1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp ẩn dụ ý niệm miền bộ cơ thể người trong thơ xuân diệu và xuân quỳnh

58 169 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Ẩn dụ ý niệm được xem như là cách nhìn một đối tượng này qua một đối tượng khác, theo quan niệm này đây chính là một phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ, phương pháp n

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả khảo sát được đưa ra trong bản khóa luận này là trung thực, và là kết quả nghiên cứu khoa học thực

sự của cá nhân tôi được thực hiện trong thời gian học tập tại trường và chưa

từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hoàng Thị Khánh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm

ơn tới các thầy cô giảng viên, cán bộ trong khoa Ngữ Văn, tổ Ngôn ngữ và đặc biệt là TS Nguyễn Thị Hiền - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn những kiến thức chuyên môn và dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai bậc sinh thành cùng gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh, quan tâm, giúp đỡ tôi để tôi đủ nghị lực vượt qua các khó khăn trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu của mình

Do trình độ, vốn kiến thức của bản thân chưa phong phú, nên khóa luận vẫn chưa được đầy đủ và còn nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được

sự ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo cùng các bạn để bản khóa luận của tôi đầy đủ và tốt hơn

Trân trọng!

Hà Nội, 10 tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hoàng Thị Khánh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Bố cục của khóa luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5

1.1 Ngôn ngữ học tri nhận 5

1.2 Ẩn dụ ý niệm 5

1.2.1 Các quan niệm về ẩn dụ 5

1.2.2 Khái niệm ẩn dụ ý niệm 6

1.2.3 Phân loại ẩn dụ ý niệm 8

1.2.3.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) 8

1.2.3.2 Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container) 9

1.2.3.3 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors) 10

1.3 Khái quát về ý niệm bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt 11

1.4 Khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Xuân Quỳnh 13

1.4.1 Khái quát đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu 13

1.4.2 Khái quát đặc điểm thơ Xuân Quỳnh 14

Tiểu kết chương 1 15

Chương 2 CÁC LOẠI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH 17

2.1 Một số ý niệm bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh 17

2.2 Ẩn dụ vật chứa trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh 21

2.2.1 Lòng là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu 21

2.2.1.1 Lòng là vật chứa nỗi nhớ nhung 22

2.2.1.2 Lòng là vật chứa nỗi buồn, sự đau khổ, cô đơn 24

Trang 6

2.2.1.3 Lòng là vật chứa niềm vui 26

2.2.1.4 Lòng là vật chứa sự tức giận, lo lắng 27

2.2.1.5 Lòng là vật chứa những rung động mới mẻ trong tình yêu 28

2.2.2 Trái tim là vật chứa tâm trạng, cảm xúc 30

2.2.2.1 Trái tim là vật chứa cảm xúc nồng cháy, say mê và hăm hở, rạo rực 32 2.2.2.2 Trái tim là vật chứa nỗi buồn, lo âu, buồn bã, nuối tiếc 32

2.2.2.3 Trái tim là vật chứa sự bồi hồi, xao xuyến, yêu thương 34

2.2.2.4 Trái tim là vật chứa sự đau đớn trong tình yêu 35

2.2.3 Đôi mắt là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu 35

2.2.3.1 Đôi mắt là vật chứa tình cảm yêu thương tha thiết của lứa đôi 36

2.2.3.2 Đôi mắt là vật chứa sự lo lắng, ngại ngùng, băn khoăn 37

2.2.3.3 Đôi mắt là vật chứa niềm vui, nỗi buồn cụ thể 38

2.2.4 Bàn tay là vật chứa những tình cảm yêu thương 40

2.2.4.1 Bàn tay là vật chứa tình yêu thương lứa đôi 40

2.2.4.2 Bàn tay chứa đựng niềm say mê, khao khát 42

2.2.4.3 Bàn tay là vật chứa cho những nỗi vất vả, nhọc nhằn 42

2.2.4.4 Bàn tay là vật chứa nỗi lo sợ, sự đổ vỡ của tình yêu 43

2.2.5 Đầu là vật chứa 44

2.2.5.1 Đầu vật chứa là suy nghĩ, trí tuệ, ý tưởng 44

2.2.5.2 Đầu là vật chứa tình cảm cụ thể trong tình yêu 45

Tiểu kết chương 2 47

KẾT LUẬN 48 NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BPCTN : Bộ phận cơ thể người Nxb : Nhà xuất bản

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong ngôn ngữ học tri nhận, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người luôn được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ và có vai trò đặc biệt quan trọng trong văn hóa Việt Nam Việc sử dụng các bộ phận cơ thể con người trở thành những ẩn dụ ý niệm trong văn chương không còn là điều xa lạ, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người được sử dụng khá nhiều với những ý nghĩa phong phú và đa dạng

1.2 Ẩn dụ ý niệm được xem như là cách nhìn một đối tượng này qua một đối tượng khác, theo quan niệm này đây chính là một phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ, phương pháp này đáp ứng được nhu cầu của con người qua cách thức con người suy nghĩ về sự vật

1.3 Xuân Diệu khi mới bước chân vào thi đàn văn học, ông đã lạc vào con mắt xanh của những người có tên tuổi uy tín trong giới nghệ sĩ, vị thế của ông càng được nâng cao hơn qua phong trào thơ mới với những đóng góp tích cực và ông được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” Xuân Quỳnh là nữ thi sĩ nổi tiếng có bản sắc riêng, nổi lên giữa những năm chiến tranh khốc liệt, Xuân Quỳnh như cành hoa dại mọc lên giữa rừng bom Thơ Xuân Quỳnh nhanh chóng được nhiều độc giả đón nhận bởi những bài thơ về mối tình nồng nhiệt, nhưng cũng rất chân thành, sâu lắng Tuy mỗi người ở một thời đại khác nhau, nhưng họ lại có sự gặp gỡ ở tâm hồn cũng như cách sử dụng ngôn từ để biểu đạt ý thức nghệ thuật thể hiện những mong muốn khát khao về tình yêu, của những trái tim yêu mãnh liệt

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Ẩn dụ ý niệm miền bộ

cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh” làm đối tượng nghiên cứu cho khóa luận của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm

Ẩn dụ ý niệm được xem là một biện pháp tu từ trong ngôn ngữ học tri nhận, những ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong văn học mà còn rất gần gũi với cuộc sống của con người, vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu về nó ví dụ

như công trình nghiên cứu của các tác giả như: Trần Văn Nam (2017), Ẩn dụ ý

niệm về tình yêu trong thơ mới 1932 - 1945,Trần Thị Phương Lý (2012) Ẩn dụ

Trang 9

ý niệm phạm trù thực vật trong tiếng Việt, luận án tiến sĩ hay Nguyễn Hoài

Nghiêm (2011), Ẩn dụ ý niệm tình yêu là cuộc hành trình trong thơ Xuân Diệu

Những nghiên cứu này đã chỉ ra ẩn dụ ý niệm không chỉ là phương thức nghệ thuật tu từ, mà nó còn là quá trình tri nhận mang dậm dấu ấn dân tộc, văn hóa Các bài viết cũng chỉ ra cơ chế của các ánh xạ ẩn dụ ý niệm Theo đó, các bài nghiên cứu cũng chỉ ra có các loại ẩn dụ ý niệm: ẩn dụ vật chứa, ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng…

2.2 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm miền ý niệm bộ phận cơ thể người

Nhìn một cách khái quát, hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm miền ý niệm bộ phận cơ thể người

Đó là một số nghiên cứu tiêu biểu như của Tomita KenJi người Nhật, công trình nghiên cứu về các từ chỉ bộ phận cơ thể người của Tiếng Việt và Tiếng Nhật qua sự tương quan so sánh Bên cạnh đó, ở Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này trong đó có thể kể đến luận án của tác giả Trịnh Thị Thanh Huệ đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách tư duy của hai dân

tộc Việt - Hán qua đề tài “Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng

Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu bộ phận cơ thể người)”; luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Linh với đề tài “Đặc trưng tri nhận văn hóa của người Việt (Qua nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người) Những nghiên cứu trên đã lý giải cơ chế tri nhận của ẩn dụ qua

những yếu tố văn hóa, địa lý và qua cách thức tư duy của mỗi dân tộc

Như vậy, các từ chỉ BPCTN là nhóm từ vựng cơ bản, “thuần chất” của mỗi ngôn ngữ Nhóm từ chỉ BPCTN đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ Tuy những công trình này đã được nghiên cứu khá tỉ mỉ và công phu xong nó

là những điểm khái quát nhất nhưng phương diện này chưa được đề cập tới trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Vì vậy, trong khóa luận của mình tôi tập trung làm rõ những điểm cụ thể về phương thức ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận

cơ thể người trong thơ của hai tác giả nói trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể

người trong các tập thơ của Xuân Diệu: Thơ thơ, Gửi hương cho gió (2012), NXB Văn học và các tập thơ của Xuân Quỳnh Tự hát, Hoa dọc chiến hào,

Không bao giờ là cuối (2012), NXB văn học

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu các ẩn dụ ý niệm trong

những tập thơ: Thơ Thơ, Gửi hương cho gió (2012,) của nhà thơ Xuân Diệu và các tập thơ: Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối (2012) của tác

giả Xuân Quỳnh Qua đó, thấy được đặc điểm tư duy của dân tộc qua niềm ý niệm BPCTN, và qua cơ chế của ẩn dụ chúng ta sẽ hiểu một cách rõ nét những cảm nhận tinh thế cũng như cái nhìn sâu sắc của hai tác giả này Và có sự phân biệt chính xác giữa ẩn dụ ý niệm và đặc trưng phong cách của nhà văn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm

vụ như sau:

- Hệ thống các cơ sở lý thuyết về ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm

- Khảo sát các mô hình ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người

- Phân tích, miêu tả, lí giải sự tri nhận trong các mô hình ẩn dụ ý niệm miền BPCTN

- Đánh giá, so sánh phong cách nghệ thuật của các tác giả qua các ẩn dụ

ý niệm

- Kết luận làm rõ ý nghĩa của ẩn dụ ý niệm trong thơ của Xuân Quỳnh

và Xuân Diệu nói riêng và trong văn học nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích, miêu tả

Sử dụng phương pháp phân tích miêu tả để chỉ ra những đặc điểm cụ thể của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh dưới góc độ của ngôn ngữ học tri nhận

Trang 11

5.2 Phương pháp phân tích nghĩa tố

Sử dụng phương pháp này nhằm phân tích ý nghĩa gốc của các từ chỉ

bộ phận cơ thể người và sự biến đổi ý nghĩa của nó qua các miền ý niệm trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

5.3 Phương pháp phân tích ý niệm

Phương pháp được sử dụng để phân tích các ý niệm miền BPCTN

trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, qua đó để thấy được cơ chế của ẩn dụ ý niệm và phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm và đặc trưng phong cách của nhà văn

5.4 Thủ pháp thống kê, phân loại

Khóa luận đã sử dụng thủ pháp trên để phân loại, thống kê các ẩn dụ ý niệm miền BPCTN trong thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Thủ pháp này

đã giúp khóa luận rút ra nhận xét, về sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ của hai tác giả nói trên, và rút ra được bảng phân loại với các tiêu chí cụ thể như sau:

6 Đóng góp của khóa luận

Kết quả của khóa luận là những đóng góp mới nhất về sự tìm hiểu, phân tích cơ chế chuyển nghĩa của lớp ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Qua việc khảo sát, phân tích những ngữ liệu cụ thể giúp người đọc có cái nhìn chính xác về ý niệm và ẩn dụ ý niệm Những kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp thêm về mặt ngữ liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ và văn chương

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận được triển khai theo 2 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Các loại ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

Trang 12

Như vậy, có thể khẳng định rằng: “ Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng ngữ nghĩa coi trọng sự tri nhận trong quá trình tri nhận về thế giới xung quanh Nó đề cao sự tri giác, nhận thức và năng lực của tư duy trong việc phân tích, miêu tả nghĩa của ngôn ngữ” Vượt lên những hạn chế của những khuynh hướng ngôn ngữ học trước đó, ngôn ngữ học tri nhận quan

niệm: “Ngôn ngữ là một năng lực tinh thần và khả năng ngôn ngữ của con

người được xác định như một hình thức của tri thức, của khả năng tri nhận”

Ngôn ngữ học tri nhận đã xác định nghĩa của từ không phải là cái có sẵn, không tồn tại độc lập mà nó được bắt nguồn từ ý thức, từ sự hiểu biết và

cảm nhận của con người: “Nó là ý niệm, sự hình dung, tưởng tượng của người

nói khi dùng tín hiệu ngôn ngữ, thổi vào tín hiệu ngôn ngữ trong nói năng, giao tiếp, suy tưởng” [6,54] Bởi vậy thuật ngữ quan trọng nhất của ngôn ngữ

học tri nhận chính là ý niệm

Hiện nay, khuynh hướng nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ ở những khía cạnh khác nhau,

và đã mang lại những kết quả phong phú Trong phần này, để phục vụ nhiệm

vụ nghiên cứu, khóa luận đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về ngôn ngữ học tri nhận liên quan trực tiếp đến đề tài

1.2 Ẩn dụ ý niệm

1.2.1 Các quan niệm về ẩn dụ

Quan điểm truyền thống cho rằng “Ẩn dụ được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa theo sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có nét tương đồng hoặc giống nhau [3;10]” Quan điểm này đã được nêu rõ qua các công trình của Bain 1887, Bafile 1962, Black 1969…

Trang 13

Theo ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff cho rằng: “Ẩn dụ ẩn chứa trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong ca dao, tục ngữ Ẩn dụ không chỉ là vấn đề từ ngữ mà là lý tưởng, cho phép con người thể hiện suy nghĩ về bản thân và thế giới Hay nói cách khác hệ thống ý niệm của con người được cấu trúc và xác định theo ẩn dụ” [5;12]

Với cách hiểu ẩn dụ là phương tiện của tư duy, Lý Toàn Thắng đã khẳng định về tầm quan trọng của ẩn dụ với ngôn ngữ học tri nhận, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đặt ẩn dụ trong quan niệm truyền thống và tu từ học và đưa ra kết luận: “Ẩn dụ truyền thống và văn học tu từ thường được coi là một trong hai kiểu chính của phép tu từ dùng theo nghĩa bóng dựa trên những khái niệm tương tự và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ” Ông đã đưa ra cách hiểu mới về ẩn dụ: “Ẩn dụ ý niệm là một trong sự di chuyển, hay một sự đồ họa cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận đích” [3;12]

Như vậy, đã có nhiều quan điểm về ẩn dụ truyền thống và tất cả các quan điểm này đều cho rằng ẩn dụ là sự so sánh ngầm, là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên của sự vật khác dựa trên sự tương đồng về các mặt như hình thức, cách thức, phẩm chất… Với cách nghĩ trên, ẩn dụ truyền thống

là một biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ [12]

1.2.2 Khái niệm ẩn dụ ý niệm

Ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận (Conpeptual metaphors) là một cơ chế tri nhận, trong khoa học tri nhận thì tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tri giác - tâm lý - tất cả những cái tạo thành hành

vi của con người Quá trình của nó bắt đầu từ quá trình nhận thức, ý niệm hóa,

và cải biến các dữ liệu trong bộ não của con người nhờ đó con người có sự nhận thức về thế giới

“Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các ánh xạ có tính

hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” Như vậy

ta có thể hiểu rằng ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận là một trong những hình thức ý niệm hóa, là cách nhìn sự vật sự việc đối tượng này qua một đối tượng khác, nó có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới, không có

Trang 14

quá trình này thì không thể nhận được tri thức mới, và theo nét nghĩa này ẩn

dụ ý niệm là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ

Về nguồn gốc, ẩn dụ ý niệm đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới của con người Đó là cách con người ý niệm hóa một miền tâm trí qua một miền tâm trí khác, các ẩn dụ này hoạt động như là những công cụ tri nhận, phản ánh quá trình ý niệm hóa thế giới, cách thức mà con người suy nghĩ về sự vật

Các ẩn dụ ý niệm thường được diễn đạt theo công thức A như (là) B

“Trong ẩn dụ ý niệm, một miền ý niệm đích có thể được hiểu qua nhiều miền

ý niệm nguồn khác nhau theo kiểu A  B1, B2….Bn ” như các ẩn dụ: Cuộc đời

là những chuyến đi, trong đó cuộc đời là đích và những chuyến đi chính là những chặng đường mà con người phải trải qua; hoặc cũng có thể hiểu những chuyến đi là khó khăn, thử thách cũng như sự mới mẻ trong cuộc đời mỗi

người Hoặc những ví dụ khác như: Nhà là nơi để về trong đó: Nhà là đích

đến, và nơi để về chính là địa điểm hướng đến, nhà tôi (ám chỉ đối tượng được nhắc đến có thể người vợ/ người chồng chỉ mối quan hệ giữa vợ chồng

“Tôi yêu nhà tôi lắm” ); nhà Trắng là nhà nơi ở của Tổng thống Hoa Kì

Về cấu ẩn dụ ý niệm được tạo ra trên quan điểm nhận thức, đó là cơ chế chuyển nghĩa từ miền Nguồn đến miền Đích, trong đó những tri thức ở miền Nguồn ánh xạ lên miền Đích, và những đặc tính của miền Đích được gán cho miền Nguồn Theo nguyên lý tri nhận đã nêu ở trên ẩn dụ ý niệm là cách hiểu đối tượng này qua cách nhìn một đối tượng khác, nghĩa là Nguồn có chức năng cung cấp tri thức mới và chuyển tri thức mới đó cho miền Đích Ta có một số ví dụ về ẩn dụ tri nhận trong sách “Metaphors we live by” của Lakoff

và Johnson như sau:

“THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC; TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH; TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH; HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN; BẤT HẠNH ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI” Trong đó nguồn ở đây chính là (tiền bạc, cuộc hành trình, chiến tranh, lên trên, xuống dưới) bởi đây là những tri thức được chuyển gán cho miền đích (thời gian, tình yêu, hạnh phúc, bất hạnh)

Để thấy rõ được cơ chế chuyển nghĩa từ của hai miền, ta cùng phân tích ví dụ: TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH thì có thể dẫn đến những nét hiểu như: “chiến thắng, thất bại, bị thương, tổn thất, hạnh phúc,

Trang 15

xung đột… rồi đem gán chúng cho miền đích tình yêu Do đó ý niệm cuộc hành trình từ đây có những nét thuộc tính mới

Ta có bảng so sánh:

Cãi vã, xung đột Đau khổ trong tình yêu

Đấu tranh để xây dựng tình yêu Tình yêu hạnh phúc

Qua bảng so sánh trên, ta thấy miền nguồn là là một sự chuyển dịch trong không gian (hành trình), và miền đích (tình yêu) là một điều trừu tượng

Về ý nghĩa ẩn dụ tri nhận giúp chúng ta hiểu được những khái niệm tương đối trừu tượng những thuật ngữ mang tính khái quát trở nên dễ hiểu hơn Ví dụ như trong ẩn dụ tri nhận THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC những ý niệm như giữ gìn, tiết kiệm thời gian trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn

Ngoài ra, ẩn dụ ý niệm cũng là một phạm trù của ý thức, nên chúng ta chỉ có thể cảm nhận và thông hiểu chúng, khi ẩn dụ ý niệm được thực hiện bằng những biểu thức ẩn dụ (Metaphorical expression) trong đó ẩn dụ ý niệm

là ý niệm còn câu chữ chính là biểu thức chứa các ý niệm trên “Ngoài ra, ý niệm còn chứa đựng sự hiểu biết của con người và thế giới được hình thành trong ý thức, trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ, bởi vậy trong ý niệm có cái phổ quát và cái đặc thù” [12]

1.2.3 Phân loại ẩn dụ ý niệm

1.2.3.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors)

Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors), là tạo ra một cấu trúc ý niệm này

từ một cấu trúc ý niệm khác, dùng các từ ngữ thuộc vùng ý niệm này để bàn về

ý niệm khác” [11-tr 243] Nói cách khác ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc

lại ý niệm ở miền đích về mặt ý nghĩa khi nhận được những nét thuộc tính mới

do ý niệm ở miền nguồn ánh xạ lên miền đích Ví dụ, trong ẩn dụ: “Thời gian

là tiền bạc”, ta thấy miền nguồn ở đây là tiền bạc, miền đích là thời gian, miền nguồn đã cấu trúc hóa ý niệm ở miền đích là thời gian, làm cho hai khách thể này trở nên tương đồng, và làm xuất hiện những biểu thức như sau:

Chị tôi đã sử dụng toàn bộ thời gian để xem phim

Trang 16

Anh ta không có thời gian dành cho tôi

Chiếc máy tính giúp chúng ta tiết kiệm thời gian

Bài tập này làm tôi tốn mất năm giờ đồng hồ để làm nó

Đừng để thời gian trôi qua một cách lãng phí như vậy

Qua những biểu thức trên, ta thấy các biểu thức đều được tạo ra từ ý

niệm về việc sử dụng thời gian “Như vậy, bản chất của ẩn dụ cấu trúc là sự

ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng cùng loại này trong thuật ngữ những biểu tượng cùng loại khác” [12]

1.2.3.2 Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container)

Ẩn dụ vật chứa (Metaphorical container), được hiểu là “những cách

thức nhìn nhận các sự kiện, các hoạt động, cảm xúc, ý tưởng,… như các vật thể và vật chất” Vật chứa là những vật bị giới hạn bởi một không gian nhất định và tách biệt khỏi thế giới bên ngoài bởi bề mặt của nó Mỗi bộ phận cơ thể con người cũng có thể được xem như những vật chứa như đầu là cơ quan của đầu não, vật chứa bộ não con người, bụng chứa suy nghĩ và tình cảm, tim gan, dạ chứa đựng tình cảm của con người

Bên cạnh đó, mỗi một bộ phận cơ thể con người là là những vật chứa như đầu là vật chứa bộ não của cơ thể con người, đây là cơ quan điều khiển cao nhất mọi hoạt động của cơ thể con người, lòng, bụng dạ, tim, gan là những vật chứa cho suy nghĩ, tình cảm của con người

Mỗi một vật chứa là một ẩn dụ tri nhận, cho phép con người hình thành ranh giới để tri nhận về đối tượng Đặc biệt, ẩn dụ vật chứa bộ phận cơ thể người được ý niệm qua mô hình: Bộ phận cơ thể người là vật chứa có thể dãn

nở, co kéo, di chuyển chứa bên trong nó những tâm trạng khác nhau của con người như vui, buồn, hờn giận, lo lắng, đau đớn, hạnh phúc… Chúng ta có thể khái quát bộ phận cơ thể người là vật chứa qua bảng sau:

Bộ phận cơ thể

Lòng Vật chứa cảm

xúc

Tôi cứ bắt lòng tôi đau đớn mãi,

Đau vô duyên, đau không để làm gì

(Thở than - Xuân Diệu)

Trang 17

Dạ Dạ yêu đời thỏa mấy vẫn chưa an,

Và lòng ta như vậy đó nhân gian

(Mênh mông - Xuân Diệu)

Mắt

Qua ánh mắt anh hiểu điều lo lắng

Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay

(Bàn tay em - Xuân Quỳnh)

Đầu, óc Vật chứa lí trí Ý tưởng đã có sẵn trong đầu

Trái tim Vật chứa tình

Bàn tay ấm, mái tóc mềm buông xõa

Ánh mắt nhìn như chấp cả vô biên (Thơ tình cho bạn trẻ - Xuân Quỳnh)

vv

1.2.3.3 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors)

Ẩn dụ định hướng là “cấu trúc hóa một số miền và tạo nên một hệ

thống ý niệm hóa chung cho chúng, chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập kiểu như lên - xuống, vào - ra, sâu - cạn, trung tâm - ngoại vi” [5-tr31] Trong tiếng Việt thường có một số ẩn dụ định

hướng liên quan đến bộ phận cơ thể người như ẩn dụ định hướng lên xuống,

ta có hướng lên là vui, hướng xuống thể hiện nỗi buồn với những biểu thức như sau: VUI LÀ HƯỚNG LÊN: Mắt sáng lên, hai tay reo hò, khi cánh tay dang ôm cả sơn hà, chân vút thẳng sắp lên đường vượt trải [5-tr4] BUỒN LÀ

HƯỚNG XUỐNG với các biểu thức như: Chớ mộng cánh tay cành chuốt

ngọc/ Mơ chi con mắt lặng gieo sầu Tay em thả xuôi xuôi như bay vào cõi

mộng Ngoài ra, còn có ẩn dụ định hướng ra vào trong đó định hướng VÀO

LÀ TẬP CHUNG, RA LÀ THIẾU TẬP CHUNG Ví dụ VÀO LÀ TẬP CHUNG NHƯ SAU:

Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc dài (Xa cách - Xuân Diệu)

Trang 18

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt (Xa cách - Xuân Diệu)

Ngược lại RA LÀ THIẾU TẬP CHUNG:

Ngậm ngùi tặng trái tim lưu lạc

Anh chỉ xin em về một chút hương (Muộn màng - Xuân Diệu) Như đối cùng ta dưới cảnh mưa

Mà lòng không hiểu, trán bơ vơ,

(Bên ấy bên này - Xuân Diệu)

“Ẩn dụ định hướng có sự khác biệt so với ẩn dụ cấu trúc ở chỗ đây là loại ẩn dụ ý niệm không có sự sắp xếp lại về mặt cấu trúc một ý niệm này trong thuật ngữ của một ý niệm khác, nhưng nó tồn tại tổ chức của cả một hệ

thống ý niệm theo mẫu của một hệ thống nào đó khác” [7]

Tóm lại, những ẩn dụ định hướng này được tích lũy từ lâu đời, được xuất phát và lý giải từ kinh nghiệm văn hóa của con người, và có tác dụng lớn trở thành cơ sở để các nhà văn nhà thơ khám phá, tìm tòi và sáng tạo, tạo nên những phá cách hay và độc đáo góp phần hình thành phong cách văn chương riêng của mỗi tác giả

Qua ba loại ẩn dụ ý niệm mà khóa luận đã trình bày, chúng ta thấy rằng phạm vi của ẩn dụ ý niệm được mở rộng rất nhiều so với phạm vi của ẩn dụ tu

từ theo quan điểm truyền thống chỉ coi ẩn dụ như một phương thức của tu từ học thì đến đây ẩn dụ tri nhận được hiểu là cách nhìn đối tượng này thông qua

sự hiểu biết về một đối tượng khác đã biết

1.3 Khái quát về ý niệm bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt

BPCTN là những bộ phận khác nhau, thực hiện những chức năng riêng, được thống nhất làm nên chỉnh thể một cơ thể người

Tuy nhiên việc phân loại tên gọi BPCTN còn gặp nhiều tranh cãi bởi sự tồn tại của hai hệ thống tên gọi cùng lúc, đó là tên gọi theo khoa học và hệ

Trang 19

thống tên gọi theo thói quen Trong khóa luận này chúng tôi lựa chọn cách gọi theo thói quen và phân loại theo đặc điểm về vị trí thành ba nhóm lớn như sau:

- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần đầu bao gồm: Đầu,

mắt, não, tóc, sọ, tai, tóc, mắt, mũi, miệng, má, lông mi, lông mày, cằm, trán…

- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần nội tạng gồm: Lòng ,

dạ, gan, tim, ruột, mề, đại tràng,… Những bộ phận này tuy không được nhận

diện rõ ràng nhưng mỗi bộ phận lại có một chức năng riêng rất rõ ràng nên chúng được sử dụng nhiều trong ẩn dụ và hoán dụ Nó mang ý nghĩa biểu thị cho tư tưởng, tình cảm, trạng thái tâm lý của con người

- Nhóm trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần còn lại: Tay, chân,

đầu gối, bàn chân, lưng, ngón tay, eo, ngực, nách

Từ kết quả thống kê, theo bộ phận hành chức, chúng tôi nhận thấy các tên gọi BPCTN xuất hiện không đồng đều trong các ẩn dụ Ẩn dụ dựa vào những đặc điểm về chức năng của bộ phận cơ thể người với những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Trong tiếng Việt và đặc biệt là văn học, rất nhiều bộ phận cơ thể người được sử dụng để biểu đạt những ý niệm trừu tượng về tâm lý, tính cách của con người cho nên đã hình thành các mô hình tri nhận như BỘ PHẬN CƠ

THỂ ĐẠI DIỆN CHO TÂM LÍ, CẢM XÚC TRÍ TUỆ ví dụ như lòng, dạ,

gan là những bộ phận tiêu biểu đại diện cho PHẨM CHẤT TÍNH CÁCH

CỦA CON NGƯỜI: Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật/ Không cho dài

thời trẻ của nhân gian

ĐẦU ÓC LÀ VẬT CHỨA CỦA TRÍ TUỆ: Đầu óc họ đã quen tính toán

/Mỗi khoản trong đời đều xếp ngăn

TIM LÀ VẬT CHỨA CỦA TÌNH YÊU: Trái tim buồn sau lần áo mỏng

/Từng đập vì anh vì những trang thơ

BÀN TAY LÀ VẬT CHỨA ĐỰNG TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ:

Tay cắm hoa, tay để treo tranh/ Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc / Tay

em dừng trên vầng trán lo âu / Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ

MẮT LÀ VẬT CHỨA NHỮNG TÌNH CẢM CỤ THỂ: Mắt ướt trông nhau

lệ muốn tuôn/ Lưu luyến chi nhau để sớt buồn

Trang 20

Như vậy, mỗi một bộ phận cơ thể người đại điện cho những miền tri nhận khác nhau và mỗi bộ phận có một ý nghĩa riêng

1.4 Khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Xuân Quỳnh

1.4.1 Khái quát đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu (1916 -1985), tên thật là Ngô Xuân Diệu, ông được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”(Hoài Thanh), “ông hoàng của thơ tình” Ông trở thành chủ soái của

phong trào thơ mới với những tập thơ tiêu biểu như “Thơ thơ (1938), Gửi

hương cho gió (1945)… và rất nhiều tập thơ khác đã làm nên tên tuổi của

Xuân Diệu

Thơ ông thể hiện tâm sự của cái tôi cá nhân vừa mới lạ nhưng cũng rất

ý nhị, kín đáo Nhà phê bình Hoài Thanh đã viết trong “Thi nhân Việt Nam” rằng : “Tôi đã trót yêu cái hồn thơ Xuân Diệu, một hồn thơ luôn rộng mở, chẳng bao giờ để lòng mình khép kín, một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn” (1-tr137) Cũng chính những đặc điểm ấy đã tạo nên một lối thơ rất lạ, rất duyên và cũng rất độc đáo mang tên Xuân Diệu

Xuân Diệu đã thổi một làn gió mới vào văn đàn Việt Nam bởi sự táo bạo và những cách tân mới mẻ của mình, không khó để bắt gặp sự cách tân táo bạo này trong những trang thơ của ông Trước hết đó là cách tổ chức hình thức câu thơ mới mẻ, cùng một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính mà chúng ta

chưa từng bắt gặp trong thơ ca truyền thống, bài thơ Vội vàng là một ví dụ

điển hình cho phong cách ngôn ngữ thơ Xuân Diệu

Những hình ảnh hết sức mới lạ, cùng cách dùng từ táo bạo như: “Hoa

bướm, đồng nội xanh rì” cùng với những cách kết hợp từ mới lạ:“Tháng giêng ngon như cặp môi gần, Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa, Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Không những thế cách sử dụng linh hoạt

nhịp thơ cũng góp phần tạo nên tính nhạc và diễn tả cảm xúc thay đổi đột ngột khi sung sướng, vui vẻ nhưng mặt khác cũng đầy lo sợ

Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh đã nhận xét rằng: “Xuân Diệu

là thế, lời thơ có lúc rất Tây, nhưng lại mang được cái cốt cách rất đáng trân trọng, “cái dáng yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất

Trang 21

Việt Nam, đã quyến rũ lòng ta” Ta đến với Xuân Diệu, ngoài những vần thơ làm người ta rung động còn có cái gì đó ở Xuân Diệu mà ta rất đỗi nâng niu

Đó là hồn thơ kết tinh của hai nền văn học Đông và Tây đã đưa Xuân Diệu lên đến đỉnh cao nhất “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”.Với những

tập thơ như:“Thơ Thơ, Gửi hương cho gió hay Anh đã giết em” đã góp phần

tạo nên tiếng nói riêng của Xuân Diệu trong văn học Việt Nam

1.4.2 Khái quát đặc điểm thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh (1942 - 1988), tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong thi đàn văn học Việt Nam, Xuân Quỳnh xuất hiện

và để lại dấu ấn rất đặc biệt bởi một trái tim hồn hậu, và đầy nữ tính Hồn thơ chị còn mang đậm những trăn trở,lo âu, khắc khoải ngay cả khi viết về những điều bình dị nhất

“Cái tôi trữ tình trong thơ chị là cái tôi được xây cất bởi những trạng thái tâm hồn đầy mâu thuẫn của một trái tim đa cảm và tinh tế, cũng có lúc cái tôi ấy tự tách mình, phân lập mình thành những thái cực khác nhau để tự mổ

xẻ, để thấu lý đạt tình sự vật hiện tượng và đặc biệt để nhận ra chính con người mình” (2-tr142)

Có lẽ, nét riêng độ đáo trong thơ Xuân Quỳnh chính là giọng điệu thơ luôn mãnh liệt, sôi nổi nhưng cũng rất chân thành, đằm thắm thể hiện tâm sự của người phụ nữ trong tình yêu:

“Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn vỡ”

Mặt khác, nhà thơ thường viết về những điều bình dị nhất trong cuộc sống như tiếng gà gáy, tình yêu cuộc sống, hay cả những loài hoa dại tưởng chừng như không có gì đặc biệt

Với những tác phẩm như: “Anh, Sóng, Thuyền và Biển, Mẹ của anh”…

Chính những đóng góp mệt mài của mình suốt 30 năm trong chặng đường sáng tác, Xuân Quỳnh đã trở thành một trong những gương mặt nổi bật nhất của thơ

Trang 22

ca thời chống Mỹ, và chính những nỗ lực bền bỉ ấy đã được đền đáp bằng sự yêu mến của độc giả ngay từ những ngày đầu cho đến ngày hôm nay

Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai nhà thơ sinh ra trong thời đại khác nhau, nhưng đều có những đóng góp nổi bật cho văn học Việt Nam, đặc biệt trong mảng thơ tình Mỗi người có một phong cách nghệ thuật riêng, nhưng ta bắt gặp ở họ một điểm chung trong tâm hồn, đó chính là khao khát đến cháy bỏng trong tình yêu, chính vì vậy mang đến sự bất tử trong thơ viết về tình yêu Không đơn thuần là tình yêu đôi lứa mà còn là tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, khát khao giao cảm mãnh liệt với đời Tất cả điều đó đã tạo nên hai đại diện thơ tình xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam Hoài Thanh

đã nói rằng: “Tôi trót yêu hồn thơ Xuân Diệu, một hồn thơ đang rộng mở, chẳng bao giờ để lòng mình khép kín, một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn” chính vì thế ông được mệnh danh là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới Ngược lại, ta bắt gặp một hồn thơ đôn hậu, đằm thắm, nhưng cũng không kém phần mãnh liệt trong thế giới thơ tình Xuân Quỳnh

Như vậy, ta thấy sự đồng điệu của hai nhà thơ trong đề tài thơ tình và những cải biến về đặc điểm ngôn ngữ thơ, đặc biệt trong khóa luận này tôi muốn đề cập đến những ẩn dụ ý niệm miền bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, đặc biệt là loại ẩn dụ vật chứa được hai tác giả sử dụng nhiều hơn cả

Tiểu kết chương 1

Ngôn ngữ học tri nhận một khuynh hướng ngữ nghĩa, coi trọng sự tri nhận về thế giới xung quanh Đối với khuynh hướng nghiên cứu này, ý niệm chính là thuật ngữ đầu tiên và quan trọng nhất

Căn cứ vào những công trình nghiên cứu trước đây, có thể khẳng định

ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận là một trong những hình thức ý niệm hóa Ẩn

dụ ý niệm không chỉ là sự tương đồng giản đơn giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác mà nó là cách nhìn sự vật này qua một đối tượng khác, qua đó hình thành những ý niệm mới, cơ chế tri nhận này mang tính dân tộc và thời đại

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người là nhóm từ cơ bản, thuần chất nhất trong

Trang 23

hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Đây là nhóm từ có có số lượng lớn, xuất hiện với tần xuất lớn trong ngôn ngữ sinh hoạt cũng như ngôn ngữ văn chương

Ẩn dụ ý niệm gồm ba loại đó là ẩn dụ vật chứa, ẩn dụ định hướng, và ẩn dụ cấu trúc Ba loại ẩn dụ trên đã góp phần minh chứng cho quan niệm: “Ẩn dụ không chỉ là cách nói bóng bẩy dựa trên sự tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng, mà bản chất của ẩn dụ tri nhận là ở sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác” Đây cũng là những

lí thuyết cơ sở giúp chúng tôi triển khai những chương sau của khóa luận

Trang 24

Chương 2 CÁC LOẠI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH

2.1 Một số ý niệm bộ phận cơ thể người trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm miền BPCTN trong

hai tập thơ “Thơ Thơ”và “Gửi hương cho gió” của tác giả Xuân Diệu, và thu

(Lời thơ vào tập Gửi hương cho gió)

3 Dạ 5/48 2,1 Hỡi lòng dạ sâu như vực thẳm

9 Mắt 36/48 14,9 Khóm cây con mắt ngày đêm đón mừng

(Đời anh em đã đi qua)

10 Mặt 11/48 4,5 Cho đầy trước mặt khoảng cô đơn

(Bài thơ thuở nhỏ)

11 Mi 2/48 0,8 Với mi kia, mắt nọ, với môi này

(Thở than)

Trang 25

STT Từ chỉ

BPCTN

Số lần xuất hiện/số tác phẩm

16 Ruột 2/48 0,8 Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt

(Anh đã giết em)

17 Tai 2/48 0,8 Hãy nghe lẫn lộn nghé bên tai

(Huyền Diệu)

18 Tay 42/48 17,3 Tay trong tay, đầu sát bên đầu

(Biệt ly êm ái)

19 Tóc 4/48 1,6 Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

(Đây mùa thu tới)

20 Trái tim 22/48 9,1 Ngậm ngùi tặng trái tim lưu lạc

người đó là: lòng, dạ, bàn tay, đôi mắt, chân, cổ, đầu, vú, vai, chân, ruột,

răng, miệng, mi, má, đầu, gan,… Những bộ phận thuộc phần nội tạng chiếm

số lần xuất hiện nhiều nhất, trong đó lòng xuất hiện 67 lần trên 48 tác phẩm chiếm 27,7%, trái tim xuất hiện 22 lần chiếm 9,1%, những bộ phận thuộc phần nội tạng khác như ruột, gan, có số lần xuất hiện tương đối ít và chỉ chiếm những tỉ lệ nhỏ như ruột 0,8%, và gan cùng tỉ lệ là 0,8% Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy bởi lòng và tim là những bộ phận có kích thước, hình

Trang 26

dáng rộng có thể giãn nở và đây là những hình ảnh thường thấy trong văn học

để diễn tả tâm lí, cảm xúc và tình cảm của con người Bên cạnh đó, những bộ

phận thuộc phần đầu như đôi mắt, khuôn mặt, đầu óc cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ mắt 14,9%, đầu 4,1%, mặt 4,5% những bộ phận cơ thể này góp phần tri

nhận cho lí trí, cảm xúc, hành động của con người Còn lại là những bộ phận

thuộc phần còn lại như bàn tay, chân là những bộ phận đại diện cho kĩ năng, khả năng, hay tình yêu thương của con người bàn tay được sử dụng nhiều hơn

cả chiếm 17,3 %, chân có số lượng xuất hiện ít hơn với 2,9%

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm miền BPCTN trong

ba tập Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối của tác giả Xuân

Quỳnh và đã thống kê thành bảng sau:

Bảng 2: Bảng thống kê từ ngữ chỉ BPCTN trong thơ Xuân Quỳnh

STT Từ chỉ

BPTN

Số lần xuất hiện/

số tác phẩm

Tỉ lệ % theo số lần xuất hiện

Ví dụ

Cô này lác, cô kia thì cằm lẹm

(Thơ viết cho mình và những người

5 Đầu 9/41 4,6 Đầu tóc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa

(Thơ vui về phái yếu)

6 Lòng 37/41 19,1 Lòng thuyền đau - rạn vỡ

(Thuyền và Biển)

7 Lưng 3/41 1,5 Những hốc chéo luồn sống lưng nhỏ bé

(Cột đèn góc phố)

(Thơ tình cuối mùa thu)

Trang 27

STT Từ chỉ

BPTN

Số lần xuất hiện/

số tác phẩm

Tỉ lệ % theo số lần xuất hiện

12 Mũi 1/41 0,5 Con cười nhăn cả mũi

(Mùa xuân mừng con thêm một tuổi)

13 Răng 3/41 1,5 Hở cái răng mới thay

(Mùa Xuân mừng con thêm một tuổi)

14 Tay 35/41 18 Bàn tay em ngón chẳng thon dài

Trán tôi dô ra bướng bỉnh hơn, bàn

tay thô lại còn vụng nữa (Thơ viết cho mình và những người

Đối với nhà thơ Xuân Quỳnh, chị đã sử dụng nhiều những ý niệm bộ phận

cơ thể người như: bàn tay với 35 lần xuất hiện chiếm 18%, trái tim 19 lần với

9,8%, đôi mắt có 13 lần với 6,7% Bởi đây là những bộ phận gắn liền với người

phụ nữ, thể hiện được nét duyên dáng cũng như vẻ đẹp tâm hồn của họ Mượn những bộ phận này để ẩn dụ cho những phẩm chất của người phụ nữ, người vợ,

Trang 28

người mẹ Ngược lại những bộ phận khác như lưng chỉ có 3 lần xuất hiện số 1,5%, cằm, vai, mũi, mi với 1 lần xuất hiện và chỉ chiếm 0,5% Sở dĩ những bộ

phận trên được tác giả Xuân Quỳnh sử dụng ít bởi nó mang hàm ý hẹp, khó có thể diễn tả được khao khát cháy bỏng yêu và được yêu của Xuân Quỳnh

Chúng tôi nhận thấy có sự phân chia rõ rệt giữa các ý niệm như các ý

niệm thuộc phần đầu là: đầu, mắt, miệng… thường được các tác giả sử dụng để

tri nhận hình dáng con người hoặc trí tuệ con người Bên cạnh đó, các ý niệm

thuộc phần nội tạng như: lòng, bụng, trái tim,… lại được dùng để tri nhận ý chí,

cảm xúc, tình cảm của con người Cũng qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy thơ Xuân Quỳnh và Xuân Diệu xuất hiện loại ẩn dụ ý niệm với tần suất lớn đó là ẩn dụ vật chứa Loại ẩn dụ này có tác dụng rất lớn trong việc thể hiện tình cảm của các tác giả, cũng như đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển miền ẩn dụ ý niệm chỉ bộ phận cơ thể người trong thơ ca nói riêng và trong tiếng việt nói chung.Vì vậy, ở khóa luận này chúng tôi chủ yếu phân tích

ẩn dụ vật chứa trong thơ ca của Xuân Quỳnh và Xuân Diệu

Có rất nhiều ý niệm bộ phận cơ thể người xuất hiện trong những tập thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, tuy nhiên khóa luận sẽ đi sâu vào những ý niệm cụ thể và tiêu biểu nhất để làm rõ được biện pháp ẩn dụ ý niệm cũng như làm rõ đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ của hai nhà thơ

2.2 Ẩn dụ vật chứa trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

2.2.1 Lòng là vật chứa tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu

Trong hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của tác giả Xuân Diệu và ba tập thơ “Tự hát, Hoa dọc chiến hào, Không bao giờ là cuối”của Xuân Quỳnh mà chúng tôi đã khảo sát, tôi nhận thấy rằng ý niệm “lòng” có

tần số xuất hiện lớn nhất Với 48 bài thơ trong hai tập thơ của Xuân Diệu, ý

niệm lòng được xuất hiện 30 lần và trong 41 tác phẩm của Xuân Quỳnh, lòng

đã xuất hiện tới 19 lần Ý niệm “lòng” trong cả hai sáng tác của nhà thơ đều thuộc các ẩn dụ ý niệm vật chứa, đều là vật chứa, cho tâm trạng, cảm xúc của

con người trong tình yêu

Theo nghĩa gốc, “lòng” là bộ phận trong bụng của con vật bị giết thịt

dùng làm thức ăn nói chung của con người, là bộ phận chứa đựng nói chung

Trang 29

như: lòng gà, lòng lợn [18] Người Việt quan niệm rằng, lòng là một bộ

phận trung tâm hơn cả trong cơ thể con người Vì vậy bộ phận này mang tính tuyệt đối trong việc ý niệm hóa những nét phẩm chất, tính cách hay tâm trạng

của con người Người Việt có thể dùng các từ như: lòng ngay thẳng, tôi sợ

làm mất lòng anh ấy, lòng mẹ bao la như biển Thái Bình… để diễn tả những

nét tính cách và tâm trạng của con người, như vậy người tốt sẽ được hiểu là

người có “tấm lòng” Điều này có phần khác biệt so với các loại ngôn ngữ

khác đặc biệt là tiếng Anh, trong tiếng Anh để nói về một người tốt, người ta

sẽ không sử dụng trực tiếp từ lòng mà sẽ diễn đạt là He is a kind-heard preson

(Anh ta là một người tốt), như vậy chúng ta thấy sự khác nhau về việc sử

dụng từ lòng giữa hai ngôn ngữ nói trên

Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, chúng ta thường những từ lòng trong

các biểu thức như: Lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng trung thực, lòng yêu

nước, lòng yêu trẻ, lòng đố kị, lòng ghen tuông, lòng gian ác… hay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng sử dụng lòng để nói về tình cảm ghen

tuông của Hoạn Thư:

“Lòng riêng riêng những kính yêu

Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Như vậy, chúng ta đã thấy được sự đa dạng trong những nét nghĩa mà

“lòng” trở thành vật chứa, qua khảo sát chúng tôi đã thống kê ra những nét ý niệm chính và đặc sắc của “lòng” trong thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh

mà khóa luận sẽ tập trung trình bày dưới đây

Trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, “lòng” là một không gian rộng,

linh hoạt có thể chứa đựng rất nhiều tình cảm, đặc biệt là tình yêu Dựa vào việc khảo sát, khóa luận đã chia ý niệm lòng thành những vật chứa đựng cho những tình cảm cụ thể của con người như sau:

2.2.1.1 Lòng là vật chứa nỗi nhớ nhung

Như đã nói ở trên, lòng là một vật có kích thước, chiều rộng sâu có thể chứa đựng nhiều tình cảm cụ thể, nỗi nhớ cũng là một trong những cung bậc cảm xúc trong tình yêu

Ngày đăng: 03/09/2019, 13:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
2. Trần Văn Cơ (2007), Khảo luận “Ẩn dụ tri nhận”, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận “Ẩn dụ tri nhận”
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2007
3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
4. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục"
Năm: 2009
5. Nguyễn Thị Hiền (2018), Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, luận án tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2018
6. Phan Thế Hƣng (2008), Mô hình tri nhận trong ẩn dụ ý niệm, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, trang 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tri nhận trong ẩn dụ ý niệm
Tác giả: Phan Thế Hƣng
Năm: 2008
7. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009), Ẩn dụ tri nhận mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn, luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Trường khoa học xã hội và nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2009
8. Trần Thị Phương Lý (2012), Ẩn dụ ý niệm phạm trù thực vật trong tiếng việt, luận án tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm phạm trù thực vật trong tiếng việt
Tác giả: Trần Thị Phương Lý
Năm: 2012
9. Nguyễn Thị Liên (2018), Ẩn dụ ý niệm cảm xúc con người là màu sắc trong Tiếng Việt,luận án tiến sĩ, Tạp chí khoa học và công nghệ đại học Đà Nẵng, số 8 (129) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm cảm xúc con người là màu sắc trong Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Liên
Năm: 2018
10. Trần Văn Nam (2016), Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, Dạy và học ngày nay, số 8, trang 142 - 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Trần Văn Nam
Năm: 2016
11. Trần Văn Nam (2017), Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ mới 1932-1945, Dạy và học ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ mới 1932-1945
Tác giả: Trần Văn Nam
Năm: 2017
12. Nguyễn Hoài Nghiêm (2011), Ẩn dụ ý niệm tình yêu là cuộc hành trình trong thơ Xuân Diệu, Tạp chí ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm tình yêu là cuộc hành trình trong thơ Xuân Diệu
Tác giả: Nguyễn Hoài Nghiêm
Năm: 2011
13. Lý Toàn Thắng (2010), Dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ: nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ văn hóa, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ: nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ văn hóa
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Năm: 2010
14. Bùi Khánh Thế (1995), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Bùi Khánh Thế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
15. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
16. Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb, GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Năm: 1998
17. Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học, Nxb. GD, Hà Nội 18. http://vi.wikipedia.org/wiki Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w