1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh pháp luật về hợp đồng lao động việt nam và hàn quốc tt

23 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 258,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số quy định về HĐLĐ hiện hành còn nhiều bất cập, hoặc thiếu các quy định cần thiết như: quy định về các loại HĐLĐ; các trường hợp chấm dứt HĐLĐ và thủ tục chấm dứt HĐLĐ để nghỉ việc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

HĐLĐ là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng của chủ thể là NLĐ (NLĐ) có nhu cầu về việc làm để có thu nhập (tiền lương) bảo đảm cho cuộc sống của bản thân và gia đình; với NSDLĐ (NSDLĐ) có nhu cầu thuê mướn lao động phục vụ sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận Trong đó, NLĐ chịu sự quản lý của NSDLĐ, cam kết làm việc để hưởng lương và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận

Tại Việt Nam, BLLĐ (BLLĐ) đã được ban hành từ năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào các năm 2002, 2006 và 2007 Năm 2012, Việt Nam tiếp tục sửa đổi, bổ sung lần thứ 4 BLLĐ và dự kiến sẽ tiếp tục sửa đổi vào năm 2018-2019 TTLĐ, các QHLĐ ngày càng phát triển và không ngừng biến động, mặt khác, TTLĐ cũng như nhận thức của các chủ thể tham gia QHLĐ cũng đã

có nhiều thay đổi Trong khi đó, pháp luật HĐLĐ cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều điều khoản quy định chung chung, không rõ ràng trong các phiên bản khác nhau của BLLĐ với 3 lần sửa đổi đã gây khó khăn trong việc tiếp thu, hiểu và thực hiện Một số quy định về HĐLĐ hiện hành còn nhiều bất cập, hoặc thiếu các quy định cần thiết như: quy định về các loại HĐLĐ; các trường hợp chấm dứt HĐLĐ và thủ tục chấm dứt HĐLĐ để nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí; thủ tục chung về chấm dứt HĐLĐ; hậu quả pháp lý và cơ chế xử lý HĐLĐ vô hiệu; chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; quy định về việc làm thử, thời gian làm thử; các quy định về nội dung HĐLĐ; các điều kiện chấm dứt HĐLĐ; trả trợ cấp thôi việc…Có những quy định pháp luật chưa theo kịp với thực tiễn vận hành của TTLĐ Việc giải thích, áp dụng các quy định của pháp luật về HĐLĐ chưa thống nhất, ảnh hưởng tới quá trình thực hiện cũng như giải quyết các tranh chấp lao động Tính hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực HĐLĐ chưa cao Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về HĐLĐ cũng phát sinh nhiều vấn đề bất cập Việc giao kết sai loại hợp đồng còn diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ Nội dung HĐLĐ còn sơ sài, không bảo đảm các nội dung tối thiểu theo quy định của pháp luật Rất nhiều HĐLĐ thực chất đã không được “giao kết” mà chủ yếu là “gia nhập”; các điều khoản trong văn bản HĐLĐ hầu hết được phía NSDLĐ soạn sẵn, nhiều điều khoản gây bất lợi cho NLĐ, tuy nhiên do sức ép có việc làm, ý thức pháp luật chưa cao hoặc do thiếu bản lĩnh nên NLĐ thường miễn cưỡng chấp nhận Tình trạng “lách luật” trong giao kết, chấm dứt HĐLĐ, sa thải NLĐ trái pháp luật diễn ra khá phổ biến, dẫn tới việc nhiều tranh chấp lao động phát sinh

Tại Hàn Quốc, BLLĐ cũng đã được sửa đổi và bổ sung liên tục từ năm

1953 đến nay (01/09/2014) BLLĐ Hàn Quốc gồm nhiều luật, trong đó tiêu chuẩn luật lao động gồm 12 chương, trong đó chương 2: HĐLĐ được quy định

rõ ràng, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển lành mạnh của TTLĐ Tuy nhiên, các QHLĐ ngày càng phát triển và không ngừng biến động, mặt khác, TTLĐ cũng như nhận thức của các chủ thể tham gia QHLĐ cũng đã có nhiều thay đổi Trong khi đó, các quy định pháp luật về HĐLĐ cũng đã bộc lộ

Trang 2

nhiều hạn chế Việc thay đổi liên tục các điều luật HĐLĐ khiến cho NLĐ cũng như NSDLĐ gặp nhiều hạn chế trong việc thực hiện và ghi nhớ các khoản mục trong HĐLĐ

Thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐLĐ giữa hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc trong những năm qua cho thấy, mặc dù có sự chuẩn bị tốt từ khâu tuyển chọn NLĐ và quản lý lao động nhưng ở Việt Nam, QHLĐ trong các doanh nghiệp của Hàn Quốc vẫn là “điểm nóng” về tranh chấp lao động, nhất là tranh chấp lao động tập thể Ở Hàn Quốc, trong những năm qua hàng nghìn NLĐ Việt Nam đã được đưa sang làm việc theo hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài thông qua các công ty môi giới lao động, góp phần giải quyết tình trạng thiếu lao động cho thị trường sản xuất phát triển bậc nhất thế giới Tuy nhiên, do công tác tập huấn, hướng dẫn của các doanh nghiệp đưa NLĐ đi làm việc tại Hàn Quốc chưa sâu sắc; trình độ, sự hiểu biết pháp luật lao động nói chung, pháp luật HĐLĐ Hàn Quốc của NLĐ Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu, do đó nhiều NLĐ vi phạm pháp luật Hàn Quốc Từ đó đã ảnh hưởng đến môi trường sản xuất kinh doanh và quan hệ hợp tác về lao động giữa hai quốc gia

Mặc dù vậy cho đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể về học thuật cũng như thực tiễn sâu sắc, có tầm cỡ, có tính khái quát cao để giúp các bên của QHLĐ trong các doanh nghiệp đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam và trong các doanh nghiệp tại Hàn Quốc hiểu, áp dụng đúng pháp luật lao động nói chung, pháp luật HĐLĐ nói riêng Đây chính là xuất phát điểm của ý tưởng nghiên cứu so sánh pháp luật HĐLĐ Việt Nam và Hàn Quốc bằng một luận án tiến sỹ luật học Vì vậy e đã chọn đề tài: “ So sánh pháp luật về HĐLĐ Việt Nam và Hàn Quốc” làm luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tổng quát là xây dựng luận án về

so sánh chế định HĐLĐ Việt Nam và Hàn Quốc, từ đó nêu kiến nghị về các giải pháp nhằm nâng cao tính tương thích và hiệu quả thực hiện pháp luật HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh hợp tác đầu tư và hợp tác về lao động giữa hai nước

- Mục tiêu cụ thể:

+ Góp phần làm rõ bối cảnh lịch sử, tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó đi sâu vào nghiên cứu tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, NLĐ Hàn Quốc làm việc tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Hàn Quốc, NLĐ Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc qua đó phục vụ cho các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư, tuyển dụng lao động ở Việt Nam

+ Đồng thời, qua việc nghiên cứu luật lao động của Việt Nam và Hàn Quốc

sẽ góp phần giúp cho NLĐ Việt Nam ở Hàn Quốc nắm bắt và hiểu được luật + Đưa ra đề xuất, kiến nghị về biện pháp hoàn thiện pháp luật về HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, thực hiện

và giải quyết các vấn đề có liên quan đến pháp luật về HĐLĐ của hai hệ thống

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tập trung vào nghiên cứu so sánh pháp

Trang 3

luật về HĐLĐ của luật lao động Việt Nam và Hàn Quốc Nội dung so sánh được thể hiện qua việc so sánh 2 chế định HĐLĐ của hai nước, chủ yếu là quy định của Bộ luật lao động năm 2012 của Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này với hệ thống các quy định về HĐLĐ theo luật lao động Hàn Quốc

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung nêu và giải quyết những vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận về HĐLĐ; bối cảnh lịch sử, tình hình kinh tế, xã hội

và hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam và Hàn Quốc

- Hệ thống các quy định của pháp luật về HĐLĐ theo luật lao động Việt Nam với các quy định của pháp luật về HĐLĐ theo luật lao động Hàn Quốc Qua đó đánh giá quy định của pháp luật về HĐLĐ của hai quốc gia, rút ra những mặt ưu điểm và nhược điểm của các quy định nêu trên

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về HĐLĐ trong các doanh nghiệp đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam và các doanh nghiệp sử dụng NLĐ Việt Nam tại Hàn Quốc Việc nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật HĐLĐ, những ưu điểm, hạnh chế và nguyên nhân

- Những vấn đề liên quan khác đến HĐLĐ, pháp luật HĐLĐ phục vụ cho

đề tài

4 Những đóng góp mới của luận án

Luận án có những đóng góp về lý luận và thực tiễn sau đây:

- Góp phần làm rõ bối cảnh lịch sử, tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó đi sâu vào nghiên cứu tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, NLĐ Hàn Quốc làm việc tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Hàn Quốc, NLĐ Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc

- Trình bày một số vấn đề chung về HĐLĐ, pháp luật về HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc làm cơ sở nghiên cứu tiếp theo

- Trình bày một cách hệ thống, phân tích, đánh giá quy định pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó đặc biệt làm rõ hệ thống pháp luật lao động hiện hành giữa hai quốc gia So sánh, làm rõ những điểm giống nhau và khác nhau trong quy định của pháp luật về HĐLĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc; việc

áp dụng các quy định này trong thực tiễn mối QHLĐ trong các doanh nghiệp; các tranh chấp lao động có liên quan đến quy định về HĐLĐ và nguyên nhân của các tranh chấp đó

- Luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện, nâng cao tính tương thích pháp luật về HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, thực hiện và giải quyết các vấn đề có liên quan đến pháp luật về HĐLĐ của hai hệ thống Đồng thời, nêu các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HĐLĐ của Việt Nam và Hàn Quốc trong thời gian tới

- Luận án là tài liệu nghiên cứu khoa học đầu tiên về so sánh có hệ thống hai chế định HĐLĐ trong luật lao động giữa hai quốc gia có quan hệ kinh tế, lao động, có giá trị tham khảo về luật lao động cho các nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật, chủ doanh nghiệp tuyển dụng lao động, NLĐ tiếp cận việc

Trang 4

làm, đồng thời giúp các chủ thể hiểu biết thêm thông tin, hiểu biết pháp luật để

tiến hành giải quyết các tranh chấp lao động về HĐLĐ đúng pháp luật

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản về HĐLĐ cũng như thực tiễn thực hiện HĐLĐ của Việt Nam, Hàn Quốc Luận án đặc biệt cần thiết đối với NLĐ cũng như NSDLĐ trong việc nâng cao kiến thức pháp luật nhằm hiểu đúng, hiểu hết quy định xây dựng HĐLĐ, từ đó thực hiện đúng HĐLĐ trong các doanh nghiệp sao cho linh hoạt và hiệu quả, tránh trường hợp hiểu không đúng và hoặc lạm quyền để biến HĐLĐ thành công cụ để hưởng lợi cho NSDLĐ ảnh hưởng đến lợi ích của NLĐ cũng như lợi ích chung của xã hội Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện và sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động; cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập về pháp luật lao động; cho NLĐ và đối tượng khác của cả hai nước có mong muốn tìm hiểu

về pháp luật lao động nói chung, pháp luật về HĐLĐ của cả hai nước Việt Nam

và Hàn Quốc nói riêng

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và tổng quan, tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận án có kết cấu gồm 04 chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Vấn đề HĐLĐ, nội dung HĐLĐ đối với NSDLĐ và NLĐ đã được đề cập đến trong các giáo trình Luật lao động dành cho việc giảng dạy các hệ đào tạo ở bậc đại học của một số cơ sở đào tạo luật và các chuyên ngành khác Ngoài ra,

còn có các tài liệu tham khảo, sách chuyên khảo, luận án luận văn như Tìm hiểu BLLĐ Việt Nam" (2002) của Phạm Công Bảy, “Pháp luật HĐLĐ Việt Nam - thực trạng và phát triển” (2003) của tác giả TS Nguyễn Hữu Chí, “Soạn thảo,

kí kết HĐLĐ và giải quyết tranh chấp về HĐLĐ” (2005) của Phạm Công Bảy,

“Bình luận khoa học khoa học BLLĐ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Tiến sĩ Lưu Bình Nhưỡng (Chủ biên), “HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam” (2014) của Th.S Phan Thị Thanh Huyền (chủ biên), Sách chuyên khảo

“Pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ ở Việt Nam” của TS Đỗ Thị

Dung,… đề cập rõ từ khái niệm, bản chất, nguồn gốc, vai trò, thực trạng thực hiện giao kết, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt HĐLĐ Từ đó đưa ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật HĐLĐ,… , Bên cạnh đó, còn có các đề tài khoa

học như Pháp luật Việt Nam với các nhà đầu tư Nhật Bản (2009) của Trường Đại học Luật Hà Nội, do TS Lưu Bình Nhưỡng làm Chủ nhiệm, "Nghiên cứu nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung BLLĐ trong giai đoạn hiện nay" (2010) của

Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Trần Thị Thúy Lâm làm Chủ nhiệm đề tài,

Trang 5

"Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp" (2011)

của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Đỗ Ngân Bình làm Chủ nhiệm đề tài,

"Cho thuê lại lao động - Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" (2012) của Trường

Đại học Luật Hà Nội do TS Nguyễn Xuân Thu làm Chủ nhiệm đề tài,… Các

luận án, luận văn như Luận án tiến sĩ “HĐLĐ trong cơ chế thị trường ở Việt Nam” (2002) của NCS Nguyễn Hữu Chí - Đại học luật Hà Nội, Luận văn thạc

sĩ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐLĐ (2001) và luận án tiến sĩ

“HĐLĐ vô hiệu theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” (2009) của tác giả Phạm Thị Thúy Nga, Luận án tiến sĩ “ Pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ- những vấn đề lí luận và thực tiễn” Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013) - trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ “Pháp luật về quyền quản lí lao động của người SDLĐ ở Việt Nam” (2014) của tác giả Đỗ Thị Dung

- Đại học Luật Hà Nội Về bài đăng tạp chí, hội thảo khoa học đều đề cập khá

đa dạng và chi tiết liên quan đến nội dung HĐLĐ Có thể kể đến là “Vài nét về HĐLĐ ở một số nước trên thế giới” của tác giả Lưu Bình Nhưỡng - Tạp chí luật học tháng 5/1995, "HĐLĐ theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Lưu Bình Nhưỡng - Tạp chí luật học số 1/1996, “Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ” của T.S Đào Thị Hằng- Tạp chí Luật học số 16 (2011), Bài "HĐLĐ trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ" của tác giả Lưu Bình Nhưỡng, Tạp chí luật học số 5/2002, Bài “Một số vấn đề về chế độ HĐLĐ theo quy định của BLLĐ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ” của tác giả Nguyễn Hữu Chí - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 4/2003, Bài“Những vấn đề cần sửa đổi về HĐLĐ trong BLLĐ” của TS Trần Thị Thúy Lâm - Tạp chí Luật học số 9/2009, Bài "Thực tiễn áp dụng BLLĐ và hướng hoàn thiện pháp luật lao động" của ThS Lưu Bình Nhưỡng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 5 (142) T3/2009, Bài Bàn thêm về dự thảo BLLĐ sửa đổi, TS Lưu Bình Nhưỡng – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (Văn phòng Quốc hội) số 11/2012, Bài “Giao kết HĐLĐ theo BLLĐ năm 2012 từ quy định đến nhận thức thực hiện” của tác giả PGS.TS Nguyễn Hữu Chí - tạp chí Luật học số 3/2013, Bài “Thực hiện, chấm dứt HĐLĐ theo BLLĐ năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực hiện” của

tác giả PGS.TS Nguyễn Hữu Chí và Th.S Bùi Kim Ngân - Tạp chí Luật học số

8/2013, Bài “HĐLĐ- công cụ quản lý lao động của NSDLĐ” của tác giả Đỗ Thị Dung - Tạp chí luật học số 11/2014, Bài “Pháp luật HĐLĐ từ quy định đến thực tiễn” của tác giả Lê Thị Hoài Thu – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 (279) 12/2014, Bài “Một số vấn đề về thực hiện HĐLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012” của tác giả Đinh Thị Chiến- Tạp chí khoa học pháp lý số 2/2015, Bài “Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về HĐLĐ trong các doanh nghiệp” của tác giả Lê Thị Hoài Thu – Tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp số 08 (288) 4/2015, Bài“Hoàn trả chi phí đào tạo trong trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng theo khoản 3 điều 37 BLLĐ” – Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 9/2015 số 18, Bài “Điều khoản bảo mật- hạn chế cạnh tranh trong HĐLĐ” của Đoàn Thị Phương Diệp - Tạp chí “Nghiên cứu

lập pháp” số 24 (304) kỳ 2- tháng 12/ 2015; Về báo cáo, hội thảo khoa học thì

Trang 6

có Hội thảo về “Giải quyết tranh chấp HĐLĐ" (9/2015) được tổ chức tại CEO

Coaching do luật sư Nguyễn Băng Tú- Công ty Luật TNHH TA Legal làm diễn

giả, Bài “Một số đề xuất hoàn thiện các quy định về HĐLĐ trong Dự thảo BLLĐ” của Nguyễn Thị Bích, Hội thảo “Góp ý sửa đổi, bổ sung BLLĐ” của

Trường Đại học Luật TP.HCM tổ chức tháng 5/2012

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Hàn Quốc

Các giáo trình gồm “World of Labour Law in Korea” (2015) của Lee John, Nxb HUNE,“Labour Law in Korea” (2011) của Kim hyung bae, Nxb Parkyoungsa Đưa ra tất cả những định nghĩa, khái niệm giải thích từng nội dung liên quan đến HĐLĐ Các đề tài khoa học gồm có “Đối với luật HĐLĐ của nước ngoài chủ yếu nghiên cứu thảo luận và áp dụng phương án đó vào đất nước mình” (2006), Hiệp hội luật lao động Hàn Quốc, “Nghiên cứu QHLĐ thời kỳ quá độ” (2008), Viện nghiên cứu lao động Hàn Quốc Luận án, luận văn thì có Luận án tiến sĩ “nghiên cứu về hạn chế của cấu trúc và tính chất của luật trong điều kiện lao động” (1987) của tiến sĩ Lee young hee - Department of law in Seoul National University, Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu về luật HĐLĐ”

(1999) của tiến sĩ Lee seung gil, Khoa luật Đại học Seong kyun Kwan, Luận án

tiến sĩ “Pháp luật về HĐLĐ có thời hạn” (2004) của tiến sĩ No sang hyeon, Đại học Tokyo, Luận án thạc sĩ “Nghiên cứu về vấn đề pháp luật trong việc giao kết HĐLĐ” (2008) của thạc sĩ Ryu jae yul, Khoa luật Đại học Hàn Quốc, Luận án thạc sĩ “ Nghiên cứu về pháp lý và hạn chế trong vô hiệu và hủy của HĐLĐ”(2010) của thạc sĩ Kim tae woo, Khoa luật Đại học Hàn Quốc, “Nghiên cứu về tuyển dụng không chính thức, thử việc, học nghề trong luật lao động”

(2007) của thạc sĩ Kim hyun soo, Khoa luật Đại học Hàn Quốc Bài đăng trên

tạp chí: “Bản lý lịch kê khai nhầm và huỷ và huỷ bỏ của HĐLĐ”, cuốn thứ 30

số 4 (tháng 2 năm 2014) pp.89-117 của Ha kyung hyo, Tạp chí luật học về tài

sản, “Nghiên cứu về thời hạn lao động, tạp chí nghiên cứu luật lao động” số 32 (năm 2012) trang 1- 66 của Khang heone, Trường đại học Seoul, “Thay đổi điều kiện lao động và sa thải của NSDLĐ” số 14/12/2008 trang 71-110 của No

byung ho, Tạp chí so sánh luật lao động – Hiệp hội so sánh luật lao động Hàn

Quốc Báo cáo, hội thảo khoa học: “Quy trình quản lý đối với NLĐ không kỳ hạn và bộ quy trình quản lý lao động đối với lao động có kỳ hạn” (2007) của

Bộ lao động, “Tầm quan trọng và phân tích HĐLĐ” (2014) của Shin, dong jin, Sách luật lao động, Nxb Joong Ang Economic, “Tiền lương NLĐ quan hệ tuyển dụng của chủ hộ, thời gian lao động đồng thời hình thái HĐLĐ” (2015), Cơ quan thống kê Hàn Quốc, “Trong tình hình thực tế tuyển dụng so sánh chính quy và không chính quy”(2015), Cơ quan thống kê Hàn Quốc

1.1.3 Tình hình nghiên cứu tại một số nước khác trên thế giới

Sách tham khảo gồm có: “Japanese labor law” (2015), Skeno Khazo Translated by Lee John, Nxb Bobmunsa, “Understanding Labor and Employment Law in China” (2009) Chương XVI trang 332 của Ronald Brown New York: Cambridge University Press, “Labour Law in China”(2010) của

Chen, Nxb Kluwer Law Int'l, Luật lao động của Trung Quốc, "Employment law for business" (2005), Dawn D Bennett-Alexander, Laura B Pincus,

Trang 7

McGraw-Hill Companies, "Employment Law" (2010), Hugh Collins, Oxford University Press, “EU Labor Law” (2012), A.C.L Davies, Nxb Edward Elgar Publishing Inc, “Perspectives on Labour law” (2003), của A.C.L Davies, Nxb Cambridge University Luận án: “40 Years On” Industrial law Journal (Oxford

Journals) Volume 36, Issue 4, P397-424 (British) Lord Wedderburn, Labour Law 2008

1.2 Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số nhận xét đánh giá

Mặc dù các công trình khoa học đã nêu không trùng với đề tài luận án, nhưng ở các mức độ khác nhau, có chứa đựng những vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài luận án Ở nước ngoài đặc biệt là Hàn Quốc cũng như Việt Nam

có khá nhiều công trình nghiên cứu tỉ mỉ quy định của pháp luật và thực tiễn, cũng có khá nhiều công trình liên quan đến vấn đề hợp đồng nhưng chưa có công trình nào đưa ra được sự so sánh một cách có hệ thống giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc trong từng vấn đề lý luận và thực tiễn nội dung HĐLĐ Tuy nhiên nhờ có các công trình nghiên cứu trên mà tác giả có thể đúc rút, sắp xếp, đánh giá một cách tổng quan các khía cạnh của HĐLĐ ở cả hai quốc gia Từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu cho đề tài

1.3 Những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong luận án

Luận án cần giải quyết ba vấn đề lý luận cơ bản sau đây:

Một là, Phân tích vấn đề lý luận trong HĐLĐ của tất cả các nước trên thế giới trong đó Việt Nam và Hàn Quốc Căn cứ trên những sự khác nhau trong lý luận về khái niệm trong luật HĐLĐ cũng như hoàn cảnh ra đời, quá trình phát triển, đặc điểm, nội dung HĐLĐ thì có thể đưa ra được những tiêu chuẩn chung nhất về HĐLĐ Từ những tiêu chuẩn đó mà có thể so sánh HĐLĐ giữa hai nước một cách chuẩn mực nhất Nhận diện về quan hệ lao động làm sâu sắc hơn về mặt lý luận Các công trình trước chỉ trình bày đặc điểm HĐLĐ rất chung chung, có thể thấy không nhất thiết phải có hợp đồng mới nhìn nhận có quan hệ lao động Mà cứ có quan hệ việc làm thì xếp vào lao động, chứ không phải hình thức có hợp đồng thì xếp vào lao động Khiến nhiều doanh nghiệp để

né tránh bảo hiểm nên đã kí hợp đồng dân sự nhưng bản chất là HĐLĐ nên phải đưa về quan hệ lao động Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích chỉ ra những đặc điểm về mặt lý luận đó của HĐLĐ do đó trong luận án có thể phân tích một cách đầy đủ chính xác vấn đề này

Hai là, có thể phân tích so sánh sự khác nhau về khái niệm, chủ thể, nguyên tắc giao kết, hình thức, nội dung, loại hình, trình tự giao kết, hiệu lực HĐLĐ, thực hiện HĐLĐ, chấm dứt HĐLĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc Ở Hàn Quốc NLĐ và NSDLĐ không chỉ áp dụng LTCLĐ mà còn áp dụng Luật công đoàn, Luật giới hạn thời gian làm việc, Luật án lệ,….ngược lại ở Việt Nam trong vấn

đề lao động chỉ áp dụng BLLĐ và Luật công đoàn từ đó có thể thấy được hệ thống áp dụng luật đối với HĐLĐ ở hai nước khá khác nhau Do vậy căn cứ vào việc áp dụng những quy định về HĐLĐ và QHLĐ thực tế, có thể phân tích, nhìn nhận một cách tỉ mỉ, chi tiết về nội dung quy định của cả hai nước, từ đó thấy được những điểm tốt, điểm chưa tốt góp phần cải thiện nâng cao hệ thống

Trang 8

luật lao động của cả hai nước

Thứ ba, từ những so sánh pháp luật hai nước ở trên có thể thấy ở Hàn Quốc

có rất nhiều vấn đề tranh chấp xảy ra mà lại không có quy định trong luật mà phải căn cứ vào pháp lý của án lệ nên không có tiêu chuẩn nhất quán, tương tự

ở Việt Nam có nhiều quy định cụ thể hơn Hàn Quốc mặc dù vậy trường hợp phát sinh tranh chấp và không có quy định áp dụng thì cũng khó có thể giải quyết tranh chấp Từ đó đòi hỏi phải đưa ra được những giải pháp để giải quyết tình trạng bấp cập trong HĐLĐ của cả hai nước như hiện nay Ngoài ra cũng có thể căn cứ vào những ưu điểm trong các quy định về HĐLĐ ở các nước trên thế giới để tham chiếu, áp dụng cho Việt Nam và Hàn Quốc, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng của bộ luật

Tiểu kết

Việc nghiên cứu vấn đề pháp luật HĐLĐ đã được đề cập trên các phạm vi, phương diện khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được chuyên sâu, toàn diện một cách hệ thống việc so sánh về lý luận và thực tiễn theo quy định pháp luật hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc

Việc nghiên cứu vấn đề “So sánh pháp luật về HĐLĐ Việt Nam và Hàn Quốc” là nhiệm vụ khoa học cần thiết trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ HĐLĐ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HĐLĐ 2.1 Một số vấn đề lý luận về HĐLĐ

2.1.1 Khái niệm HĐLĐ

Để hiểu được chính xác định nghĩa về HĐLĐ chúng ta sẽ nghiên cứu về lịch sử hình thành HĐLĐ của các nước trên thế giới Lịch sử hình thành HĐLĐ bắt đầu xuất phát từ thời Roma cổ đại Theo Luật của Roma tiền đề hình thành cho sự phát triển HĐLĐ chính là dựa trên sự thỏa thuận giữa hai bên Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học luật lao động và những nhận thức mới về hàng hóa sức lao động, hầu hết các nước đều có những thay đổi nhận thức về HĐLĐ Do đó, bên cạnh luật dân sự được coi là cơ sở pháp lý tạo ra các nguyên lý chung cho các quan hệ hợp đồng, thì trong việc điều chỉnh QHLĐ đã

có những đạo luật riêng như BLLĐ, Luật về tiêu chuẩn lao động, luật bảo vệ lao động nữ, lao động vị thành niên, hoặc được điều chỉnh thông qua án lệ

Như vậy, có thể thấy bản chất của HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa hai chủ thể,

một bên là NLĐ có nhu cầu về việc làm, một bên là NSDLĐ có nhu cầu thuê mướn NLĐ để mua sức lao động Trong đó, NLĐ cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLĐ và đặt mình dưới sự quản lý của NSDLĐ để có một khoản thu nhập gọi là tiền lương

2.1.2 Đặc điểm

HĐLĐ cũng có đặc điểm của hợp đồng nói chung đó là sự tự do, tự nguyện

và bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ Song với tư cách là hình thức pháp

lý của quá trình trao đổi, mua bán loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao

Trang 9

động, HĐLĐ có những đặc điểm riêng giúp ta phân biệt HĐLĐ với những hợp đồng khác trên thị trường Nhìn chung đặc điểm của HĐLĐ có thể thấy ở

những đặc trưng sau: Chủ thể tham gia giao kết HĐLĐ có tính đích danh - thực hiện với tư cách cá nhân đặc biệt với NLĐ, HĐLĐ có đối tượng là việc làm có trả công, có sự phụ thuộc pháp lý giữa các bên trong HĐLĐ, HĐLĐ phải được thực hiện liên tục theo thời gian, HĐLĐ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định hay vô hạn định

2.1.3 Vai trò của HĐLĐ

HĐLĐ là hình thức pháp lý của mối QHLĐ, HĐLĐ xác định, ghi nhận quyền, nghĩa vụ trách nhiệm của các bên trong mối QHLĐ, HĐLĐ là cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề phát sinh của QHLĐ

2.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật HĐLĐ

2.2.1 Khái niệm pháp luật HĐLĐ

pháp luật về HĐLĐ được hiểu là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định về giao kết, thực hiện cũng như chấm dứt HĐLĐ mà người lao động và người sử dụng lao động phải tuân thủ trong quan hệ HĐLĐ

2.2.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về HĐLĐ

Các loại HĐLĐ giao kết

Mỗi nước đều có điều kiện về kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau nên chủng loại HĐLĐ có sự khác biệt rất lớn Tuy nhiên hầu hết ở các nước trên thế giới đều chia các HĐLĐ thành hai loại chính là HĐLĐ có kì hạn và HĐLĐ không

kì hạn

Nội dung HĐLĐ giao kết

Nội dung của HĐLĐ bao gồm các quyền lợi và nghĩa vụ của NSDLĐ và NLĐ cùng với nội dung về điều kiện lao động

HĐLĐ vô hiệu

Trường hợp các bên không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về giao kết HĐLĐ như về chủ thể, nội dung HĐLĐ sẽ có thể dẫn đến HĐLĐ vô hiệu Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia có sự quy định khác

Trang 10

nhau về HĐLĐ vô hiệu, song nhìn chung đều chia HĐLĐ vô hiệu thường được chia làm 2 loại: HĐLĐ vô hiệu từng phần và HĐLĐ vô hiệu toàn bộ

2.2.2.2 Thực hiện HĐLĐ

Điều chuyển NLĐ

Điều chuyển NLĐ thông thường là việc thay đổi loại công việc và vị trí làm việc của NLĐ

Sửa đổi, bổ sung HĐLĐ

Sửa đổi bổ sung HĐLĐ là việc sửa đổi các điều khoản trong HĐLĐ Việc sửa đổi, bổ sung HĐLĐ thường dẫn đến sự thay đổi về quyền và nghĩa vụ của

các bên trong QHLĐ

Tạm hoãn thực hiện HĐLĐ

Tạm hoãn HĐLĐ là trường hợp các bên tạm thời ngừng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong một khoảng thời gian nhất định nhưng QHLĐ vẫn còn tồn tại

2.2.2.3 Chấm dứt HĐLĐ

Căn cứ chấm dứt HĐLĐ

Do thỏa thuận (ý chí 2 bên)

Theo quan điểm của ILO thì hai bên có thể thỏa thuận với nhau việc chấm dứt HĐLĐ hoặc theo luật của chính nước sở tại (Điều 9- Công ước số

114)

Ở hầu hết các nước trên thế giới như Nhật Bản1 2, Anh, Pháp3 4, Đức5 , trường hợp chấm dứt do ý chí hai bên tiêu biểu nhất là khi thời hạn HĐLĐ kết thúc hay thỏa thuận thôi việc

• Do ý chí của bên thứ ba hoặc sự kiện pháp lý

Về chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này theo quy định của ILO sẽ tùy theo quy định tại luật tại nước sở tại, Ở Nhật Bản và Đức cũng như nhiều nước đều quy định trong luật trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí người thứ ba hoặc

sự kiện pháp lý phát sinh ví dụ như đối với chủ thể mất hành vi dân sự (chết, mất tích, đương sự bị kết án, ).6 Theo án lệ ở Pháp và Anh cũng xem đây là căn cứ bên thứ ba mà quy định chấm dứt HĐLĐ

• Do ý chí của một bên

Nhìn chung theo pháp các nước đều chia trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí của một bên gồm: trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí của NLĐ và trường

1 Thời hạn HĐLĐ kết thúc - Điều 629 Luật dân sự Nhật Bản

2 Thỏa thuận thôi việc (trong Luật dân sự các quy định hành vi pháp lý liên quan đều được áp dụng theo Điều 90, Điều 93~96 Luật dân sự Nhật Bản)

3 rupture dun commun accord, L.122-1 Luật lao động Pháp

4 Khoản 2 Điều 1134 Luật dân sự Pháp

5 Điều 125, 623 Luật dân sự Đức - để công nhận việc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ thì phải trình bày bằng văn bản

6 Luật doanh nghiệp Nhật Bản, Điều 471; Điểm 11 Khoản 2 Điều 309; Điều

475

Trang 11

hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí của NSDLĐ Những lý do để NLĐ chấm dứt HĐLĐ với NSDLĐ thường là những trường hợp NSDLĐ không đảm bảo các điều kiện làm việc theo HĐLĐ, không được trả lương theo quy định, NLĐ bị ngược đãi hoặc cưỡng bức lao động Những lý do NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ thường là: những trường hợp do lỗi của NLĐ hoặc vì những lý do khách quan mà người sử dụng lao động không thể khắc phục được hoặc vì sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường (lý do kinh tế) , NLĐ đến tuổi về hưu, sa thải kỉ luật, ngoài ra còn có sa thải vì lý do kinh tế

Thủ tục chấm dứt HĐLĐ

Khi chấm dứt HĐLĐ ngoài lý do chấm dứt thông thường các bên phải tuân thủ những thủ tục nhất định như nghĩa vụ báo trước hoặc thông báo với cơ quan

có thẩm quyền

Do thỏa thuận (ý chí 2 bên)

Mỗi nước đều có những trình tự thủ tục khác nhau trong việc chấm dứt HĐLĐ do thỏa thuận Thông thường các quy định này sẽ đề cập đến những thời điểm hiệu lực cũng như trình tự thông báo cho các bên trước khi chấm dứt HĐLĐ,

Do ý chí của bên thứ ba và sự kiện pháp lý phát sinh

Về thủ tục chấm dứt HĐLĐ trường hợp NLĐ chết hoặc mất tích thì đương nhiên HĐLĐ sẽ chấm dứt còn NSDLĐ không phải là cá nhân mà chết thì người

kế thừa sẽ tiếp tục điều hành tổ chức kinh tế và theo nguyên tắc thì HĐLĐ sẽ không chấm dứt Về điểm này thì tất cả các nước trên thế giới đều giống nhau, điểm khác nhau duy nhất là tùy mỗi quốc gia mà quy định này được chiếu vào các bộ luật hoặc các án lệ khác nhau

Do ý chí của một bên

Thủ tục chấm dứt HĐLĐ do ý chí của một bên thì tùy từng trường hợp cụ thể, tùy từng quốc gia mà có trình tự thủ tục khác nhau Về phía NSDLĐ, thời gian thông báo trước khi chấm dứt HĐLĐ được quy định rõ Tóm lại, có thể thấy việc NSDLĐ muốn chấm dứt HĐLĐ với NLĐ ở mỗi nước đều theo nguyên tắc “lý do chính đáng” (hợp lý) Trường hợp không có lý do chính đáng hợp lý mà chấm dứt HĐLĐ thì vấn đề tuân thủ trình tự thông báo chấm dứt HĐLĐ sẽ không cần thiết phải xem xét Chấm dứt HĐLĐ không có lý do chính đáng thì việc chấm dứt đó đương nhiên được xem là vô hiệu, khi đó việc có hay không thông báo chấm dứt cũng không phải vấn đề cần phải xem xét Tuy nhiên, trường hợp chấm dứt với lý do chính đáng hợp lý nhưng lại không thông báo theo thủ tục thì việc chấm dứt đó được xem là vô hiệu hay có hiệu lực chính là vấn đề cần thiết phải đặt ra

Giải quyết quyền lợi khi chấm dứt HĐLĐ

Khi chấm dứt HĐLĐ thì việc giải quyết quyền lợi cho NLĐ là vấn đề quan trọng nhất để kết thúc QHLĐ Tuy nhiên việc giải quyết quyền lợi khi chấm dứt dứt HĐLĐ còn phụ thuộc vào chủ thể chấm dứt và việc chấm dứt hợp pháp hay bất hợp pháp

Ngày đăng: 04/09/2019, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w