cụ thể của sâu ở giai đoạn trưởng thành, thức ăn và các điều kiện sống phùhợp với ngài để tăng sản lượng, tỉ lệ sống, tỉ lệ đẻ trứng lên cao nhất.Hơn nữa, giá trị mà bướm mang lại là rất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
ĐỖ THỊ HƯỜNG
QUY TRÌNH NHÂN NUÔI TRƯỞNG THÀNH
BỘ CÁNH VẨY TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
ĐỖ THỊ HƯỜNG
QUY TRÌNH NHÂN NUÔI TRƯỞNG THÀNH
BỘ CÁNH VẨY TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
Người hướng dẫn khoa học
ThS: VŨ THỊ THƯƠNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả trong luận văn là trung thựcchưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và mọi việc giúp đỡ cho việcthực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận vănđều được nêu rõ nguồn gốc
Hà Nội, Ngày 10 Tháng 5 Năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn hành tốt luận văn tốt nghi p ệ này ngoài những cố gắng nỗ l c ự của b n ả thân, tôi đã nhận đ ượ rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ nhi t c ệ tình của các t p ậ th , ể cá nhân ở cả trong và ngoài trường.
Đ u ầ tiên, tôi xin g i ử l i ờ c m ả n ơ sâu s c ắ t i ớ cô Vũ Thị Th ươ – Gi ng ng ả viên khoa Sinh - KTNN, Tr ườ đại học sư ph m Hà ng ạ Nội 2 đã t n ậ tình h ướ ng dẫn tôi trong suốt th i ờ gian tôi th c ự hi n ệ đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng bi t ế n ơ sâu s c ắ t i ớ các th y ầ cô gi ng ả viên trong khoa Sinh - KTNN, các th y ầ cô giáo trong tổ Ứng dụng công nghệ cao trong sinh học đã t o ạ điều ki n ệ giúp đ ỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghi p ệ
Cuối cùng tôi xin chân thành c m ả n ơ t i ớ gia đình và b n ạ bè đã cổ vũ khích
lệ và tạo mọi điều kiện thu n ậ l i ợ để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, Ngày 10 Tháng 5 Năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu .3
3 Nội dung nghiên cứu .3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5 Phạm vi nghiên cứu .4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở của đề tài .5
1.2 Tổng quan tài liệu nước ngoài 10
1.2.1 Tình hình nhân nuôi sâu cánh vẩy trên thế giới 10
1.2.2 Các nghiên cứu về đặc tính sinh học của trưởng thành bộ cánh vẩy 13
1.3 Tổng quan tài liệu trong nước .14
1.3.1 Tình hình nhân nuôi trưởng thành sâu cánh vẩy tại Việt Nam .14
1.3.2 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của bộ cánh vẩy tại Việt Nam 14
CHƯƠNG 2 :THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Thời gian 20
2.2 Địa điểm 20
2.3 Vật liệu và dụng cụ 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và phát triển của trưởng thành 25
3.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ tới thời gian sống của trưởng thành sâu tơ 25
3.1.2 Ảnh hưởng của thức ăn tới thời gian tiền đẻ trứng của trưởng thành sâu tơ.27 3.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian để trứng 28
3.1.4 Ảnh hưởng của thức ăn tới số lượng trứng sinh ra 29
3.1.5 Ảnh hưởng của thức ăn tới tỉ lệ nở của trứng 30
Trang 6KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian sống của trưởng thành .25 Bảng 2 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian tiền đẻ trứng của trưởng thành cái 27 Bảng 3 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian đẻ trứng của trưởng thành .28 Bảng 4 Ảnh hưởng của thức ăn đến số lượng trứng đẻ của trưởng thành .30 Bảng 5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ trứng nở 31
Trang 8IPM Integrated Pests Management
Trang 9Ngoài ra giá trị mà chúng mang lại về mọi mặt kinh tế - văn hóa - xãhội là rất lớn:
Về kinh tế, do sự đa dạng về màu sắc chủng loại mà giá trị của chúngđem lại rất lớn, có những con có giá lên tới vài nghìn đôla Mỹ Các sản phẩmlàm từ bướm được bày bán trên khắp thế giới Đa phần trong số đó là tranhđược làm từ bướm ép khô.Nhờ các sản phẩm này đã đem lại nguồn thu nhậplớn và đều đặn cho nhiều người lao động trên khắp thế giới
Về văn hóa, bươm bướm là đặc trưng đại diện cho một quốc gia, một
cá nhân hay tập thể Đất nước Papua New Guinea được gọi là đất nước củabươm bướm, số lượng bướm ở đây chiếm đến 55% số loài bướm trên khắpthế giới Ở đất nước này không dùng tiền tệ để trao đổi hàng hóa mà dùngbướm thay cho tiền Hằng năm vào giữa tháng 9, người dân bản địa ở đây lại
Trang 10tổ chức cuộc thi sắc đẹp lấy ý tưởng từ loài bướm nhằm tôn vinh chúng, sảnphẩm kỳ diệu mà tạo hóa đã ưu ái ban tặng quốc gia này và đây cũng được coi
là biểu tượng văn hóa của quốc gia này Ngoài ra còn các hoạt động văn hóanhư các triển lãm tranh ảnh và các sản phẩm về bướm cũng được sự quan tâmnhiều của công chúng [29]
Về du lịch, các mô hình du lịch sinh thái, vườm bướm đã có mặt ởnhiều quốc gia trên thế giới như ở Mỹ, Singapore,… Ở Việt Nam, mô hìnhnày cũng đã phát triển và thu hút một lượng khách tham quan du lịch lớn
Về giá trị tinh thần, bướm là hình ảnh thường xuất hiện trong thơ ca,nhạc họa Nó thường được ví như mùa xuân, do đó mang lại cảm giác thư thái
dễ chịu cho người nhìn người nghe khi thưởng thức các tác phẩm liên quanđến nó
Về nghiên cứu khoa học và giáo dục, đây là đối tượng nghiên cứu cácđặc điểm hình thái, sinh lý, sinh thái, sinh hóa, di truyền, tiến hóa,… Và từcác nghiên cứu đó giáo dục cho thế hệ sau biết đến nó và có công tác bảo tồnhay tiêu diệt sâu bệnh hại
Ở nước ta một vài năm gần đây đã có nhiều cơ quan như: Viện bảo vệthực vật, công ty bông Việt Nam,… nghiên cứu nhân nuôi các loại sâu: sâukhoang, sâu xanh, sâu keo da láng bằng môi trường thức ăn bán tổng hợpnhằm mục đích lây nhiễm virut, để sản xuất chế phẩm trừ sâu hại trên lá bông,thuốc lá cải bắp,… Những công trình này đã mang lại triển vọng cho côngnghệ sản xuất sâu ở Việt Nam [11] Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế vềphương pháp, kỹ thuật, trang thiết bị cũng như cơ sở vật chất trong quá trìnhnghiên cứu Nhất là trong qúa trình nghiên cứu chỉ chú trọng nghiên cứu nhânnuôi ở giai đoạn sâu non, còn các giai đoạn khác như trưởng thành thì ítnghiên cứu kỹ Do đó cần có thêm những nghiên cứu về quy trình nhân nuôi
Trang 11cụ thể của sâu ở giai đoạn trưởng thành, thức ăn và các điều kiện sống phùhợp với ngài để tăng sản lượng, tỉ lệ sống, tỉ lệ đẻ trứng lên cao nhất.
Hơn nữa, giá trị mà bướm mang lại là rất lớn về nhiều mặt khiến choviệc nghiên cứu hoàn thiện nhân nuôi nó càng trở nên quan trọng
Chính vì những lí do trên mà đề tài nghiên cứu “Quy trình nhân nuôitrưởng thành bộ cánh vẩy trong phòng thí nghiệm” là vấn đề rất cần thiếttrong nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại và nâng cao phát triển kinh tế hiệnnay
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu thức ăn, từ đó làm cở sở đề xuất thức ăn nuôitrưởng thành bộ cánh vẩy trong phòng thí nghiệm
3 Nội dung nghiên cứu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến sinh trưởng và pháttriển của trưởng thành bộ cánh vẩy
Bước đầu đề xuất thức ăn nuôi trưởng thành bộ cánh vẩy trong phòngthí nghiệm
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trang 124.2 Ý nghĩa thực tiễn.
- Do đó đề tài nhân nuôi trưởng thành bộ cánh vẩy trong phòng thínghiệm có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn đời sống Nhờ việc sản xuấttrưởng thành bộ cánh vẩy để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ trangtrí, tranh ảnh, mẫu vật, mang lại giá trị kinh tế rất cao, tạo công ăn việc làmcho rất nhiều người lao động
- Là cơ sở xây dựng các hướng nghiên cứu phù hợp cho học sinh trung họcphổ thông, thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đáp ứng đổi mới giáodục
Trang 131.1 Cơ sở của đề tài.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Việc nhân nuôi côn trùng trên thế giới đã có cách đây từ rất lâu, khoảng
7000 trước đây đã có những ghi chép về các kỹ thuật nuôi tằm lấy sợi, nuôiong lấy mật [11] Hiện nay, việc nhân nuôi côn trùng đã không còn xa lạ vớichúng ta nữa mà trở lên rất phổ biến Nó diễn ra với nhiều mục đích khácnhau ví dụ: nuôi côn trùng làm thức ăn cho vật nuôi, con người; dùng côngtrùng với mục đích nghiên cứu, giáo dục; dùng côn trùng nhằm tăng cườngbiện pháp sinh học trong bảo vệ cây trồng, để giảm thiểu việc sử dụng thuôctrừ sâu hóa học, sử dụng các loài thiên địch để diệt trừ sâu bệnh hại,… Trong
số đó, bộ cánh vẩy là một bộ trong lớp côn trùng được quan tâm nghiên cứunhiều do những giá trị mà chúng mang lại là rất lớn
Bướm là một loài có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu và đang trởthành loài vật nuôi có giá trị thương mại cao trên thị trường Các giá trị hiệntại của bướm đã tìm ra và đang được sử dụng:
- Giá trị thương mại:
Nuôi bướm là một một nghề hái ra tiền trên thế giới hiện nay Trong thịtrường quốc tếthương mại toàn cầu, bướm sẽ trở thành hàng hóa vô giá vànghề nuôi bướm sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn
Rõ ràng, câu chuyện kinh doanh bướm và côn trùng không còn đơnthuần là hái hoa bắt bướm, mà đã trở thành cơ hội hái ra tiền thật sự
Bướm và côn trùng là loại sản phẩm không chỉ đặc biệt về chu trình sảnxuất, chủng loại hàng hóa và thị hiếu tiêu dùng, đây còn là sản phẩm đượcpháp luật bảo vệ Việt Nam đã tham gia Công ước CITES từ năm 1994 Côngước này là Hiệp định liên chính phủ với mục tiêu kiểm soát hoạt động buônbán qua biên giới các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trên toàn cầu
Trang 14bằng các quy định quốc tế Mục đích là nhằm đảm bảo việc buôn bán khônglàm ảnh hưởng đến sự sinh tồn, phát triển bền vững của các loài hoang dãtrong tự nhiên.
Do đó kinh doanh và xuất khẩu côn trùng cũng phải có giấy phépchứng minh không ảnh hưởng đến quá phát triển của loài Với những quyđịnh này, sản xuất và xuất khẩu bướm trở thành một mô hình kinh doanh độcnhất hiện nay cả về cách thức lẫn thủ tục [30]
Theo Giáo sư Bùi Công Hiển, côn trùng nói chung và bướm nói riêngbướm cũng là nguồn tài nguyên quý của Việt Nam với giá trị kinh tế cao Mộtngười dân Tam Đảo từng bán cho một người Nhật một con bướm kiếm, haycòn gọi là bướm 10 đuôi, với giá gần 1000 USD Năm 2006, một mẫu vật củaloài bướm Goliath birdwing đã được bán ở Đài Loan với giá 28000 USD(tương đương khoảng 636 triệu VNĐ - giá bán cao nhất cho một mẫu vậtbươm bướm lúc bấy giờ) [31]
Trong khi đó, người dân chưa biết khai thác hợp lý nên nguồn lợi màcôn trùng mang lại không đáng kể Những người dân sống ở khu vực nhiềucôn trùng như Tam Đảo thường là người nghèo nhưng chưa biết tận dụng nguồntài nguyên này hợp lý để vừa tăng thu nhập, vừa duy trì để tài nguyên côntrùng
Tình trạng khách du lịch nước ngoài vẫn âm thầm vào các vùng sâuvùng xa của Việt Nam đi săn động vật, côn trùng quý hiếm Có trường hợpmột người Thái Lan đến vùng núi Tam Đảo thu mua hàng nghìn con bọ cánhcứng nhưng đã bị kiểm lâm bắt được
Trên thế giới có nhiều nước đã có các công ty buôn bán côn trùng cólịch sử hàng trăm năm nay Họ hướng dẫn người dân khai thác, nuôi trồnghợp lý Ở ngay những nước trong khu vực như Malaysia, Đài Loan, Trung
Trang 15Quốc, Nhật Bản đều có vườn bướm, côn trùng sống, mở cửa cho khách tham quan và bán đồ lưu niệm từ côn trùng.
Bươm bướm thường được ướp khô để làm các vật mẫu khoa học hay quàlưu niệm, bộ sưu tập, chúng khá được ưa chuộng ở nhiều nơi trên thế giới
Giá bán của một bức tranh bướm vào khoảng 600000 VNĐ đến
1500000 VNĐ tùy loại và khích thước Có thể nói giá trị kinh tế mà của việcnuôi bướm là rất cao
Côn trùng nói chung và bướm nói riêng góp phần tạo ra các sản phẩm:rau, hoa, quả, hạt bằng việc thụ phấn cho cây Nhiều thực vật được thụ phấnnhờ bướm thụ phấn mà năng suất quả, hạt đã tăng lên nhiều lần
Đến với các mô hình này, du khách không chỉ được thỏa sức ngắm nhìnnhững cánh bướm mỏng manh, bay lượn rập rờn, hay đậu trên những cànhhoa đầy màu sắc, mà còn được hướng dẫn viên giới thiệu về vòng đời sinhtrưởng của một cánh bướm, từ trứng, ấu trùng (sâu bướm), hóa nhộng, chui rakhỏi kén thành một con bướm trưởng thành tự do bay lượn trong khu vườn
Đây thực sự là hoạt động du lịch rất bổ ích, góp phần làm phong phúthêm kiến thức về thiên nhiên cho du khách, có tác dụng khuyến khích conngười bảo vệ môi trường tự nhiên
Mô hình này đã có ở nhiều nước đặc biệt ở các nước vùng nhiệt đới như:
Trang 16Mô hình vườn Bướm Butterfly Garden nằm tọa lạc tại vùng SoiPaneang, Bang Sam Kong thuộc miền tây Phuket Đây là một quần thể thốngnhất bao gồm bảo tàng côn trùng với đa dạng các chủng loại khác nhau, trangtrại nuôi bướm, vườn bướm và một bảo tàng lụa Trong không khí trong lành,yên tĩnh của vườn bướm Butterfly Garden, du khách đến tham quan khám pháThái Lan chắc chắc sẽ kinh ngạc trước một thế giới vô cùng sinh động và rực
rỡ sắc màu với muôn ngàn cánh bướm dập dìu xung quanh mình ButterflyGarden là một trong những “bộ sưu tập” lớn nhất thế giới với hơn 3000 loàibướm và mẫu côn trùng khác nhau Đồng thời tại đây cũng là nơi bào chế cácloại dược phẩm được chiết xuất từ các loài bướm xinh đẹp này Trước khi vàotrong khu vườn bướm Butterfly Garden, du khách sẽ phải đi qua khu bảo tàngđược trưng bày đẹp mắt với nhiều loại côn trùng quý như bọ cánh cứng, nhện
tarantulas, bọ cạp và côn trùng nhiều chân khác.
Công viên bướm và Vương quốc côn trùng là một trong những điểmđến hấp dẫn trên đảo Sentosa mà các tour du lịch Singapore không thể bỏ qua.Nhà kính ngoài trời của công viên là nơi bảo tồn hơn 50 loài bướm khác nhau,bao gồm những loài bướm quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cho đến nhữngloài bướm phổ biến hơn Tại nhà Live Pupae tại đây, bạn cũng có thể tận mắtchứng kiến sự sinh sôi, nảy nở của các loài sinh vật, ngắm nhìn những loàicôn trùng bé nhỏ vờn quanh những bông hoa nhiều màu rực rỡ
Vườn bướm New York (Butterfly Garden) nằm trong Sở thú BronxZoo Khu này bao gồm một vườn hoa trồng nhiều loại hoa bướm thíchnhất, và một nhà kiếng rất lớn, ở đó khoảng 1000 con bướm được sống tự
do, bay lượn, đậu hút nhụy hoa, và còn rất nhiều mô hình vườn bướmkhác trên thế giới
Tại Việt Nam, đầu năm 2017 vườn bướm đầu tiên được khai trươngtrên đảo hoa lan ở Nha Trang - Khánh Hòa Đây là khu vườn bướm đầu tiên
Trang 17và duy nhất tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại Trong ngày đầu ra mắt,khu vườn bướm và khu chế tác bướm khô đã thu hút hơn 1000 lượt khách.Tại vườn bướm đã lưu trữ 20 loài bướm và hơn 1000 cá thể bướm, và còn cócác loài côn trùng khác nữa.
Những mô hình Vườn Bướm không chỉ phục vụ nhu cầu thưởng lãmdành cho du khách, mà còn rất phù hợp cho việc đưa một không gian thực tếvào việc giảng dạy cho học sinh, sinh viên muốn tìm hiểu về sự hình thành,phát triển của loài bướm Hay tìm hiểu về một không gian đa dạng sinh học
với nhiều loài côn trùng, bọ cánh cứng, ong mật, nhện tarantulas, bọ cạp và
các loài hoa lá, cỏ cây trong tự nhiên
- Giá trị nghiên cứu và giáo dục:
Bướm là đối tượng để tiến hành nghiên cứu khoa học về sinh lý, sinhthái, sinh hoá, di truyền, phỏng sinh học,… Việc nghiên cứu về bướm có ýnghĩa quan trọng tới đa dạng sinh học, công tác bảo vệ, bảo tồn các loại bướmquý Nhờ việc nghiên cứu nhân nuôi bướm giúp hoàn thành quy trình nhânnuôi sâu phục vụ cho công tác nghiên cứu các chế phẩm sinh học trừ sâu,phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- Giá trị tinh thần:
Các loài bướm có thể sánh với vẻ đẹp của các loài hoa, chúng rất đa dạng
và phong phú, vẻ đẹp kỳ thú của nó đã trở thành đề tài cho nhiều hoạ sĩ, thi sĩ,trang trí nội thất, thiết kế thời trang, đồ lưu niệm,… Hình ảnh loài bướmmang lại vẻ tươi mới sinh động của mùa xuân, do đó đã có rất nhiều bài hátmượn hình ảnh con bướm như bài “Con bướm xuân” để nói lên sự tươi vuicủa mùa xuân Hay trong các bức vẽ, hình ảnh những của bướm bay lượncũng làm cho bức tranh mát mẻ tươi vui hơn, từ đó làm cho tinh thần conngười trở nên thư dãn khi ngắm nhìn chúng
Trang 18Qua những lợi ích mà bươm bướm mang lại thì việc nghiên cứu nhânnuôi bươm bướm là một đề tài khá quan trọng hiện nay.
1.2 Tổng quan tài liệu nước ngoài
1.2.1 Tình hình nhân nuôi sâu cánh vẩy trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhân nuôihàng loạt côn trùng với quy mô phòng thí nghiệm hoặc quy mô công nghiệp
Theo Тамарина Н А (1987) [19], đã nuôi được 2 loài nhện nhỏ(Acarina) và 127 loài côn trùng thuộc 7 bộ: bộ cánh đều (Homoptera) 13 loài,
bộ cánh nửa (Hemiptera) 4 loài, bộ cánh cứng (Coleoptera) 11 loài, bộ cánhmạch (Neuroptera) 3 loài, bộ cánh vảy (Lepidoptera) 26 loài, bộ cánh màng(hymenoptera) 39 loài, bộ hai cánh (Diptera) 31 loài Riêng đối với họ ngàiđêm thuộc bộ cánh vẩy (Noctuidae: Lepidoptera) đã nhân nuôi hàng loạt được
28 loài và 2 loài thuộc họ Arctiidae bằng môi trường thức ăn đơn giản (Dẫn theo Trần Đình Phả, 1999) [11]
Các loài côn trùng đã nhân nuôi thành công như:
Ở Liên Xô (cũ), Тамарина Н.А (1987) [18], đã nghiên cứu nhân nuôiong mắt đỏ để phòng trừ một số loại sâu hại thuộc họ ngài đêm (Noctuidae)
và họ ngài sáng (Pyralidae) hại lương thực, cây rau và một số cây công
nghiệp Các loài ong mắt đỏ đã được nhân nuôi thành công là: Trichogramma
Trichogramma embryophagum, Trichogramma semblidis.
Ở Ucraina, Цыбульска Г Н (1973) và Кошевская Н.Н (1984), cócác công trình đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng nhân nuôi ong mắt đỏ quacác chỉ tiêu sau: Tỉ lệ phần trăm kí sinh trứng ký chủ, tỉ lệ sống sót của ongmắt đỏ từ giai đoạn trứng đến vũ hóa, số cá thể dị dạng, tỉ lệ đực cái, tuổi thọ
và khả năng đẻ trứng (Dẫn theo Trần Đình Phả, 1999) [11]
Trang 19Năm 1980, Каплан П Ъ và Язловецкий И.Г., đã nhân nuôi ong mắt
đỏ bằng trứng của ký chủ tự nhiên như trứng ngài mạch (Sitotrogaceralella), trứng ngài bột (Ephest kunella) (Dẫn theo Trần Đình Phả, 1999) [11].
Ngoài việc nhân nuôi ong mắt đỏ bằng trứng ký chủ tự nhiên, ở Mỹ
Hoffman J David et.al.(1975) [25], còn nhân nuôi ong mắt đỏ trong phòng thí
nghiệm bằng các trứng nhân tạo có thành phần sinh dưỡng giống với trứngcủa loài sâu hại thuộc họ ngài đêm (Noctuidae), ở Trung Quốc Li Li Ying
(1992), đã nhân nuôi ong mắt đỏ (Trichogramma dendolimi và Trichogramma confusum) bằng trứng nhân tạo và riêng Trichogramma dendolimi đã được Dai kai-jia, et al (1985) nhân nuôi liên tiếp 61 thế hệ trong phòng thí nghiệm
(Dẫn theo Trần Đình Phả ,1999) [11]
Tuy nhiên nhân nuôi ong mắt đỏ trong phòng thí nghiệm vẫn còn một
số chuyển biến không mông muốn như: số lượng con đực nhiều hơn con cái,tuổi thọ của trưởng thành giảm xuống còn 2 đến 3 ngày Để khắc phụcГринберг Ш М., Руснак А Ф (1987) [19], đã phục tráng quần thể ong mắt
đỏ bằng cách cho kí sinh hại trên trứng kí chủ chính trên một thế hệ Sau khiphục tráng quần thể cho tỉ lệ sống sót tăng lên đáng kể Ngoài ra còn rất nhiềuloài côn trùng khác được nhân nuôi thành công trên thế giới hiện nay
Về nhân nuôi bộ cánh vảy:
Trên thế giới đã nhân nuôi được 26 loài bộ cánh vảy với quy mô lớn.Trong số đó đa phần là được nghiên cứu nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo và
số ít được nuôi bằng thức ăn tự nhiên
Ở Canada, Grisdale Dail (1975) [24], đã nhân nuôi được hàng loạt sâu
hại cây rừng (Clhoristoneura fumiferana) số lượng lớn ở mức 1000 sâu non
tuổi 2 trong thời gian một tuần
Ở Mỹ, Barbee G.W (1936) [20], đã nuôi sâu xanh (Heliothis Zea) cách
đây hơn 60 năm bằng các các loại thức ăn lấy từ tự nhiên như lá cây, hoa, quả
Trang 20Các loại thức ăn tươi này được để cùng với hộp nhựa nuôi sâu non cùng vớisâu non.
Lần đầu tiên trong những năm 60 của thế kỷ 20 sâu non họ ngài đêmđược nuôi nhân bằng thức ăn nhân tạo Nhờ việc tìm ra nguồn thức ăn nhântạo đã làm giảm bớt công trồng các loại cây làm thức ăn cho sâu, giải quyếtđược việc khan hiếm thức ăn khi không đúng vụ và đảm bảo được chất lượngcho thức ăn Tuy nhiên, vẫn chưa nuôi sâu được ở quy mô lớn do tập tính ănthịt lẫn nhau của Noctuidae ở pha sâu non cùng với sự phát sinh nhiều loạibệnh tật trong khi nuôi làm cho việc nhân nuôi loài này thêm khó khăn Hơnnữa, việc chưa tìm ra được môi trường thuận lợi cho các con trưởng thànhgiao phối và đẻ trứng cũng là nguyên nhân dẫn đến việc nhân nuôi bị giánđoạn (Dẫn theo Trần Đình Phả, 1999) [11]
Nhằm mục đích tăng sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm,và giảmcông sức người lao động, hệ thống nuôi sâu hiện đại có hiệu quả cao HERD(High Efficiency Rearing Device) bằng thức ăn nhân tạo đã ra đời Nhờ có hệ
thống này, ở Mỹ đã nhân nuôi được khoảng 12000 sâu đo xanh (Trichoplusia
nhiều so với phương pháp nuôi truyền thống Hệ thống này cũng có thể áp
dụng cho sâu keo da láng (Spodoptera exigua) với số lượng gấp đôi so với sâu
xanh (Dẫn theo Trần Đình Phả, 1999) [11]
Nhằm tăng năng suất, Burton R.L., Harredd E A (1966) [21], đã đi sâunghiên cứu về các dụng cụ cho sâu ăn, Burton R.L (1970) và Cox H.C.(1966) [22], đã nghiên cứu về thức ăn cho sâu
Để kích thích trưởng thành sâu xanh (Heliothis zea) đẻ trứng, Gross
H.R (1975) [23], đã có phương pháp nhân nuôi 400 cặp ngài trong một hộp.Trưởng thành đẻ trứng vào giấy đã được bôi sáp ong Với phương pháp này
đã thu được 300 ngàn trứng trong 5 ngày
Trang 211.2.2 Các nghiên cứu về đặc tính sinh học của trưởng thành bộ cánh vẩy
Về thức ăn.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tới trưởng thành của sâu xanh,Armes (1989) thấy rằng ở 24ᵒC, trưởng thành được ăn thêm đường ngay saukhi vũ hóa thì bắt đầu đẻ trứng ở ngày thứ 3 sau vũ hóa và đỉnh cao vào ngàythứ 6, nhưng nếu thiếu thức ăn bổ sung thêm thì thời điểm đẻ trứng bị chậmlại, trường hợp cho trưởng thành ăn thêm đường bắt đầu vào ngày thứ 5 saukhi vũ hóa, thì đỉnh cao của thời điểm đẻ trứng chậm lại 3 ngày (Dẫn theoNguyễn Kim Chiến, 2013) [3]
Theo Jayaraj (1982) [26], tuổi thọ của trưởng thành sâu xanh chịu ảnhhưởng bởi nguồn gốc thức ăn (ở dạng mật hoặc nước đường) Con cái sẽnhanh chóng bị suy kiệt và chết trong khoảng từ 3 đến 6 ngày nếu không được
ăn thêm Ngoài ra sự mắn đẻ của sâu xanh trưởng thành còn phụ thuộc vàogiá trị dinh dưỡng của thức ăn cho sâu non và trưởng thành (Armes, 1989,
Lukefahr et., 1964) (Dẫn theo Nguyễn Kim Chiến, 2013) [3].
Về nhiệt độ, độ ẩm sinh sống của sâu
Theo Rajagopal et al (1982)Thời gian phát dục của trứng sâu xanh có
sự giao động phụ thuộc vào nhiệt độ Theo Fowler et al (2001) thời gian
phát dục của pha trứng kéo dài 3 đến 14 ngày, nếu ở 25ᵒC thì thời gian phátdục có thể trong vòng 3 ngày, nhưng nếu ở mức nhiệt độ thấp hơn thì thờigian kéo dài hơn có thể là 14 ngày (Dẫn theo Nguyễn Kim Chiến, 2013) [3]
Các kết quả nghiên cứu về sâu tơ cho thấy, vòng đời của sâu tơ thay đổitùy theo sự thay đổi của môi trường Ở Canada, sâu tơ có vòng đời là 24 - 25ngày (Harcourt,1963); ở vùng Tây Bắc Ấn Độ là từ 24 - 35 ngày; (Chelliah vàSrrinivasan,1986); Brazil: 35 ngày (Salinas,1985) Nhiệt độ không khí càngcao thì vòng đồi sâu tơ càng ngắn Theo Koshihara (1985)khi ở 20oC thì vong
Trang 22đời của sâu tơ là 23 ngày, nhưng khi tăng nhiệt độ lên 25oC thì vòng đời củasâu tơ rút ngắn còn 16 ngày (Dẫn Theo Nguyễn Thị Trang, 2009) [15].
Theo Chang et al (2008), sự phát sinh phát triển và biến động của một
loài côn trùng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố thời tiết Các kết quả nghiên
cứu của Meena et al (2010) cũng cho thấy phạm vi nhiệt độ là từ 28ᵒC đến 34ᵒC là thích hợp cho sự suất hiện của sâu xanh Helicoverpa armigera (Dẫn
theo Nguyễn Kim Chiến, 2013) [3]
Tóm lại, nhiệt độ độ ẩm thức ăn là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tớisinh trưởng và phát triển qua các giai đoạn của sâu
1.3.Tổng quan tài liệu trong nước.
1.3.1 Tình hình nhân nuôi trưởng thành sâu cánh vẩy tại Việt Nam.
Trong nước từ năm 1989, việc nhân nuôi các loại côn trùng bộ cánhvẩy trong môi trường tự nhiên hay nhân tạo cũng được quan tâm nghiên cứu
rất nhiều như: Nuôi sâu căn gié (Mythimma unipuncta Haworth) bằng môi
trường thức ăn bán tổng hợp bởi tác giả Nguyễn Văn Cảm và những người
khác (1993) [2], nuôi sâu xanh (Helicoverpa armigera), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đục thân ngô bằng thức ăn bán tổng hợp không agar
bởi Nguyễn Văn Cảm và những người khác(1991) [1]; Nguyễn Văn Hoa vànhững người khác(1994) [5] Tác giả Hà Hùng (1985) [7], đã nghiên cứu vềcác kỹ thuật nhân nuôi côn trùng đúng sẽ đảm bảo tỉ lệ chết thấp,…
1.3.2 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của bộ cánh vẩy tại Việt Nam
Ngoài nghiên cứu về thức ăn thì các đặc điểm sinh thái học của sâu bộcánh vẩy cũng được quan tâm nghiên cứu nhiều Các nghiên cứu về yếu tốthời tiết cụ thể là về nhiệt độ và độ ẩm là rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới sựphát triển của sâu xanh
Về nhiệt độ
Trang 23Hoàng Thị Việt (1996) [17], đã nghiên cứu nhiệt độ thích hợp cho sựphát triển của sâu xanh là 27 - 28˚C,độ ẩm là 70% Sự biến đổi của nhiệt độ
sẽ tác động mạnh đến đời sống của sâu ăn lá đặc biệt là: thời gian sống, tốc độphát dục, số lượng trứng, tỉ lệ đực cái, tỉ lệ chết của từng pha
Các tác giả Trần Thanh Thy; Lê Văn Hùng; Nguyễn Lộc Hiền; PhanThị Thanh Tuyền (2015) [12], đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự
phát triển của sâu kéo màng (Hellula undalis) trên thức ăn cải bắp xanh ở các
giai đoạn khác nhau cho kết quả: Ở giai đoạn thành trùng, khi nhiệt độ càngcao thì thời gian sống của thành trùng sẽ ngắn lại và nhiệt độ thấp thì thờigian sống của thành trùng càng cao Và khi nhiệt độ càng cao thì số lượngtrứng trên một thành trùng cái cũng tăng lên
Khi “Nghiên cứu thành phần sâu ăn lá thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera)
hại cây muồng đen (Cassia siamea lamk), đặc điểm sinh học, sinh thái học
của sâu hại chính và biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) ở một số tỉnhmiền Bắc Việt Nam”, Đặng Kim Tuyến (2012) [14],cũng đã chỉ ra rằng khi
nhiệt độ càng cao thì vòng đời của 2 loài sâu Catopsillia Pomona và Eureuma hecabe càng rút ngắn đi.
Lê Văn Trịnh (1999) [16], các loài sâu tơ khi ở 20oC vòng đời là 23ngày nhưng khi nhiệt độ tăng lên 25oC thì vòng đời rút ngắn lại còn có 16 ngày
Về độ ẩm
Nếu nhiệt độ có tác dụng cơ bản trong việc sinh trưởng phát triển củabướm thì ẩm độ có tác dụng chủ yếu trong việc phát sinh bệnh Nếu ẩm độquá cao sẽ làm môi trường thuận lợi cho phát sinh bệnh hại bướm, ẩm độ quáthấp sẽ làm cơ thể sâu héo đi sinh trưởng và phát triển chậm
Hoàng Thị Việt (1996) [17], đã nghiên cứu độ ẩm thích hợp cho sựphát triển của sâu xanh là 70%