuổi uy tín trong giới nghệ sĩ, vị thế củaông càng được nâng cao hơn qua phong trào thơ mới với những đóng góp tíchcực và ông được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”.Xuân Quỳnh là nữ thi sĩ nổi tiếng có bản sắc riêng, nổi lên giữa những nămchiến tranh khốc liệt, Xuân Quỳnh như cành hoa dại mọc lên giữa rừng bom.Thơ Xuân Quỳnh nhanh chóng được nhiều độc giả đón nhận bởi những bàithơ về mối tình nồng nhiệt, nhưng cũng rất chân thành, sâu lắng Tuy mỗingười ở một thời đại khác nhau, nhưng họ lại có sự gặp gỡ ở tâm hồn cũngnhư cách sử dụng ngôn từ để biểu đạt ý thức nghệ thuật thể hiện những mongmuốn khát khao về tình yêu, của những trái tim yêu mãnh liệt
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Ẩn dụ ý niệm miền bộ
cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh” làm đối tượng nghiên cứucho khóa luận của mình
như công trình nghiên cứu của các tác giả như: Trần Văn Nam (2017), Ẩn dụ ý
niệm về tình yêu trong thơ mới 1932 - 1945,Trần Thị Phương Lý (2012) Ẩn dụ
Trang 11ý niệm phạm trù thực vật trong tiếng Việt, luận án tiến sĩ hay Nguyễn
2.2 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm miền ý niệm bộ phận cơ thể người
Nhìn một cách khái quát, hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trong vàngoài nước đã nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm miền ý niệm bộ phận cơ thể người
Đó là một số nghiên cứu tiêu biểu như của Tomita KenJi người Nhật, côngtrình nghiên cứu về các từ chỉ bộ phận cơ thể người của Tiếng Việt và TiếngNhật qua sự tương quan so sánh Bên cạnh đó, ở Việt Nam đã có nhiều nhànghiên cứu về vấn đề này trong đó có thể kể đến luận án của tác giả Trịnh ThịThanh Huệ đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách tư duy của hai dân
tộc Việt - Hán qua đề tài “Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng
Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu bộ phận cơ thể người)”; luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Linh với đề tài “Đặc trưng tri nhận văn hóa của người Việt (Qua nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người) Những nghiên cứu trên đã lý giải cơ chế tri nhận của ẩn dụ qua
những yếu tố văn hóa, địa lý và qua cách thức tư duy của mỗi dân tộc
Như vậy, các từ chỉ BPCTN là nhóm từ vựng cơ bản, “thuần chất” củamỗi ngôn ngữ Nhóm từ chỉ BPCTN đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ.Tuy những công trình này đã được nghiên cứu khá tỉ mỉ và công phu xong nó
là những điểm khái quát nhất nhưng phương diện này chưa được đề cập tớitrong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Vì vậy, trong khóa luận của mình tôitập trung làm rõ những điểm cụ thể về phương thức ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận
cơ thể người trong thơ của hai tác giả nói trên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trongthơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể
người trong các tập thơ của Xuân Diệu: Thơ thơ, Gửi hương cho gió (2012), NXB Văn học và các tập thơ của Xuân Quỳnh Tự hát, Hoa dọc chiến hào,
Không bao giờ là cuối (2012), NXB văn học.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu các ẩn dụ ý niệm trong
những tập thơ: Thơ Thơ, Gửi hương cho gió (2012,) của nhà thơ Xuân Diệu
và các tập thơ: Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối (2012) của
tác giả Xuân Quỳnh Qua đó, thấy được đặc điểm tư duy của dân tộc qua niềm
ý niệm BPCTN, và qua cơ chế của ẩn dụ chúng ta sẽ hiểu một cách rõ nétnhững cảm nhận tinh thế cũng như cái nhìn sâu sắc của hai tác giả này Và có
sự phân biệt chính xác giữa ẩn dụ ý niệm và đặc trưng phong cách của nhà văn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm
vụ như sau:
- Hệ thống các cơ sở lý thuyết về ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm
- Khảo sát các mô hình ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người
- Phân tích, miêu tả, lí giải sự tri nhận trong các mô hình ẩn dụ ý niệmmiền BPCTN
- Đánh giá, so sánh phong cách nghệ thuật của các tác giả qua các ẩn dụ
ý niệm
- Kết luận làm rõ ý nghĩa của ẩn dụ ý niệm trong thơ của Xuân Quỳnh
và Xuân Diệu nói riêng và trong văn học nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích, miêu tả
Sử dụng phương pháp phân tích miêu tả để chỉ ra những đặc điểm cụthể của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và XuânQuỳnh dưới góc độ của ngôn ngữ học tri nhận
Trang 135.2 Phương pháp phân tích nghĩa tố
Sử dụng phương pháp này nhằm phân tích ý nghĩa gốc của các từ chỉ
bộ phận cơ thể người và sự biến đổi ý nghĩa của nó qua các miền ý niệm trongthơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh
5.3 Phương pháp phân tích ý niệm
Phương pháp được sử dụng để phân tích các ý niệm miền BPCTNtrong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, qua đó để thấy được cơ chế của ẩn dụ ýniệm và phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm và đặc trưng phong cách của nhà văn
5.4 Thủ pháp thống kê, phân loại
Khóa luận đã sử dụng thủ pháp trên để phân loại, thống kê các ẩn dụ ýniệm miền BPCTN trong thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Thủ pháp này
đã giúp khóa luận rút ra nhận xét, về sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộphận cơ thể người trong thơ của hai tác giả nói trên, và rút ra được bảng phânloại với các tiêu chí cụ thể như sau:
6 Đóng góp của khóa luận
Kết quả của khóa luận là những đóng góp mới nhất về sự tìm hiểu,phân tích cơ chế chuyển nghĩa của lớp ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận cơ thể ngườitrong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Qua việc khảo sát, phân tích những ngữliệu cụ thể giúp người đọc có cái nhìn chính xác về ý niệm và ẩn dụ ý niệm.Những kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp thêm về mặt ngữ liệu choviệc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ và văn chương
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận được triển khai theo 2 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các loại ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trong thơXuân Diệu và Xuân Quỳnh
Trang 14Như vậy, có thể khẳng định rằng: “ Ngôn ngữ học tri nhận là mộtkhuynh hướng ngữ nghĩa coi trọng sự tri nhận trong quá trình tri nhận về thếgiới xung quanh Nó đề cao sự tri giác, nhận thức và năng lực của tư duytrong việc phân tích, miêu tả nghĩa của ngôn ngữ” Vượt lên những hạn chếcủa những khuynh hướng ngôn ngữ học trước đó, ngôn ngữ học tri nhận quan
niệm: “Ngôn ngữ là một năng lực tinh thần và khả năng ngôn ngữ của con
người được xác định như một hình thức của tri thức, của khả năng tri nhận”.
Ngôn ngữ học tri nhận đã xác định nghĩa của từ không phải là cái cósẵn, không tồn tại độc lập mà nó được bắt nguồn từ ý thức, từ sự hiểu biết và
cảm nhận của con người: “Nó là ý niệm, sự hình dung, tưởng tượng của người
nói khi dùng tín hiệu ngôn ngữ, thổi vào tín hiệu ngôn ngữ trong nói năng, giao tiếp, suy tưởng” [6,54] Bởi vậy thuật ngữ quan trọng nhất của ngôn ngữ
học tri nhận chính là ý niệm
Hiện nay, khuynh hướng nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã thuhút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ ở những khía cạnh khác nhau,
và đã mang lại những kết quả phong phú Trong phần này, để phục vụ nhiệm
vụ nghiên cứu, khóa luận đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về ngôn ngữhọc tri nhận liên quan trực tiếp đến đề tài
1.2 Ẩn dụ ý niệm
1.2.1 Các quan niệm về ẩn dụ
Quan điểm truyền thống cho rằng “Ẩn dụ được coi là cách thức chuyểnđổi tên gọi dựa theo sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có nét tương đồng hoặcgiống nhau [3;10]” Quan điểm này đã được nêu rõ qua các công trình củaBain 1887, Bafile 1962, Black 1969…
Trang 15Theo ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff cho rằng: “Ẩn dụ ẩn chứa trongngôn ngữ sinh hoạt và trong ca dao, tục ngữ Ẩn dụ không chỉ là vấn đề từngữ mà là lý tưởng, cho phép con người thể hiện suy nghĩ về bản thân và thếgiới Hay nói cách khác hệ thống ý niệm của con người được cấu trúc và xácđịnh theo ẩn dụ” [5;12].
Với cách hiểu ẩn dụ là phương tiện của tư duy, Lý Toàn Thắng đãkhẳng định về tầm quan trọng của ẩn dụ với ngôn ngữ học tri nhận, trongcông trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đặt ẩn dụ trong quan niệm truyềnthống và tu từ học và đưa ra kết luận: “Ẩn dụ truyền thống và văn học tu từthường được coi là một trong hai kiểu chính của phép tu từ dùng theo nghĩabóng dựa trên những khái niệm tương tự và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩabóng của từ ngữ” Ông đã đưa ra cách hiểu mới về ẩn dụ: “Ẩn dụ ý niệm làmột trong sự di chuyển, hay một sự đồ họa cấu trúc và các quan hệ nội tạicủa một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận đích” [3;12]
Như vậy, đã có nhiều quan điểm về ẩn dụ truyền thống và tất cả cácquan điểm này đều cho rằng ẩn dụ là sự so sánh ngầm, là cách gọi tên sự vậthiện tượng này bằng tên của sự vật khác dựa trên sự tương đồng về các mặtnhư hình thức, cách thức, phẩm chất… Với cách nghĩ trên, ẩn dụ truyền thống
là một biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ [12]
1.2.2 Khái niệm ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận (Conpeptual metaphors) là một cơ chếtri nhận, trong khoa học tri nhận thì tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thứchoặc tổng thể những quá trình tri giác - tâm lý - tất cả những cái tạo thànhhành vi của con người Quá trình của nó bắt đầu từ quá trình nhận thức, ýniệm hóa, và cải biến các dữ liệu trong bộ não của con người nhờ đó conngười có sự nhận thức về thế giới
“Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các ánh xạ có
tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác”.
Như vậy ta có thể hiểu rằng ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận là một trongnhững hình thức ý niệm hóa, là cách nhìn sự vật sự việc đối tượng này quamột đối tượng khác, nó có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệmmới, không có
Trang 16quá trình này thì không thể nhận được tri thức mới, và theo nét nghĩa này ẩn
dụ ý niệm là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạngngôn ngữ
Về nguồn gốc, ẩn dụ ý niệm đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới củacon người Đó là cách con người ý niệm hóa một miền tâm trí qua một miềntâm trí khác, các ẩn dụ này hoạt động như là những công cụ tri nhận, phản ánhquá trình ý niệm hóa thế giới, cách thức mà con người suy nghĩ về sự vật
Các ẩn dụ ý niệm thường được diễn đạt theo công thức A như (là) B
“Trong ẩn dụ ý niệm, một miền ý niệm đích có thể được hiểu qua nhiều miền
là những chuyến đi, trong đó cuộc đời là đích và những chuyến đi chính lànhững chặng đường mà con người phải trải qua; hoặc cũng có thể hiểu nhữngchuyến đi là khó khăn, thử thách cũng như sự mới mẻ trong cuộc đời mỗi
người Hoặc những ví dụ khác như: Nhà là nơi để về trong đó: Nhà là đích
đến, và nơi để về chính là địa điểm hướng đến, nhà tôi (ám chỉ đối tượngđược nhắc đến có thể người vợ/ người chồng chỉ mối quan hệ giữa vợ chồng
“Tôi yêu nhà tôi lắm” ); nhà Trắng là nhà nơi ở của Tổng thống Hoa Kì
Về cấu ẩn dụ ý niệm được tạo ra trên quan điểm nhận thức, đó là cơ chếchuyển nghĩa từ miền Nguồn đến miền Đích, trong đó những tri thức ở miềnNguồn ánh xạ lên miền Đích, và những đặc tính của miền Đích được gán chomiền Nguồn Theo nguyên lý tri nhận đã nêu ở trên ẩn dụ ý niệm là cách hiểuđối tượng này qua cách nhìn một đối tượng khác, nghĩa là Nguồn có chứcnăng cung cấp tri thức mới và chuyển tri thức mới đó cho miền Đích Ta cómột số ví dụ về ẩn dụ tri nhận trong sách “Metaphors we live by” của Lakoff
và Johnson như sau:
“THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC; TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH;TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH; HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊNTRÊN; BẤT HẠNH ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI” Trong đó nguồn ởđây chính là (tiền bạc, cuộc hành trình, chiến tranh, lên trên, xuống dưới) bởiđây là những tri thức được chuyển gán cho miền đích (thời gian, tình yêu,hạnh phúc, bất hạnh)
Để thấy rõ được cơ chế chuyển nghĩa từ của hai miền, ta cùng phântích ví dụ: TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH thì có thể dẫn đếnnhững nét hiểu như: “chiến thắng, thất bại, bị thương, tổn thất, hạnh phúc,
Trang 17xung đột… rồi đem gán chúng cho miền đích tình yêu Do đó ý niệm cuộchành trình từ đây có những nét thuộc tính mới.
Ta có bảng so sánh:
Qua bảng so sánh trên, ta thấy miền nguồn là là một sự chuyển dịchtrong không gian (hành trình), và miền đích (tình yêu) là một điều trừu tượng
Về ý nghĩa ẩn dụ tri nhận giúp chúng ta hiểu được những khái niệmtương đối trừu tượng những thuật ngữ mang tính khái quát trở nên dễ hiểuhơn Ví dụ như trong ẩn dụ tri nhận THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC những ýniệm như giữ gìn, tiết kiệm thời gian trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn
Ngoài ra, ẩn dụ ý niệm cũng là một phạm trù của ý thức, nên chúng tachỉ có thể cảm nhận và thông hiểu chúng, khi ẩn dụ ý niệm được thực hiệnbằng những biểu thức ẩn dụ (Metaphorical expression) trong đó ẩn dụ ý niệm
là ý niệm còn câu chữ chính là biểu thức chứa các ý niệm trên “Ngoài ra, ýniệm còn chứa đựng sự hiểu biết của con người và thế giới được hình thànhtrong ý thức, trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ, bởi vậytrong ý niệm có cái phổ quát và cái đặc thù” [12]
1.2.3 Phân loại ẩn dụ ý niệm
1.2.3.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors)
Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors), là tạo ra một cấu trúc ý niệm này từ một cấu trúc ý niệm khác, dùng các từ ngữ thuộc vùng ý niệm này để bàn về ý niệm khác” [11-tr 243] Nói cách khác ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng
cấu trúc lại ý niệm ở miền đích về mặt ý nghĩa khi nhận được những nét thuộctính mới do ý niệm ở miền nguồn ánh xạ lên miền đích Ví dụ, trong ẩn dụ:
“Thời gian là tiền bạc”, ta thấy miền nguồn ở đây là tiền bạc, miền đích làthời gian, miền nguồn đã cấu trúc hóa ý niệm ở miền đích là thời gian, làmcho hai khách thể này trở nên tương đồng, và làm xuất hiện những biểu thứcnhư sau:
Chị tôi đã sử dụng toàn bộ thời gian để xem phim.
Trang 18Anh ta không có thời gian dành cho tôi.
Chiếc máy tính giúp chúng ta tiết kiệm thời gian.
Bài tập này làm tôi tốn mất năm giờ đồng hồ để làm nó.
Đừng để thời gian trôi qua một cách lãng phí như vậy.
Qua những biểu thức trên, ta thấy các biểu thức đều được tạo ra từ ý
niệm về việc sử dụng thời gian “Như vậy, bản chất của ẩn dụ cấu trúc là sự
ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng cùng loại này trong thuật ngữnhững biểu tượng cùng loại khác” [12]
1.2.3.2 Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container)
Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container), được hiểu là “những cách
thức nhìn nhận các sự kiện, các hoạt động, cảm xúc, ý tưởng,… như các vật thể và vật chất” Vật chứa là những vật bị giới hạn bởi một không gian nhấtđịnh và tách biệt khỏi thế giới bên ngoài bởi bề mặt của nó Mỗi bộ phận cơthể con người cũng có thể được xem như những vật chứa như đầu là cơ quancủa đầu não, vật chứa bộ não con người, bụng chứa suy nghĩ và tình cảm, timgan, dạ chứa đựng tình cảm của con người
Bên cạnh đó, mỗi một bộ phận cơ thể con người là là những vật chứanhư đầu là vật chứa bộ não của cơ thể con người, đây là cơ quan điều khiểncao nhất mọi hoạt động của cơ thể con người, lòng, bụng dạ, tim, gan lànhững vật chứa cho suy nghĩ, tình cảm của con người
Mỗi một vật chứa là một ẩn dụ tri nhận, cho phép con người hình thànhranh giới để tri nhận về đối tượng Đặc biệt, ẩn dụ vật chứa bộ phận cơ thểngười được ý niệm qua mô hình: Bộ phận cơ thể người là vật chứa có thể dãn
nở, co kéo, di chuyển chứa bên trong nó những tâm trạng khác nhau của conngười như vui, buồn, hờn giận, lo lắng, đau đớn, hạnh phúc… Chúng ta có thểkhái quát bộ phận cơ thể người là vật chứa qua bảng sau:
Bộ phận cơ thể
xúc
Tôi cứ bắt lòng tôi đau đớn mãi,
Đau vô duyên, đau không để làm gì
(Thở than - Xuân Diệu)
Trang 19Dạ Dạ yêu đời thỏa mấy vẫn chưa an,
Và lòng ta như vậy đó nhân gian
(Mênh mông - Xuân Diệu)
Mắt
Qua ánh mắt anh hiểu điều lo lắng
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay
(Bàn tay em - Xuân Quỳnh)
Bàn tay ấm, mái tóc mềm buông xõa
Ánh mắt nhìn như chấp cả vô biên (Thơ tình cho bạn trẻ - Xuân Quỳnh)
vv
1.2.3.3 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors)
Ẩn dụ định hướng là “cấu trúc hóa một số miền và tạo nên một hệ
thống ý niệm hóa chung cho chúng, chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập kiểu như lên - xuống, vào - ra, sâu - cạn, trung tâm - ngoại vi” [5-tr31] Trong tiếng Việt thường có một số ẩn dụ định
hướng liên quan đến bộ phận cơ thể người như ẩn dụ định hướng lên xuống,
ta có hướng lên là vui, hướng xuống thể hiện nỗi buồn với những biểu thứcnhư sau: VUI LÀ HƯỚNG LÊN: Mắt sáng lên, hai tay reo hò, khi cánh taydang ôm cả sơn hà, chân vút thẳng sắp lên đường vượt trải [5-tr4] BUỒN LÀ
HƯỚNG XUỐNG với các biểu thức như: Chớ mộng cánh tay cành chuốt
ngọc/ Mơ chi con mắt lặng gieo sầu Tay em thả xuôi xuôi như bay vào cõi mộng Ngoài ra, còn có ẩn dụ định hướng ra vào trong đó định hướng VÀO
LÀ TẬP CHUNG, RA LÀ THIẾU TẬP CHUNG Ví dụ VÀO LÀ TẬPCHUNG NHƯ SAU:
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc dài
(Xa cách - Xuân Diệu)
Trang 20Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt
(Xa cách - Xuân Diệu)
Ngược lại RA LÀ THIẾU TẬP CHUNG: Ngậm
ngùi tặng trái tim lưu lạc Anh chỉ
xin em về một chút hương
(Muộn màng - Xuân Diệu) Như đối cùng ta dưới cảnh mưa
Mà lòng không hiểu, trán bơ vơ,
(Bên ấy bên này - Xuân Diệu)
“Ẩn dụ định hướng có sự khác biệt so với ẩn dụ cấu trúc ở chỗ đây làloại ẩn dụ ý niệm không có sự sắp xếp lại về mặt cấu trúc một ý niệm nàytrong thuật ngữ của một ý niệm khác, nhưng nó tồn tại tổ chức của cả một hệthống ý niệm theo mẫu của một hệ thống nào đó khác” [7]
Tóm lại, những ẩn dụ định hướng này được tích lũy từ lâu đời, đượcxuất phát và lý giải từ kinh nghiệm văn hóa của con người, và có tác dụng lớntrở thành cơ sở để các nhà văn nhà thơ khám phá, tìm tòi và sáng tạo, tạo nênnhững phá cách hay và độc đáo góp phần hình thành phong cách văn chươngriêng của mỗi tác giả
Qua ba loại ẩn dụ ý niệm mà khóa luận đã trình bày, chúng ta thấy rằngphạm vi của ẩn dụ ý niệm được mở rộng rất nhiều so với phạm vi của ẩn dụ tu
từ theo quan điểm truyền thống chỉ coi ẩn dụ như một phương thức của tu từhọc thì đến đây ẩn dụ tri nhận được hiểu là cách nhìn đối tượng này thông qua
sự hiểu biết về một đối tượng khác đã biết
1.3 Khái quát về ý niệm bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt
BPCTN là những bộ phận khác nhau, thực hiện những chức năng riêng,được thống nhất làm nên chỉnh thể một cơ thể người
Tuy nhiên việc phân loại tên gọi BPCTN còn gặp nhiều tranh cãi bởi sựtồn tại của hai hệ thống tên gọi cùng lúc, đó là tên gọi theo khoa học và hệ
Trang 21thống tên gọi theo thói quen Trong khóa luận này chúng tôi lựa chọn cách gọitheo thói quen và phân loại theo đặc điểm về vị trí thành ba nhóm lớn như sau:
- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần đầu bao gồm: Đầu,
mắt, não, tóc, sọ, tai, tóc, mắt, mũi, miệng, má, lông mi, lông mày, cằm, trán…
- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần nội tạng gồm: Lòng ,
dạ, gan, tim, ruột, mề, đại tràng,… Những bộ phận này tuy không được nhận
diện rõ ràng nhưng mỗi bộ phận lại có một chức năng riêng rất rõ ràng nênchúng được sử dụng nhiều trong ẩn dụ và hoán dụ Nó mang ý nghĩa biểu thịcho tư tưởng, tình cảm, trạng thái tâm lý của con người
- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần còn lại: Tay, chân,
đầu gối, bàn chân, lưng, ngón tay, eo, ngực, nách
Từ kết quả thống kê, theo bộ phận hành chức, chúng tôi nhận thấy cáctên gọi BPCTN xuất hiện không đồng đều trong các ẩn dụ Ẩn dụ dựa vàonhững đặc điểm về chức năng của bộ phận cơ thể người với những sự vật,hiện tượng trong thế giới khách quan
Trong tiếng Việt và đặc biệt là văn học, rất nhiều bộ phận cơ thể ngườiđược sử dụng để biểu đạt những ý niệm trừu tượng về tâm lý, tính cách củacon người cho nên đã hình thành các mô hình tri nhận như BỘ PHẬN CƠ
THỂ ĐẠI DIỆN CHO TÂM LÍ, CẢM XÚC TRÍ TUỆ ví dụ như lòng, dạ,
gan là những bộ phận tiêu biểu đại diện cho PHẨM CHẤT TÍNH CÁCH
CỦA CON NGƯỜI: Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật/ Không cho dài
thời trẻ của nhân gian.
ĐẦU ÓC LÀ VẬT CHỨA CỦA TRÍ TUỆ: Đầu óc họ đã quen tính toán
/Mỗi khoản trong đời đều xếp ngăn.
TIM LÀ VẬT CHỨA CỦA TÌNH YÊU: Trái tim buồn sau lần áo mỏng
/Từng đập vì anh vì những trang thơ.
BÀN TAY LÀ VẬT CHỨA ĐỰNG TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ:
Tay cắm hoa, tay để treo tranh/ Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc / Tay
em dừng trên vầng trán lo âu / Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ.
MẮT LÀ VẬT CHỨA NHỮNG TÌNH CẢM CỤ THỂ: Mắt ướt trông nhau
lệ muốn tuôn/ Lưu luyến chi nhau để sớt buồn.
Trang 22Như vậy, mỗi một bộ phận cơ thể người đại điện cho những miền trinhận khác nhau và mỗi bộ phận có một ý nghĩa riêng.
1.4 Khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Xuân Quỳnh
1.4.1 Khái quát đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu (1916 -1985), tên thật là Ngô Xuân Diệu, ông được biết đếnnhư là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơmới”(Hoài Thanh), “ông hoàng của thơ tình” Ông trở thành chủ soái của
phong trào thơ mới với những tập thơ tiêu biểu như “Thơ thơ (1938), Gửi
hương cho gió (1945)… và rất nhiều tập thơ khác đã làm nên tên tuổi của
Xuân Diệu
Thơ ông thể hiện tâm sự của cái tôi cá nhân vừa mới lạ nhưng cũng rất
ý nhị, kín đáo Nhà phê bình Hoài Thanh đã viết trong “Thi nhân Việt Nam”rằng : “Tôi đã trót yêu cái hồn thơ Xuân Diệu, một hồn thơ luôn rộng mở,chẳng bao giờ để lòng mình khép kín, một hồn thơ tha thiết, rạo rực, bănkhoăn” (1-tr137) Cũng chính những đặc điểm ấy đã tạo nên một lối thơ rất lạ,rất duyên và cũng rất độc đáo mang tên Xuân Diệu
Xuân Diệu đã thổi một làn gió mới vào văn đàn Việt Nam bởi sự táobạo và những cách tân mới mẻ của mình, không khó để bắt gặp sự cách tântáo bạo này trong những trang thơ của ông Trước hết đó là cách tổ chức hìnhthức câu thơ mới mẻ, cùng một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính mà chúng ta
chưa từng bắt gặp trong thơ ca truyền thống, bài thơ Vội vàng là một ví dụ
điển hình cho phong cách ngôn ngữ thơ Xuân Diệu
Những hình ảnh hết sức mới lạ, cùng cách dùng từ táo bạo như: “Hoa
bướm, đồng nội xanh rì” cùng với những cách kết hợp từ mới lạ:“Tháng giêng ngon như cặp môi gần, Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa, Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Không những thế cách sử dụng linh hoạt
nhịp thơ cũng góp phần tạo nên tính nhạc và diễn tả cảm xúc thay đổi đột ngộtkhi sung sướng, vui vẻ nhưng mặt khác cũng đầy lo sợ
Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh đã nhận xét rằng: “Xuân Diệu
là thế, lời thơ có lúc rất Tây, nhưng lại mang được cái cốt cách rất đáng trântrọng, “cái dáng yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất
Trang 23Việt Nam, đã quyến rũ lòng ta” Ta đến với Xuân Diệu, ngoài những vần thơlàm người ta rung động còn có cái gì đó ở Xuân Diệu mà ta rất đỗi nâng niu.
Đó là hồn thơ kết tinh của hai nền văn học Đông và Tây đã đưa Xuân Diệulên đến đỉnh cao nhất “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”.Với những
tập thơ như:“Thơ Thơ, Gửi hương cho gió hay Anh đã giết em” đã góp phần
tạo nên tiếng nói riêng của Xuân Diệu trong văn học Việt Nam
1.4.2 Khái quát đặc điểm thơ Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh (1942 - 1988), tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, làmột nữ thi sĩ nổi tiếng trong thi đàn văn học Việt Nam, Xuân Quỳnh xuất hiện
và để lại dấu ấn rất đặc biệt bởi một trái tim hồn hậu, và đầy nữ tính Hồn thơchị còn mang đậm những trăn trở,lo âu, khắc khoải ngay cả khi viết về nhữngđiều bình dị nhất
“Cái tôi trữ tình trong thơ chị là cái tôi được xây cất bởi những trạngthái tâm hồn đầy mâu thuẫn của một trái tim đa cảm và tinh tế, cũng có lúc cáitôi ấy tự tách mình, phân lập mình thành những thái cực khác nhau để tự mổ
xẻ, để thấu lý đạt tình sự vật hiện tượng và đặc biệt để nhận ra chính conngười mình” (2-tr142)
Có lẽ, nét riêng độ đáo trong thơ Xuân Quỳnh chính là giọng điệu thơluôn mãnh liệt, sôi nổi nhưng cũng rất chân thành, đằm thắm thể hiện tâm sựcủa người phụ nữ trong tình yêu:
“Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn vỡ”
Mặt khác, nhà thơ thường viết về những điều bình dị nhất trong cuộcsống như tiếng gà gáy, tình yêu cuộc sống, hay cả những loài hoa dại tưởngchừng như không có gì đặc biệt
Với những tác phẩm như: “Anh, Sóng, Thuyền và Biển, Mẹ của anh”…
Chính những đóng góp mệt mài của mình suốt 30 năm trong chặng đường sángtác, Xuân Quỳnh đã trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất của thơ
Trang 24ca thời chống Mỹ, và chính những nỗ lực bền bỉ ấy đã được đền đáp bằng sựyêu mến của độc giả ngay từ những ngày đầu cho đến ngày hôm nay.
Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai nhà thơ sinh ra trong thời đại khácnhau, nhưng đều có những đóng góp nổi bật cho văn học Việt Nam, đặc biệttrong mảng thơ tình Mỗi người có một phong cách nghệ thuật riêng, nhưng tabắt gặp ở họ một điểm chung trong tâm hồn, đó chính là khao khát đến cháybỏng trong tình yêu, chính vì vậy mang đến sự bất tử trong thơ viết về tìnhyêu Không đơn thuần là tình yêu đôi lứa mà còn là tình yêu thiên nhiên, tìnhyêu cuộc sống, khát khao giao cảm mãnh liệt với đời Tất cả điều đó đã tạonên hai đại diện thơ tình xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam Hoài Thanh
đã nói rằng: “Tôi trót yêu hồn thơ Xuân Diệu, một hồn thơ đang rộng mở,chẳng bao giờ để lòng mình khép kín, một hồn thơ tha thiết, rạo rực, bănkhoăn” chính vì thế ông được mệnh danh là nhà thơ mới nhất trong nhữngnhà thơ mới Ngược lại, ta bắt gặp một hồn thơ đôn hậu, đằm thắm, nhưngcũng không kém phần mãnh liệt trong thế giới thơ tình Xuân Quỳnh
Như vậy, ta thấy sự đồng điệu của hai nhà thơ trong đề tài thơ tình vànhững cải biến về đặc điểm ngôn ngữ thơ, đặc biệt trong khóa luận này tôimuốn đề cập đến những ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trong thơXuân Diệu và Xuân Quỳnh, đặc biệt là loại ẩn dụ vật chứa được hai tác giả sửdụng nhiều hơn cả
Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ học tri nhận một khuynh hướng ngữ nghĩa, coi trọng sự trinhận về thế giới xung quanh Đối với khuynh hướng nghiên cứu này, ý niệmchính là thuật ngữ đầu tiên và quan trọng nhất
Căn cứ vào những công trình nghiên cứu trước đây, có thể khẳng định
ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận là một trong những hình thức ý niệm hóa Ẩn
dụ ý niệm không chỉ là sự tương đồng giản đơn giữa sự vật, hiện tượng nàyvới sự vật hiện tượng khác mà nó là cách nhìn sự vật này qua một đối tượngkhác, qua đó hình thành những ý niệm mới, cơ chế tri nhận này mang tính dântộc và thời đại
Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người là nhóm từ cơ bản, thuần chất nhất
Trang 25hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Đây là nhóm từ có có số lượng lớn, xuất hiện với tần xuất lớn trong ngôn ngữ sinh hoạt cũng như ngôn ngữ văn chương.
Ẩn dụ ý niệm gồm ba loại đó là ẩn dụ vật chứa, ẩn dụ định hướng, và ẩn
dụ cấu trúc Ba loại ẩn dụ trên đã góp phần minh chứng cho quan niệm: “Ẩn
dụ không chỉ là cách nói bóng bẩy dựa trên sự tương đồng giữa các sự vật, hiệntượng, mà bản chất của ẩn dụ tri nhận là ở sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhậnnhững hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác” Đây cũng
là những lí thuyết cơ sở giúp chúng tôi triển khai những chương sau của khóaluận
Trang 26Chương 2 CÁC LOẠI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH
2.1 Một số ý niệm bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân
Quỳnh
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm miền BPCTN trong
hai tập thơ “Thơ Thơ”và “Gửi hương cho gió” của tác giả Xuân Diệu, và thu
được kết quả như sau:
Bảng 1: Bảng thống kê từ ngữ chỉ BPCTN trong thơ Xuân Diệu
STT BPCTN Từ chỉ
Số lần xuất hiện/số tác phẩm
(Lời thơ vào tập Gửi hương cho gió)
3 Dạ 5/48 2,1 Hỡi lòng dạ sâu như vực thẳm
(Bên ấy bên này)
7 Lưng 1/48 0,4 Chặt giữa ngang lưng sự sống còn
(Cứ phải là em)
8 Má 2/48 0,8 Má hồng phơi phới, mắt long lanh
(Rạo rực)
(Đời anh em đã đi qua)
(Bài thơ thuở nhỏ)
11 Mi 2/48 0,8 Với mi kia, mắt nọ, với môi này
Trang 27STT BPCTN Từ chỉ
Số lần xuất hiện/số tác phẩm
16 Ruột 2/48 0,8 Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt
(Anh đã giết em)
17 Tai 2/48 0,8 Hãy nghe lẫn lộn nghé bên tai
(Huyền Diệu)
(Biệt ly êm ái)
19 Tóc 4/48 1,6 Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
(Đây mùa thu tới)
người đó là: lòng, dạ, bàn tay, đôi mắt, chân, cổ, đầu, vú, vai, chân, ruột,
răng, miệng, mi, má, đầu, gan,… Những bộ phận thuộc phần nội tạng chiếm
số lần xuất hiện nhiều nhất, trong đó lòng xuất hiện 67 lần trên 48 tác phẩm chiếm 27,7%, trái tim xuất hiện 22 lần chiếm 9,1%, những bộ phận thuộc phần nội tạng khác như ruột, gan, có số lần xuất hiện tương đối ít và chỉ chiếm những tỉ lệ nhỏ như ruột 0,8%, và gan cùng tỉ lệ là 0,8% Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy bởi lòng và tim là những bộ phận có kích thước, hình
Trang 28dáng rộng có thể giãn nở và đây là những hình ảnh thường thấy trong văn học
để diễn tả tâm lí, cảm xúc và tình cảm của con người Bên cạnh đó, những bộ
phận thuộc phần đầu như đôi mắt, khuôn mặt, đầu óc cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ mắt 14,9%, đầu 4,1%, mặt 4,5% những bộ phận cơ thể này góp phần tri
nhận cho lí trí, cảm xúc, hành động của con người Còn lại là những bộ phận
thuộc phần còn lại như bàn tay, chân là những bộ phận đại diện cho kĩ năng, khả năng, hay tình yêu thương của con người bàn tay được sử dụng nhiều hơn
cả chiếm 17,3 %, chân có số lượng xuất hiện ít hơn với 2,9%.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm miền BPCTN trong
ba tập Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối của tác giả Xuân
Quỳnh và đã thống kê thành bảng sau:
Bảng 2: Bảng thống kê từ ngữ chỉ BPCTN trong thơ Xuân Quỳnh
Số lầnxuất hiện/
số tácphẩm
Tỉ lệ %theo sốlần xuấthiện
Ví dụ
Cô này lác, cô kia thì cằm lẹm
(Thơ viết cho mình và những người
5 Đầu 9/41 4,6 Đầu tóc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa
(Thơ vui về phái yếu)
(Thuyền và Biển)
7 Lưng 3/41 1,5 Những hốc chéo luồn sống lưng nhỏ bé
(Cột đèn góc phố)
8 Má 1/41 0,5 Đêm về sương ướt má
(Thơ tình cuối mùa thu)
Trang 29STT Từ chỉBPTN
Số lầnxuất hiện/
số tácphẩm
Tỉ lệ %theo sốlần xuấthiện
12 Mũi 1/41 0,5 Con cười nhăn cả mũi
(Mùa xuân mừng con thêm một tuổi)
13 Răng 3/41 1,5 Hở cái răng mới thay
(Mùa Xuân mừng con thêm một tuổi)
Trán tôi dô ra bướng bỉnh hơn, bàn
tay thô lại còn vụng nữa (Thơ viết cho mình và những người
Đối với nhà thơ Xuân Quỳnh, chị đã sử dụng nhiều những ý niệm bộ
phận cơ thể người như: bàn tay với 35 lần xuất hiện chiếm 18%, trái tim 19
lần với
9,8%, đôi mắt có 13 lần với 6,7% Bởi đây là những bộ phận gắn liền với
người phụ nữ, thể hiện được nét duyên dáng cũng như vẻ đẹp tâm hồn của họ
Trang 30Mượn những bộ phận này để ẩn dụ cho những phẩm chất của người phụ nữ,người vợ,
Trang 31người mẹ Ngược lại những bộ phận khác như lưng chỉ có 3 lần xuất hiện số 1,5%, cằm, vai, mũi, mi với 1 lần xuất hiện và chỉ chiếm 0,5% Sở dĩ những
bộ phận trên được tác giả Xuân Quỳnh sử dụng ít bởi nó mang hàm ý hẹp, khó
có thể diễn tả được khao khát cháy bỏng yêu và được yêu của Xuân Quỳnh
Chúng tôi nhận thấy có sự phân chia rõ rệt giữa các ý niệm như các ý
niệm thuộc phần đầu là: đầu, mắt, miệng… thường được các tác giả sử dụng để
tri nhận hình dáng con người hoặc trí tuệ con người Bên cạnh đó, các ý niệm
thuộc phần nội tạng như: lòng, bụng, trái tim,… lại được dùng để tri nhận ý chí,
cảm xúc, tình cảm của con người Cũng qua quá trình khảo sát chúng tôi nhậnthấy thơ Xuân Quỳnh và Xuân Diệu xuất hiện loại ẩn dụ ý niệm với tầnsuất lớn đó là ẩn dụ vật chứa Loại ẩn dụ này có tác dụng rất lớn trong việc thểhiện tình cảm của các tác giả, cũng như đóng góp một phần không nhỏ vào quátrình phát triển miền ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ ca nóiriêng và trong tiếng việt nói chung.Vì vậy, ở khóa luận này chúng tôi chủ yếuphân tích ẩn dụ vật chứa trong thơ ca của Xuân Quỳnh và Xuân Diệu
Có rất nhiều ý niệm bộ phận cơ thể người xuất hiện trong những tập thơcủa Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, tuy nhiên khóa luận sẽ đi sâu vào những ýniệm cụ thể và tiêu biểu nhất để làm rõ được biện pháp ẩn dụ ý niệm cũngnhư làm rõ đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ của hai nhà thơ
2.2 Ẩn dụ vật chứa trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh
2.2.1 Lòng là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu
Trong hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của tác giả Xuân Diệu và ba tập thơ “Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối”của Xuân Quỳnh mà chúng tôi đã khảo sát, tôi nhận thấy rằng ý niệm “lòng” có
tần số xuất hiện lớn nhất Với 48 bài thơ trong hai tập thơ của Xuân Diệu, ýniệm lòng được xuất hiện 30 lần và trong 41 tác phẩm của Xuân Quỳnh, lòng
đã xuất hiện tới 19 lần Ý niệm “lòng” trong cả hai sáng tác của nhà thơ đều
thuộc các ẩn dụ ý niệm vật chứa, đều là vật chứa, cho tâm trạng, cảm xúc củacon người trong tình yêu
Theo nghĩa gốc, “lòng” là bộ phận trong bụng của con vật bị giết thịt
dùng làm thức ăn nói chung của con người, là bộ phận chứa đựng nói chung