Có thể không quá lời khi nói rằng, nếu không có tư duy sáng tạo thì không thể có một xã hội phát triển như ngày nay. Chính nhờ có sáng tạo mà con người qua từng thời đại chế tạo ra biết bao nhiêu thiết bị để “nối dài” khả năng của con người. Kính viễn vọng chính là sự nối dài của đôi mắt, cần cẩu là sự nối dài của đôi tay và máy bay là sự nối dài của đôi chân… Trong công việc cũng vậy, nếu không có tư duy sáng tạo thì con người không thể giải quyết được những vấn đề nan giải đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính đột phá và hoàn toàn mới lạ. Đối với các bạn trẻ, tư duy sáng tạo là một phẩm chất năng động cũng như sức sống của tuổi trẻ, khẳng định được vị thế của mình trong thời đại mới và góp phần xây dựng xã hội ngày một phát triển hơn. Nhưng để làm được điều đó, trước hết phải trả lời được câu hỏi “Tư duy sáng tạo là gì? Làm sao rèn luyện được kỹ năng tư duy sáng tạo?” Truy tìm khái niệm Theo các nhà tâm lý học thì hoạt động sáng tạo được xem là dạng hoạt động cao nhất của con người. Năng lực sáng tạo là cốt lõi của hoạt động sáng tạo, làm tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo, nó được xác định từ chất lượng đặc biệt của các quá trình tâm lý mà trước hết là quá trình trí nhớ, tư duy, xúc cảm, ý chí,… Tư duy sáng tạo là kiểu giải quyết vấn đề dựa trên sự động não tối đa nhằm tạo điều kiện tìm ra phương án tối ưu dựa trên những phương án được nêu ra. Điều này thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình rất phức tạp đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của hoạt động trí óc. Trước một vấn đề nan giải, khi tất cả các phương án cũ đều không thể giải quyết được, con người buộc phải tìm ra càng nhiều giải pháp càng tốt, sau đó sàng lọc và chọn ra giải pháp hay nhất trong số những giải pháp đã đưa ra. Tuy nhiên, con đường và quá trình tìm ra những giải pháp mới không hề đơn giản, đó là cả một quá trình “vật lộn” của trí não cho đến lúc cảm thấy “lóe sáng” để rồi mừng rỡ kêu lên “Eureka” giống như Ascimet ngày xưa. Nhưng muốn đạt đến tầng bậc ấy thì nhất thiết phải tạo
Trang 1Chương 4 PHÁT TRIỄN TƯ DUY,
SÁNG TẠO VÀ GIÁO DỤC TƯ
TƯỞNG, KỸ THUẬT TỔNG HỢP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
VẬT LÝ
4.1 Phát triễn tư duy của học sinh trong DHVL
4.2 Bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh
4.3 Giáo dục tư tưởng trong DHVL 4.4 Giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong DHVL
Trang 2Đ/a: Song thất lục bát
Trang 3Đ/a: Số 10 bên phải đc viền đỏ, bên phải là "hữu", số 10 trong la mã là X, đọc là "ích" => hữu ích
Trang 4Đ/a: Bất lực
Trang 54.1 PHÁT TRIỄN TƯ DUY CỦA HỌC SINH
TRONG DHVL 4.1.1 Tư duy
ĐN: Tư duy là một quá trình nhận thức
khái quát và gián tiếp những sự vật hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất, những mối
quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng
Trang 6Đặc điểm:
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào trong ốc
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Tính gián tiếp
Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn
ngữ
Tính “có vấn đề”
Trang 74.1.2
Các loại
tư duy
4.1.2.1
Tư duy
kinh ngiệm
4.1.2.2
Tư duy
lí luận
4.1.2.3
Tư duy lôgic
4.1.2.4
Tư duy vật lý
Trang 8ĐN: Tư duy kinh nghiệm là một tư duy
dựa chủ yếu trên kinh nghiệm cảm tính
và sử dụng phương pháp “thử và sai”
Đặc điểm:
Đơn giản
Không cần rèn luyện nhiều
Có ích trong hoạt động hằng ngày (phạm vi hẹp)
Trang 9ĐN: Tư duy lí luận là loại tư duy giải quyết
nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng
những khái niệm trừu tượng, những tri thức
lí luận
Đặc trưng:
Xây dựng quy tắc, qui luật chung ngày một sâu rộng hơn
Định hướng hành động về cách thức
Sử dụng những tri thức khái quát
Sự nhất quán về mặt lí luận, xác định
được phạm vi ứng dụng của mỗi lí thuyết
Trang 10ĐN: Tư duy lôgic là tư duy tuân theo các
quy tắc, quy luật của loogic học một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong các lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức được
đúng đắn chân lý khách quan
Đặc điểm:
Sử dụng ở mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức
Thường xuyên rèn luyện cho học sinh
Trang 11ĐN: Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện
tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành một bộ phận đơn giản và xác lập
giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả mới các lí thuyết và áp kiến thức vào thực tiễn
VD: