1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết ăn mày dĩ vãng của chu lai

52 174 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== NGUYỄN THỊ NHƯ HUỆ HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĂN MÀY DĨ VÃNG CỦA CHU LAI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ NHƯ HUỆ

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT

ĂN MÀY DĨ VÃNG CỦA CHU LAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ NHƯ HUỆ

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT

ĂN MÀY DĨ VÃNG CỦA CHU LAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

ThS NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với

đề tài Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết Ăn mày

dĩ vãng của Chu Lai Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại

học Sư phạm Hà Nội 2 nói chung, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn nói riêng đãtận tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình học tập tại đây

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Phương Hà đãtạo điều kiện giúp đỡ và nhiệt tình hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luậnnày

Tôi xin cảm ơn các cán bộ thư viện trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2

đã cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận

Xin trân trọng cảm ơn!

Xuân Hòa, tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Như Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này do tôi tìm hiểu và nghiên cứu dưới sựhướng dẫn của Th.s Nguyễn Phương Hà Đề tài này không trùng với kết quảcủa bất cứ công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm

Xuân Hòa, tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Như Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu: 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc khóa luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 Tiểu thuyết và những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết

8 1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 8

1.1.2 Đặc trưng của tiểu thuyết 9

1.1.2.1 Đặc trưng về mặt nội dung 9

1.1.2.2 Đặc trưng về mặt hình thức 9

1.2 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam 11

1.2.1 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam trước 1975

11 1.2.2 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975

12 1.3 Tác giả Chu Lai 13

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học 13

1.3.2 Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng 14

Chương 2: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĂN MÀY DĨ VÃNG – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 16

2.1 Hiện thực chiến trường 16

Trang 6

2.1.1.Hiện thực chiến trường tàn khốc, hủy diệt .

16 2.1.2.Hiện thực chiến trường mất máu, đau thương

19 2.2 Số phận của người lính sau chiến tranh với những chấn thương tinh thần 22

2.2.1 Người lính với quá khứ ám ảnh 22

2.2.2 Người lính lạc thời 23

2.2.3 Người lính với bi kịch trong tình yêu 26

Chương 3: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĂN MÀY DĨ VÃNG – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 29

3.1.Cốt truyện 29

3.2.Nghệ thuật miêu tả nhân vật 31

3.2.1.Miêu tả nhân vật qua ngoại hình và hành động

31 3.2.2.Miêu tả nhân vật qua độc thoại nội tâm 33

3.3.Không gian và thời gian nghệ thuật 35

3.3.1.Không gian nghệ thuật 35

3.3.1.1.Không gian chiến trường 35

3.3.1.2 Không gian tâm linh, huyền ảo 37

3.3.2.Thời gian nghệ thuật 38

3.3.2.1.Thời gian lịch sử - sự kiện 38

3.3.2.2.Thời gian đồng hiện xen giữa thực tại và quá khứ

40 KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

ta có thể kể đến các tác phẩm như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Tướng

về hưu (Nguyễn Huy Thiệp); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Lửa từ những ngôi nhà, Miền cháy (Nguyễn Minh Châu)…, đặc biệt là tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Chu Lai vốn là một người lính đặc côngtrực tiếp cầm súng chiến đấu ở vùng ven đô Sài Gòn Đó là khoảng thời gianquý giá cho những ngày cầm bút của nhà văn sau này Từng là người lính trựctiếp tham gia chiến đấu nên Chu Lai thấu hiểu rõ cảnh ngộ của con người ởnơi ranh giới giữa sự sống và cái chết Vì vậy ông đã thành công khi viết về

đề tài chiến tranh, đặc biệt tái hiện chân thực hiện thực chiến tranh và số phậncủa con người thời hậu chiến

Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng đã giúp Chu Lai trở thành một trong những

nhà văn quân đội có tên tuổi trong nền văn học sau 1975 Năm 1992, tác

phẩm này được chuyển thể thành phim Người đi tìm dĩ vãng và nhận được

hai giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cáchmạng và Lực lượng vũ trang của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1993, Giảithưởng Văn học Bộ quốc phòng và hai giải thưởng sân khấu, điện ảnh Có thể

nói, Ăn mày dĩ vãng là tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nhưng nó lại phơi

bày mọi mặt của cuộc sống từ cuộc chiến giữa ta và địch, những diễn biếntâm lí của con người, tình yêu lãng mạn vượt lên trên cả sự khốc liệt củachiến tranh, thậm chí cả những mặt trái trong thời chiến, thời bình đều đượctác giả lột tả để người đọc cảm nhận, chiêm nghiệm và suy tư

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Tìm hiểu đề tài Hiện

thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng

với mục đích giúp người đọc hiểu hơn bức tranh hiện thực thời chiến và số

Trang 8

phận của những người lính bước ra từ thời chiến Qua đó góp phần khẳngđịnh tài năng và những đóng góp của Chu Lai đối với văn học đổi mới sau

1975 Đồng thời đây là nguồn tư liệu quan trọng, cần thiết cho giáo viênTHPT trong việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học Việt Nam giaiđoạn sau năm 1975

2 Lịch sử nghiên cứu

Đề tài chiến tranh Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra thời kì đổi mớitoàn diện trong văn học, các nhà văn đã có sự thay đổi quan niệm về đề tàichiến tranh và tạo được nhiều tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.Tôn Phương Lan nhận xét: “Càng lùi về thập kỉ 80 sự thật trong văn xuôi

về chiến tranh càng được biểu hiện theo hướng khác Một mặt ở chủ đề sángtạo, quan niệm về hiện thực không có nghĩa là sự sao chép về hiện thực ngoàiđời Mặt khác, bản thân người đọc cũng muốn đi vào tìm hiểu thế giới tinhthần của con người trong những diễn biến phức tạp Con người trở thành đốitượng khám phá của cả người viết lẫn người đọc, và hiện thực chiến tranh vớiđầy đủ tính chất ác liệt của nó đã được hiện lên qua số phận và thế giới nộitâm của con người” [20]

Trong nghiên cứu, phê bình văn học, nhà văn Chu Lai là một gương mặtmới so với những cây bút kì cựu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trung Thành,

Lê Lựu… Song những năm gần đây người ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn đếnvăn học hậu chiến thì Chu Lai là cây bút được đề cập khá nhiều Hầu hết, cácnhà nghiên cứu, độc giả đều ghi nhận tài năng của ông trong việc tiếp cậnhiện thực đời sống của người lính trong chiến tranh và hậu chiến

Trong bài viết Bản chất của cuộc đời là bi tráng, đăng trên Tạp chí

Thanh niên số 355 (2003) tác giả Thu Hồng và Hương Lan khẳng định: sự

lãng mạn của chàng trai Hà Nội lẫn sự lì lợm của một tay lính đặc công, cộngvới tính cách cực đoan của dòng họ Chu “đã phả vào văn Chu Lai một chấtriêng Nó khiến những cuộc chiến tranh của anh không thể đi đến một kếtthúc “tròn trịa” mà day dứt người ta mãi ngay cả khi trang cuối cùng khéplại” [12] Tác giả đã cho người đọc thấy một nhà văn Chu Lai hiện lên với vẻbụi bặm, ngang tàn nhưng cũng đầy tâm huyết: “Mái tóc bù xù, những nếpnhăn như những đường giao thông hào cày sâu trên mặt Cái nhìn như muốnthọc sâu vào mọi ngõ ngách, tâm tư người đối diện, một bề ngoài phù hợpvới tính

Trang 9

cách và văn chương của Chu Lai Có cảm giác trong mọi hoàn cảnh Chu Lailuôn “cố thủ” cho mình m ột vẻ lạnh lùng, bất cần pha chút tai tái Chỉ khi anh

kể những câu chuyện cảm động về tình người trong chiến tranh Những câuchuyện nghe xong có thể bật khóc, người ta mới phát hiện ra, khi người đànông này cầm bút viết về chiến tranh là còn bởi một điều gì đó cao hơn cả nỗi

ám ảnh của máu và nước mắt” [12] Rõ ràng, các tác giả đã khái quát được sự

nghiệp văn học của Chu Lai với “một đề tài không cạn kiệt”, đó là đề tài về

cuộc chiến tranh Qua đó thể hiện cái tâm, cái tình của người cầm bút

Chiến tranh đã kết thúc nhưng hậu quả của nó để lại là vô cùng lớn vànhững mất mát hi sinh là không thể bù đắp nổi Tác giả Bùi Viêt Thắng trong

bài Một cách tái hiện chiến tranh đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số

10 (1994), đã nhận đinh: “Viết về chiến tranh còn có nghĩa viết về hậu quả

của nó – bởi vì một cuộc chiến tranh ba chục năm đánh bại mấy đế quốc lớn,

dù chiến thắng lẫy lừng, to lớn nhưng hậu quả của nó chắc chắn dai dẳng,phức tạp” [26] Qua nhận định của tác giả, ta thấy đề tài chiến tranh trongsáng tác của Chu Lai rất phong phú và đa dạng Vì thế, đây chính là cơ sở đểnhà văn nhìn nhận lại hiện thực chiến tranh một cách toàn diện, trung thựctrong tác phẩm của mình

Trong bài phê bình về Tập truyện ngắn Phố nhà binh đăng trên Tạp chí

Văn nghệ Quân đội tháng 7 (1993), tác giả Lý Hoài Thu đã phát biểu: “…Dù

trực tiếp viết về thời dĩ vãng mịt mùng bom đạn hay chuyển dịch sang tiếpnhận những kênh thông tin mới xô bồ của hiện tại, bao giờ Chu Lai cũngnghiền ngẫm suy tư về hiện thực với sự nhiệt tâm và lòng trung thực củangười lính” [29] Sở dĩ, Chu Lai có được sự chiêm nghiệm, suy tư là do ông

đã từng tham gia chiến đấu, lăn lộn trên chiến trường Tác giả Lý Hoài Thucũng đã khái quát lên một vấn đề không riêng gì trong văn Chu Lai mà có

trong một giai đoạn văn học thời hậu chiến: “Chu Lai đã tập trung khai thác

quãng đời thứ hai, quãng đời tồn tại phía sau của người lính” – họ chỉ biết

gắn với súng ống, binh nghiệp cả đời, có biết mỗi nghề là súng đạn, trở về saucuộc chiến, những người lính bơ vơ, lạc lõng Vìì thế họ gặp bi kịchtrongcuộc sống đời thường

Trong bài Nội lực của Chu Lai đăng trên Tạp chí nhà văn, số 8 (2006),

tác giả Bùi Việt Thắng nhận xét về hình tượng người lính trong tiểu thuyết

Trang 10

của Chu Lai: “Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Chu Lai thường ăn sóngnói gió, thường bị cuộc đời quăng quật đều được tôi luyện qua lửa đỏ và nướclạnh – vì thế họ trở nên rắn rỏi, từng trải, quyết đoán bên trong cách hành xử”[27] Đây chính là sự sáng tạo độc đáo tạo nên hình tượng người lính mới mẻmang đậm cá tính riêng của nhà văn.

Để truyền tải đến người đọc những vấn đề thời sự của đất nước, Chu Lai

đã không ngừng tìm tòi cho mình những hướng tiếp cận mới Ở phương diện

này, tác giả Phan Cự Đệ với bài viết Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu

thời kì đổi mới in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 3/2001 đã nhận xét:

“Tiểu thuyết của Chu Lai không chỉ đa dạng trên các phương thức tiếp cận

mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, dòng ý

thức, nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định” [8].

Tôn Phương Lan trong bài Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi

thời kỳ đổi mới đăng trên Tạp chí Văn học số 9(2005)- đã đi sâu vào sự đổi

mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn sau 1975:

“Đây chính là thời kì mà trong văn học con người được soi chiếu từ rất nhiều phía” [211] Tác giả nhắc đến nhà văn Chu Lai với việc điểm qua các tác

phẩm Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần, Ăn mày dĩ vãng nhằm “tập trung

khảo sát và xây dựng hình tượng người lính sau chiến tranh”, người lính đã

bước ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc và bắt đầu một cuộc sống mới –

“cuộc sống của sự hòa trộn” Trong sự xô bồ hỗn tạp ấy, có người bằng sự

nỗ lực vươn lên, kiên trì chịu đựng như Lãm trong tiểu thuyết Phố, hoặc là bị

tha hóa sẵn sàng hy sinh đồng bào đồng đội để chạy theo những danh vọng cá

nhân như Huấn trong tác phẩm Vòng tròn bội bạc hoặc chối bỏ quá khứ để

hòng yên thân với những vinh quang trên con đường tìm kiếm quyền lực như

Ba Sương trong Ăn mày dĩ vãng.

Đề cập đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, tác giả Nguyễn

Hà trong bài viết Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết văn học nửa

sau thập niên 80 đăng trên Tạp chí Văn học số 4 (2000 ) đề cập đến cảm

hứng bi kịch trong nhiều thể loại Chúng ta có thể điểm qua các tác phẩm viết

về đề tài chiến tranh và thân phậncủa những người lính như Thời xa vắng (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu)… Tác giả khẳng định:“Hiện thực

Trang 11

cuộc chiến tranh được nhìn nhận đời hơn, thực hơn được soi chiếu dưới cáinhìn và qua tâm hồn của người lính và cũng qua đó người lính được thể hiệnvới những phẩm chất rất người: trong họ có cái cao cả lẫn thấp hèn, có sựthủy chung lẫn sự phản trắc Chiến tranh và người lính gắn chặt với nhau vàđược soi chiếu, nhìn nhận qua nhiều cửa khác nhau và trong tác phẩm củaChu Lai cũng vậy” [10] Tác giả bài báo còn đề cập đến nhân vật Hai Hùng

trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng bị chiến tranh vắt kiệt tuổi thanh xuân và hiện tại anh chỉ là một kẻ đơn độc Bi kịch của anh là “bi kịch của kẻ bị đánh lừa,

bị phản bội”.

Nghiên cứu về tác phẩm Ăn mày dĩ vãng, tác giả Xuân Thiều nhận xét:

“Có thể gọi tác phẩm này đầy chất lính, giọng văn băm bổ, sôi động, các thứtình cảm suy tư đều đẩy đến tận cùng Cốt truyện có pha chút li kì bí hiểmkiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút Có những chương, những đoạn anh viết vềchiến trường hết sức linh động, nếu không là người trong cuộc, không dựnglại không khí một địa bàn chiến đấu khá đặc biệt này…” [28] Đồng thời tácgiả còn khẳng định: “Để viết được tác phẩm này, dường như Chu Lai phải vật

vã quặn đau như người trở dạ Cái tâm huyết của tác giả được phơi bày ra, ynhư người đọc có thể nghe rõ tiếng kêu tha thiết và đau đớn”

Tác giả Thúy Vi trong bài Ăn mày dĩ vãng trên màn bạc in trên Tạp chí

Văn nghệ Quân đội tháng 8 (1995) cho rằng: “Người chiến binh đa tình đa

cảm Chu Lai lội ngược sòng chảy hai mươi năm để rồi trở thành “gã ăn mày

dĩ vãng” Nhưng đây là một cuộc ăn mày quá đắt, một cuộc ăn mày bội thu”[31]

Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng cũng được chọn làm đối tượng nghiên cứu

của nhiều luận văn Thạc sĩ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sưphạm Hà Nội 2 Qua đó giúp người đọc thấy mối quan hệ gắn bó, tương đồnggiữa không gian và thời gian nghệ thuật Hay trong một khóa luận khác có tên

Nhân vật trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, tác giả Vũ Ngọc

Chinh đã tìm hiểu, phân tích các kiểu nhân vật tiêu biểu và nghệ thuật xâydựng nhân vật trong tác phẩm này Tuy nhiên, những bài viết này chủ yếumang tính chất nghiên cứu lẻ tẻ, rời rạc, đặc biệt chưa đi sâu vào nghiên cứu

kĩ vấn đề hiện thực chiến tranh và số phận của con người trong tác phẩm Ăn

mày dĩ vãng Vì thế trong khuôn khổ khóa luận này chúng tôi đi sâu vào

Trang 12

nghiên cứu đề tài Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu

thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai qua đó khẳng định vị trí, tài năng và

những đóng góp của Chu Lai đối với văn học đổi mới sau 1975

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng tới mục đích sau:

- Tìm hiểu về Hiện thực chiến tranh và số phận con người thời hậu

chiến trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai

- Khẳng định thành công, tài năng và vị trí của Chu Lai trong nền vănhọc sau 1975

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu các khái niệm về tiểu thuyết, đặc trưng tiểu thuyết…

- Tìm hiểu hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu

thuyết Ăn mày dĩ vãng nhìn từ phương diện nội dung: hiện thực chiến trường

tàn khốc, hủy diệt; hiện thực chiến trường mất mát, đau thương và số phậncủa người lính sau chiến tranh (người lính với quá khứ ám ảnh, người lính lạcthời, người lính với bi kịch tình yêu)

- Tìm hiểu hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết

Ăn mày dĩ vãng nhìn từ phương diện nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng nhân

vật, cốt truyện, không gian và thời gian nghệ thuật…

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Như tên gọi của đề tài, chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu Hiện thực chiến

tranh và số phận con người trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu

Lai.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (Nxb Hội nhà văn,

2004)

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp sau đây:

− Phương pháp hệ thống: đề tài được đặt trong hệ thống các tác phẩm vănhọc Việt Nam sau năm 1975 để thấy được những nét riêng, độc đáo củaChu Lai trong việc khắc họa số phận người lính trở về sau chiến tranh

Trang 13

− Phương pháp phân tích, bình giảng tác phẩm văn học: dựa vào đặctrưng thể loại để làm sáng tỏ giá trị nội dung, giá trị tư tưởng trong tácphẩm.

− Phương pháp tiếp cận thi pháp học: chú ý đến những yếu tố hình thứctác phẩm như không gian, thời gian, ngôn ngữ, thể loại…

6 Cấu trúc khóa luận.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóaluận gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu

thuyết Ăn mày dĩ vãng - nhìn từ phương diện nội dung.

Chương 3: Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu

thuyết Ăn mày dĩ vãng - nhìn từ phương diện nghệ thuật.

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tiểu thuyết và những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán chủ biên, (Nxb

Giáo dục Việt Nam, năm 2007) định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡlớn,có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở giới hạn không gian, thờigian Tiểu thuyết có thể phản ánh sản phẩm của nhiều cuộc đời, những bứctranh phong tục, đặc điểm xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, táihiện nhiều tính cách đa dạng” [11,tr.328]

Định nghĩa về tiểu thuyết trong cuốn sách do Phương Lựu chủ biên:

“Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năngphản ánh hiện thực một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian,khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc thân phận conngười thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiệnnhững bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội” [22]

Có thể thấy các định nghĩa trên đều khẳng định vai trò của tiểu thuyết:

đó là phản ánh hiện thực rộng lớn của đời sống xã hội, số phận con người.Tiểu thuyết còn có khả năng phản ánh những biến cố của cuộc sống riêng tư,nội tâm của con người cũng như khái quát lịch sử cuộc sống

M.Bakhtin cho rằng: “Tiểu thuyết là sản phẩm tiêu biểu cho thời đại

mới của lịch sử loài người, là thành quả rực rỡ có giá trị như một bước nhảy vọt vĩ đại của hàng năm văn chương thế giới” Theo ông, xét về bản chất:

“Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang chuyển biến và còn chưađịnh hình” Điều đó có nghĩa: tiểu thuyết là thể loại không có những quyphạm cố định nào cả Thêm vào đó, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiềunhất và đồng hóa các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác vào

mình Điều này tạo ra sự:“mở rộng bến bờ của tiểu thuyết”, thúc đẩy nhanh

quá trình tìm tòi, thử nghiệm, cách tân không ngừng để đem lại cho thể loạinày những diện mạo mới, phù hợp với thời đại

Từ những quan niệm trên, có thể thấy: tiểu thuyết là một thể loại vănxuôi hư cấu, có khả năng miêu tả sâu sắc đời sống của con người, chạm tớinhững góc khuất trong tâm hồn của con người đồng thời còn bao quát toàn

Trang 15

cảnh hiện thực ở phạm vi rộng lớn tạo nên một bức tranh khái quát một giaiđoạn, một thời kì lịch sử Tuy nhiên, thể loại này không cố định mà luôn tìmtòi, đổi mới cho phù hợp với thị hiếu của độc giả ở mọi thời đại.

1.1.2 Đặc trưng của tiểu thuyết

1.1.2.1 Đặc trưng về mặt nội dung

Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết là một thể loại tự sự đồ sộ, có sứcchứa lớn Tiểu thuyết mang một số đặc trưng về mặt nội dung:

Thứ nhất, tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi,

hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân Nếu đối tượng của sử thi lànhân vật anh hùng thì tiểu thuyết lại cho ta thấy những con người sống ở hiệntại, miêu tả cuỗ sống hiện thực

Thứ hai, tiểu thuyết là thể loại mang tính chất văn xuôi Được thấy ở

việc tiểu thuyết có thể chui vào mọi ngóc ngách của đời sống để phản ánh.Chất văn xuôi được thể hiện rõ trong tác phẩm của Ban-zắc, Sô-lô-khốp, NamCao, Vũ Trọng Phụng…

Thứ ba, nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải Họ là những người

được tiểu thyết miêu tả rất cặn kẽ và tỉ mỉ; là những con người từng trải.Chính vì vậy, tiểu thuyết có khả năng đi sâu, khai thác những góc khuất,những mảnh đời của con người

Thứ tư, tiểu thuyết có khả năng dựng lại một bức tranh rộng lớn về

không khí, thời đại, phong tục, lối sống – người ta gọi đó là những phần

“thừa” của cốt truyện Những yếu tố “thừa” đó đã thể hiện một cách tỉ mỉ cái

chính yếu về con người, về thế giới, phân tích các diễn biến tư tưởng, tìnhcảm, dựng lại chi tiết không gian và thời gian, giới thiệu cho người đọc tiểu

sử của nhân vật, quan hệ giữa người với người, giữa người với thế giới xungquanh…

Thứ năm, tiểu thuyết hướng về miêu tả hiện thực bằng cách xóa bỏ

khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần

thuật

Thứ sáu, tiểu thuyết mang bản chất tổng hợp Tiểu thuyết có khả năng

tổng hợp nhiều nhất đặc điểm của các thể loại văn học khác như thơ, kịch, ký,các thủ pháp nghệ thuật của hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh …

1.1.2.2 Đặc trưng về mặt hình thức

●Về dung lượng

Trang 16

Dung lượng được hiểu là kích cỡ lớn, nhỏ Nó không bị bó hẹp bởi sốlượng câu từ, nội dung phản ánh.

●Về nhân vật

Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ để người đọc tìm hiểu, đánh giá

và dự báo số phận cũng như cuộc đời của nhân vật, để từ đó có cùng hướnggiải quyết với nhân vật Số lượng nhân vật trong tiểu thuyết không giới hạn:

về một người, cả gia tộc, cả thế hệ, nhiều thế hệ

●Về cốt truyện

Cốt truyện tiểu thuyết có thể đơn tuyến hay nhiều tuyến, đan bện nhiềuquãng thời gian Cốt truyện có thể giàu kịch tính hay có thể pha loãng để thểhiện chất triết lý hay chất trữ tình Cốt truyện lthường tập trung ở phần khởiđầu, kết thúc để tạo điểm nhấn

●Về hoàn cảnh

Hoàn cảnh trong tiểu thuyết được khắc họa, phân tích rất chi tiết Hoàncảnh không chỉ cung cấp thời gian, không gian cho nhân vật hoạt động, làmphương tiện bộc lộ tính cách, phân tích tâm lí, phân tích xã hội, tạo không khíchung cho tác phẩm Tóm lại, không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu

tố không thể thiếu trong tiểu thuyết Sự góp mặt của không gian và thời gian

đã tạo ra đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết

●Về ngôn từ

Ngôn từ trong tiểu thuyết là rất phong phú, nó mang đậm tính chất củavăn xuôi, tức là nó tái hiện cuộc sống không lãng mạn hóa, thi vị hóa, lí tưởnghóa như trong sử thi Lời trần thuật trong tiểu thuyết mang tính chất đối thoại

Có nhiều hình thức biểu hiện như lời văn thoại, lời mỉa mai, lời văn nửa trựctiếp…

●Về kết cấu

Kết cấu của tiểu thuyết là sự tổ chức điểm nhìn và trật tự sự kiện đểngười đọc đi vào thế giới nghệ thuật; xác lập mối quan hệ giữa người kểchuyện - nhân vật - người đọc Tiểu thuyết có điểm nhìn linh hoạt, đa dạng,phong phú Điểm nhìn của nhân vật trong tiểu thuyết có thể tái hiện bằng thư,tiểu thuyết bằng nhật kí, qua trần thuật nửa trực tiếp và độc thoại nội tâm

Trang 17

1.2 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam

1.2.1 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam trước 1975

Ở chặng đường 1945 – 1975 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ trở thành đề tài được các nhà văn, nhà thơ nói tới rất nhiều Cảmhứng chủ đạo trong văn học thời kỳ này chính là chủ nghĩa yêu nước, khátvọng tự do, độc lập, là niềm tự hào về sự nghiệp cứu nước vĩ đại của nhân dân

ta Hiện thực cách mạng chính là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn khai thác,tìm hiểu Đó là những con người mang trong mình khát khao giải phóng dântộc, mong muốn được làm chủ vận mệnh đất nước với mong muốn: “Không

có gì quý hơn độc lập tự do” Bởi vậy, nhiều thế hệ thanh niên xác định mụctiêu sống của mình là chiến đấu chống giặc ngoại xâm: “Cuộc đời đẹp nhất làtrên trận tuyến chống quân thù” Họ mang trong mình lý tưởng: “Xẻ dọc

Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Đối với họ đường

ra trận chính là Đường vui (Nguyễn Tuân), là chặng đường ghi dấu sự trưởng

thành, những chiến công oanh liệt của những chàng trai, cô gái thanh niênxung phong

Cảm hứng sử thi đã chi phối cách xây dựng nhân vật, tổ chức cốttruyện và sự lựa chọn giọng điệu, ngôn từ cho tác phẩm Cốt truyện tronggiai đoạn trước năm 1975 luôn là chuỗi những sự kiện logic Vì thế, tácgiả Hoàng Mạnh Hùng nhận định: “Cảm giác thời gian luôn gắn với sự kiện,biến cố… nên dù tác giả có sử dụng kĩ thuật đảo thời gian trần thuật thìngười đọc vẫn có cảm giác câu chuyện được kể gần với lối tiểu thuyết

chương hồi truyền thống” [13,tr.147] Qua tác phẩm Hòn Đất (Anh Đức),

Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu) người đọc thấy rõ trật tự trần

thuật trong các tác phẩm này đều theo trình tự thời gian Ở hai tác phẩm nàyđều bám sát đến trình tự hành quân, cuộc chiến đấu của nhân dân từ lúc bắtđầu chiến dịch cho đến lúc địch bị thua cuộc rồi rút lui

Cách xây dựng nhân vật trong văn xuôi chiến tranh trước 1975 mangnhiều nét đặc trưng riêng Hầu hết các nhà văn đều dành rất nhiều tâm huyết

để xây dựng các nhân vật chính diện, họ là những anh hùng, là con người lítưởng mang trong mình những phẩm chất của nhân vật sử thi: đại diện cho vẻđẹp của cộng đồng, luôn vượt lên chiến thắng trước mọi hoàn cảnh, họ sốngvới tư cách con người chính trị, con người của Đảng cộng sản Dù bị kẻ thù

Trang 18

treo lơ lẳng trên cây nhưng chị Sứ luôn tự nhủ: “Bữa nay có lẽ mình chết.Nhưng mình chỉ thấy tiếc chứ không ân hận mắc cỡ gì cả… Tới phút này đốivới Đảng, mình vẫn còn y nguyên, như chị Minh Khai, chị Võ Thị Sáu…nên

từ phút này trở đi, mình cũng phải giữ được như vậy…” [9,tr.166] Trong tác

phẩm Dấu chân người lính, khi gặp con trai ngoài mặt trận, người cha đặt vận

mệnh dân tộc trên hết: “Chốc nữa anh báo cáo với tôi công việc anh đã làm từngày đi bộ đội Quyết tâm thư khi đi chiến trường anh viết ra sao?” [6,tr.67]

Như vậy, các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh trong giai đoạn

1945-1975 luôn được nhìn bởi màu sắc sử thi với cảm hứng ngợi ca, con ngườiluôn đặt vận mệnh dân tộc lên trên hạnh phúc cá

nhân

1.2.2 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975

Nhìn chung, văn học Việt Nam sau 1975 phát triển theo hai chặng:chặng đầu trong khoảng mười năm từ 1975 – 1985 được coi là chặng chuyển

tiếp, văn học từ chỗ trượt theo quán tính cũ đến chỗ dần xác định cho mình

con đường đổi mới; chặng hai là từ năm 1986 cho đến nay là thời kì văn học

đổi mới mạnh mẽ và toàn diện, “nó vượt qua những hạn chế của thời kì trước

cả về phương diện hình thức lẫn phương pháp tiếp cận hiện thực”

Tiếp nối cảm hứng sử thi nhưng một số tác phẩm đã có sự quan tâmhơn đến đời sống cá nhân con người Điều đó được thể hiện khá rõ qua những

tác phẩm Miền cháy (1977) và Lửa từ những ngôi nhà (1977) của nhà văn

Nguyễn Minh Châu Năm 1979, nhà văn quân đội Nguyễn Trọng Oánh cho ra

mắt tiểu thuyết Đất trắng Qua những tác phẩm này, tác giả đã cố gắng tiếp

cận chiến tranh bằng cái nhìn trực diện, bằng thái độ dũng cảm trước sự thật,nhấn mạnh cái giá phải trả cho mỗi chiến thắng

Từ sau năm 1986 của Đại hội Đảng lần thứ VI, văn học như được thoát

ra khỏi phạm vi hẹp để vươn ra một bầu trời rộng lớn Các nhà văn trong giaiđoạn này chuyển dần về cảm hứng sử thi, cảm hứng nhân bản, bi kịch ngườilính hậu chiến đã trở thành cảm hứng chủ đạo của nhiều tác phẩm Bên cạnh

việc tổ chức cốt truyện theo trình tự thời gian tuyến tính như Bến không

chồng (Dương Hướng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều

ma (Nguyễn Khắc Trường) nhiều nhà văn đã dùng nghệ thuật xáo trộn trật

tự trần thuật và tổ chức cốt truyện theo kiểu đồng hiện giữa quá khứ và hiện

tại như tiểu thuyết Cỏ lau (Nguyến Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí

Trang 19

Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Không phải trò đùa (Khuất Quang

Thụy)… Cách tổ chức cốt truyện như vậy đem lại hiệu quả nghệ thuật đặcbiệt khi thể hiện một sự thật nghiệt ngã: đối với những người lính bước ra từchiến tranh thì đoạn đời có ý nghĩa nhất của họ đã lùi xa theo những nămtháng khốc liệt, cuộc sống hiện tại của người lính khó thích nghi, hòa nhậpđược, vì thế cảm giác cô đơn, lạc lõng luôn tồn tại, thường trực trong mỗingười

Trong tác phẩm, cái nhìn của nhân vật và tác giả là không đồng nhất,

do đó ngôn ngữ của các nhân vật vì thế mà trở nên khác

nhau

Đặt trong dòng chảy của các tác phẩm văn xuôi viết về đề tài chiến

tranh, tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng đã có những thành công vượt trội đặc biệt là

việc tái hiện lại hiện thực chiến tranh với tất cả những gì vốn có của nó, manglại một luồng gió mới cho văn học viết về chiến tranh thời kì đổi mới

1.3 Tác giả Chu Lai

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học

“Nhà văn Chu Lai có tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên, nay là huyện Tiên Lữ, tỉnhHưng Yên Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhàvăn Việt Nam từ năm 1980”

(h t t p s : / / v i w i k i p e d i a o r g / w i k i / C h u _ L a i _ ( nh % C 3 % A0 _ v % C 4 % 8 3 n)

Chu Lai xuất thân trong gia đình có truyền thống văn học Cha ông lànhà viết kịch Học Phi Bản thân Chu Lai cũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệthuật Ngoài viết văn, Chu Lai còn có một số kịch sân khấu, kịch bản phim và

có tham gia đóng phim

Hành trình sáng tác của Chu Lai được chia làm hai giai đoạn:

 Giai đoạn từ 1975 đến 1986: ông đã cho ra mắt bạn đọc rất nhiều các

tác phẩm: tiểu thuyết Nắng đồng bằng (1977), tập truyện Đôi ngả thời

gian (1975), tiểu thuyết Đêm tháng hai (1982), tiểu thuyết Út Teng

(1983), tiểu thuyết Gió không thổi từ biển (1985)…Ở các tác phẩm này

tuy đã có sự đổi mới nhưng hầu hết các tác phẩm của Chu Lai đềumang âm hưởng sử thi

Trang 20

 Giai đoạn từ 1986 đến nay: cùng với sự đổi mới của văn học, ngòi bútcủa Chu Lai cũng có sự đổi mới mạnh mẽ và toàn diện Từ những trăntrở xoay quanh cuộc sống thời hậu chiến của những người lính, nhà văn

đã cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết: Sông xa (1986), Bãi bờ hoang lạnh (1990), Phố (1993), Ăn mày dĩ vãng (1994), Ba lần và một lần ( 2000),

Cuộc đời dài lắm (2002)… Hầu hết tác phẩm dần thoát khỏi cảm hứng

sử thi, đi sâu vào khám phá đời tư, quan tâm đến số phận con người,tập trung miêu tả những chấn thương tinh thần của người lính sau khitrở về, dường như đã trở thành một nỗi ám ảnh và phần nào khiến cácnhân vật đều rơi vào bi kịch

Chu Lai xứng đáng là cây bút tiêu biểu, có sức sáng tạo mạnh mẽ, dồi dào, có

vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học đương đại về đề tài người lính thờihậu chiến

1.3.2 Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng

Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng thể hiện chân thực hiện thực chiến tranh và

số phận của người lính trong và sau cuộc chiến, đặc biệt là hình tượng ngườilính trở về với đời thường nhưng không nguôi nghĩ về quá khứ

Ăn mày dĩ vãng xoay quanh một cựu binh Hai Hùng, một chiến sĩ quân

giải phóng vùng ven đô Sài Gòn Sau khi trở về với cuộc sống đời thường,anh đã có cuộc hành trình ngược về quá khứ nhằm tìm lại người yêu, đồng chí

ở chiến trường năm xưa của mình Trong hành trình ngược đó, Hai Hùng đãgặp người đàn bà với tất cả phong thái, dáng vẻ của người yêu cũ Ba Sương

từ thời chiến Người con gái được cho là đã chết mà do chính tay Hai Hùngcướp xác và chôn cất nào ngờ đâu vẫn hiện hữu trong cuộc sống với một cáitên khác Tư Lan, hiện giờ thành đạt trên cương vị của một giám đốc Sở lâmnghiệp đầy quyền uy Cuộc tìm kiếm trong quá khứ của Hai Hùng diễn ragian nan khi người yêu cũ của anh khi thỏa hiệp với cái ác, cố tình chạy trốnquá khứ để yên vị với cuộc sống hiện tại Qua ngòi bút góc cạnh và đầy cátính của Chu Lai, người đọc luôn luôn hồi hộp trong suốt mười sáu chươngcủa cuốn tiểu thuyết, cuốn theo hành trình tìm lại ký ức với những day dứt, ânhận của nhân vật Hai Hùng Trong tác phẩm, Chu Lai viết về cuộc chiến tranh

Trang 21

tàn khốc song hành với tình yêu Nó như một nguồn sống dạt dào, nó là niềmtin, sức mạnh, là động lực mạnh mẽ để người lính chiến đấu.

Chiến tranh đã lùi xa hơn bốn mươi năm, người lính trở về với nhữngthương tích hằn sâu trên thân thể nhưng có lẽ sự mất mát về tinh thần còn dai

dẳng hơn nhiều Tiếu thuyết Ăn mày dĩ vãng cho người đọc hình dung bức

tranh chiến tranh tàn khốc, hủy diệt, đầy mất mát, đau thương và cuộc sống,

số phận người lính bước ra từ cuộc chiến

Trang 22

Chương 2: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI

TRONG TIỂU THUYẾT ĂN MÀY DĨ VÃNG – NHÌN TỪ PHƯƠNG

DIỆN NỘI DUNG 2.1 Hiện thực chiến trường

2.1.1.Hiện thực chiến trường tàn khốc, hủy diệt

Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài thơ Đá ơi từng viết:

Nghĩ cho cùng Mọi cuộc chiến tranh Phe nào thắng thì nhân dân đều bại

Dù với mục đích nào, chiến tranh cũng đều đưa đến một sự thật: đổmáu, bi kịch Với sự hiếu chiến của kẻ thù, chiến tranh đã gây ra nỗi đau quálớn cho nhân dân ta Nó không chỉ hiện hữu trên những trang sử hùng hồn củadân tộc, trong những thước phim tài liệu đầy chân thực mà nó còn hiện hữutrên những con chữ của Chu Lai Chiến tranh là hi sinh, chết chóc, tổn thấtnặng nề… Chu Lai đã từng nếm trải những ngày tháng oanh liệt nhưng khôngkém phần khốc liệt của cuộc chiến nên trong các tác phẩm của ông, đề tàiluôn giữ vị trí đặc biệt là chiến tranh Nhà văn viết: “Chiến tranh là một siêu

đề tài Càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn miến làngười viết biết tìm ra một lối đi riêng Và người lính cũng là một thứ siêunhân vật, miễn là biết tìm ra trong tâm hồn họ những khía cạnh sâu xa nhất Ở

họ tất cả đã được lèn chặt, được kìm nén đến ngột ngạt Nếu biết dùng ngòibút tháo bung ra thì đấy là đối tượng văn học vĩnh cửu nhất” [19] Với ông,chiến tranh và những mảnh đời luôn đi liền với nhau Chiến tranh và nhữngcon người áo xanh trong mỗi trang viết của Chu Lai được thể hiện ở nhiềugam màu, góc cạnh khác nhau

Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (Nxb Hội nhà văn, 1997 ), Phan

Cự Đệ đã trích lời của Chu Lai: “Tôi có mười năm cầm súng, kiệt sức và mệtmỏi tưởng đã là tận cùng gian khổ Nhưng hòa bình, còn sống, bắt tay vàoviết mới thấy cái lao động cầm bút cũng gian nan, vật vã chẳng kém gì nếunhư không nói có lúc ngàn lần mệt mỏi hơn… Tôi từng nghĩ, viết về chiếntranh có thể đẩy ngòi bút đến tận cùng bi thảm nhưng không thể bỏ quên đằngsau là cái nền bi tráng; cũng vậy, viết về đời thường, đừng ngại, hãy đẩy sốphận con người đến tận cùng ngang trái, thậm chí bất công, nhưng nên nhớ

Trang 23

phía sau còn có cái nền dịu ngọt của cõi sống, của con người” [7,tr.360].

Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, hiện thực chiến trường được lột tả với vẻ

khốc liệt, tàn bạo nhất

Là người đã đi qua bao bom đạn nên trong những trang viết của ChuLai, chiến tranh được tái hiện với đầy đủ hình hài của nó Ông đã có địnhnghĩa về chiến tranh một cách tưởng như đơn giản nhưng lại ẩn chứa đauthương ngút ngàn: “Chiến tranh là ngày nào cũng thấy người chết nhưng lạichưa tới phiên mình” [17,tr.125] “Chiến trường không phải là mảnh đất bằngphẳng trồng toàn hoa” mà là “nơi xác người sấp ngửa, xác muôn thú cháy

thui” Không còn là sự ngợi ca , hiện thực chiến tranh ở tác phẩm Ăn mày dĩ

vãng hiện ra với tất cả sự khốc liệt, bi thảm, ghê rợn Sự hủy diệt của chiến

tranh được tái hiện qua cái nhìn của nhân vật Hai Hùng một cách chân thực,sắc nét đến từng chi tiết: “Cả khu chốt bỗng chốc bị san thành bình địa nhưnơi đây hàng ngàn năm chưa hề có dấu chân người qua lại [ ] Bầu trời trêncao cũng đỏ lòm, những áng mây phản sắc máu chung chiêng dừng lại…”[17,tr.177] Những dòng văn của Chu Lai làm cho người đọc cảm thấy khôngthôi ám ảnh khi đọc xong Tác giả đau trước sự hi sinh quá lớn của nhữngcon người áo xanh và càng đau đớn hơn khi chết thân thể của họ không đượcnguyên vẹn Trong giai đoạn 1945 – 1975, đây là những vùng cấm kị, tránhnói tới thì sau năm 1975 rất nhiều tác giả đã viết về đề tài này và trong tiểuthuyết Chu Lai nói riêng lại xuất hiện với mật độ dày đặc, làm sống dậy giátrị của những hy sinh, cống hiến của thế hệ trước cho những gì có đượchôm

nay

Trong tác phẩm, sự ác liệt của chiến tranh còn trở thành sự ám ảnhmạnh mẽ bởi mức độ tàn phá của bom đạn: “Hầu như không một căn hầmnào không bị chà nát, không một thân cây nào không bị xích sắt nghiến gục.Rừng đã biến thành bãi đất trống… lần trong cái tan hoang tơi tả, ngập ngụakhói xanh, khói vàng… là thân người cả bên này lẫn bên kia nằm hỗn độnchồng đè lên nhau” Trong cảnh tượng chết chóc ấy, những số phận củanhững người lính đang cận kề cái chết Sức phá hủy của bom đạn đã gây rabiết bao tình cảnh éo le, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh hơnbao giờ hết Sự ác liệt ấy luôn trực chờ, săm tìm và đẩy con người vào hoàncảnh nguy hiểm, ranh giới giữa sự sống và cái chết là quá mong manh Tính

Trang 24

mạng của Hai Hùng đã nhiều lần bị đe dọa, đặc biệt là trong một lần căn hầmcủa anh bị bom đánh trúng: “vừa kịp thụt đầu vào, anh đã thấy tất cả tối sầm,đất đá rùng rùng chảy về lèn chặt, bóp nghiến lấy hai bên sọ não…”[17,tr.161] Nếu không có bàn tay của Sương và Tuấn không ngừng đào bớiđất đá thì có lẽ giờ phút ấy anh đã nằm trong lòng đất vĩnh viễn.

Không còn những âm vang của sự hào hùng và cảm hứng ngợi ca như

trước , hiện thực của chiến tranh trong Ăn mày dĩ vãng hiện ra với tất cả sự bi

thảm, ghê rợn như nó đã diễn ra Chiến tranh không còn vẻ cao cả như trước

đó người ta vẫn nghĩ hoặc buộc phải nghĩ Chiến tranh thực chất là “luật chơi

tàn bạo”, là cuộc đọ sức, giành giật sự sống từng ngày, từng giờ, từng phút

thậm chí là từng giây Cái chết lặp lại nhiều lần qua dòng hồi tưởng của HaiHùng “Còn đơn vị tôi không biết đã bị xóa phiên hiệu đi, xóa lại đến lần thứmấy nữa? […] Mỗi lần bị xóa là mỗi lần mấy đứa còn lại lủi thủi theo giao

liên ngược lên rừng già nhận thêm quân ở ngoài kia mới vào” [17,tr.210].

Chiến tranh cướp đi tuổi trẻ của biết bao con người, những người đã nằmxuống mãi mãi ở độ tuổi lí tưởng nhất của cuộc đời để đổi lại hòa bình chodân tộc Dường như trong tác phẩm này, màu đỏ của máu là gam màu nổi trộinhư muốn nhuộm đỏ những trang văn, cuộc đời của người lính

Với tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, tác giả cho người đọc thấy chiến tranh

không chỉ có sự khốc liệt, tàn bạo mà chiến tranh còn liền kề với đói khổ và

cả sự thiếu thốn đủ điều “Mấy anh ngoài đấy vô đây sao cực quá! Ăn vậy sao

mà sống” Sự thiếu thốn ấy của Hai Hùng và đồng đội của anh trong suốtcuộc chiến tranh được nhà văn miêu tả qua chi tiết: “Cả chục năm luôn luônđói ăn, đói muối, luôn luôn chỉ vận độc một chiếc quần xà lỏn đánh hết trậnnày qua trận khác, hết mùa mưa qua mùa khô, hết ngày tạnh sang ngàyướt…” Cái đói đeo bám đã dẫn đến một bi kịch: “một chiến sĩ gan dạ đã bịkhai trừ ra khỏi Đảng vì đã tự tiện ăn hết phần gạo quy định bởi gạo lúc đó làmáu, là danh dự, là sống còn, xà xẻo vào gạo là xúc phạm đến tất cả” Thậmchí, ngay cả Hai Hùng cũng đã “lợi dụng bóng tối bò sang lán thương binhmóc bồng ăn cắp một hộp sữa Sữa còn quý hơn gạo Không dao, không kéo,chỉ bằng hai hàm răng anh đã cạp thủng nắp hộp và mút một hơi đến đáy”[17,tr.158] Trong tình cảnh này, với chức vụ là người thủ trưởng vậy mà HaiHùng lại làm chuyện trái với lương tâm của mình Có thể nói, cái đói đã làm

Trang 25

cho người lính mất hết lòng tự trọng, sự găo rĩo của dạ dăy đê khiến họ hănhđộng như chẳng cần suy nghĩ cho dù biết rằng hănh động đó lă sai, lă đângtrâch.

Trong tâc phẩm Ăn măy dĩ vêng, Chu Lai đê dùng tăi năng, tậm huyết

của mình để viết về bức tranh hiện thực mă trước kia được coi lă vùng cấm

kị, trânh nói tới

2.1.2.Hiện thực chiến trường mất mât, đau

thương

Qua tâc phẩm Ăn măy dĩ vêng, tâc giả cho ta nhìn thấy được sự thật của chiến

tranh nó tăn khốc đến như năo Tôi còn nhớ câch đđy văi năm khi tôi sang nhẵng ngoại chơi, ông tôi bật nhạc câch mạng lín vă bắt đầu ngắm nghía những

kỉ vật chiến tranh mình còn giữ lại được Sau những phút lặng yín tôi thấykhóe mắt ông bắt đău lăn dăi những giọt nước mắt rồi tôi chạy lại ông tôi đê

kể cho tôi nghe rất nhiều điều về chiến tranh Điều khiến tôi âm ảnh nhất lă sự

ra đi anh dũng của những con người không tín mă chính ở tâc phẩm cũng đêđược đề cập đến “mặt măy đê bầm tím, sưng tấy, mồm miệng nhoe nhĩtnhững dêi dớt trộn mâu, trộn đất” Đó còn lă câi chết đầy thương cảm, oanuổng của Bảo Anh ra đi mêi mêi chẳng phải vì súng đạn mă địch rải xuốngnước ta mă anh chết do sự bất cẩn ở Tuấn- đê cướp cò súng B41 trong khisúng đang được lau Một câi chết đầy âm ảnh đối với người trong cuộc lẫnđộc giả: “Bảo vẫn chưa chết, câi miệng vẫn hâ ra ngâp ngâp, để lộ cả hămrăng nhuộm mâu Mâu đang phì bọt ở đằng mũi, mâu ướt đầm hai vạt âo, mâuchảy xuống đùi Mâu… cùng với mâu vă những cục phđn văng lă mấy congiun đũa mău trắng đục, nhẫy nhụa, đang chuyển động loằng ngoằng…”[17,tr.101] Ai cũng cảm nhận được câi chết đau đớn của Bảo, nó cho thấytuổi trẻ, khât vọng vă lí tưởng của người chiến sĩ mười tâm tuổi năy đều ngậpngụa trong mâu Quả lă một sự thật trần trụi được tâi hiện đến từng chi tiết,giống như một sự vật được nhìn dưới kính hiển vi

Ở tâc phẩm năy, tâc giả đê miíu tả chđn thực về hiện thực chiến tranh Sự ra

đi anh dũng của chị Sứ ở tâc phẩm Hòn Đất được tâc giả Anh Đức nhìn với

cảm hứng sử thi, bút phâp lêng mạn qua hình ảnh: “Thằng Xăm rút soạt lưỡi

“cúp cúp” sâng loâng, xông tới như một con thú […] Đđy chính bởi lưỡi daochạm phải một suối tóc tươi tốt nhất, suối tóc của hai mươi bảy tuổi đời congâi” [9,tr.456] Trong tiếu thuyết năy, Chu Lai đê gạt bỏ “lớp men trữ tình” để

Trang 26

nhìn hiện thực một cách trần trụi Cái chết của Thu - cô giao liên trẻ tuổi cũngkhông kém phần đau xót: “Thu chỉ còn là một cái xác lõa lồ, chân tay dẹo dọnằm trong một tư thế kỳ dị… Máu đỏ như son nhểu xuống tận bắp chân, bắntừng giọt lên bụng, lên gò ngực vẫn no tròn cái sự sống mới nhất, tạo thànhnhững cánh bằng lăng ma quái vừa ở đâu đó trên cao rụng xuống” [17,tr.179].Chu Lai đã cho mọi người đau cùng nỗi đau của nhân vật Sự đau đớn đọnglại trong lòng người đọc không chỉ ở cái chết, sự hi sinh mà nó còn vang vọng

ở lời hứa về một hạnh phúc vợ chồng không bao giờ thực hiện được của Tuấn

và Thu

Qua sự hồi tưởng của Hai Hùng, chiến tranh được bóc trần với tất cả sự bithương, thảm thiết: “Chiến tranh là cái mất này nối liền cái mất khác, là sựthành bại không ngớt đuổi theo nhau” [17,tr.90] Trong trận đột ấp đầu tiên,tuy giành được thắng lợi nhưng đã nó cướp đi tính mạng của một chàng traidũng cảm Thanh xuân, tính mạng của một chiến sĩ, một đồng đội đổi lấyđược mười chín bồng gạo Đó là sự đánh đổi quá lớn: “Mười chín bồng gạođổi lấy một người mười chín tuổi! Đau quá! Vô nghĩa quá! Nhưng dẫu saocũng còn đổi lại được Trong những cánh rừng và trên những dòng sông này,

có biết bao những cái chết ngớ ngẩn, hoàn toàn vô nghĩa khác mà phải đànhchịu” [17,tr.50] Chiến tranh không chỉ là sự hy sinh, ngã xuống của mỗi mộtcon người mà còn là sự hi sinh cả tập thể, đồng đội: “Mười sáu thằng còn lạinăm thằng! Năm thằng được bổ sung lên hai mươi nhăm cho hợp tình thếmới Sau Tết, nhìn tới nhìn lui, lại chỉ còn không đầy một chục” [17,tr.113].Cái chết đến với họ nhanh quá, chỉ trong một thời gian ngắn những con người

ưu tú liên tục ngã xuống để bảo vệ nền hòa bình cho dân tộc “Chao! Ngàyhôm nay, mới chỉ là khúc dạo đầu của bản nhạc tử thần mà đã hụt đi ba thằng.Hai chết, một bị thương Ngày mai, ngày mai nữa? Thêm thằng nào?”[17,tr.160] Anh cảm thấy đau đớn và sợ hãi trước tình thế của cuộc chiến.Sau mỗi trận đánh, quân số lại vơi đi rất nhiều, chỉ một vài ngày mà đơn vịcủa Hai Hùng lại “mất thêm gần một phần ba quân số” Hiện thực tàn khốc,khắc nghiệt của chiến tranh đã để lại sự tàn phá, đau thương vô cùng cho dântộc Việt Nam

Những người tham gia chiến tranh hiểu thấu gian khổ, tận mắt thấy những sựthực mất mát, đau thương nên đôi khi họ nản lòng Trong tác phẩm, Hai Hùng

Ngày đăng: 03/09/2019, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán Việt, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn họ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
3. Nguyễn Minh Châu (1977), Miền cháy, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền cháy
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1977
4. Nguyễn Minh Châu (1978), Viết về chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết về chiến tranh
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1978
5. Nguyễn Minh Châu (1979), Các nhà văn quân đội và đề tài chiến tranh, Báo Nhân dân, số 08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn quân đội và đề tài chiếntranh
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1979
6. Nguyễn Minh Châu (1984), Dấu chân người lính, Nxb Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu chân người lính
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Thanh niên HàNội
Năm: 1984
7. Phan Cự Đệ (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
8. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì đổi mới, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì đổimới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
9. Anh Đức (1984), Hòn Đất, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòn Đất
Tác giả: Anh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
10.Nguyễn Hà (2000), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết văn học nửa sau thập niên 80, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết vănhọc nửa sau thập niên 80
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2000
11.Lê Bá Hán (chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2004
12.Thu Hồng – Hương Lan (2003), Bản chất của cuộc đời là bi tráng, Tạp chí Thanh niên, số 355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của cuộc đời là bi tráng
Tác giả: Thu Hồng – Hương Lan
Năm: 2003
13.Hoàng Mạnh Hùng (2004), Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 – 1975, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Hoàng Mạnh Hùng
Năm: 2004
14.Đỗ Văn Khang (1990), Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết, Báo Văn nghệ, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1990
15.Chu Lai (1980), Tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975, Tạp chí Văn học số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1980
16.Chu Lai (1987), Vài suy nghĩ về sự thật trong chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về sự thật trong chiến tranh
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1987
17.Chu Lai (1994), Ăn mày dĩ vãng, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn mày dĩ vãng
Tác giả: Chu Lai
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1994
18.Chu Lai (1995), Nhân vật người lính trong văn học, Tạp chí Văn nghệ quân đội số, 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật người lính trong văn học
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1995
19.Chu Lai (2002), Sử thi và hoàng tráng câu trả lời cho một đời, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi và hoàng tráng câu trả lời cho một đời
Tác giả: Chu Lai
Năm: 2002
20.Tôn Phương Lan (2001), Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w