1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp trường nghĩa không gian trong hai tiểu thuyết lịch sử “búp sen xanh” của nhà văn sơn tùng và “sương mù tháng giêng” của nhà văn uông triều

60 84 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu trường nghĩa không gian trong “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng giêng” không chỉ giúp ta phát hiện ra những vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc, bên cạnh đó cảm nhận được vẻ đẹp th

Trang 1

“SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

“SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ HIỀN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ cùng

toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà

Nội 2 đã tạo điều kiện để tôi được học và tìm hiểu nghiên cứu một cách tốt

nhất trong quá trình làm khóa luận, đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

đến TS Nguyễn Thị Hiền, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa

luận này

Do hạn chế về thời gian, cũng như kiến thức của bản thân, nên khóa

luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý, và ý

kiến đánh giá của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Giáp Thị Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Khóa luận này là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi có sự tham khảo của những người đi trước và dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hiền

- Toàn bộ từ ngữ, số liệu thống kê trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

- Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học chưa từng được công bố trên bất kì công trình khoa học nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Giáp Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Trường nghĩa 6

1.1.1.Khái niệm về trường nghĩa 6

1.1.2 Phân loại trường nghĩa 7

1.2.3.Ý nghĩa việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn học 11

1.2 Trường nghĩa chỉ không gian 14

1.2.1 Khái niệm không gian trong văn học 14

1.2.2 Trường nghĩa không gian trong văn học 15

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng Giêng” 16

1.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” 16

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng” 18

CHƯƠNG 2 TRƯỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN TRONG TÁC PHẨM “BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG VÀ “SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU 21

2.1 Trường nghĩa không gian trong “búp sen xanh” của Sơn Tùng .21

2.1.1 Không gian làng quê 22

2.1.2 Không gian đường lên kinh đô Huế và cảnh đẹp miền Trung 26

2.1.3 Không gian kinh đô Huế 29

2.1.4 Không gian Sài Gòn đầu thế kỉ XX 33

Trang 6

2.2 Trường nghĩa không gian trong “Sương mù tháng giêng” của

Uông Triều 38

2.2.1 Không gian chiến trận 38

2.2.2 Không gian âm phủ .47

2.3 So sánh cách xây dựng không gian trong hai tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng Giêng” .49

2.3.1 Giống nhau 49

2.3.2 Khác nhau 50

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 7

chiến chống quân Nguyên Mông lần 2 (1285) 40 Bảng 2.5 Bảng khảo sát từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong cuộc

chiến chống quân Nguyên Mông lần 3 (1288) 43

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Có ngôn ngữ mới có văn học Văn học là phương tiện để thể hiện hình thái của ngôn ngữ Do vậy, khi phân tích một tác phẩm văn học ta phải gắn với việc tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm văn học đó Ngôn ngữ là chất liệu để cấu thành tác phẩm văn học nên việc nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ trong văn học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, giúp ta hiểu rõ được một tác phẩm văn học, bước đầu tiên là từ chất liệu đặc trưng của nó (chất liệu ngôn từ)

Mọi sự kiện trong đời sống đều được diễn ra trong một không gian cụ thể Nhiệm vụ của văn học là tái hiện lại những sự kiện trong đời sống đó Do vậy, khi tái hiện lại đời sống, các nhà văn không thể bỏ qua yếu tố không gian trong sáng tác của mình Không gian góp phần xây dựng thế giới trong tác phẩm văn học tạo nên tính tổng thể trong tác phẩm đó

1.2.“Búp sen xanh” và “Sương mù tháng giêng” là hai tiểu thuyết lịch sử thành công của hai nhà văn Sơn Tùng và Uông Triều Điểm chung ở hai tác phẩm này là đều viết về những vĩ nhân trong lịch sử của dân tộc, từ đó thể hiện lòng tự hào, tự tôn của dân tộc Bên cạnh đó, hai tác phẩm thu hút người đọc bởi cách xây dựng không gian độc đáo

Việc tìm hiểu trường nghĩa không gian trong “Búp sen xanh” và

“Sương mù tháng giêng” không chỉ giúp ta phát hiện ra những vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc, bên cạnh đó cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên trù phú của quê hương, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc trong tinh thần quật khởi chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, đồng thời thấy được tư tưởng của nhà văn muốn gửi gắm qua việc khắc họa không gian trong tác phẩm Tìm hiểu về trường nghĩa không gian trong hai cuốn tiểu thuyết này cũng góp phần định hướng trong đổi mới dạy và học ngữ văn theo quan điểm tích hợp ngôn ngữ - văn học – lịch sử

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Không gian và trường nghĩa chỉ không gian trong tác phẩm văn học

Trang 9

Nghiên cứu về không gian và trường nghĩa chỉ không gian trong các tác

phẩm văn học, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học như: Lý luận

chung về không gian nghệ thuật trong văn học của Vũ Minh Đức; luận văn

thạc sĩ Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Thị Thơm (2013); Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức Bốn của Nguyễn Thị Hiền (2013), sách chuyên khảo Trường nghĩa trong Tiếng Việt –

Trường hợp trường nghĩa “lửa” và trường nghĩa “nước” của Nguyễn Văn

Thạo (2017), các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu về trường nghĩa nói chung, và về các quan niệm về không gian nghệ thuật trong văn học Đây

là một không gian phức tạp, không chỉ bao gồm không gian vật chất mà còn

là không gian trong tưởng tượng của con người Như vậy, trong ngôn ngữ và văn học từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trường nghĩa

và không gian trong văn học

Dựa trên cơ sở đó, với đề tài của mình chúng tôi cũng muốn đóng góp phần nhỏ vào trong quá trình tìm hiểu trường nghĩa nói chung và trường nghĩa chỉ không gian trong ngôn ngữ nói riêng

2.2 Sơ lược về tình hình nghiên cứu hai tác phẩm Búp sen xanh của Sơn Tùng và Sương mù tháng giêng của Uông Triều

Nhà văn Sơn Tùng, sinh năm 1928 quê ở Nghệ An là thế hệ nhà văn trưởng thành trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước của dân tộc Việt Nam Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông dành phần lớn để viết về chủ tịch Hồ Chí Minh Trong các tác phẩm đó, nổi tiếng hơn cả là tiểu thuyết “Búp sen xanh” Với tác phẩm này, Sơn Tùng được xem

là người đầu tiên trên văn đàn Việt Nam mở một hướng mới khi viết về Bác

Hồ, không phải xuất phát từ cái nhìn về một vị lãnh tụ, mà từ một con người bình dị, một con người mang tâm hồn dạt dào của người dân xứ Nghệ

Nhà văn Uông Triều, sinh năm 1977 là một trong những cây bút trẻ văn xuôi xuất sắc của văn học Việt Nam kể từ sau năm 1975 Mảng sáng tác xuất sắc nhất của Uông Triều chính là những truyện viết về đề tài lịch sử, và lấy điểm tựa thời gian là nhà Trần Nhà Trần cùng với những chiến công chói lọi,

ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông trở thành niềm tự hào của

Trang 10

dân tộc Hào khí Đông A đã mang lại nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho

các nhà văn, và Uông Triều không nằm ngoài sức hút đó Tiểu thuyết “Sương

mù tháng Giêng” được đánh giá là một trong những tác phẩm hay và thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Uông Triều Tác phẩm đã bao quát một bối cảnh lịch sử rộng lớn về chiến thắng của vua tôi nhà Trần trước hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông (1285 – 1288)

Cùng thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử và cùng viết về những vĩ nhân của dân tộc,có một số công trình nghiên cứu về nội dung, tư tưởng của tác

phẩm như: khóa luận tốt nghiệp Diễn ngôn lịch sử trong “Sương mù tháng

Giêng” của Vũ Thị Minh Thu (2017), tôi đọc “búp sen xanh” của Thảo

Nguyên (2015), kiến giải lịch sử trong tiểu thuyết “sương mù tháng Giêng”

của Phương Nhã,… Tuy nhiên,từ góc độ ngôn ngữ nói chung, trường nghĩa nói riêng chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu Do vậy, với

những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài Trường nghĩa không gian trong hai

tiểu thuyết lịch sử “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng và “Sương mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều để nghiên cứu, mong muốn góp phần

làm sáng tỏ về trường nghĩa chỉ không gian trong hai tác phẩm trên, đồng thời làm phong phú hơn về ngữ liệu trong việc dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường Phổ thông

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

- Khảo sát các từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong hai cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng giêng”

- Phân tích giá trị biểu đạt của các từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ không gian trong hai cuốn tiểu thuyết

- So sánh sự giống và khác nhau trong việc sử dụng các từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong hai tác phẩm để tìm ra đặc trưng phong cách của nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi chú trọng sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp miêu tả: miêu tả được đặc điểm của các trường nghĩa chỉ không gian trong tác phẩm và các từ ngữ biểu đạt không gian đó

Phương pháp phân tích (phân tích ngữ nghĩa và phân tích ngữ cảnh): để làm

rõ giá trị biểu hiện của từ trong những trường hợp cụ thể, bên cạnh đó chỉ ra được ý nghĩa, tác dụng của các từ ngữ chỉ không gian đối với việc thể hiện giá trị tư tưởng của tác phẩm

Ngoài hai phương pháp trên, thủ pháp phân loại và thống kê cũng được

sử dụng trong khóa luận:

Thủ pháp thống kê: Dùng để tổng hợp ngữ liệu, qua đó bước đầu có cái nhìn khái quát về trường nghĩa chỉ không gian trong hai tác phẩm

Thủ pháp phân loại: Dùng để phân loại ngữ liệu giúp cho việc tìm hiểu vấn đề được xác định một cách cụ thể và minh bạch hơn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Trường nghĩa không gian trong

hai tiểu thuyết lịch sử “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng và “Sương mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Khóa luận tập trung khảo sát và phân tích những từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian của trong tác phẩm “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng

và “Sương mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều

6 Đóng góp của khóa luận

Từ lý thuyết về trường nghĩa, tôi muốn đặt ra nhiệm vụ xác định những trường nghĩa chỉ không gian trong hai tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng và “Sương mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều

Làm rõ được việc sử dụng các từ ngữ chỉ không gian trong hai tiểu thuyết, qua đó khẳng định được những đóng góp của Sơn Tùng và Uông Triều đối với ngôn ngữ nghệ thuật

Góp phần làm sáng tỏ hơn về trường nghĩa chỉ không gian trong sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khóa luận được triển khai theo 2 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Trường nghĩa chỉ không gian trong tác phẩm “Búp sen xanh” của Sơn Tùng và “Sương mù tháng giêng” của Uông Triều

Sau cùng là phần tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Trường nghĩa

1.1.1.Khái niệm về trường nghĩa

Từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một khối khổng lồ, phức tạp cả về cấu tạo và ngữ nghĩa Do vậy, việc phân lập khối lượng lớn đó thành các trường nghĩa là một việc làm tất yếu nhằm xác định tính hệ thống và chỉ ra được mối quan hệ về nghĩa giữa các từ Dựa trên lý thuyết trên, có rất nhiều quan niệm

+ Vốn từ của một hệ thống ngôn ngữ có mối quan hệ về nghĩa với nhau

và chúng cấu thành một hệ thống hoàn chỉnh Hệ thống này không cố định,

mà chúng luôn luôn có sự biến đổi

+ Vì vốn từ của một ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau, nên không thể nghiên cứu chúng theo từng bộ phận riêng lẻ mà cần phải đặt chúng trong một

hệ thống hoàn chỉnh khi nghiên cứu

+ Do các từ có mối quan hệ về nghĩa với nhau, nên chúng ta chỉ có thể nhận biết được bằng cách phân tích ý nghĩa, so sánh, đặt từ trong mối quan hệ

về nghĩa với những từ khác Một từ chỉ có thể có nghĩa khi nó nằm trong trường nghĩa của nó

- Lý thuyết về trường nghĩa của Porzig (Đức): Trái với Trier, nghiên cứu về trường nghĩa của Porzig dựa trên sự phân tích mối quan hệ bên trong đồng xuất hiện giữa các từ, các học giả khác thường gọi lý thuyết trường nghĩa của Porzig là trường cú pháp Bởi Porzig cho rằng nghĩa của từ bị giới hạn bởi ngữ cảnh mà chúng được sử dụng và các từ xung quanh chúng quy định Theo ông, sẽ có một từ trung tâm (Thường là động từ) mà nhờ từ đó mà nghĩa những từ xung quanh nó được xác định

Trang 14

- Ở Việt Nam, vấn đề về trường nghĩa cũng được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu,

Đỗ Việt Hùng, trong đó, tiêu biểu là nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu Qua thực tế nghiên cứu của mình, ông đã cho rằng: “ Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ những tiểu hệ thống chứa chúng” Từ đó ta có

thể rút ra khái niệm về trường nghĩa như sau:Trường nghĩa là tập hợp những

từ có nét chung về nghĩa Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu chí về nghĩa gọi là một trường nghĩa

1.1.2 Phân loại trường nghĩa

Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc ( quan hệ trực tuyến, quan hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn), Đỗ Hữu Châu đã chia trường nghĩa trong tiếng việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính), trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang)

1.1.2.1 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)

Tập hợp các từ có thể kết hợp với một từ gốc cho trước thành một chuỗi chấp nhận được gọi là trường tuyến tính Chẳng hạn, trường tuyến tính với từ

“mặt” là một tập hợp từ sau: “trái xoan, tròn, chữ điền, bầu bĩnh, v-line, ….” Hay các từ nằm trong tuyến tính của từ “xanh” gồm: trời, cỏ, lá, biển, quả,…Những từ nằm trong trường tuyến tính góp phần hiện thực hóa một hoặc một số nét nghĩa nào đó của từ trung tâm Các từ “mặt, rau, xe, tay, bát, xoong, nồi,…”; các từ “nhục, hận” nằm trong trường nghĩa tuyến tính của từ “rửa”

Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, ta chọn một từ để làm từ gốc, sau

đó tìm tất cả các từ có thể kết hợp với từ đó để tạo thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Trường tuyến tính cho biết đặc điểm của từ trong quá trình hành chức, những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ

Trang 15

1.1.2.2 Trường nghĩa dọc

- Trường nghĩa biểu vật

Tập hợp những từ đồng nhất với nhau về một nghĩa chỉ sự vật nào đấy gọi là trường nghĩa biểu vật Có thể hiểu: trường biểu vật gồm tất cả các từ có liên quan đến một từ trung tâm của trường Chẳng hạn:

(1) Xác lập trường nghĩa biểu vật về “người” ta có:

+ Xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ,…

+ Xét về tuổi tác: Người già, trẻ em, thanh niên, tiếu nhi, thiếu niên… + Xét về nghề nghiệp: Giáo viên, kỹ sư, bác sĩ, quản lý, công nhân,… + Xét về bộ phận cơ thể người: tóc, răng, tay, chân, mắt, mũi, miệng,… (2) Xác lập trường nghĩa biểu vật về “cây” ta có:

+ Các loại cây: cây si, cây đa, cây tùng, xương rồng, bèo tây…

+ Bộ phận của cây: thân, ngọn, rễ, lá, cành, …

+ Mục đích sử dụng của cây: cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây làm thuốc, …

Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, từ đó tìm các từ ngữ có phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc đó Chẳng hạn nếu chọn từ “hoa” làm gốc, ta có thể thu thập được các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với từ hoa như: ly, cúc, huệ , lan, đỏ, trắng, cam, vàng, tươi, héo,…

Mỗi trường nghĩa biểu vật thường có từ trung tâm là danh từ Đó là danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, chất liệu,… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Dựa vào danh từ trung tâm, người ta xác lập được trường nghĩa biểu vật Ví dụ trong trường nghĩa biểu vật về “cây” ở trên, ta tổng hợp được rất nhiều từ ngữ về cây và chúng nằm trong trường nghĩa “cây”

Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ Đến lượt mình, các trường nghĩa biểu vật nhỏ này có thể phân

Trang 16

chia thành những trường biểu vật nhỏ hơn nữa Chẳng hạn trường nghĩa biểu vật về “tay” có thể chia thành các trường nhỏ: trường biểu vật về bàn tay(gồm: ngón tay, hoa tay, chỉ tay, mu bàn tay,…); trường biểu vật về cánh tay (gồm: khuỷu tay, cùi chỏ, cổ tay, xương cánh tay,…)

Có từ nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau Chẳng hạn từ

“tươi” vừa có thể nằm trong trường “cá, thịt” vừa nằm trong trường thực vật (cây cối, hoa quả, rau cỏ), từ “xấu, đẹp” vừa nằm trong trường “con người” vừa nằm trong trường đồ vật (bàn, ghế, tủ, bức tranh,…) Có từ chỉ nằm trong một trường biểu vật Ví dụ: khóc, cười, nói, hát, chỉ nằm trong trường

Trường nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ là khác nhau Ví dụ, trong tiếng Việt, trường nghĩa biểu vật của từ “lúa” gồm: mạ, đòng đòng, lúa nếp, lúa tẻ, tám thơm,… còn trong tiếng Anh thì chỉ có từ rice Điều này khẳng định tính dân tộc của các trường biểu vật

- Trường nghĩa biểu niệm

Là tập hợp các từ có cấu trúc biểu niệm giống nhau Chẳng hạn, cấu trúc biểu niệm (hoạt động của người), (của miệng) ta tập hợp được các từ: ăn, nhai, nói, cười, uống, khóc, thét, gào,…

Để xác lập trường nghĩa biểu niệm, người ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ sở nghĩa gốc đó tigm các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm như vậy Ví dụ, chọn cấu trúc biểu niệm (dụng cụ lao động), (cầm tay), ta có thể thu thập được các từ như: kéo, dao, liềm, cưa, chài, vó, nơm,…

Giống như trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ tạo thành những miền, lớp với mật độ từ ngữ khác nhau Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (dụng cụ lao động), (cẩm tay) có thể chia thành các trường nghĩa nhỏ hơn như:

Trang 17

(dụng cụ lao động), (cầm tay), (dùng để cắt): dao, kéo, liềm, cưa,… (dụng cụ lao động), (cầm tay), (dùng để bắt cá): nơm, lưới, vó,…

Từ có nhiều biểu niệm, do vậy mà một từ có thể đi vào nhiều trường nghĩa khác nhau Cũng giống như các trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm cũng có sự giao thoa lẫn nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình, và những từ ở lớp kế cận trung tâm

1.1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng

Tập hợp những từ cùng được gợi ra từ mối liên tưởng với một từ trung tâm gọi là trường liên tưởng.Chẳng hạn, trường liên tưởng của từ “cho” gồm

các đơn vị từ vựng: biếu, tặng, dâng, hiến, hối lộ,….từ “ăn” khiến ta liên tưởng đến các từ: cơm, mì, xúc xích, pizza,…

Tìm hiểu nghĩa các từ qua mối quan hệ của nó trong trường liên tưởng giúp người sử dụng có thể lựa chọn từ chính xác, hay Ví dụ: Những liên tưởng về sự giống nhau và khác nhau của các từ: tặng, cho, biếu, thí, …sẽ giúp người sử dụng chọn đúng từ tùy vào mỗi hoàn cảnh Nếu để biểu thị sắc thái biểu cảm bình thường, thân mật, thái độ của người cao hơn với người thấp hơn ta sử dụng từ “cho” Nếu biểu thị sự long trọng, có ý nghĩa cao quý

ta sử dụng từ “tặng” Biểu thị sự tôn trọng của người dưới với người trên thì

ta sử dụng từ “biếu” Biểu thị thái độ khinh thường, coi thường của người cao hơn với người thấp hơn ta sử dụng từ “thí”

Trường nghĩa liên tưởng mang màu sắc thời đại, dân tộc và chủ quan Nhận thức, quan điểm thẩm mĩ ở mỗi thời đại, giai đoạn lịch sử lại có sự khác nhau Ví dụ Ở Việt Nam thời phong kiến, “tùng, trúc” thường gợi lên khí phách, cốt cách của người quân tử Hay trong thơ văn xưa thường dùng các từ

“giọt châu, giọt lệ, giọt ngọc, ” để chỉ nước mắt của người thiếu nữ, “tuyết rơi” để chỉ mùa đông, …Hoặc mùa thu trong thơ xưa thường gợi đến nhạn, lá phong đồi màu, …Còn mùa thu trong thơ từ sau 1945 thường cho ta liên tưởng đến Cách mạng, sao vàng, cờ đỏ, Bác Hồ,…

Mỗi cộng đồng người lại có những liên tưởng khác nhau về hiện thực khách quan Ví dụ với người Việt, “rồng” là biểu tượng cao quý, thiêng liêng, mang điều tốt đẹp cho mọi người (rồng bay phượng múa, thăng long, long

Trang 18

bào,…) Nhưng với một số dân tộc ở châu Âu, “rồng” lại gợi lên những liên tưởng sức mạnh phun ra lửa mang lại điều dữ, ác

Bên cạnh đó, mỗi người dựa trên những kinh nghiệm sống, nhận thức, trí tưởng tượng của bản thân,… lại có những liên tưởng riêng khi sử dụng một

từ ngữ nào đó Ví dụ, với Huy Cận “mặt trời” như “hòn lửa”, với Trần Đăng Khoa, “tàu dừa” như “chiếc lược chải vào mây xanh” Với Trương Nam Hương, “mái tóc đổi màu của mẹ” khiến nhà thơ liên tưởng đến thời gian đang “chạy” qua mái tóc ấy,…

1.2.3.Ý nghĩa việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn học

Trước sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức, các ngành khoa học ngày càng đổi mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người Có thể thấy rằng, khoa học ngày nay chú trọng tính liên ngành, do vậy mà văn học và ngôn ngữ ngày càng trở nên gắn bó một cách gần gũi và mật thiết hơn do đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ được mở rộng Ngôn ngữ giờ đây không chỉ được nghiên cứu trong trạng thái tĩnh ở trong bản chất của nó, mà nó được nghiên cứu trong trạng thái động, khi được đặt trong mối liên hệ giữa văn học Việc đặt ngôn ngữ vào văn học giúp ta giải thích được các hiện tượng ngôn ngữ, bên cạnh đó còn giải thích được chính văn học Vì vậy mà việc vận dụng các thành tựu của nghiên cứu ngôn ngữ vào phân tích, tìm hiểu tác phẩm văn học

là hết sức cần thiết

Trước những thành tựu của nền khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung, các giới thuyết về trường nghĩa nói riêng, có thể nói lý thuyết về trường nghĩa đã có những thành công quan trọng, đạt đến sự thống nhất trong tư duy nghiên cứu, hỗ trợ một cách đắc lực cho việc phân tích, tiếp nhận văn học Nghiên cứu về trường nghĩa giúp làm sáng tỏ các mối quan

hệ về ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng Bên cạnh đó, việc vận dụng lý thuyết về trường nghĩa vào tìm hiểu tác phẩm văn học không chỉ giúp người đọc phân tích được tác phẩm, những nội dụng, tư tưởng, nghệ thuật trong đó mà còn giúp rèn luyện được khả năng sử dụng ngôn ngữ, ứng dụng vào việc tạo lập văn bản

Trang 19

1.2.3.1 Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương

Tác phẩm văn học hay được thể hiện ở sự “giàu có” của ngôn từ và sự vận dụng linh hoạt các biện pháp ngữ nghĩa Trong ngôn ngữ, từ ngữ có thể chuyển đối từ nghĩa này sang nghĩa khác nhờ các phương thức chuyển nghĩa như: ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, nhân hóa,….với mỗi phương thức chuyển nghĩa ứng với mục đích nhất địn, tùy thuộc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả

Ở trường nghĩa biểu vật, từ thường chuyển đổi theo phương thức ẩn dụ Nghĩa là các từ có nghĩa tương quan là sự vật, hiện tượng này được chuyển sang nghĩa của sự vật hiện tượng khác

Ví dụ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Trường nghĩa biểu vật thứ nhất là: mặt trời

Trường nghĩa biểu vật thứ hai là: Bác Hồ

Trong hai câu thơ trên, hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai là chỉ Bác Hồ Theo phương thức chuyển nghĩa, hình ảnh mặt trời thứ hai là cách nói ẩn dụ về Bác Hồ Bác tượng trưng cho ánh sáng của lý tưởng, soi rõ đường đi cho cả dân tộc Việt Nam Bác luôn tỏa ra ánh sáng hào quang, bất tử như ánh sáng của mặt trời trong sự sống

Các từ ngữ trong cùng một câu văn hay đoạn văn thường kéo nhau theo cùng một trường biểu vật Hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ chủ đạo trong câu văn là

gì thì nó sẽ kéo theo các từ thuộc cùng trường với nó

Tính sáng tạo trong văn chương có tính chất truyền thống cục bộ, nó kế thừa từ những nghĩa ẩn dụ, hoán dụ trước nó Mọi sáng tạo trong văn chương

và những hiện tượng chuyển nghĩa đều bắt nguồn từ cảm xúc Những suy nghĩ, tư tưởng, quan niệm, môi trường sống đều có ảnh hưởng đến sự chuyển nghĩa của từ Sự sáng tạo thường theo hai hướng khác nhau Một là chúng mở rộng, lấn sang những lĩnh vực khác Hai là chúng thu hút về lĩnh vực của mình những từ ngữ thuộc các lĩnh vực khác

Trang 20

1.2.3.2 Trường nghĩa biểu niệm và ngôn ngữ văn chương

Nghĩa biểu niệm là nghĩa được hình thành trong quá trình nhận thức về nghĩa chủng loại của sự vật, hiện tượng Một từ có nhiều nghĩa biểu niệm phản ánh quá trình chuyển nghĩa trong nhận thức của từ đó, trong đó những nghĩa biểu niệm ra đời sau không phủ nhận những kết quả của nghĩa biểu niệm ra đời trước Để có sự đồng nhất đó thì trong từ ngữ phải tồn tại một điều gì đó chung, phù hợp với nhau tạo nên hiện tượng cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ

Ví dụ:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới xa

Trong bốn câu thơ trên, ta có thể thấy các từ “cửa bể”, “thuyền”, “cánh buồm”, “nước”, “trôi” vừa thuộc cùng một trường biểu vật Bên cạnh đó ta thấy được sự cộng hưởng của bốn câu thơ đã thể hiện tâm trạng của Thúy Kiều một tâm trạng đau xót trước số phận éo le của mình Cuộc đời nàng có khác chi bông “hoa” trôi theo dòng nước một cách vô định Qua đây người đọc cảm thấy thương xót trước số phận của Thúy Kiều, và thấy được nghệ thuật tả cảnh ngụ tình rất điêu luyện của Nguyễn Du

1.2.3.3 Trường nghĩa tuyến tính và ngôn ngữ văn chương

Mỗi nhà văn, nhà thơ lại có những sự sáng tạo khác nhau Dựa trên tư tưởng, khả năng tưởng tượng, sức sáng tạo mà mỗi nhà văn, nhà thơ có những trường nghĩa ngang vượt ra ngoài những chuẩn mực thông thường, để tạo nên những liên kết mới lạ, thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo của người sáng tác

Ví dụ: Những từ “tắt”, “buộc” là những hành động của con người tác động nên một sự vật cụ thể trong vật chất nào đó để kiểm soát được hoạt động của nó Nhưng với Xuân Diệu, từ “tắt” và “buộc” được nhà thơ dùng để lưu giữ, thưởng thức những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời:

Trang 21

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”

(Vội vàng)

1.2.3.4 Trường nghĩa liên tưởngvà ngôn ngữ văn chương

Trong văn học, trường nghĩa liên tưởng có tác dụng lớn trong việc giải thích về cách dùng từ trong tác phẩm văn học Khi đọc và phân tích tác phẩm văn học, chúng ta phải vận dụng đến trường nghĩa liên tưởng để giải thích, cắt nghĩa những hiện tượng ngôn ngữ mà tác giả sử dụng, những nghĩa còn mơ

hồ, mang tính biểu trưng

Ví dụ: Trong văn học Trung đại, hình tượng “trăng” thường biểu thị cho nỗi niềm của nhân vật trữ tình, nó được nội tâm hóa, thấm đượm tình cảm của con người

Trong bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương, hình ảnh vầng trăng hiện hữu như muốn nhắc nhở thi nhân về sự lỡ làng trong tình duyên của mình

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Hay hình ảnh “trăng” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, biểu thị cho nỗi cô đơn của nàng Kiều trong đêm trường lạnh giá khi phải chia tay với Thúc Sinh, mối tình mong manh mà nàng mới có được:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường”

1.2 Trường nghĩa chỉ không gian

1.2.1 Khái niệm không gian trong văn học

Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, không gian được Hoàng Phê cắt

nghĩa và lý giải như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả

sự vật, hiện tượng xung quanh đời sống con người” [11,tr.633] Như vậy,

không gian chính là môi trường mà chúng ta đang sống, cùng với sự tồn tại

Trang 22

của tất cả sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta Không gian vật chất này chính là cơ sở để các nhà văn xây dựng nên không gian nghệ thuật – không gian văn học

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Trần Đình Sử đã nêu khái niệm: “Không

gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó”[6,tr.162] Theo GS-TS Trần Đình Sử: “không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật”[6,tr.88] Ông khẳng

định rằng:“không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không

có một nhân vật nào không nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người

và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”[6,tr.88 – 89]

Không gian trong văn học là một không gian bao gồm rất nhiều loại, vừa có những không gian rộng lớn (không gian biển khơi bao la trong “Ông già và biển cả” của Hemingway) hay không gian hẹp (Cuộc sống nghèo nàn,

tù túng của con người nơi phố huyện trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam) Không gian trong văn học không bị giới hạn bởi bất kì chiều kích nào Trong văn học, con người có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác một cách dễ dàng Điều này giúp cho văn học có cái nhìn đa chiều, phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn hơn

Từ đây có thể rút ra kết luận: Không gian trong văn học là một hình tượng nghệ thuật, là phương tiện để khái quát thế giới nội tại, là nơi để tác giả bày tỏ quan niệm về cuộc sống và con người

1.2.2 Trường nghĩa không gian trong văn học

Không gian trong văn học được thể hiện qua những từ ngữ chỉ không gian Và tập hợp những từ ngữ chỉ không gian trong tác phẩm đó ta có những trường nghĩa không gian trong tác phẩm văn học

Mỗi nhà văn, dựa trên tài năng quan sát, và phong cách sáng tác của mình lại xây dựng nên những kiểu không gian khác nhau, tuy nhiên điểm chung của các tác giả là lấy con người làm trung tâm, không gian chủ yếu xoay quanh con người, chịu tác động của con người Với chất liệu là ngôn từ,

do đó nhà văn có thể chuyển từ không gian này sang không gian khác mà

Trang 23

không gây sự hụt hẫng, giãn cách trong tâm trí người đọc Nhờ vào hệ thống các sự kiện và các tuyến nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn có thể kết dính các mảng không gian lại với nhau từ mặt đất đến bầu trời, từ thế giới này sang thế giới bên kia

Không gian trong văn học bao gồm cả không gian vật chất và không gian nghệ thuật Trong đó, không gian nghệ thuật khác với không gian vật chất là vì nó là không gian cảm giác được, không gian do con người sáng tạo

ra và cảm nhận về nó Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: “Không gian nghệ thuật

chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn cho thấy quan niệm về thế giới Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như loại hình của hình tượng văn học” Chính vì vậy khi tìm hiểu tác

phẩm văn học ta phải tìm hiểu không gian nghệ thuật của tác phẩm đó

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sương mù tháng Giêng”

1.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”

“Búp sen xanh” được Sơn Tùng bắt đầu viết từ năm 1948, và hoàn

thành vào năm 1980, với từng ấy thời gian, ta có thể thấy được sự tâm huyết của tác giả với Bác Hồ kính yêu Có thể thấy cuộc đời Bác Hồ có rất nhiều chuyện để viết, song quãng thời gian từ thời thơ ấu cho đến trước khi ra đi tìm đường cứu nước của Người luôn hấp dẫn Sơn Tùng, do vậy mà tiểu thuyết

“Búp sen xanh” ra đời mang sự tiếp nối cho mạch cảm xúc viết về Bác của Sơn Tùng

Đọc truyện, ta thấy được phong cách sử dụng ngôn ngữ mang nét đặc trưng của Sơn Tùng thể hiện trong tác phẩm

Thứ nhất, Sơn Tùng đã sử dụng hệ thống từ láy phong phú, đa dạng với tần suất lớn trong tác phẩm Những từ láy góp phần nhấn mạnh hơn sắc thái của đối tượng cần biểu đạt

Một đặc điểm độc đáo về ngôn ngữ trong “Búp sen xanh” không thể không nhắc đến đó là tác giả đã đưa vào hàng loạt những từ địa phương mang

đặc trưng của xứ Nghệ: mô (đâu), ni (này), rứa (thế, đấy), mệ (mẹ), chi (gì),

Trang 24

răng (sao), mần (làm), nỏ (chẳng),… những từ ngữ này, lời ăn tiếng nói của

người xứ Nghệ hiện lên đầy mộc mạc, sống động

Trong “Búp sen xanh”, Sơn Tùng khéo léo sử dụng nhiều biện pháp tu

từ, trong đó hai biện pháp nổi bật nhất là so sánh và nhân hóa Không khó để

ta bắt gặp trong tác phẩm các hình ảnh so sánh: đầm sen như mặt gương xanh,

trăng rằm sáng như ban ngày, hay “những ổ gà đọng đầy nước lúng liếng như con mắt ướt đau đáu nhìn trời” Biện pháp so sánh giúp cho những sự vật

trong tác phẩm hiện lên sống động hơn, làm tăng sức biểu đạt cho tác phẩm Biện pháp nghệ thuật nhân hóa cũng được Sơn Tùng sử dụng thành công trong “Búp sen xanh” Bằng con mắt tinh tế và sự sáng tạo của mình, Sơn Tùng đã nhân hóa những sự vật, khiến chúng trở nên có hồn và sinh động

hơn: gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, hay bóng nắng núng nắng trước ngõ

Đọc “Búp sen xanh” ta không chỉ thấy được những tư tưởng, ý nghĩa

mà tác giả muốn gửi gắm, mà ta còn học được nhiều bài học quý báu được đúc kết lại thành những câu ca dao, thành ngữ mà trong tác phẩm sử dụng:

“Sinh con dạ sáng làu làu Nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”

“Em ngồi trong thúng

Mẹ gánh cân vai

Mẹ đi đường dài, Nghe em kể chuyện”

Trang 25

“Hai chục năm đầu gối tay kề nghĩa vợ chồng tình gương sáng mãi

Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Trình cửa Khổng bảng vàng tươi.”

“Búp sen xanh” là một bài học lớn về một nhân cách lớn, đó là những

viên gạch làm nền móng cho một bậc “đại nhân, đại dũng, đại trí” Để viết về điều này, trong Búp sen xanh Sơn Tùng đã viết lời tựa cho cuốn sách như sau:

“Các bậc hiền tài không có sẵn Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người khi vào đời”

Lời đề từ của tác phẩm như nhắc nhở mỗi chúng ta về bài học từ quê hương Quê hương là nơi chắp cánh, khởi nguồn của mỗi con người, là nơi luôn vỗ

về, che chở cho chúng ta để bay cao, bay xa trên bầu trời nhân loại Cùng với những độc đáo về mặt ngôn ngữ, “Búp sen xanh” xứng đáng là một đại diện tiêu biểu trong những tác phẩm hay nhất viết về Bác

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng”

Đề tài lịch sử trong tiểu thuyết từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận với nhiều nhà văn, và Uông Triều cũng không ngoại lệ Tuy nhiên, ở Uông

Trang 26

Triều có cách tư duy và xử lý lịch sử theo một cách riêng, khoác cho nó một cái nhìn mới khiến câu chuyện lịch sử trở nên gần gũi và sinh động hơn Tiểu

thuyết “Sương mù tháng Giêng” được xuất bản năm 2015 là một trong những

tác phẩm được đánh giá thành công trong sáng tác của Uông Triều Tác phẩm không đơn thuần chỉ là kể sử như các tiểu thuyết lịch sử thông thường khác, mà tác giả còn dày công khắc họa thế giới nội tâm của các nhân vật trong tác phẩm bằng việc sử dụng ngôn ngữ một cách độc đáo và khéo léo

Là một nhà văn trẻ, nhưng Uông Triều đã có những cách tân đáng kể trong việc đổi mới trong văn xuôi hậu hiện đại, đặc biệt trên phương diện ngôn ngữ, trong đó tác phẩm được chú ý nhiều nhất là tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng”

Thứ nhất, Uông Triều đã có những sáng tạo độc đáo, mới mẻ khi sử dụng hệ thống các từ láy Uông Triều đã sử dụng từ láy với tần suất cao tạo nên sự độc đáo cho tác phẩm Cách sử dụng từ láy của Uông Triều không chỉ giúp tạo ra hiệu quả mới về ngữ nghĩa, mà nó còn tăng sức biểu cảm với đối tượng được phản ánh

Thứ hai, điểm độc đáo về ngôn ngữ trong “Sương mù tháng Giêng” là Uông Triều đã sử dụng ngôn ngữ một thời, mang hơi thở của thời đại phong

kiến với hàng loạt các từ ngữ đặc trưng như: công chúa, võ tướng, triều thần,

Thượng hoàng, ….làm cho tác phẩm mang màu sắc của tiểu thuyết lịch sử

đậm nét hơn

Điểm độc đáo tiếp theo về ngôn ngữ trong “Sương mù tháng Giêng” thể hiện ở việc tác giả đã đưa vào tác phẩm những cách nói quen thuộc của

dân gian có vần có vè như: tầm bậy tầm bạ,dám làm dám chịu,…những lối nói

này được sử dụng hết sức tự nhiên, làm tăng tính biểu đạt cho tác phẩm

Ngôn ngữ mà các nhân vật sử dụng để xưng hô với nhau trong tác

phẩm cũng hết sức trang trọng: nàng, chàng, thiếp, … đó đều là những từ

xưng hô được sử dụng dưới thời phong kiến

Tác phẩm đã thành công khi sử dụng biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, tương phản, nói quá,… song nổi bật hơn cả là biện pháp so sánh Trong

“Sương mù tháng Giêng”, Uông Triều nhiều lần sử dụng biện pháp nghệ thuật

Trang 27

so sánh để nhấn mạnh mức độ sắc thái biểu đạt Ta bắt gặp nhiều hình ảnh so

sánh trong tác phẩm như: lưỡi gươm như tia sét, mặt trời đỏ như máu, ngựa

phi như bay, “thuyền chiến Đại Việt từ hai bên bờ túa xuống nhiều như rắn rết”, “những cung thủ rạp người trên các chiếc thuyền nhỏ bắn tên sang nhiều như trấu”,…

Bên cạnh đó, trong “Sương mù tháng Giêng” Uông Triều đã khéo léo

sử dụng nhiều thành ngữ để tăng sắc thái diễn đạt cho lời văn như: Trời cao

đất dày, quân pháp bất vị thân, binh hùng tướng mạnh, nhân vô thập toàn,…

Có thể thấy rằng, qua việc sử dụng hàng loạt những thành ngữ khác nhau ta thấy được Uông Triều là một người có vốn văn học phong phú, và có sự đầu

tư kỹ lưỡng cho những trang viết của mình

Không chỉ vậy, “Sương mù tháng Giêng” còn độc đáo bởi sự kết hợp đan xen giữa ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật Bên cạnh câu chuyện lịch sử về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, trong truyện còn hiện lên câu chuyện về thế giới âm phủ đầy ma mị, với cuộc đối thoại của các nhân vật trong thế giới đó

Uông Triều bắt đầu theo con đường văn chương khá muộn (khi nhà văn

30 tuổi), song nhờ quá trình bền bỉ tìm tòi, tự học và tích lũy kiến thức Uông Triều dã sáng tác nên nhiều tác phẩm độc đáo, ghi đậm dấu ấn riêng trong lòng người đọc Những tác phẩm văn học của Uông Triều đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc nhiều cách tân độc đáo, mới lạ, tiêu biểu cho thế hệ những nhà văn trẻ thời kì mới, đặc biệt trên phương diện ngôn ngữ Có thể nói rằng, ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Uông triều đang hòa vào dòng chảy của ngôn ngữ văn xuôi đương đại Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ về chất liệu

“Sương mù tháng giêng” là bản giao hưởng nhiều bè, nhiều tâm trạng, nhiều

giọng điệu, làm cho các nhân vật trong truyện gần gũi, sống động như con người trong cuộc đời

Trang 28

CHƯƠNG 2 TRƯỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN TRONG TÁC PHẨM

“BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG VÀ “SƯƠNG MÙ THÁNG GIÊNG”

CỦA UÔNG TRIỀU

2.1 Trường nghĩa không gian trong “búp sen xanh” của Sơn Tùng

“Búp sen xanh” là cuốn tiểu thuyết lịch sử được đánh giá hay và thành

công nhất khi viết về Bác Hồ của nhà văn Sơn Tùng Trong tác phẩm, Sơn Tùng đưa người đọc được trở về với làng quê xứ Nghệ của những năm đầu thế kỉ XX, nơi ấy có những cảnh vật thật yên bình, mang hơi thở nồng ấm của một miền quê giàu truyền thống cao đẹp, ấy là truyền thống nhân nghĩa, truyền thống hiếu học, và truyền thống yêu nước nồng nàn Làng quê đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, nơi ấy là làng Sen quê nội, làng Chùa quê ngoại , với những câu ca dao, những bài vè, những điệu ví dặm mặn mà đằm thắm Theo bước chân của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, người đọc được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của kinh đô Huế cổ kính, dòng sông Hương lững lờ với những điệu hát, đình Dương Nổ, trường Đông Ba, và nhiều địa danh phong phú khác Bởi thế

mà không gian trong “Búp sen xanh” hiện lên thật đẹp và phong phú

Khi tìm hiểu về tác phẩm “Búp sen xanh”, chúng tôi nhận thấy rằng không gian không phải là trường nghĩa duy nhất đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm Tuy nhiên, đặt trong mối tương quan với các trường nghĩa khác, ta thấy rằng không gian thể hiện sự độc đáo, và có số lượng từ lớn ở trong tác phẩm

Khảo sát các từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian trong tác phẩm

“Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, nhà xuất bản phụ nữ năm 2016, chúng tôi thu được kết quả có tất cả 4 trường nghĩa không gian xuất hiện trong tác phẩm: không gian làng quê, không gian đường lên kinh đô Huế và cảnh đẹp miền Trung, không gian kinh đô Huế và cuối cùng là không gian Sài Gòn đầu thế kỉ XX

Trang 29

2.1.1 Không gian làng quê

Bảng 2.1 Bảng khảo sát từ ngữ thuộc trường nghĩa không gian làng quê

STT Đối tượng Số lần

xuất hiện

Tỷ lệ (%) theo số lần xuất hiện

Ví dụ

khói sương lam {1, tr.13}

trang trại đã có người họ Nguyễn đến sinh sống {1, tr.29}

đã ngả màu sẫm {1, tr.7}

cây đã xúm xít bên ông

Xẩm {1, tr.10}

Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị nho Sắc phải

ngồi thụp xuống bên gốc cây thị {1, tr.12}

7 Cầu Hữu Biệt 3 3,7 Làn gió luồn theo núi quét

nhè nhẹ lên hàng cây ven

sông, xõa ngọn xuống cầu

Trang 30

của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng anh nho Sắc

Ngày đăng: 03/09/2019, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb, GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Năm: 2007
2. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb, GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1999
3. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2004), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb, GD 4. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2005), Lược sử Việt ngữ học, tập 1, Nxb, GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học", Nxb, GD 4. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2005), "Lược sử Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2004), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb, GD 4. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Năm: 2005
7. Nguyễn Thị Hiền (2013), Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức Bốn, luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức Bốn
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2013
8. Nguyễn Thị Ly Kha (2007) , Ngữ nghĩa học, Nxb,GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học
10. Thảo Nguyên (2015), Tôi đọc “Búp sen xanh”, cand.com 11. Hoàng Phê (2018), Từ điển tiếng Việt, Nxb, HỒNG ĐỨC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi đọc “Búp sen xanh”," cand.com 11. Hoàng Phê (2018), "Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Thảo Nguyên (2015), Tôi đọc “Búp sen xanh”, cand.com 11. Hoàng Phê
Năm: 2018
12. Nguyễn Văn Thạo (2017), Trường nghĩa trong Tiếng việt – Trường hợp trường nghĩa “lửa” và trường nghĩa “nước”, Nxb, KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường nghĩa trong Tiếng việt – Trường hợp trường nghĩa “lửa” và trường nghĩa “nước”
Tác giả: Nguyễn Văn Thạo
Năm: 2017
13. Ngô Đức Thọ - Hoàng Văn Lâu (2017), Đại việt sử ký toàn thư, nxb,VH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Đức Thọ - Hoàng Văn Lâu
Năm: 2017
9. Trần Thị Loan (2011), Khảo sát trường nghĩa cảm giác trong tác phẩm của Nam Cao Khác
14. Trần Thị Thủy (2015) Khảo sát trường nghĩa màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh và Nguyễn Duy Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w