1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp phân tích từ ngữ ở các văn bản thơ ca giai đoạn 1930 1945 trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 11

62 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm của ý nghĩa ngôn ngữ này là các đơn vị ngôn ngữ: từ, ngữ cố đinh, cụm từ tự do, trường nghĩa… được xem xét trên cả hai phương diện: hình thức và ý nghĩa, cũng như xem xét trong

Trang 1

THƠ CA GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN

LỚP 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

THƠ CA GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt khóa luận này, trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh - người

đã tận tình hướng dẫn, định hướng, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho

em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của mình

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp dù đã cố gắng nhưng em không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô và sự đóng góp của các bạn sinh viên quan tâm

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2019

Người thực hiện

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS

Lê Thị Thùy Vinh Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2019

Người thực hiện

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Khái quát về từ tiếng Việt 6

1.1.1 Khái niệm về từ tiếng Việt 6

1.1.2 Đặc điểm câu tạo của từ tiếng Việt 7

1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ tiếng Việt 10

1.2.1 Các thành phần ý nghĩa của từ 10

1.2.2 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ 14

1.3 Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa 16

1.3.1 Trường nghĩa 16

1.3.2 Đồng nghĩa 17

1.3.3 Trái nghĩa 19

1.4 Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 21

1.4.1 Tình hình thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 21

1.4.2 Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK Ngữ Văn lớp 11 22 Chương 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ Ở CÁC VĂN BẢN THƠ CA GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11 25

2.1 Phân tích từ ngữ về đặc điểm cấu tạo 25

2.1.1 Từ láy 25

Trang 6

2.1.2 Từ ghép 29

2.2 Phân tích từ ngữ về ý nghĩa của từ 31

2.2.1 Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ 32

2.2.2 Phương thức chuyển nghĩa hoán dụ 33

Chương 3 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH TỪ NGỮ Ở CÁC VĂN BẢN THƠ CA GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 11 35

3.1 Quy trình phân tích từ ngữ ở các bài thơ giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK 35

3.1.1 Phát hiện và hiểu đúng ý nghĩa của từ 36

3.1.2 Xác định các nghĩa khác nhau chứa đựng trong từ ngữ 39

3.1.3 Phân tích từ ngữ trong các văn bản thơ ca 1930 - 1945 43

3.2 Thực hành phân tích: Thực hành phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” 46

KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người Nó đem lại cho con người sự hiểu biết, sự thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, góp phần hoàn thiện nhân cách con người, giúp con người vươn tới cái chân - thiện - mĩ Vì vậy, việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông

là điều vô cùng quan trọng và cần thiết

Dạy học tác phẩm văn học trong nhà tường phổ thông thực chất là tổ chức học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chủ động, tích cực và sáng tạo, phát huy năng lực cảm thụ văn chương của học sinh Do đó, vấn đề tiếp nhận cần phải được quan tâm, nghiên cứu Trong quá trình tổ chức học sinh tiếp nhận tác phẩm, người dạy phải vận dụng sáng tạo lý thuyết tiếp nhận vào việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm một cách chủ động, tích cực và sáng tạo, từng bước khắc phục tình trạng thụ động trong lĩnh hội kiến thức của học sinh đã tồn tại rất lâu trong dạy học ở trường trung học phổ thông Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học tác phẩm văn chương

Đặc biệt những năm trở lại đây, vấn đề tiếp nhận và hiểu ý nghĩa văn bản ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Để tiếp nhận và hiểu được ý nghĩa sâu của văn bản, ý nghĩa có tính chất phi ngôn ngữ và tình huống, chúng ta phải dựa trên ý nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ trong văn bản trên các quy tắc và sự kiện ngôn ngữ thuần túy

Trung tâm của ý nghĩa ngôn ngữ này là các đơn vị ngôn ngữ: từ, ngữ cố đinh, cụm từ tự do, trường nghĩa… được xem xét trên cả hai phương diện: hình thức và ý nghĩa, cũng như xem xét trong hàng loạt quan hệ với các từ ngữ khác trong hệ thông từ vựng tiếng Việt Cho nên, chất lượng một giờ dạy văn phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó vai trò của người dạy rất quan trọng Người dạy cần hướng học sinh khai thác các tầng ý nghĩa thông qua câu, chữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ… việc dùng từ trong văn chương có sự chọn lọc

kỹ càng và có dụng ý của nhà văn Vì thế, khai thác cái hay cái đẹp của từ ngữ trong việc tạo hình là một điều kiện để giúp giờ dạy văn đạt hiệu quả cao hơn

Trang 8

1.2 Thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 nói chung và các tác phẩm thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong nhà trường trung học phổ thông (THPT) nói riêng là trung tâm nghiên cứu nổi bật trong dòng chảy văn học Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội và cũng do sự khác biệt về khuynh hướng thẩm

mĩ và quan điểm nghệ thuật mà thơ ca giai đoạn này cũng có sự phân hóa phức tạp với các khuynh hướng chủ yếu: Thơ ca lãng mạn và Thơ ca cách mạng

Thơ ca lãng mạn mà tiêu biểu là phong trào Thơ mới, nó như một làn gió mới thổi vào nền thi ca Việt Nam, thực sự là một cuộc “cách mạng trong thi ca” Thơ mới đem đến sự biến đổi toàn diện và sâu sắc cho thơ Việt Nam, chuyển từ trung đại sang hiện đại Trên nền tảng sự thức tỉnh của ý thức cá nhân của thời đại Chính điều đó đã hình thành nên quan niệm nghệ thuật của thơ ca thời đại này và đặc biệt là của phong trào Thơ mới, đó là đề cao cái Tôi chủ thể, cái Tôi tự biểu hiện bên cạnh cái Ta của cộng đồng, gắn liền với cảm xúc riêng tư, hướng nội

Thơ ca cách mạng cũng đóng góp vào thành tựu thơ ca thời kì này với nhiều hiện tượng thơ có giá trị đặc biệt Tác giả văn học cách mạng đều là những chiến sĩ và quần chúng cách mạng Với họ, văn chương là vũ khí chiến đấu, sáng tác nghệ thuật trước hết là vì cách mạng, phục vụ cho cách mạng, phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng Tuy điều kiện sáng tác vô cùng khó khăn nhưng cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng xu hướng văn học này ngày càng phát triển

Dạy học thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong nhà trường phổ thông cũng chính vì thế phải làm nổi bật những đặc trưng cơ bản này thông qua việc phân tích từ ngữ Nói khác đi nhận hiểu ý nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ là tiền

đề để rút ra giá trị nội dung trong toàn bộ văn bản

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Phân tích từ ngữ ở các văn bản thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11”

2 Lịch sử vấn đề

Thực tế cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca giai đoạn

1930 - 1945, đặc biệt là nghiên cứu về Phong trào Thơ mới dưới góc độ thi

Trang 9

pháp thơ, tiêu biểu như: Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân (1942), Phong trào Thơ mới (1966) của Phan Cự Đệ, Việt Nam thi nhân tiền

chiến (1969) của Nguyễn Tấn Long, Thơ mới, những bước thăng trầm (1989)

của Lê Đình Kỵ, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca (1993) của nhiều tác giả, Một thời đại trong thơ ca của Hà Minh Đức (1997) Đặc biệt là công trình Những thế giới nghệ thuật thơ (1995) của Trần Đình Sử đã khảo sát khá

công phu về đặc điểm của các loại hình thơ xuất hiện trong lịch sử văn học

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề tiếp cận thơ ca từ góc độ ngôn ngữ chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chỉ có một số bài báo lẻ tẻ đăng trên các

tạp chí, ví dụ như: Ngôn ngữ thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến - TS Vũ Duy Thông, Tạp chí ngôn ngữ số 1/2001; Một cách nói của ngôn ngữ thơ - Hồng Diệu, Tạp chí ngôn ngữ số 3/2001; Ngôn ngữ thơ hiểu thế nào cho

phải? - Trần Nhuận Minh, Tạp chí ngôn ngữ số 6/2001; Ngôn ngữ và nhà thơ

- Đào Duy Hiệp; Lê Thị Thùy Vinh (2019), Phân tích từ ngữ trong giảng dạy

thơ ca lãng mạn 1930 - 1945 được in trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 3

(283) Tr 93… Chỉ đi sâu tìm hiểu vào một số mặt về ngôn ngữ của mảng thơ kháng chiến, về cách sử dụng số từ trong thơ Nguyễn Bính, cách giải thích về ngôn ngữ thơ, một ý kiến bàn luận về ngôn ngữ thơ, hay một nhận định về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngôn ngữ thơ, giữa ngôn ngữ thơ và nhà thơ trong công việc sáng tạo v.v

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã làm sáng tỏ nhiều đặc điểm về thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 Đến nay chưa có công trình nào

nghiên cứu về Phân tích từ ngữ ở các văn bản thơ ca trong sách giáo khoa

Ngữ văn lớp 11 Tuy nhiên đây là nguồn tư liệu quý báu làm nên nền tảng cơ

sở giúp chúng tôi lựa chọn và xây dựng đề tài “Phân tích từ ngữ ở các văn

bản thơ ca trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11” Đề tài của chúng tôi sẽ

nhấn mạnh nhiều hơn đến việc phân tích tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ cụ thể

là từ ngữ trên các góc độ về từ cũng như đưa ra một quy trình cụ thể khi đi phân tích ngôn ngữ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận hướng tới làm rõ cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt là từ ngữ trong

Trang 10

các văn bản thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn lớp 11 Những đặc điểm về mặt cấu tạo của từ ngữ, ngữ nghĩa của từ ngữ cũng như mối lien hệ giữa các từ ngữ trong văn bản sẽ là những căn cứ khách quan giúp người đọc nhận hiểu tác phẩm văn chương một cách toàn diện và thấu đáo nhất Trên cơ sở đó, những nét riêng đặc sắc của thơ ca giai đoạn

1930 - 1945 sẽ được làm sang tỏ

Vận dụng thao tác phân tích ngôn ngữ học vào việc tiếp cận tác phẩm thơ ca gia đoạn 1930 - 1945, rút ra những nguyên tắc cần thiết cho việc đọc hiểu thơ ca đang đặt ra trong nhà trường hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về từ ngữ (mặt cấu tạo, mặt ý nghĩa)

- Thống kê, khảo sát các văn bản thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK Ngữ văn lớp 11 (về số lượng, về từ ngữ với các bình diện của nó)

- Phân tích các văn bản thơ ca từ góc độ cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt là từ ngữ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là từ ngữ trong các tác phẩm thơ

ca giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK Ngữ văn lớp 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận này được thực hiện với mục đích chỉ ra vị trí, ý nghĩa quan trọng của việc phân tích từ ngữ ở các văn bản thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK mà cụ thể là SGK Ngữ Văn lớp 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê

Phương pháp miêu tả

Thủ pháp so sánh

Thủ pháp phân tích, tổng hợp

Trang 11

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo Khóa luận gồm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Phân tích đặc điểm từ ngữ ở các văn bản thơ ca giai đoạn

1930 - 1945 trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11

Chương 3: Quy trình phân tích từ ngữ ở các văn bản thơ ca giai đoạn

1930 - 1945 trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát về từ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm về từ tiếng Việt

Trong hệ thống ngôn ngữ có nhiều loại đơn vị khác nhau Âm vị là đơn

vị ngữ âm nhỏ nhất, tự thân không có nghĩa, tạo ra vỏ âm thanh cho các đơn

vị có nghĩa Hình vị là những đơn vị được tạo ra từ các âm vị, có nghĩa nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp Các hình vị kết hợp với nhau để tạo thành những đơn vị lớn hơn, có nghĩa, dùng để giao tiếp Truyền thống ngôn ngữ học gọi loại đơn vị thứ ba này là từ Có thể nói, từ là đơn vị cơ bản, đơn

vị trung tâm của ngôn ngữ Sự tồn tại của từ là biểu hiện sự tồn tại của ngôn ngữ Ngôn ngữ càng có nhiều từ thì khả năng diễn đạt của ngôn ngữ đó càng phong phú và đa dạng

Từ là đơn vị ngôn ngữ tồn tại hiển nhiên, sẵn có trong hệ thống (ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh) Điều này khu biệt từ với các đơn vị ngôn ngữ khác Âm

vị, hình vị chỉ là những đơn vị được phân xuất theo các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học, bản thân chúng không tồn tại hiển nhiên trong những người sử dụng ngôn ngữ tự nhiên và câu cũng chỉ là đơn vị không tồn tại sẵn

có mà chỉ sản sinh khi ngôn ngữ ở trạng thái hành chức

Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng biểu nghĩa (hay chức năng định danh) tức gọi tên các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Ngoài

ra từ còn có chức năng tạo câu Trong đời sống người ta không bao giờ giao tiếp bằng các từ đơn lẻ, riêng biệt mà thường kết hợp các từ với nhau để tạo thành câu

Cũng trong số các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị lập thành một hệ thống phong phú, đa dạng Hệ thống này có tính động nghĩa là luôn có những từ cũ, nghĩa cũ mất đi và từ mới, nghĩa mới ra đời để đáp ứng nhu cầu giao tiếp và

tư duy của con người Thí dụ, một số từ cổ ngày nay không còn sử dụng nữa như han (hỏi) (“Trước xe lơi lả han chào” - Truyện Kiều); bỏng (bé bỏng) (“Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan” - Thiên Nam ngữ lục) Nhiều từ ngữ

Trang 13

mới biểu thị những sự vật, hiện tượng mới chưa có tên gọi hoặc thay thế tên

gọi cũ đã xuất hiện Trong lĩnh vực công nghệ thông tin là các từ phần mềm,

bộ nhớ, mạng, thẻ từ… trong lĩnh vực kinh tế là các từ lướt sóng, vốn hóa, dòng tiền, bẫy giá, sập đáy, sàn giao dịch, chủ đầu tư… trong lĩnh vực văn

hóa xã hội là các từ sàn diễn, nhạc vàng, tạp kĩ, diva, live show…

Bên cạnh đó, từ là đối tượng nghiên cứu của tất cả các phân môn của ngôn ngữ học: ngữ âm học (nghiên cứu mặt hình thức âm thanh của từ), từ vựng - ngữ nghĩa học (nghiên cứu mặt nội dung ý nghĩa của từ cũng như quan

hệ giữa âm thanh và ý nghĩa), ngữ pháp học (nghiên cứu các quy tắc biến hóa

từ, kết hợp từ), phong cách học (nghiên cứu nghệ thuật sử dụng từ) Ngay cả những phân môn nhỏ hơn cũng lấy từ làm đối tượng nghiên cứu như từ nguyên học, từ điển học, cấu tạo từ, từ loại…

Ngoài ra từ còn một số đặc trưng khác nữa như tính cố định, bất biến, tính bắt buộc và tính chất dùng chung, sở hữu chung giữa các thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ

Qua những điểm trình bày trên đây, có thể đi đến một định nghĩa về từ

như sau: Từ là đơn vị có tính chất tín hiệu tồn tại hiển nhiên trong hệ thống

ngôn ngữ và thực hiện chức năng làm đơn vị nhỏ nhất để tạo câu khi ngôn ngữ hành chức

1.1.2 Đặc điểm câu tạo của từ tiếng Việt

1.1.2.1 Đơn vị cấu tạo từ

Đơn vị cấu tạo từ là những đơn vị mà tiếng Việt sử dụng để cấu tạo ra các từ cho từ vựng tiếng Việt Trong tiếng Việt, đơn vị cấu tạo từ được đa số

các nhà nghiên cứu gọi bằng một thuật ngữ quen thuộc: hình vị Thuật ngữ này

vốn có nghĩa là “đơn vị về hình thái” (hình: hình thái, vị: đơn vị), được hình thành từ thuật ngữ gốc là mooc-phem Thuật ngữ hình vị còn được các nhà

nghiên cứu tiếng Việt gọi bằng các tên khác như: tiếng (gắn liền với quan niệm

cho rằng hầu hết hình vị trong tiếng Việt đều trùng với âm tiết, tiếng, từ đơn - quan điểm của Cao Xuân Hạo), từ tố (yếu tố dùng để cấu tạo từ - Nguyễn Văn Tu), nguyên vị (đơn vị xuất phát điểm của việc cấu tạo từ - Hồ Lê)…

Trên cơ sở khái niệm về hình vị nói chung, có thể chấp nhận một định nghĩa về hình vị trong tiếng Việt như sau:

Trang 14

Hình vị của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa, được dùng để cấu tạo nên các từ

Thí dụ, tổ hợp máy bay là một từ (từ ghép), từ này được cấu thành bởi hai yếu tố nhỏ hơn ở bậc thấp là máy và bay Mỗi yếu tố này là một hình vị

Trong nhà trường phổ thông, cụ thể là trong các cuốn SGK ở tất cả các

cấp học, người ta đều dùng thuật ngữ tiếng để chỉ đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt, dựa vào tiếng để tiến hành phân loại cấu tạo từ tiếng Việt Những người theo quan niệm này cho rằng, tiếng là đơn vị mà người bản ngữ nói

chung, học sinh bản ngữ (nhất là học sinh Tiểu học) nói riêng rất dễ nhận biết

Thí dụ, người bản ngữ dễ dàng nhận ra trong câu ca dao Tháp Mười đẹp nhất

bông sen gồm có 6 tiếng Theo quan niệm này, tiếng có một số đặc trưng cơ

bản sau:

- Tiếng là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất (về mặt này, tiếng trùng với

âm tiết) Về chữ viết, tiếng tương ứng với một “chữ” viết rời (thí dụ: từ giáo viên gồm 2 tiếng, đồng thời là 2 chữ)

- Tiếng là đơn vị nhỏ nhất mang ý nghĩa

Như thế, tiếng là đơn vị âm - nghĩa nhỏ nhất, là đơn vị hai mặt (phân biệt với âm tiết là đơn vị một mặt: âm tiết chỉ có mặt âm thanh, không có nghĩa)

Quan niệm trên đứng trước một khó khăn là trong một số từ của tiếng

Việt có những tiếng không có nghĩa Thí dụ, các tiếng bồ, kết (trong từ bồ

kết); mồ, hôi (trong từ mồ hôi); ban, công (trong từ ban công)… Tất nhiên,

cũng phải nói đến một quan niệm về tiếng (với tư cách là đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt) của Đỗ Hữu Châu như sau: Tiếng là những âm tiết hiện có

trong các từ, tham gia vào quá trình cấu tạo từ tiếng Việt Theo quan niệm

này, tiếng được phân thành hai loại lớn là: tiếng có nghĩa và tiếng tự mình

không có nghĩa Quan niệm này dễ vận dụng vào việc phân loại cấu tạo từ

tiếng Việt và tránh được sự gò bó, khiên cưỡng

1.1.2.2 Phương thức cấu tạo từ

Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào bản thân hình vị để biến các hình vị thành từ Có thể hình dung như sau:

Trang 15

Trong tiếng Việt, người ta sử dụng 3 phương thức để tạo ra các từ mới:

từ hóa hình vị, láy hình vị và ghép hình vị

- Từ hóa hình vị là phương thức tác động vào hình vị và làm cho hình

vị có tư cách là từ mà không làm thay đổi vỏ ngữ âm của hình vị

Mô hình:

Thí dụ: nhà, người, cây, xe… là những từ được tạo nên do sự từ hóa hình vị mà thành

- Láy hình vị là phương thức tác động vào một hình vị có nghĩa (hình

vị cơ sở) làm nảy sinh một hình vị láy Hình vị láy nghĩa đã bị mất đi nhưng

có vỏ ngữ âm giống hoặc gần giống với hình vị cơ sở Cả hình vị cơ sở và hình vị láy kết hợp với nhau mới tạo thành từ láy

Mô hình:

Thí dụ: phương thức láy tác động vào hình vị xanh cho ta hình vị láy

xanh Hình vị láy và hình vị cơ sở làm thành từ xanh xanh Tác động vào hình

vị dễ, túng cho ta hình vị láy dàng, dãi, tung, lúng do dó có các từ dễ dàng, dễ

dãi, tung túng, lúng túng…

Phương thức láy tạo ra các từ láy cho tiếng Việt Hiện nay phương thức này vẫn còn có tác dụng tạo từ tuy nhiên do nguyên liệu cho phương thức này không có nhiều nên sản phẩm được tạo ra không đa dạng

- Ghép hình vị là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có

nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ)

Phương thức cấu tạo từ

Từ Hình vị

Từ hóa hình vị

Từ đơn Hình vị

Láy hình vị

Từ láy Hình vị

Trang 16

Mô hình:

Thí dụ: phương thức ghép tác động vào các hình vị xe và đạp cho từ xe

đạp, tác động vào các hình vị máy và bay cho từ máy bay…

Phương thức ghép tạo ra các từ ghép cho tiếng Việt Hiện nay đây là phương thức rất năng động, lien tục phát huy tác dụng tạo từ Nhờ phương thức này, số lượng từ mới trong từ vựng tiếng Việt đang tăng trưởng nhanh chóng

Ngoài ba phương thức tác động vào các hình vị cho ta các từ trên đây, còn có phương thức tạo từ theo lối chuyển nghĩa Thí dụ một từ đã sẵn có

nghĩa như ốc (sinh vật) chuyển nghĩa cho ta từ ốc (đinh ốc), ruột (ruột con gà) chuyển nghĩa cho ta từ ruột (săm xe đạp) Vì phương thức chuyển nghĩa

không tạo ra từ mới mà sử dụng các từ sẵn có cho nên chúng tôi không đề cập

tư tưởng của người sử dụng ngôn ngữ, văn cảnh mà từ xuất hiện… Trong các nhân tố nói trên, những nhân tố được coi là quan trọng nhất liên quan tới việc hình thành nghĩa từ vựng của từ là sự vật, hiện tượng được gọi tên; khái niệm được từ biểu thị và những yếu tố thuộc hệ thống ngôn ngữ Có thể hình dung quá trình hình thành nghĩa của từ qua tam giác ngữ nghĩa như sau:

Ghép hình vị

Từ ghép Hình vị

Trang 17

Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan phản ánh vào tư duy con người hình thành các khái niệm (về sự vật, hiện tượng) Các khái niệm ấy đi vào hệ thống ngôn ngữ, được ngôn ngữ hóa trở thành nghĩa của từ

Trên cơ sở sự hình thành nghĩa của từ, có thể chấp nhận một định nghĩa

như sau: Nghĩa của từ là thành phần nội dung tinh thần được gợi ra ở trong từ, là

khái niệm về sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được ngôn ngữ hóa

Nghĩa của từ không phải là một khối không phân hóa, phân lập, mà nó

là một hợp thể bao gồm những thành phần ý nghĩa nhỏ hơn Có thể hình dung

sự phân lập tầng bậc ý nghĩa của từ qua sơ đồ sau:

Ý nghĩa lời nói (ý nghĩa liên hội)

Ý nghĩa ngôn ngữ

(ý nghĩa cấu trúc hóa)

Ý nghĩa từ vựng

Ý nghĩa biểu vật

Ý nghĩa ngữ pháp

Ý nghĩa biểu niệm biểu tháiÝ nghĩa

Trang 18

- Ý nghĩa biểu vật

Ý nghĩa biểu vật là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm

vi sự vật trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó Ý nghĩa này thể hiện mối quan hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan

Thí dụ, nghĩa biểu vật của từ nhà là hình ảnh khái quát về sự vật nhà Nghĩa biểu vật của từ đi là hoạt động dời chỗ bằng chân của người, của

động vật

Trong khái niệm này, cần chú ý ý nghĩa biểu vật chỉ liên quan đên sự vật hiện tượng trong thế giới bên ngoài chứ không phải là chính các sự vật hiện tượng đó Bởi sự vật tồn tại trong thế giới ở những dạng khác nhau trong

đó dạng cơ bản là vật chất trong khi đó ý nghĩa biểu vật của từ thuộc về phạm trù tinh thần của ngôn ngữ Mặt khác sự chia cắt thế giới thành những mẩu sự vật ứng với nghĩa của từ ở từng dân tộc khác nhau là khác nhau Thêm nữa,

sự vật, hoạt động, tính chất… tồn tại trong thực tế khách quan mang tính cụ thê, cá thể nhưng nghĩa biểu vật lại mang tính khái quát

- Ý nghĩa biểu niệm

Ý nghĩa biểu niệm là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ Ý nghĩa này thể hiện mối quan hệ của từ với khái niệm

về sự vật hiện tượng trong tư duy con người

Khái niệm và ý nghĩa biểu niệm là hai khái niệm cần phải có sự phân biệt Chúng thống nhất với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất Chúng thống nhất với nhau vì chúng đều sử dụng những vật liệu tinh thần của tư duy Khái niệm có vai trò quyết định đối với ý nghĩa biểu niệm, không có khái niệm thì không có ý nghĩa biểu niệm Tuy nhiên, chúng không đồng nhất với nhau vì khái niệm có chức năng nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan Ý nghĩa biểu niệm có chức năng công

cụ, tổ chức lời nói, cho nên chỉ cần dựa vào kinh nghiệm thực tiễn đủ dùng từ cho đúng Khái niệm có tính chất chân lí, chung cho nhân loại còn ý nghĩa biểu niệm có tính dân tộc Thí dụ từ “nói” trong tiếng Việt có nghĩa biêu niệm (hoạt động) (dùng ngôn ngữ) (phê phán, chê trách) nhưng không có ở từ parler của tiếng Pháp Từ “chém” trong tiếng Việt chỉ nhấn mạnh nét nghĩa

Trang 19

cách thức không có nét nghĩa kết quả (có thể đứt hoặc không đứt) trong khi

đó từ couper của tiếng Pháp bắt buộc có nét nghĩa kết quả

Ý nghĩa biểu niệm của từ có thể phân tách thành từng phần nhỏ, tập hợp những phần nhỏ ấy tạo thành cấu trúc biểu niệm của từ Như thế có thể hiểu, cấu trúc biểu niệm của từ là toàn bộ nội dung của khái niệm

Cấu trúc biểu niệm của từ là tập hợp của các nét nghĩa được sắp xếp theo một quan hệ nhất định Thí dụ:

Bàn: (đồ dùng) (có mặt phẳng, thường có chân) (làm bằng gỗ, đá, sắt…) (dùng để đặt các đồ vật, sách vở, thức ăn…)

Đi: (hoạt động) (dời chỗ) (bằng chân) (hai chân không đổng thời nhấc khỏi mặt đất) (tốc độ bình thường)

Cứng: (tính chất vật lí) (không dễ bị biến dạng, phá vỡ trước tác động của lực bên ngoài)

- Ý nghĩa biểu thái

Ý nghĩa biểu thái là phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ, cảm xúc, cách đánh giá của người dùng ngôn ngữ Ý nghĩa biểu thái biểu thị mối quan

hệ giữa từ và người dùng ngôn ngữ

Ý nghĩa biểu thái của từ được đánh giá trên thang độ như sau:

Thí dụ:

Ý nghĩa biểu thái của các từ trong hệ thống ngôn ngữ không đồng đều:

có những từ có ý nghĩa biểu thái cao nhất/ những từ có ý nghĩa biểu thái cao/ những từ có ý nghĩa biểu thái thấp nhất

Ý nghĩa biểu thái có vai trò quan trong trong việc hướng dẫn cách dùng

từ cho nên ý nghĩa biểu thái là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ

Tiêu cực Trung hòa Tích cực

Toi, ngoẻo, bỏ mạng Chết hi sinh, từ trần, khuất núi

Trang 20

1.2.2 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ

1.2.2.1 Khái quát về sự chuyển biến ý nghĩa của từ

Sự chuyển biến ý nghĩa của từ là quá trình chuyển đổi ý nghĩa của từ từ nghĩa này sang nghĩa khác hoặc là từ một nghĩa sang nhiều nghĩa

Có thể hình dung quá trình này như sau: thông thường lúc từ mới ra đời thì chỉ có một nghĩa (tức là mối quan hệ giữa âm và nghĩa là mối quan hệ 1/1) Nhưng sau trong quá trình sử dụng thì các từ này sẽ có thêm các nghĩa khác nhau (mối quan hệ giữa âm và nghĩa là mối quan hệ 1/n)

Có thể xem sự chuyển biến ý nghĩa của từ như phương thức cấu tạo từ (bên cạnh các phương thức ghép và láy) Động lực chính do nhu cầu giao tiếp của con người, nhu cầu gọi tên những sự vật, hoạt động, tính chất… mới Tuy nhiên, so vơi các phương thức cấu tạo từ thì sự chuyển biến ý nghĩa của từ cho ta kết quả không phải là một từ mới cả về hình thức lẫn ý nghĩa nên sự chuyển biến ý nghĩa, trong nhiều giáo trình không được xem xét như một phương thức cấu tạo từ

Mặt khác, sự chuyển biến ý nghĩa còn có tác dụng đa dạng hóa cách

diễn đạt, tức làm cho một từ có nghĩa của một từ khác đã có Ví dụ: Con xe

này còn ngon Từ con có thêm nghĩa của từ cái Từ ngon có thêm nghĩa của

từ tốt (trong cách dùng toàn dân)

Sự chuyển biến ý nghĩa của từ chịu sự ảnh hưởng của khá nhiều yếu tố tâm lí, xã hội Từ có thể chuyển nghĩa do các nguyên nhân kiêng kị, do nói

giảm nói tránh để đảm bảo phương châm lịch sự Ví dụ: đi, khuất núi v.v có

nghĩa là “chết” Nhóm xã hội cũng làm cho từ chuyển biến ý nghĩa Ví dụ như tiếng lóng Sự chuyển biến ý nghĩa còn phụ thuộc vào tư tưởng phổ biến trong mỗi giai đoạn lịch sử xã hội Trong những năm chiến tranh, cac thuật ngữ

chiến đấu đi vào đời sống rất mạnh Chẳng hạn, đạn có ý nghĩa là tiền, tấn

công có ý nghĩa đi tìm bạn gái v.v…

1.2.2.2 Quy luật chuyển nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa

a Quy luật chuyển nghĩa

Nói đến quy luật chuyển nghĩa là nói đến 2 quy luật Quy luật thứ nhất

Trang 21

là tính đồng loạt và cùng hướng Quy luật này có nghĩa là các từ cùng phạm vi biểu vật hoặc cùng một cấu trúc biểu niệm thì khi chuyển nghĩa sẽ diễn ra theo cùng một hướng giống nhau Thí dụ, từ chỉ bộ phận cơ thể của động vật

sẽ cùng chuyển sang gọi tên các đồ vật hoặc vật thể tự nhiên (đầu - đầu làng,

đầu nhà; mặt - mặt bàn, mặt nước; mắt - mắt bão; miệng - miệng chai, miệng chén; cổ - cổ chai, cổ lọ…)…; những từ chỉ tính chất, kích thước, độ đo,

chiều vật lí trong không gian cùng chuyển sang chỉ tâm lí, trí tuệ của người

(rộng - rộng lòng, rộng bụng; hẹp - hẹp hòi; ngắn - nghĩ ngắn; dài - kế hoạch

dài hơi; mỏng - kiến thức mỏng; dày - bề dày cuộc sống…)

Quy luật thứ hai là quy luật liên tưởng Quy luật liên tưởng là một quy luật tâm lí của con người tức là từ sự vật này, hiện tượng này người ta nghĩ đến sự vật khác, hiện tượng khác nếu như giữa hai sự vật, hai hiện tượng có

sự tương đồng (giống nhau) hay tương cận (gần nhau) hoặc tương phản (đối lập nhau) Trong ngôn ngữ, quy luật này dựa trên 2 hướng là hướng liên tưởng tương đồng và hướng liên tưởng tương cận Tương ứng với hai hướng liên tưởng này là hai phương thức chuyển nghĩa: ẩn dụ và hoán dụ

b Phương thức chuyển nghĩa

Phương thức chuyển nghĩa là phương thức mà dựa vào đó có thể thực hiện sự chuyển biến ý nghĩa cho từ, tăng cho từ thêm nghĩa nói Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất trong mọi ngôn ngữ

- Khái niệm ẩn dụ, hoán dụ

Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa chuyển đổi tên gọi từ sự vật hiện tượng này sang sự vật hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ liên tưởng tương đồng giữa hai sự vật hiện tượng

Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa chuyển đổi tên gọi từ sự vật hiện tượng này sang sự vật hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ liên tưởng tương cận giữa hai sự vật hiện tượng

Ẩn dụ và hoán dụ đều là phương thức lấy tên gọi A của sự vật này (x) để gọi tên sự vật khác (y) Sự khác nhau giữa hai phương thức là sự khác nhau về mối quan hệ giữa hai sự vật (x và y) Có thể phân biệt hai phương thức này như sau:

Trang 22

đó

Giữa x và y có quan hệ tương cận

x và y luôn đi đôi với nhau, luôn

có mặt cùng nhau, khó có thể hình dung y mà không có x

Vì ẩn dụ dựa trên quan hệ tương đồng (phụ thuộc vào nhận thức của người sử dụng), còn hoán dụ dựa trên quan hệ tương cận, đi đôi khách quan nên hoán dụ có tính khách quan hơn ẩn dụ

Các ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ là các phương thức để tạo ra nghĩa mới, nghĩa cố định của đơn vị từ vựng, tức là các phương thức tạo ra hiện tượng nhiều nghĩa ngôn ngữ Trong khi đó, các ẩn dụ, hoán dụ tu từ cũng tạo ra nghĩa mới cho các đơn vị từ vựng, nhưng những nghĩa này chưa được cố định, chưa trở thành toàn dân, mà chỉ là sáng tạo cá nhân của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ thuật ngôn từ; tách khỏi các bài văn bài thơ đó, nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ tu từ của từ ngữ không còn; tức là các phương thức tạo ra hiện tượng nhiều nghĩa lời nói

1.3 Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa

1.3.1 Trường nghĩa

1.3.1.1 Lí thuyết về trường nghĩa

Lí thuyết “trường nghĩa” ra đời mấy chục năm gần đây Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, song có thể quy về hai khuynh hướng chủ yếu sau:

- Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu thị

- Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa

Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm “từ vựng - ngữ nghĩa” Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu nhiều về vấn đề trường nghĩa Theo ông:

Trang 23

“Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ xuất hiện ra khi đạt được các từ (nói cho đúng là nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Trong “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”

Như vậy, ta thấy tìm ra một khái niệm trường nghĩa trọn vẹn và đầy đủ vẫn đang là một vấn đề đặt ra Nhưng để phục vụ cho nghiên cứu, hiện nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thống nhất khái niệm trường nghĩa như sau: “là tập hợp các từ có một sự đồng nhất nào đó về nghĩa” - sách giáo khoa Tiếng Việt 10

1.3.1.2 Phân loại

F.de.Saussure trong giáo trình: “Ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan

hệ ngữ nghĩa) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình)

Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa Trong giá

trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã giới thiệu hai loại

trường nghĩa dọc gồm trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm rồi đến trường nghĩa tuyến tính và kết thúc bởi một trường nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng từ ngữ trong tác phẩm văn chương là trường nghĩa liên tưởng

1.3.2 Đồng nghĩa

1.3.2.1 Khái niệm

Cho đến nay, trong các công trình ngôn ngữ học ở nước ngoài và các tài liệu Việt ngữ học có rất nhiều định nghĩa khá nhau về từ đồng nghĩa Mỗi định nghĩa nhìn nhận vấn đề từ đồng nghĩa dưới những góc độ riêng

Đỗ Hữu Châu trong cuốn Giáo trình Việt ngữ (Tập 2) lần đầu tiên đưa

ra khái niệm chung về từ đồng nghĩa: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn

ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa (tức là nghĩa của từ) là giống nhau; do đó, trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2;63] Với cách định nghĩa này, tác giả đã nêu ra đặc

Trang 24

điểm của những từ đồng nghĩa: hình thức ngữ âm khác nhau, từ nghĩa giống nhau, có thể thay thế cho nhau trong nhiều hoàn cảnh Tuy nhiên, mức độ đồng nghĩa chưa được đề cập đến và cũng cần phải nói thêm rằng, về sau, Đỗ Hữu Châu đã nhìn nhận lại một cách khoa học hơn về tiêu chí “có thể thay thế

cho nhau” của các từ đồng nghĩa Chính vì lẽ đó, trong Giáo trình Giản yếu về

từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, ông đã đưa ra quan niệm đơn giản hơn về từ

đồng nghĩa: “Từ đồng nghĩa là những từ giống nhau về nghĩa, hoặc nghĩa

biểu vật, hoặc nghĩa biểu niệm”

1.3.2.2 Phân loại

Căn cứ vào mức độ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm

và ý nghĩa biểu thái - tức là những ý nghĩa thuộc hệ thống ngữ nghĩa của từ vựng - có thể phân chia các từ đồng nghĩa thành ba loại

a Từ đồng nghĩa tuyệt đối

Đó là những từ đồng nghĩa nhất về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm,

ý nghĩa biểu thái, chỉ khác ở phạm vi sử dụng (địa phương hay toàn quốc trong các tiếng xã hội hay trong ngôn ngữ toàn dân ) về kết cấu cú pháp

Thí dụ:

Máy bay → Phi cơ Phương diện →Mặt Lợn → Heo

b Từ đồng nghĩa sắc thái

Đây là hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ khác nhau nhiều hay ít ngay trong các thành phần của chúng

Chúng có thể khác nhau về: sắc thái, biểu thái Dưới đây là những thí

dụ về các từ được sắp xếp theo trật tự từ trái qua phải, cố gắng phẩn ánh các mức độ biểu thái tích cực đến tiêu cực qua các từ trung hòa về biểu thái

Hi sinh, từ trần, về với tổ tiên, qua đời, chết, bỏ mạng, toi mạng, ngoẻo,

ăn đất, ngủ với giun

Trình, bẩm, bày tỏ, phát biểu, nói, múa mép, ba hoa

Trang 25

Thấp kém, tồi, xấu, đê hèn, hèn hạ, ti tiện, bỉ ổi

Điều tra, theo dõi, dò, dò xét, đánh hơi

c Từ đồng nghĩa biểu niệm

Đây là những từ đồng nghĩa khác nhau ở một hoặc một vài nét nghĩa nào đó Như đã nói, các từ đồng nghĩa biểu niệm thường khác nhau về ý nghĩa biểu vật

Để phân biệt các từ đồng nghĩa biểu niệm, trước hết phải đặt cho đúng các từ vào trong các trường (hoặc trường nhỏ, hoặc nhóm nghĩa trong trường nhỏ) thích đáng Các câu trúc biểu niệm chung cho trường hau cho nhóm nghĩa là những gợi ý giúp ta thấy được sự khác nhau căn bản giữa hai từ

Thí dụ: Với các cấu trúc biểu niệm “tính chất của trí tuệ”, “tính chất của

vẻ bề ngoài biểu hiện tính chất, trạng thái ”, chúng ta có thể thấy ngay được

sự khác nhau giữa sáng suốt và sáng sủa Sáng suốt là từ thuộc trường thứ nhất (con người sáng suốt ), sáng sủa là từ ở trường thứ hai và thứ ba: “căn

phòng sáng sủa”

Sau khi đã đặt được các từ vào trong trường,cần xác định cấu trúc biểu niệm chung cho chúng Dựa vào cấu trúc biểu niệm chung tiếp tục nhận ra những nét nghĩa riêng

Ý nghĩa của các kiểu cấu tạo từ cũng có thể giúp phân biệt các sắc thái

ý nghĩa khác nhau của các từ đồng nghĩa

1.3.3 Trái nghĩa

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nhận định “Đối lập với hiện tượng đồng nghĩa,

trái nghĩa là hiện tượng giữa các từ (hay ngữ cố định) có nghĩa trái ngược nhau” Cách định nghĩa này chủ yếu dựa vào nghĩa của từ hoặc ngữ cố định

để xác định từ trái nghĩa

Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng

Phiến thì lại có định nghĩa về từ trái nghĩa trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và

tiếng Việt như sau: “Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau trong mối quan hệ tương liên Chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản về logic.”

Trang 26

Dễ thấy rằng nếu cách quan niệm về từ đồng nghĩa cũng như cách gọi tên bộ phận này của giới nghiên cứu chưa thực sự thống nhất thì với lớp từ trái nghĩa, các ý kiến dù được diễn ra đạt ít nhiều có khác nhau song hầu như

không có sai biệt lớn Về cơ bản, từ trái nghĩa được hiểu như sau: “Từ trái

nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liên lẫn nhau” Định nghĩa này đã

nêu ra hai thuộc tính cơ bản chủ chốt của từ trái nghĩa đó là: mang nghĩa đối lập và nằm trong thế quan hệ tương liên - dựa vào sự thống nhất trong quan

hệ ngữ nghĩa Ví dụ: cao - thấp, dài - ngắn, lớn - bé Từ quan niệm đã dẫn,

có thể suy ra rằng: Những từ có vẻ đối lập nghịch nhau về nghĩa nhưng không nằm trong thế quan hệ tương liên thì nó không phải là hiện tượng trái

nghĩa Chẳng hạn, trong các câu “Quả ớt này tuy bé nhưng mà cay” Hay

“Cô ấy đẹp nhưng lười.” Thì bé - cay, đẹp - lười có vẻ đối nghịch nhau

nhưng chúng không phải là những hiện tượng trái nghĩa, vì không nằm trong

quan hệ tương liên

Hiện tượng trái nghĩa không chỉ xảy ra đối với hai từ nhưng thông thường, các từ trái nghĩa thường đi theo “nhóm đôi”, còn được gọi là cặp trái nghĩa Mỗi từ nằm ở hai cực đối lập nhau, là âm bản và dương bản trên trục biểu thị thuộc tính, đặc điểm nào đó của sự vật Từ trái nghĩa được phân loại dựa vào mức độ đối lập gồm hai nhóm:

- Đối lập về mức độ của các thuộc tính, phẩm chất của sự vật hiện tượng

Ví dụ: mạnh - yếu, tốt - xấu, thấp - cao

- Đối lập loại trừ nhau

Ví dụ: trai - gái, đúng - sai, sống - chết

Từ trái nghĩa cũng có thể được chia thành hai loại đó là:

- Từ trái nghĩa từ vựng: đầu - đuôi, lành - dữ, tốt - xấu

- Từ trái nghĩa lâm thời: Sống cục đất, mất cục vàng

Hiện tượng trái nghĩa lâm thời được sử dụng rất nhiều trong cấu tạo thành ngữ, tục ngữ, ca dao Chính điều đó đã làm nảy ra những liên tưởng ngữ nghĩa vô cùng thú vị

Trang 27

1.4 Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

1.4.1 Tình hình thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Giai đoạn1930 - 1945 là giai đoạn “đã chứng kiến sự phát triển sôi nổi,

phong phú và hết sức mau lẹ của nền thơ ca dân tộc theo hướng hiện đại, làm thay đổi hẳn diện mạo thi ca nước nhà” [3] Thơ ca giai đoạn này có sự phát

triển sôi nổi và mạnh mẽ chính là nhờ vào sự vận động và phát triển của lực lượng sáng tác Để có được thành công của chặng đường thơ 1930 - 1945 phải

kể đến sự nỗ lực rất lớn của lớp lớp các thế hệ cầm bút

Trong giai đoạn này, nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Thơ mới, nhưng trước đó chúng ta phải nhắc đến quá trình vận động giao thời

của nền thơ ca nước nhà “Chúng ta vốn vừa bước qua thời kì trung đại - nơi

mà đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn đều nằm trong những khuôn khổ nhất định nên thơ cũng thế, hình thành trong những khuôn khổ nhất định của đủ các kiểu thi luật, nhưng rồi làn gió mới từ Âu châu đã thổi đến, bật tung tất

cả làm chao đảo lung lay tất cả những gì xưa cũ.” [3] Nhưng một dân tộc vốn

đã đi theo những khuôn khổ mấy ngàn năm nay thì việc thay đổi không phải

là dễ dàng “Các nhà thơ của chúng ta cũng thế, những người mà cuộc đời

vốn đã từng gắn với “cửa Khổng sân Trình” họ vẫn chưa thể hòa nhập với cái mới trong thi ca” [3] Và phần lớn họ là những người cầm bút thế hệ đầu

giai đoạn này, với những cái tên nổi bật như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Tản Đà Tuy mỗi người có một cách phản ứng khác nhau với những cách tân trong thơ ca nhưng rồi tất cả họ đều rút lui nhường lại vị trí trên thi đàn cho thế hệ sau

Hành trình thơ ca của dân tộc ta tiếp bước với một thế mới, đó là thế hệ khai sinh ra phong trào Thơ mới Những sáng tác của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,

đã góp phần quyết định vào chiến thắng của Thơ mới ở chặng đường đầu Ở chặng đường tiếp theo và cũng là thời kì cực thịnh của phong trào Thơ mới, xuất

hiện thêm nhiều tên tuổi và nhiều tập thơ nổi tiếng: Huy Cận với Lửa thiêng, Xuân Diệu với Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Chế Lan Viên với Điêu tàn, Hàn Mặc Tử với Gái quê, Đau thương Ở chặng cuối của cong đường thơ ca giai

đoạn này, thơ ca đã có xu hướng phân hóa rõ hơn, với những hướng sáng tác mang màu sắc riêng cũng đã hình thành nên một thế hệ cầm bút với những

Trang 28

hướng tìm tòi khác nhau: có hương tượng trưng siêu thực với Bích Khê, nhóm Xuân Thu nhã tập, nhóm Dạ đài, lại có người tìm về truyền thống cổ điển như Quách Tấn hoặc tìm về chân quê như Nguyễn Bính

Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử xã hội và cũng do sự khác biệt về khuynh hướng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật mà thơ ca giai đoạn này cũng có sự phân hóa phức tạp với các khuynh hướng chủ yếu: Thơ ca lãng mạn và Thơ ca cách mạng

Trong thơ ca lãng mạn lại hình thành nên các nhóm theo khuynh hướng khác nhau như: thơ lãng mạn thuần túy với các tác giả như Xuân Diệu, Nguyễn Bính ; thơ tượng trưng siêu thực có các tác giả như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương

Thơ ca cách mạng cũng đóng góp vào thành tựu thơ ca thời kì này với nhiều hiện tượng thơ có giá trị đặc biệt Tác giả văn học cách mạng đều là những chiến sĩ và quần chúng cách mạng Với họ văn chương là vũ khí đấu tranh, sáng tác nghệ thuật trước hết là vì cách mạng, phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng Tiêu biểu cho bộ phận văn học này là thơ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là thơ Hồ Chí Minh và thơ

Bên cạnh sự mới của Thơ mới thì thơ ca cách mạng giai đoạn này có nhiều điểm mới Đặt vào bối cảnh văn học trước năm 1945, thơ ca cách mạng

và phong trào Thơ mới là hai dòng đi theo hai ngả khác nhau Nếu như cái mới trong Thơ mới chủ yếu được biểu hiện ở hình thức, ở việc phá vỡ tính quy phạm của thơ cổ thể mà nội dung ít nhiều còn mang những tình điệu xưa, thì thơ cách mạng mới cả nội dung lẫn hình thức Cũng là thơ cách mạng, song thơ ca cách mạng ở giai đoạn này khác hẳn và mới mẻ hơn nhiều so với thơ ca cách mạng của Phan Bội Châu ở đầu thế kỉ Nó đã có những đóng góp

Trang 29

to lớn để thơ ca cách mạng giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám tiếp tục phát triển và đạt đến đỉnh cao

Những điều trên cho thấy, thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 có vị trí hết sức quan trọng và có chức năng đặc thù giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn về thơ của từng khuynh hướng, từng trào lưu Bước đầu nhận ra sự giống và khác nhau giữa thơ trung đại và thơ hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ Đồng thời nhận ra được nội dung cảm hứng, hình tượng nhân vật trữ tình, phát hiện các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi bài thơ

1.4.2.2 Cấu trúc

Theo thể loại văn học, các tác phẩm trong chương trình SGK Ngữ Văn

11 được chia làm ba loại: kịch, tự sự và trữ tình Các tác phẩm thuộc hai thể loại: kịch và tự sự đã được phân bố trong SGK Ngữ Văn lớp 11, tập 1 (cơ bản) Do đó, SGK Ngữ Văn 11 tập 2 tập trung chủ yếu vào thể loại trữ tình

Do đặc điểm này của chương trình nên phần thơ Việt Nam hiện đại thời kì từ đầu thế kỷ XX - 1945 (bao gồm thơ ca giai đoạn 1930 - 1945) được đặt ở phần đầu tiên trong SGK Ngữ Văn 11 tập 2 (cơ bản)

Thơ ca giai đoạn 1930 - 1945 trong SGK Ngữ Văn lớp 11 bao gồm các bài thơ:

- Vội vàng - Xuân Diệu

- Tràng Giang - Huy Cận

- Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc tử

- Chiều tối (Mộ) - Hồ Chí Minh

- Từ ấy - Tố Hữu

Ngoài ra, thơ ca giai đoạn này còn có nhiều tác phẩm thơ đọc thêm như:

- Lai Tân - Hồ Chí Minh

- Nhớ đồng - Tố Hữu

- Tương tư - Nguyễn Bính

- Chiều xuân - Anh Thơ

Do đặc điểm của từng thể loại, ta có thể xếp chúng vào hai dòng thơ

Trang 30

ca chính: dòng thơ lãng mạn (Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ,

Tương tư, Chiều xuân); dòng thơ yêu nước, cách mạng (Chiều tối, Từ ấy, Lai Tân, Nhớ đồng).Tuy có nhiều tác phẩm cùng thể loại và cùng thuộc

một khuynh hướng, trào lưu nhưng ở mỗi tác phẩm của từng tác giả đều có văn phong rất khác nhau Vì đây là thời kì ý thức cá nhân được thức tỉnh trong giới cầm bút, dẫn đến sự phát triển phong phú của cá tính và phong cách nghệ thuật của các nhà thơ

Trang 31

Chương 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ Ở CÁC VĂN BẢN THƠ CA GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA

NGỮ VĂN LỚP 11

2.1 Phân tích từ ngữ về đặc điểm cấu tạo

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ được cấu tạo lại từ ngôn ngữ tự nhiên nhắm phục vụ mục đích sáng tạo của người nghệ sĩ Khi chúng ta tiến hành phân tích một tác phẩm thơ, chúng ta phải bám vào ngôn từ trong bài thơ đó, phân tích các từ ngữ được coi là “nhãn tự” của bài thơ Một trong những cách để chúng ta có thể hiểu sâu ý nghĩa của từ đó cũng như nội dung tư tưởng tác giả gửi gắm trong bài thơ chính là phân tích từ ngữ về mặt cấu tạo từ

Nói về đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt, chúng ta phải nói đến 3 vấn đề: đơn vị cấu tạo, phương thức cấu tạo và từ mới được tạo ra Ở đây chúng tôi tập trung làm rõ vấn đề các kiểu từ cụ thể xét về mặt cấu tạo Bởi khi làm rõ các kiểu từ, chúng ta sẽ làm rõ được các phương thức cấu tạo và các đơn vị cấu tạo.Trên thực tế, nói về cấu tạo từ là phải phân tích thành phần cấu tạo của từ

để thấy nó được cấu tạo bằng những thành tố nào và phương thức tổ chức nào, trong đó, chủ yếu là sẽ phải nói tới phương thức ngữ pháp dùng để tạo từ

Trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, xét về mặt cấu

tạo thì các từ tiếng Việt được phân chia thành:

Từ đơn → phương thức từ hóa

Từ phức → từ láy → phương thức láy

→ từ ghép → phương thức ghép

Trong tác phẩm thơ ca, các nhà thơ sử dụng rất nhiều phương thức láy hình vị và ghép hình vị, điều đó giúp các nhà thơ truyển tải được nội dung tư tưởng mình muốn thể hiện và tạo ra nhịp điệu và sự nhịp nhàng cho tác phẩm của mình

2.1.1 Từ láy

Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên

Ngày đăng: 03/09/2019, 13:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w