1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nước mắt trong thơ đỗ phủ

68 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ KHÓC VÀ NƯỚC MẮT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ .... Giá trị của các từ chỉ khóc và nước mắt trong việc thể hiện nỗi lòng của tác giả.... Lịch sử vấn đề Đỗ Phủ là n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

VÀ NƯỚC MẮT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hán Nôm

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Hải Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.Nguyễn Thị Hải Vân – người trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp tôihoàn thành khóa luận này!

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong khoa NgữVăn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọiđiều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận Cảm ơn ban thư viện đã tạođiều kiện cho tôi tìm tài liệu để hoàn thành tốt bản khóa luận

Và xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ và tạo điều kiện chotôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình!

Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếusót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn

để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn thiện

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 08, tháng 05, năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thu Hiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Khảo sát hệ thống

từ ngữ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ” là công trình nghiên cứu

của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hải Vân, và không saochép của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!

Hà Nội, ngày 08, tháng 05, năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ đề tài 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 5

1.1 Mạch nguồn của tiếng khóc trong thơ Đỗ Phủ 5

1.1.1 Khơi dòng tiếng khóc từ lịch sử - xã hội, văn hóa 5

1.1.2 Tiếng khóc trong mạch nguồn văn học 7

1.2 Từ chỉ khóc và nước mắt trong Hán văn cổ 8

1.2.1 Phân biệt tự và từ 8

1.2.2 Từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết 9

1.2.3 Từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết 17

Chương 2 KHẢO SÁT NHỮNG TỪ NGỮ CHỈ KHÓC VÀ NƯỚC MẮT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ 19

2.1 Số từ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ 19

2.1.1.Từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết 19

2.1.2 Từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết 31

2.1.3 Nhận xét 31

Trang 6

2.2.2 Tần số xuất hiện của từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết 34

2.2.3 Nhận xét 34

2.3 Chức năng ngữ pháp của từ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ 35

2.3.1 Chức năng trong cụm từ 35

2.3.2 Chức năng trong câu 37

Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ KHÓC VÀ NƯỚC MẮT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ 39

3.1 Giá trị của các từ chỉ khóc và nước mắt trong việc thể hiện nỗi lòng của tác giả 39

3.1.1 Tiếng khóc hướng ngoại 39

3.1.2 Tiếng khóc hướng nội 42

3.2 Sắc điệu cảm xúc trong những từ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ 45

3.2.1 Tiếng khóc và nước mắt - biểu hiện của nỗi buồn 45

3.2.2 Tiếng khóc và nước mắt - biểu hiện của niềm vui 48

3.3 Mạch cảm giác trong những từ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ 51

3.3.1 Tiếng khóc và nước mắt có thể nghe, nhìn thấy 51

3.3.2 Tiếng khóc và nước mắt không nghe thấy, nhìn thấy 54

PHẦN KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 8

Trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, thời Đường (618 - 907) cómột vị trí đặc biệt quan trọng Nếu thời Hán là triều đại phong kiến trung ươngtập quyền vững mạnh đầu tiên và tồn tại lâu đời ở Trung Quốc với lịch sử pháttriển hơn 400 năm (206 TCN - 220 CN), thì thời Đường là triều đại phongkiến đã đạt đến sự phồn vinh, cực thịnh chưa từng có trong lịch sử chế độphong kiến Trung Quốc.

Thành tựu lớn nhất, vừa kể về số lượng, vừa tính cả chất lượng góp phầnlàm nên sự phồn vinh của triều đại nhà Đường chính là sự phát triển rực rỡ vàđộc đáo của thơ Đường - thời đại hoàng kim của thơ ca cổ điển Trung Quốc.Quá trình hình thành, phát triển của thơ Đường gắn bó chặt chẽ với sự thốngtrị Trung Quốc suốt gần 300 năm của nhà Đường (618 - 907), đã để lại sốlượng tác phẩm đồ sộ Bộ Toàn Đường thi ấn hành dưới thời Khang Hy gồm

900 quyển, 30 tập đã thu thập được 48.900 bài thơ của hơn 2300 tác giả

Nhưng thơ Đường để lại dấu ấn chói lọi, như một thành tựu thơ ca ưu túcủa nhân loại không chỉ bởi số lượng khổng lồ mà quan trọng hơn là bởi thơĐường có cái thần sắc đặc biệt, phát huy tinh thần dân tộc Trung Hoa lên đếntuyệt đỉnh, thể hiện ở cả nội dung phong phú, nghệ thuật trác việt, trình độsáng tác đạt đến độ thuần thục, hoàn hảo của những nghệ sĩ bậc thầy Trong sốnhững nghệ sĩ đó, Đỗ Phủ là nhà thơ có tầm ảnh hưởng sâu rộng Ông đượcđánh giá là một trong bốn “ngôi sao sáng chói” của thơ Đường, (cùng với LýBạch, Vương Duy, Bạch Cư Dị) mà sau này Hàn Dũ đề cao là bậc thầy:

Lý Đỗ văn chương tại Quang diễm vạn trượng trường

(Thơ Lý Đỗ còn đấyÁnh sáng muôn trượng cao)

(Điều Trương Tịch)

Trang 9

Tài năng thơ ca của Đỗ Phủ được hình thành từ trước cuộc bạo loạn An

-Sử (755) và liên tục phát triển trong mấy chục năm sau đó, trong thời đại suytàn của nhà Đường Tiếng khóc than vang lên muôn nơi vì áp bức khổ đau naylại thêm chiến tranh động loạn liên miên Máu và nước mắt của nhân dânTrung Quốc lại tuôn chảy trên đất nước mênh mông Thơ ca Đỗ Phủ là nướcmắt là tiếng lòng bi ai của nhà thơ về một thời đại đẫm máu và nước mắt này.Những giọt nước mắt ấy vẫn tuôn chảy tới ngày nay, chừng nào trên quêhương ông và nhiều nơi trên hành tinh này vẫn còn áp bức bất công vẫn cònchiến tranh loạn

lạc

Giá trị thơ Đỗ Phủ đã vượt qua hơn 10 thế kỉ thăng trầm, vượt ra ngoàivăn hóa Trung Quốc ảnh hưởng mạnh mẽ tới văn học khu vực, đặc biệt là ViệtNam Đỗ Phủ là tác giả được đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trìnhNgữ văn ở trường THPT, đồng thời là mảng đề tài quen thuộc của việc thưởngthức và nghiên cứu Vì vậy, việc “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nướcmắt trong thơ Đỗ Phủ” là một đề tài đáng được quan tâm, tìm hiểu Qua đó,người viết có cơ hội mở rộng kiến thức phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy tácphẩm của Đỗ Phủ nói riêng và thơ Đường nói chung ở chương trình Ngữ vănTHPT thêm phong phú và sâu sắc

2 Lịch sử vấn đề

Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại trong văn học cổ điển Trung Quốc.Thơ ca Đỗ Phủ là nước mắt là tiếng lòng bi ai của nhà thơ về một thời đại đẫmmáu và nước mắt - thời đại suy tàn của nhà Đường Ông được mệnh danh là

“Tập đại thành của thơ ca hiện thực” một thời đại

Ở Việt Nam, từ xưa đến nay Đỗ Phủ vẫn là một tác giả thu hút được sự

Trang 10

Nghìn thuở văn chương đáng bậc thầy Trọn đời khâm phục dám đơn sai

Hiện nay theo thống kê, so với các tác giả văn học Trung Quốc nóichung, các tác giả đời Đường nói riêng, những công trình nghiên cứu biêndịch, tuyển chọn giới thiệu, chuyên luận về Đỗ Phủ khá phong phú đa dạng

Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc tế kỷ niệm 1300 năm năm sinh thi hào

Đỗ Phủ, Nguyễn Anh Vũ xuất bản đã giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự

nghiệp thơ ca cũng như phong cách thơ Đỗ Phủ Các tác giả đã đề cập đến vấn

đề tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độkhái quát chung nhất

Trong cuốn Đỗ Phủ nhà thơ dân đen, tác giả Phan Ngọc đã giới thiệu về

Đỗ Phủ một cách khá toàn diện Trong đó, tác giả đã đề cập đến những nộidung hiện thực có bề rộng vô cùng nóng hổi, nhiều góc cạnh trong thơ ĐỗPhủ Tuy vậy, tác giả chưa đề cập nhiều đến tiếng khóc và nước mắt trong hệthống các sáng tác của Đỗ Phủ

Như vậy, những công trình nghiên cứu về nhà thơ Đỗ Phủ hầu hết đều đềcập đến cuộc đời sự nghiệp thơ ca, những cuộc chiến tranh phi nghĩa, nhữnggiọt nước mắt, tiếng khóc của người mẹ, người vợ, người con, nhưng chưa

có công trình nghiên cứu hoàn thiện về hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nước mắttrong thơ Đỗ Phủ Tuy nhiên đây là những nguồn tư liệu quý báu làm nên nền

tảng cơ sở giúp chúng tôi lựa chọn và xây dựng đề tài “Khảo sát hệ thống từ

ngữ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ”

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận này được thực hiện với mục đích chỉ ra vị trí, vai trò quantrọng của hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ Từ đó,chúng tôi tiến hành thống kê, khảo sát các tác phẩm của nhà thơ Đỗ Phủ để

Trang 11

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nước mắt

trong thơ Đỗ Phủ” tập trung vào khảo sát, liệt kê, thống kê các từ ngữ chỉ

hành động khóc và nước mắt sau đó nêu lên chức năng ngữ pháp và giá trịbiểu đạt của hệ thống từ ngữ chỉ khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ

5 Nhiệm vụ đề tài

Thông qua việc thống kê, khảo sát và phân tích các tác phẩm tiêu biểucủa Đỗ Phủ, người viết chỉ ra các câu, các từ ngữ chỉ khóc và nước mắt vừaphong phú, sinh động, độc đáo trong thơ Đỗ Phủ, vừa tạo nên phong cáchriêng của tác giả Đây chính là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng của nhàthơ trước hiện thực của xã hội - con người đương thời

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp liệt kê, thống kê

Phương pháp phân tích

Phương pháp so sánh, đối chiếu

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, thư mục tham khảo Khóa luận gồm

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Mạch nguồn của tiếng khóc trong thơ Đỗ Phủ

1.1.1 Khơi dòng tiếng khóc từ lịch sử - xã hội, văn hóa

Không biết có phải là một sự ngẫu nhiên hay không khi mà vừa sinh racon người đã chào đời bằng tiếng khóc chứ không phải bằng bất cứ thứ âmthanh nào khác Triết lý đạo Phật đã lấy điều này làm cơ sở cho những quanniệm phật giáo: “Đời là bể khổ”, “Nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn tất thảyđại dương trên trái đất” Họ cho rằng: Cuộc đời là hành trình con người đi trênđường cam chịu đầy lầy lội toàn nước mắt và đớn đau Gạt bỏ phần nào màusắc duy tâm của tôn giáo, chúng ta hiểu rằng: Phía bên kia của những niềmhạnh phúc, trong cuộc sống con người không thể thiếu nước mắt - tiếng khóc

do đó trở thành một sự tiền định tất phải có trong kiếp sống con người Đã từlâu ta quen với:

Con người có mắt, có môi Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười

(Ca dao)Biểu hiện cao nhất của đời sống tinh thần con người là khóc và cười Mà

“Trái đất ba phần tư nước mắt” (Xuân Diệu) làm gì có nhiều chỗ dành chotiếng

cười và niềm hạnh phúc? Vả chăng, nếu có chút ít niềm vui thì cũng lại là:

“Ngày vui ngắn chẳng tày gang” (Nguyễn Du) - “niềm vui cuối cùng cũng chỉ

là đứa con hoang của người mẹ sầu bất tận” (chữ dùng của Jean ChevalierAlain Gheerbrant)

Theo “Từ điển Tiếng Việt” cho rằng: “Khóc là chảy nước mắt do đauđớn, khó chịu hoặc Xúc động mạnh”, khóc cũng là “cách để tỏ lòng thương

Trang 13

cảm thấy buồn, tâm hồn không chứa nổi tâm tư, người ta khóc: có tiếng khócnức nở, thống thiết, có tiếng khóc nghẹn ứ, uất ức lại có tiếng khóc âm thầmnhư rót cả vào lòng bao âm vang của đớn đau và thương tổn Tiếng khóc vànhững giọt nước mắt dường như là con đường duy nhất khi bi kịch của conngười lên đến đỉnh điểm; người ta không còn sự lựa chọn nào khác dẫu biếtrằng con đường ấy lại dẫn người ta đi sâu hơn vào thế giới của bi, ai, sầu,muộn Song từ ngàn đời nay tiếng khóc vẫn được cất lên trong những ý niệmmong manh nhưng dai dẳng của niềm tin cứu rỗi và hi vọng thoát sầu!

Điều này không mâu thuẫn với trường hợp người ta khóc vì quá vui, vìxúc động và hạnh phúc quá, bởi lẽ: tiếng khóc và những giọt nước mắt lúc nàychính là sự trả nợ bất ngờ cho bao nhiêu ưu tư, sầu muộn mà con người từngchôn chặt trong lòng Thật vậy, có hạnh phúc nào mà không nằm trên đau khổ,hay một viễn tưởng của khổ đau?

Đó là tiếng khóc bắt nguồn từ lịch sử văn hóa xã hội nói chung Còntiếng khóc và những dòng nước mắt trong thơ Đỗ Phủ là bắt nguồn từ chínhlịch sử xã hội văn hoá thời đại đó

Trước Loạn An Lộc Sơn, Đỗ Phủ đã sống ở Trường An một thời giandài Mặc dù bị dày vò cay đắng nhưng ông có điều kiện được chứng kiến các

sự kiện liên quan đến vận mệnh nhân dân trên đất nước ông Đỗ Phủ cũngnhìn thấu bản chất giai cấp thống trị nên ông không thể làm ngơ trước mộtbên là nhân dân lao động lầm than đang vùng vẫy dưới bầu trời khói lửa binhđao; một bên là giai cấp thống trị đang thoả sức ăn chơi, hưởng lạc Đỗ Phủ đãkhóc, mạch nguồn tiếng khóc trong thơ ông khơi dòng từ những nỗi buồn trêndòng sông đầy bất trắc và lận đận của ông, để rồi trở thành những ám ảnh ghê

gớm trong Binh xa hành, Tiền xuất tái, Tự kinh phó Phụng Tiên, Đây là

Trang 14

Năm 755 loạn An Lộc Sơn khởi biến, xã hội đời Đường Huyền Tông vốnđang mục nát và chứa đầy nguy cơ tàn bạo lại càng thêm rối loạn Đỗ Phủhiểu rõ thực sự biến An Lộc Sơn là một cuộc chiến tranh phi nghĩa Những kẻtiến hành kháng chiến chống lại An Lộc Sơn đã bị bắt đi lính, dân chúng bịđàn áp đến cùng cực Mâu thuẫn giai cấp bùng lên dữ dội như ngọn lửa trênthảm dầu Con người Đỗ Phủ với trái tim bao dự định, bao ấp ôm cho lí tưởng

“trung quân ái quốc” ấy đang bị thời đại loạn kéo giãn ra bởi thực tế phũ

phàng rồi quẳng mạnh vào một biển lệ không lối thoát: Bi Trần Đào, Khương

thôn, Bành Nha hành, là những bài thơ gội rửa bởi những dòng nước mắt

của một nhà Nho sống gắn bó và sâu sắc với cuộc đời trần thế

An Lộc Sơn - Sử Tư Minh bị dẹp, xã hội vì vậy mà có thêm một chútthanh bình Thơ ông giai đoạn này là sự thể hiện chính cuộc đời nhà thơ họ

Đỗ trên trang sách: đói nghèo, bệnh tật, tàn tạ, mỏi mòn, Tiếng khóc lúc này

có cái lặng lẽ, trầm lắng của trải nghiệm thời gian, có cái nghẹn ngào, chuaxót của tâm tư xáo trộn Muối mặn kết tinh từ những niềm đau của cả một đờingười hòa vào sương gió mịt mờ của con đường ba ngả: ngả về quá khứ, ngả

ở hiện tại, ngả tới tương lai đi vào lòng người tự nhiên gần gũi nhờ tiếng khóccủa một nhà thơ lớn - Đỗ Phủ

1.1.2 Tiếng khóc trong mạch nguồn văn học

Văn học là tấm gương phản ánh đời sống - nó ghi lại tất cả những gì đangdiễn ra trong hiện thực cuộc sống và tâm tư con người Chính vì thế mà tiếngkhóc và nước mắt đã đi vào đời sống văn học, nhất là thơ từ rất lâu Et-ga-Poxem cho rằng: “Giọng điệu buồn là giọng điệu đích đáng nhất của thơ ca”đây cũng là một cách để ông khẳng định “giọng điệu buồn” như bầu khí quyểnbao bọc tiếng khóc, hoàn toàn tìm được chỗ đứng trang trọng trong thứ bậccảm hứng của thi ca

Trang 15

tuyệt vọng thì sáng tác càng hay, càng có sức ám ảnh.

Trong văn học Việt Nam người ta đã từng biết đến tiếng khóc cay cú, bộctrực của Tú Xương; tiếng khóc hổ ngươi âm thầm chua chát của NguyễnKhuyến; những cung đàn buồn vu vơ, mơ hồ, bàng bạc sắc màu tiếng khóctrong phong trào thơ mới, rồi những tiếng khóc căm phẫn, uất hận trong thơ cacách mạng Rộng hơn trên thi đàn thế giới những vần “thơ dâng” từ nước mắt

và đau thương của Tagore không hề lạc điệu trong nỗi buồn chung ở sáng táccủa thế hệ thi nhân Đặc biệt, Hồ Thị Thuý Ngọc đã rất có lí khi cho rằng “âmđiệu buồn thương bàng bạc trong hầu hết các bài thơ cổ điển Trung Hoa nóichung và thơ Đường nói riêng ” [3; 5] Quả thực lí do không nhỏ để thơĐường trở thành bất tử đó chính là “âm điệu buồn” làm nên tiếng vang củanó!

Muytxê đã từng viết “Những vần thơ tuyệt vọng là những vần thơ tuyệt

mỹ, những lời ca bất tử nguyên là tiếng nấc từ cõi lòng” Điều này có thể trởthành nhận định chung cho rất nhiều bài thơ Đường của Lý Bạch, Thôi Hiệu,Trần Tử Ngang, Bạch Cư Dị, Lý Hạ nhưng nó đặc biệt đúng với thế giới thơ

Đỗ Phủ: “Thế giới thơ được tạo nên từ nước mắt và tình thương ” [2; 21]

1.2 Từ chỉ khóc và nước mắt trong Hán văn cổ

1.2.1 Phân biệt tự và từ

Văn tự Hán ngữ được chia thành hai loại: văn (文) và tự (文) Văn là loạichữ có kết cấu đơn giản, tự là loại chữ có kết cấu phức tạp Ở đây, tự đượcdùng với hàm nghĩa rộng hơn: tự là chữ nói chung, là một đơn vị của hệthống văn tự Hán

Như đã nói, tự là chữ có kết cấu đơn giản, thuần nhất, là một đơn vị văn

tự được biểu thị bằng một âm tiết nhất định, là đơn vị của chữ viết Trong khi

Trang 16

- Một tự có thể là một từ, khi đó nó phải thông nhất ở ba bình diện hìnhthể, âm đọc và ý nghĩa Ví dụ: 文 Nhật: mặt trời, 文 Nguyệt: mặt trăng, 文Minh: sáng

- Một tự có thể trở thành một phần của từ Ví dụ: 文 Tất trong 文 文 Tấtsuất (con dế), 文 Bồ trong 文 文 Bồ đào (quả nho) Khi đó, một tự là một tậphợp nét nhất định, biểu thị một âm tiết nhất định, có thể có nghĩa như 文 Nhân

và 文 Nghĩa trong từ 文 文 Nhân nghĩa, cũng có thể vô nghĩa như 文 Bồi trong từ

文 文 Bồi hồi, hoặc có thể không còn giữ được nguyên nghĩa như 文 Quân hoặc

文 Tử trong từ 文 文 Quân tử, 文 Tiểu hoặc 文 Nhân trong từ 文 文 Tiểu nhân Tóm lại, Tự là đơn vị văn tự, từ là đơn vị ý nghĩa Vì vậy, với những đặctrưng cố hữu của ngôn ngữ văn tự Hán, chúng ta phải bắt đầu từ tự để tìmhiểu về từ Hán ngữ cổ là một ngôn ngữ đơn lập, văn tự Hán thuộc loại chữviết biểu ý, ghi âm tiết Do đó, mỗi chữ Hán thường là một từ Ví dụ: 文Nhân (nguyên cớ), 文 Khi (khinh mạn), 文 Thu (mùa thu) Mỗi chữ trongcác ví dụ đã nêu đều biểu thị ở 03 phương diện Hình文 - Âm 文 - Ý 文 Đối vớicác ví dụ như 文 文 Bồ đào, 文 文 Tỳ bà, 文 文 Tất suất, 文 文 Bồ bặc (bò lổmngổm) xét trong mối tương quan kết hợp tạo nên từ chúng chỉ có thể lànhững ký hiệu biểu âm đơn thuần, không cần thiết phải tìm hiểu về mặt ngữnghĩa

1.2.2 Từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết

Trước tiên có thể khẳng định rằng hệ thống từ chỉ khóc và nước mắttrong Hán văn cổ khá phong phú Chúng tôi chia làm hai loại: từ chỉ khóc vànước mắt đơn âm tiết và từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết Ở mục này chúngtôi sẽ tìm hiểu về từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết

Trang 17

Đơn âm tiết là những từ chỉ có một âm tiết Và những từ chỉ khóc và

nước mắt đơn âm tiết trong Hán văn cổ gồm: khốc ( 文 ), khấp ( 文 ), đề ( 文 ),

huyễn ( 文), lệ (文), thế (文).

Các từ chỉ khóc và nước mắt trên có thể xếp vào động từ hoặc danh, tùy

sự kết hợp của chúng trong câu và trong những ngữ cảnh cụ thể, ví dụ:…

- Từ điển Thiều Chửu: Khóc to

- Từ điển Trần Văn Chánh: Khóc (to thành tiếng): 文文文文 Khóc òa

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng:

Khóc to thành tiếng — Kêu than bi thảm

Trang 18

+ (Động) Rớt nước mắt mà không ra tiếng hoặc khóc tiếng nhỏ gọi là

"khấp" ◎Như: "khấp bất thành thanh" 文 文 文 文 khóc không ra tiếng, khócngất ◇Nguyễn Du 文文: "Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp

Tố Như" 文文文文文文文, 文文文文文文文 (Độc Tiểu Thanh kí 文文文文)

Không biết hơn ba trăm năm sau, Thiên hạ ai là người khóc Tố Như

+ (Danh) Nước mắt ◇Sử Kí 文文: "Hạng Vương khấp sổ hàng hạ" 文文 文文

文文 (Hạng Vũ bổn kỉ 文文文文) Hạng Vương nước mắt giàn giụa

- Từ điển Thiều Chửu: Khóc, khóc không ra tiếng gọi là khấp

- Từ điển Trần Văn Chánh

+ Khóc (không ra tiếng): 文文 Nói nức nở; 文文文文 Khóc nức nở, khóc ngất;文文文文文文文文文文文文文文文 Chẳng biết hơn ba trăm năm về sau, trong thiên hạ có

ai là người khóc cho Tố Như này (Nguyễn Du);

+ Nước mắt: 文文文文 Nước mắt như mưa

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Khóc chảy nước mắt mà không thành tiếng

— Cũng chỉ nước mắt

- Từ ghép: ai khấp 文文 • ẩm khấp 文文 • bi khấp 文文 • hướng ngung nhikhấp 文文文文 • khấp báo 文文 • khấp cáo 文文 • khấp gián 文文 • khấp huyết 文文 •khốc khấp 文文 • xuyết khấp 文文 • yểm khấp 文文

Trang 19

- Một số bài thơ có sử dụng:

• Điệp luyến hoa - 文文文 (Án Thù)

• Lãm Liễu Hồn "Đinh Châu thái bạch tần" chi thập, nhân thành nhấtchương - 文文文文文文文文文文文文文文文 (Từ Di)

• Tự hoài - 文文 (Từ Nguyệt Anh)

• Thu dạ lữ hoài ngâm - 文文文文文 (Đinh Nhật Thận)

• Thuỷ điệu ca đầu - Địa chấn kỷ dị - 文文文文文文文文文 (Morikawa

Trang 20

+ (Danh) Nước mắt ◎Như: "đề trang nữ" 文文文 chỉ người đàn bà rấtđẹp, làm say đắm người, "đề ngân" 文文 ngấn lệ Ghi chú: Thời Đông Hán 文 文,phụ nữ lấy phấn bôi dưới mắt, làm như có ngấn lệ.

- Từ điển Thiều Chửu:

+ Gáy, hót, kêu: 文文 Gà gáy; 文文 Chim hót; 文文 Vượn kêu

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Kêu khóc, gào khóc Chẳng hạn Dạ đề 文

文 ( trẻ khóc đêm ) — Kêu, hót ( nói về loài chim )

- Từ ghép: dạ đề 文文 • ô dạ đề 文文文

- Một số bài thơ có sử dụng

• Cố đô - 文文 (Hàn Ốc)

• Dương liễu chi kỳ 6 - 文文文文文 (Ôn Đình Quân)

• Giang thượng văn viên - 文文文文 (Ung Dụ Chi)

• Hoàng Lăng miếu kỳ 1 - 文文文文文 (Lý Quần Ngọc)

• Lâu thượng nữ nhi khúc - 文文文文文 (Lư Đồng)

• Lãng đào sa - Đỗ quyên hoa - 文文文文文文文 (Cao Quan Quốc)

• Mộ xuân tiểu thán - 文文文文 (Nguyễn Khuyến)

• Tống xuân - 文文 (Vương Lệnh)

• Thương tâm hành - 文文文 (Lý Hạ)

• Trích Lĩnh Nam đạo trung tác - 文文文文文文 (Lý Đức Dụ)

文 Huyễn (文):

Trang 21

- Từ điển phổ thông: nước mênh mông

- Từ điển trích dẫn:

+ (Động) Nhỏ nước mắt, nhỏ giọt (sương, móc) Tạ Linh Vận 文 文 文 :

"Nham hạ vân phương hợp, Hoa thượng lộ do huyễn" 文文文文文, 文文文文 文 (Tòngcân trúc giản việt lĩnh khê hành 文文文文文文文文) Dưới núi mây vừa họp, Trênhoa sương còn nhỏ

+ (Tính) Long lanh (hạt sương, móc)

+ (Phó) Ròng ròng (nước mắt chảy) ◇Phan Nhạc 文文: "Thế huyễn lưunhi triêm cân" 文文文文文文 (Hoài cựu phú 文文文) Nước mắt chảy ròng ròng thấmướt khăn

- Từ điển Thiều Chửu:

+ Huyễn nhiên 文文 ứa nước mắt

+ Một âm là huyên Nước mông mênh

- Một số bài thơ có sử dụng:

• Bát ai thi kỳ 6 - Thiếu giám vũ công Tô công Nguyên Minh - 文文文文 文文文文文文文文文文文文文 (Đỗ Phủ)

• Đông Pha bát thủ kỳ 3 - 文文文文文文 (Tô Thức)

• Hý đề Từ Nguyên Thán sở táng Chung Bá Kính “Trà tấn” thi quyển - 文文文文文文文文文文文文文文 (Tiền Khiêm Ích)

• Khốc Lý thượng thư Chi Phương - 文文文文文文 (Đỗ Phủ)

• Ngũ nguyệt thuỷ biên liễu - 文文文文文 (Thôi Hộ)

• Thẩm viên (I) kỳ 2 - 文文文I文文文 (Lục Du)

• Tỳ Bà đình - 文文文 (Âu Dương Tu)

• Vãn Pháp Loa tôn giả Thanh Mai tự - 文文文文文文文文文 (Trần Minh

Tông)

Trang 22

文 Lệ (文):

- Từ điển phổ thông: nước mắt

- Từ điển trích dẫn:

(Danh) Nước mắt Như: "lưu lệ" 文文 chảy nước mắt

- Từ điển Thiều Chửu: Nước mắt

- Từ điển Trần Văn Chánh: Nước mắt: 文文文文文文文文文文文 Ba

năm trời mới làm được hai câu thơ, ngâm lên đôi hàng lệ rơi (Giả Đảo)

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Nước mắt Đoạn trường tân thanh có câu:

» Nỗi riêng riêng những bàn hoàn Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn « —

Ta còn đọc trại là Luỵ Td: Rơi luỵ

- Từ ghép: ám lệ 文文 • ẩm lệ 文文 • bất kiến quan tài bất lạc lệ 文文文

文文文文 • châu lệ 文文 • huyết lệ 文文 • lưu lệ 文文 • sái lệ 文文 • sái lệ vũ 文文文 • sầu

lệ 文文 • thuỳ lệ 文文 • thức lệ 文文 • trúc lệ 文文 • uông lệ 文 文 • vấn lệ 文文 • vũ lệ文文

- Một số bài thơ có sử dụng

• Đông cư kỳ 2 - 文文文文 (Tô Man Thù)

• Đắc viễn thư - 文文文 (Lý Xương Phù)

• Đề Hà hiệu uý "Bạch vân tư thân" - 文文文文文文文文 (Nguyễn Trãi)

• Chinh phụ ngâm - 文文文 (Thái Thuận)

• Chinh phụ oán - 文文文 (Mạnh Giao)

• Dịch thuỷ - 文文 (Uông Nguyên Lượng)

• Nam giản trung đề - 文文文文 (Liễu Tông Nguyên)

• Thu khuê - 文文 (Thái Thuận)

• Thu phố ca kỳ 01 - 文文文文文 (Lý Bạch)

• Vu Sơn huyện Phần Châu Đường sứ quân thập bát đệ yến biệt kiêm chư

Trang 23

công huề tửu lạc tương tống suất đề tiểu thi lưu ư ốc bích - 文文文文文文文 文文文文文文文文文文文文文文文文文文文文文文 (Đỗ Phủ)

+ (Danh) Nước mũi

- Từ điển Thiều Chửu:

+ Nước mắt

+ Nước mũi

- Từ điển Trần Văn Chánh:

+ Nước mắt: 文文 Chảy nước mắt, rớt (rơi) nước mắt;

+ Nước mũi: 文文 Nước mũi

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Khóc lóc — Nước mũi chảy ra khi khóc

- Một số bài thơ có sử dụng:

• Chí quý - 文文 (Lục Du)

• Chính sách đề vịnh chi 03 - 文文文文文文 (Tào Tuyết Cần)

• Di Hoa Dương Liễu thiếu phủ - 文文文文文文 (Đỗ Phủ)

• Khốc Lý thượng thư Chi Phương - 文文文文文文 (Đỗ Phủ)

• Phù dung nữ nhi luỵ - 文文文文文 (Tào Tuyết Cần)

• Thu nhật Quỳ phủ vịnh hoài phụng ký Trịnh giám, Lý tân khách nhấtbách vận - 文文文文文文文文文文文文文文文文 (Đỗ Phủ)

Trang 24

• Thừa vũ nhập hành quân lục đệ trạch - 文文文文文文文文 (Đỗ Phủ)

• Trường Môn phú - 文文文 (Tư Mã Tương Như)

• Tướng thoán lưu thi - 文文文文 (Bổng kiếm bộc)

• Xúc xúc - 文文 (Hàn Dũ)

1.2.3 Từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết

Đa âm tiết là những từ gồm 2 âm tiết trở lên Và trong Hán ngữ cổ những

từ chỉ khóc và nước mắt đa âm tiết gồm: hư hi (文文), hào đào (文文), lan can (文文), châu lệ (文文)

Các từ chỉ khóc và nước mắt trên có thể xếp vào động từ hoặc danh, tùy

sự kết hợp của chúng trong câu và trong những ngữ cảnh cụ thể, ví dụ:…

文 Hư hi (文文):

- Từ điển trích dẫn: "hư hi" 文文 sùi sụt,

- Từ điển Thiều Chửu: Hư hi 文文 sùi sụt

- Từ điển Trần Văn Chánh: (Văn) Nức nở, sùi sụt

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Tiếng thở dài — Tiếng thút thít, chưa nínkhóc hẳn

- Từ điển phổ thông: khóc sụt sùi

- Một số bài thơ có sử dụng

• Đổng Hồ bút phú - 文文文文 (Khuyết danh Việt Nam)

• Bi phẫn thi - 文文文 (Thái Diễm)

• Khương thôn kỳ 1 - 文文文文 (Đỗ Phủ)

• Ly tao - 文文 (Khuất Nguyên)

• Phù dung nữ nhi luỵ - 文文文文文 (Tào Tuyết Cần)

• Trường Môn phú - 文文文 (Tư Mã Tương Như)

文 Hào đào (文文):

Trang 25

- Từ điển trích dẫn

(Động) "Hào đào" 文文 gào khóc Cũng viết là "hào đào" 文文, "hào đào"文文

- Từ điển Thiều Chửu

Hào đào 文文 gào khóc Tục viết là hào đào 文文

文 Châu lệ (文文):

- Từ điển trích dẫn: Nước mắt

Nước mắt nhỏ xuống giống như hạt ngọc nên nói như thế

Lí Bạch 文文: "Tương tư yểu như mộng, Châu lệ thấp la y" 文文文文文,

文文文文文 (Học cổ tư biên 文文文文)

- Từ điển Nguyễn Quốc Hùng: Chỉ giọt nước mắt

- Một số bài thơ có sử dụng:

• Đề Hưng Nguyên Minh Châu đình - 文文文文文文 (Kinh Triệu nữ tử)

• Niệm nô kiều - 文文文 (Trương Hồng Kiều)

• Thái tang tử kỳ 18 - 文文文文文文 (Phùng Duyên Kỷ)

• Thính Vương thị thoại Quy Châu Chiêu Quân miếu - 文文文文文文文 文文(Lý Viễn)

Như vậy ta thấy, trong Hán Ngữ cổ, cùng là những từ mang nghĩa chỉkhóc và nước mắt nhưng mỗi từ đều mang một sắc thái khác nhau, diễn tảnhững cung bậc cảm xúc khác nhau của con người

Trang 26

Như đã phân tích ở chương 1, những từ chỉ khóc và nước mắt trong tiếngHán rất phong phú, đa dạng Là một nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất Trung Quốc,

Đỗ Phủ đã có sự lựa chọn rất tinh tế các từ chỉ khóc và nước mắt trong thơ củamình Để thuận lợi cho việc khảo sát, chúng tôi chia từ chỉ khóc và nước mắtthành hai loại: từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết, từ chỉ khóc và nước mắt

đa âm tiết

2.1.1.Từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết

Bảng: Khảo sát hệ thống từ chỉ khóc và nước mắt đơn âm tiết trong thơ Đỗ

Phủ:

và nước mắt

Ngày đăng: 03/09/2019, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Sĩ Hiệp - Sự phát triển của thi pháp Đỗ Phủ qua các thời kì sáng tác: Tóm tắt luận án PTS khoa học Ngữ Văn. NXB ĐHSPHN, 1993 2. Hồ Sĩ Hiệp - Tính thời sự trong thơ Đỗ Phủ. NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của thi pháp Đỗ Phủ qua các thời kì sángtác: Tóm tắt luận án PTS khoa học Ngữ Văn". NXB ĐHSPHN, 19932. Hồ Sĩ Hiệp - "Tính thời sự trong thơ Đỗ Phủ
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
3. Hồ Thị Thúy Ngọc - Thời gian nghệ thuật trong thơ Đường. NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật trong thơ Đường
Nhà XB: NXBĐHSP
5. Nguyễn Hiến Lê - Đại cương văn học sử Trung Quốc. NXB Trẻ TPHCM, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương văn học sử Trung Quốc
Nhà XB: NXB TrẻTPHCM
6. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử - Về thi pháp thơ Đường. NXB Đà Nẵng, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thi pháp thơ Đường
Nhà XB: NXB ĐàNẵng
7. Nguyễn Thị Bích Hải - Thi pháp thơ Đường. NXB Giáo dục, 2007 8. Nhượng Tống - Thơ Đỗ Phủ. NXB Văn hóa thông tin, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường". NXB Giáo dục, 20078. Nhượng Tống - "Thơ Đỗ Phủ
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Phan Ngọc - Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với lịch sử hơn một nghìn bài thơ. NXB Văn hóa Thông tin, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây,2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với lịch sử hơn một nghìn bàithơ
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
10. Phan Ngọc - Đỗ Phủ nhà thơ dân đen. NXB Đà Nẵng, 1990 11. Tra từ điển Hán Nôm: https://hvdic.thivien.net/whv Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Phủ nhà thơ dân đen
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
13. Trần Hạnh Mai - Chất trữ tình trong thơ Đỗ Phủ. NXB ĐHSP I, 1985 14. Trần Tiến Anh - Nghệ thuật hiện thực trong thơ Đỗ Phủ (Qua một sốtác phẩm tiêu biểu). NXB ĐHSPHNI, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất trữ tình trong thơ Đỗ Phủ". NXB ĐHSP I, 198514. Trần Tiến Anh - "Nghệ thuật hiện thực trong thơ Đỗ Phủ (Qua một số"tác phẩm tiêu biểu)
Nhà XB: NXB ĐHSP I
15. Trung tâm nghiên cứu Quốc học - Đỗ Phủ tinh tuyển. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Phủ tinh tuyển
Nhà XB: NXB Văn học
4. Một số BCKH, LVTN, Báo, tạp chí chuyên ngành - tư liệu khoa Ngữ Văn - ĐHSP Khác
12. Trang thơ Đỗ Phủ - https:// www .th i v i e n . n e t/ % C 4 %9 0 %E 1 % B B % 9 7 - Ph%E1%BB%A7/author-Se3x2jWTezvoDpkpSU9qjg Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w