Hiện nay, cùng với quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, khốilượng chất thải rắn CTR phát sinh ở các tỉnh, thành phố nước ta ngày càngtăng.. Chất thải rắn đô thị bao gồm các lo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
=====0o0=====
HOÀNG THỊ THU THẢO
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT SINH VÀ THU GOM CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI KÝ TÚC
XÁ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
=====0o0=====
HOÀNG THỊ THU THẢO
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT SINH VÀ THU GOM CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI KÝ TÚC
XÁ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
Ngươi hương dân khoa hoc ThS Phan Thị Hiền
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Đánh giá thực trạng phát sinh và thu gom chất thải rắn sinh
hoạt tại ký túc xá trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2” là nội dung tôi chọn để
nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp sau bốn năm theo học chương trìnhđại học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầutiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Th.S Phan Thị Hiền thuộc KhoaSinh - KTNN Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp chỉ bảo vàhướng dẫn tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện khóaluận này
Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Sinh KTNN đã tạo điều điện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
-Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các anh chị đang công táctại phòng tài nguyên và môi tường đô thị Phúc Yên, ủy ban nhân dân phườngXuân Hòa đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá thực
trạng phát sinh và thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại ký túc xá trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao
chép của bất cứ ai
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Thu Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 3
1.1.1 Khái niệm về chất thải rắn 3
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh và thành phần của CTR sinh hoạt 4
1.1.3 Phân loại CTR sinh hoạt 6
1.2 Ảnh hưởng của CTR sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người 9
1.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường không khí 9
1.2.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước 9
1.2.3 Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất 10
1.2.4 Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khoẻ con người 11
1.3 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Trên thế giới 12
1.3.2 Ở Việt Nam 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp 23
2.4.2 Thu thập tài liệu sơ cấp 23
2.4.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 26
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.2 Hiện trạng môi trường CTR sinh hoạt khu vực KTX 37
3.2.1 Thành phần CTR khu vực ký túc xá sinh viên 38
3.2.2 Khối lượng CTRSH phát sinh trong khu vực KTX 40
3.3 Tình hình quản lý và thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực KTX 44
3.3.1 Quy định chung của Ban quản lý KTX 44
3.3.2 Sơ đồ thu gom 45
3.3.3 Hiệu suất thu gom 48
3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý CTRSH 50
3.4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 50
3.4.2 Giải pháp chính sách 50
3.4.3 Giải pháp kỹ thuật và đầu tư cơ sở hạ tầng 51
3.4.4 Giải pháp giáo dục tuyên truyền 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt 6
Bảng 1.2 CTR theo các nguồn gốc phát sinh khác nhau 7
Bảng 1.3 Ước tính lượng CTR đô thị phát sinh đến năm 2025 16
Bảng 1.4 Tình hình thu gom chất thải sinh hoạt ở 1 số đô thị năm 2014 18
Bảng 1.5 CTR sinh hoạt đô thị được xử lý bình quân một ngày trong năm 2014 - 2015 phân theo khu vực 22
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016 29
Bảng 3.2 Thành phần CTRSH tại khu vực KTX trường ĐHSP Hà Nội 2 39
Bảng 3.3 Khối lượng cân CTRSH của 4 KTX trong 2 tháng 41
Bảng 3.4 Bảng tổng lượng CTRSH phát sinh từ 4 KTX 42
Bảng 3.5: Bảng so sánh lượng chất thải rắn sinh hoạt giữa KTX nam và nữ 43
Bảng 3.6 Một số quy định xử phạt của KTX về vi phạm nội quy KTX 45
Bảng 3.7 Khối lượng CTRSH thu gom của khu vực KTX 49
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Toàn cảnh khu vực KTX 27
Hình 3.2 Biểu đồ thành phần CTRSH tại khu vực KTX 40
Hình 3.3 Biểu đồ CTRSH phát sinh của từng KTX 43
Hình 3.4 Sự biến động lượng phát sinh CTRSH các ngày trong tuần 44
Hình 3.5 Sơ đồ thu gom CTRSH của khu vực KTX trường ĐHSP Hà Nội 2 .45
Hình 3.6 Bãi tập kết CTRSH tại KTXSV 47
Hình 3.7 Biểu đồ về thời gian và tần suất thu gom CTRSH 48
Hình 3.8 Lượng CTR tồn đọng sau thu gom tại bãi tập kết khu vực KTX 50
Trang 101 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 11Hiện nay, cùng với quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, khốilượng chất thải rắn (CTR) phát sinh ở các tỉnh, thành phố nước ta ngày càngtăng Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015 do
Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tháng 9 năm 2016, trên phạm vi toànquốc, CTR phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm
và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độchại Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh là CTR sinh hoạt
đô thị, 17% CTR từ hoạt động sản xuất công nghiệp; còn lại là CTR nôngthôn, làng nghề và y tế Theo phạm vi, khu vực có lượng CTR phát sinh caonhất là Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng
Quản lý lượng chất thải này là một thách thức to lớn và là một trongnhững dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng không chỉ vì chi phí cho hoạtđộng này rất lớn mà còn vì những lợi ích to lớn và tiềm tàng đối với sức khoẻcộng đồng và đời sống của người dân Công tác quản lý, thu gom, phân loại
và tái sử dụng chất thải rắn, nếu được thực hiện từ hộ gia đình, có hệ thốngquản lý và công nghệ phù hợp sẽ rất có ý nghĩa trong việc mang lại lợi íchkinh tế, bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên cho đất nước
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong những trường Đại học
có khuôn viên rộng và đẹp Với số lượng SV theo học tại trường tương đốilớn khoảng 7000 sinh viên Nhà trường đã xây dựng tổng số năm KTX - đây
là điều vô cùng cần thiết để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và học tập của SVtại trường Trong đó, số lượng SV trong KTX khá lớn, lượng CTRSH thải rahàng ngày tương đối nhiều Hiện nay tại khu KTX chưa thực hiện việc phânloại rác để tăng khả năng tái chế, tái sử dụng rác, giảm yêu cầu xử lý rác;đồng thời xuất hiện tình trạng khu vực tập kết rác quá gần khu vực KTX gây
Trang 12ảnh hưởng đến mỹ quan và sức khỏe sinh viên Vấn đề đảm bảo chất lượngmôi trường sống của SV là yêu cầu thiết yếu Hơn nữa, để phù hợp với xu thếhiện nay biến rác thải trở thành nguồn tài nguyên, biến rác hữu cơ thành phânhữu cơ, tái chế rác vô cơ, giảm thiểu túi nilon… Bên cạnh đó, hiện thực hóacông tác giáo dục bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt cho cho SV sưphạm, đối tượng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tuyên truyền nângcao ý thức BVMT là cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng phát sinh và thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực ký túc xá sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tính số lượng, thành phần CTRSH và việc quản lý, thu gom tại khuvực KTX trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đề xuất một số giải pháp quản
lý chất thải rắn sinh hoạt KTX sinh viên, Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3 Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định được khối lượng và thành phần CTRSH từng phòng, lượngCTR bình quân trên đầu người (kg/người/ngày) tại KTX
- Thống kê được lượng CTRSH trung bình theo ngày (kg/ngày) củatừng KTX
- Đề xuất được các biện pháp quản lý CTR để đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
1.1.1 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải là những chất, hợp chất bị loại bỏ sau hoạt động của con người
(sản xuất, sinh hoạt, dịch vụ…) do không còn có giá trị sử dụng phù hợp
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất,các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng ) Trong đó quantrọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và sinh hoạtcủa con người
Chất thải rắn sinh hoạt là các chất thải liên quan đến các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trườnghọc, các trung tâm dịch vụ thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phầnbáo gồm: kimloại, sành sứ.gạch ngói vỡ, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừahoặc hết hạn sử dụng, xác động, thực vật [1]
Chất thải rắn đô thị bao gồm các loại CTR phát sinh từ các hộ gia đình,
khu công cộng, khu thương mại, các công trình xây dựng, các cơ sở y tế vàcác cơ sở sản xuất trong nội thành, khu xử lý chất thải Trong đó, CTR sinhhoạt phát sinh từ các hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất [4]
Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân
loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải[9]
Hoạt động quản lý chất thải
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinhđến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom lưu trữ (hay tập kết) tạmthời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạmtrung chuyển[11]
Trang 14Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật(khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy,chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải [11]
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh và thành phần của CTR sinh hoạt
1.1.2.1 Nguồn gốc CTR sinh hoạt
Chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, căn cứ vào đặc điểmchất thải có thể phân chia thành 3 nhóm lớn: Chất thải đô thị, công nghiệp vàchất thải nguy hại Nguồn thải của rác thải đô thị rất khó quản lý tại các nơiđất trống bởi vì tại các vị trí này sự phát sinh các nguồn chất thải là một quátrình phát tán
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
- Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư
tách rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa,cao su, còn có một số chất thải nguy hại
- Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ
quan, khách sạn Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với cáckhu dân cư (thực phẩm, giấy, catton )
- Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính:
lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thươngmại nhưng khối lượng ít hơn
- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ
bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thépvụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ khôngdùng nữa
Trang 15- Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh
tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác Rác thải bao gồm cỏ rác,rác thải từ việc trang trí đường phố
- Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước
rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phâncompost
- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ
các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu,bao bì đóng gói sản phẩm Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạtcủa nhân viên làm việc
- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ
các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây Rác thải chủ yếuthực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồngtrọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp [8]
1.1.2.2 Thành phần chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần rất phức tạp và luôn biến đối vìthành phần của rác thải phụ thuộc rất nhiều vào tập quán, mức sống của ngườidân, mức độ tiện nghi của đời sống con người, nhịp độ phát triển kinh tế vàtrình độ văn minh, theo từng mùa trong năm của từng khu vực
Theo tài liệu của EPA - USA, trình bày kết quả phân tích thành phần củachất thải rắn sinh hoạt cho thấy khi chất lượng cuộc sống ngày càng tăng caothì các sản phẩm như giấy, carton, nhựa ngày càng tăng cao Trong khi đócác thành phần như kim loại ngày càng giảm
Về cơ bản, thành phần của CTR sinh hoạt bao gồm chất vô cơ (các loạiphế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, túi nilon, vải, đồ điện,
đồ chơi ), chất hữu cơ (cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa,xác súc vật, phân động vật ) và các chất khác Hiện nay, túi nilon đang nổi
Trang 17y tế Mặt khác, nếu phân chia theo tính chất độc hại của CTR thì chia ra làm 2loại bao gồm CTR nguy hại và CTR thông thường Với mỗi cách phân loạikhác nhau, sẽ có những đặc điểm khác nhau về số lượng và thành phần CTR[3]
1.1.3.1 Theo nguồn gốc phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khudân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệpvàtiểu thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đóchủyếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
Trang 18- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ,vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra Chấtthảinông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chănnuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.
- CTR y tế: phát sinh từ các bệnh viện, các cơ sở khám chữa bệnh[4]
1.1.3.2 Theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn,nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng Các chấtthảinày tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe dọa sức khỏecon người và sự phát triển của thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gâyônhiễm môi trường đất, nước và không khí
- CTR nguy hại trong sinh hoạt thường là: pin, ắc-quy, đèn tuýp, nhiệt kếthủy ngân vỡ, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn, vec-ny, vỏ hộp thuốc nhuộmtóc, lọ sơn móng tay, vỏ bao thuốc trừ sâu, vỏ bao thuốc chuột, bình xịt ruồi,muỗi, gián, bơm kim tiêm của các đối tượng nghiện chích ma túy
- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất vàcáchợp chất có tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trongsinh hoạt gia đình, đô thị [4]
Bảng 1.2 CTR theo các nguồn gốc phát sinh khác nhau
Trang 191.1.3.3 Phân loại theo thành phần
- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vậtliệu xây dựng như gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồdùng thải bỏ gia đình
Trang 20- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩmthừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ
và các loại thuốc bảo vệ thực vật
1.1.3.4 Phân loại theo trạng thái chất thải
- Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các
cơ sở chế tạo máy, xây dựng (kim loại, hóa chất sơn, nhựa, thủy tinh, vậtliệu xây dựng )
- Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bón từ cống rãnh, bể phốt, nước thải
từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và
vệ sinh công nghiệp
- Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trongcác máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sảnxuất vật liệu [17]
1.2 Ảnh hưởng của CTR sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người
1.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường không khí
CTR đặc biệt là CTR sinh hoạt có thành phần hữu cơ chiếm khối lượngchủ yếu Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị
(chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp Khốilượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ khôngkhí và thay đổi theo mùa Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượngkhí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông Đối với các bãi chôn lấp, ướctính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lêntrên mặt đất mà không cần một sự tác động nào [3]
1.2.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễmmôi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp
Trang 21xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO (Lượng oxi hòa tan) trong nước.Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡngnguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTRphân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, cómùi khó chịu và phát tán đến môi trường xung quanh.[3].
Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thốngđường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lýtrước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nayđều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quátải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trườngnước nghiêm trọng Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là mộtnguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn,nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác cóphân súc vật, các thức ăn thừa ; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón,thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không được thu gom xử lý sẽthâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêmtrọng [3]
1.2.3 Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất
Các CTR có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơtiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh,ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kimloại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loạinày tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nướcuống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễmđất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốcnhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa
Trang 22chất Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệthống xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ CTR dễ dàngthâm nhập gây ô nhiễm đất.
CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kimloại nặng, phóng xạ nếu không được xử lý đúng cách, chỉ chôn lấp như rácthải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao Trong khaithác khoáng sản, quá trình chế biến, làm giàu quặng làm phát sinh chất thảidưới dạng quặng đuôi, chứa các kim loại và các hợp chất khác ảnh hưởng đếnmôi trường Một vài mỏ hiện vẫn thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất, làm đất
bị ảnh hưởng xấu [3]
1.2.4 Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khoẻ con người
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh daliễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác.Trongthành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỉ lệ lớn.Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên men, bốc mùi hôi thối.Rác thải khôngđược thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻcon người sống xung quanh Chẳng hạn, những người tiếp xúc thường xuyênvới rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác dễmắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng, ngoài
da, phụ khoa Hàng năm, theo tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệungười chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải.Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy, những xác động vật bị thối rữatrong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sufuahyđro hình thành từ sựphân huỷ rác thải kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịp tim đậpnhanh gây ảnh hưởng xấu đối với những người mắc bệnh tim mạch.Các bãirác công cộng là những nguồn mang dịch bệnh Các kết quả nghiên cứu chothấy rằng: trong các bãi rác, vi khuẩn thương hàn có thể tồn tại trong 15 ngày,
Trang 23vi khuẩn lỵ là 40 ngày, trứng giun đũa là 300 ngày Các loại vi trùng gây bệnhthực sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung gian gây bệnh tồn tại trongcác bãi rác như những ổ chứa chuột, ruồi, muỗi và nhiều loại ký sinh trùnggây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do các trung giantruyền bệnh như: Chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắntrùng, ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hoá; muỗi truyền bệnh sốt rét, sốtxuất huyết [3].
1.3 Tình hình quản lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
Tiêu chuẩn phát sinh chất thải sinh hoạt trung bình theo đầu người đốivới từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộcvào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nàocũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thảiphát sinh càng nhiều Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ phát sinh
Trang 24chất thải rắn tại các thành phố lớn như New York là 1,8 kg/người/ngày, HànQuốc là 1,79 kg/người/ngày, Nhật Bản là 1,67 kg/người/ngày, Singapore vàHồng Kông là 1,0 - 1,3 kg/người/ngày [7].
1.3.1.2 Công tác phân loại
Trên Thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thugom rác thải rất hiệu quả:
Tại Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ,rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhàmáy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải,thủy tinh, kim loại, đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rácđược đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổikhí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sauquá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ônhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được nén thành các viên gạch lát vỉa hè,chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa[13]
Tại Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố ở Mỹ lên tới
210 triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầunhư thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quálớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà
là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ
lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thườngxuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồngốc vô cơ Trong thành phần các loại rác sinh hoạt thì thực phẩm chỉ chiếm10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt cácloại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặckhông phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%)
Trang 25Điển hình tại California, nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiềuthùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc táichế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu
có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rácphải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thướcrác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cảchất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giáthành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thugom và chuyên chở rác [13]
Tại Pháp: Việc phân loại rác được thực hiện theo cách sau: Mỗi hộ dân
được phát hai thùng rác khác nhau, một thùng chứa rác không thể tái sinh,một thùng chứa rác tái sử dụng Ở Pháp người ta cho rằng trong rác thải sinhhoạt có thể thu hồi được 25% là thủy tinh, 30% giấy bìa, 8% chất sợi, 25-35%
là sắt
Tại Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên
thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom,vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắclàm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thugom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa
về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác
để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử
lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tưnhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công tynày đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếpcủa Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công
ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho
Trang 26các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thảitrực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tạicác khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng [13].
1.3.2 Ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình phát sinh
- Về tổng thể, miền Đông Nam Bộ là khu vực có mức phát sinh CTRcao nhất trong cả nước, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ vàduyên hải miền Trung; Đồng bằng sông Cửu Long; rồi đến Trung du và miềnnúi phía Bắc; khu vực Tây Nguyên có lượng phát sinh CTR đô thị thấp nhất
Hồ Chí Minh, khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739tấn/ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2011 đến 2015 đạttrung bình 12% mỗi năm và về xu hướng, mức độ phát sinh CTR sinh hoạt đôthị tiếp tục tăng trong thời gian tới [4]
- Chỉ số phát sinh CTR đô thị bình quân đầu người tăng theo mức sống.Năm 2007, chỉ số CTR sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tính trungbình cho các đô thị trên phạm vi toàn quốc vào khoảng 0,75 kg/người/ngày).Năm 2008, theo Bộ Xây dựng thì chỉ số này là 1,45 kg/người/ngày, lớn hơnnhiều so với ở nông thôn là 0,4 kg/người/ngày Tuy nhiên, theo Báo cáo củacác địa phương năm 2010 thì chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt đô thị trung bìnhtrên đầu người năm 2009 của hầu hết các địa phương đều chưa tới 1,0kg/người/ngày Các con số thống kê về lượng phát sinh CTR sinh hoạt đô thị
Trang 27không thống nhất là một trong những thách thức cho việc tính toán và dự báolượng phát thải CTR đô thị ở nước ta [2].
Bảng 1.3 Ước tính lượng CTR đô thị phát sinh đến năm 2025
(Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp (2011))
Lượng CTR đô thị ngày càng tăng và thành phần ngày càng phức tạp do
số lượng dân cư chuyển từ nông thôn ra thành thị ngày càng tăng bởi quátrình đô thị hóa cao, do mức sống ngày càng cao nên tiêu dùng ngày càng đadạng Mức độ đô thị hóa tăng nhanh nên số dân ở các đô thị càng ngày càngtăng, nhất là các thành phố lớn có kinh tế phát triển như Hà Nội, Tp Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Ước tính chỉ số phát sinh CTR đô thị trungbình ở Việt Nam trong những năm 2015, 2020, 2025 vào khoảng 1,2; 1,4; 1,6kg/ người/ngày [2]
1.3.2.2 Tình hình thu gom, vận chuyển
Việc phân loại CTR tại nguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi, vì vậy ởhầu hết các đô thị nước ta, việc thu gom rác chưa phân loại vẫn là chủ yếu.Công tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp (ngườidân tự thu gom vào các thùng/túi chứa sau đó được công nhân thu gom vàocác thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộ gia đình đượccông nhân thu gom vào các xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rác
Trang 28chuyên dụng và chuyển đến khu xử lý hoặc tại các chợ hoặc khu dân cư cóđặt container chứa rác, công ty môi trường đô thị có xe chuyên dụng chởcontainer đến khu xử lý)[2].
Công tác thu gom CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền cáccấp quan tâm, nhưng do lượng CTR đô thị ngày càng tăng, năng lực thu gomcòn hạn chế cả về thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêucầu Mặt khác, do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị vứtbừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom có phân loại tại nguồn vẫnchưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cho hạ tầng cơ sở cũng như thiết
bị, nhân lực và nâng cao nhận thức [2]
Hoạt động thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt tại các đô thị được cungcấp chủ yếu bởi các công ty dịch vụ công ích Công ty môi trường đô thị vàCông ty công trình đô thị và một phần do các doanh nghiệp tư nhân thực hiệnvới tỷ lệ ngày càng cao Hiện nay, phí vệ sinh theo hộ gia đình tại khu vực đôthị trung bình là 21.000đ/hộ/tháng, tương đương 5.600đ/người/tháng Mứcthu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000 - 200.000đ/cơ sở/tháng tùy theoquy mô và địa phương
Tại khu vực đô thị, tổng khối lượng CTR sinh hoạt thu gom khoảng31.600 tấn/ngày năm 2014 và khoảng 32.415 tấn/ ngày năm 2015 Nhìnchung, so với các đô thị còn lại, lượng CTR sinh hoạt được thu gom tại các đôthị đặc biệt và đô thị loại 1 khá lớn
Tỷ lệ thu gom và xử lý CTR sinh hoạt đô thị đạt khoảng 85,3% (tăng0,3% so với năm 2014; tăng 3% so với năm 2010), đạt mục tiêu của Chiếnlược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2050 Hiện có 55/63 địa phương đã phê duyệt quy hoạch quản lý CTR, đây là
cơ sở quan trọng để lập dự án và thu hút các nguồn lực đầu tư xây dựng các
cơ sở xử lý CTR[4]
Trang 29Theo báo cáo từ các địa phương, một số đô thị đặc biệt, đô thị loại I có
tỷ lệ thu gom khu vực nội thành đạt mức tuyệt đối 100% như Tp Hồ ChíMinh; Đà Nẵng; Hải Phòng; Hà Nội đạt khoảng 98% ở 11 quận nội thành(quận Hà Đông đạt 96% và Thị xã Sơn Tây đạt 94%); Huế đạt 95% Các đôthị loại II cũng có cải thiện đáng kể, đa số các đô thị loại 2 và 3 đều đạt tỷ
lệ thu gom ở khu vực nội thành khoảng 80% - 85% Ở các đô thị loại IV và
V công tác thu gom chưa được cải thiện nhiều do nguồn lực vẫn hạn chế,phần lớn do các hợp tác xã hoặc tư nhân thực hiện nên thiếu vốn đầu tưtrang thiết bị thu gom [4]
Bảng 1.4 Tình hình thu gom chất thải sinh hoạt ở 1 số đô thị năm 2014
T ỉ lệ t h u (
10 0
10 0
Trang 301.3.2.3 Tình hình xử lý
Theo Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầmnhìn đến năm 2050, mục tiêu quản lý tổng hợp các loại CTR của khu vực đôthị được đặt ra là lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lýđảm bảo môi trường đạt 90% (đến 2020) và đạt 100% (đến 2025) Tính đếnhết năm 2015, cả nước có khoảng 35 cơ sở xử lý CTR sinh hoạt đô thị đượcxây dựng đưa vào hoạt động Công suất trung bình của các cơ sở xử lý phổbiến ở mức từ 100 - 200 tấn/ngày Một sốcơ sở xử lý CTR sinh hoạt có côngsuất thiết kế rất lớn như: khu liên hợp xử lý CTR Đa Phước 3.000-5.000 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR tại Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh 1.000 tấn/ ngày; một
số cơ sở xử lý có công suất trên 300 tấn/ngày như: nhà máy xử lý chất thảiXuân Sơn (Sơn Tây, Hà Nội) 700 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR sinh hoạtNam Bình Dương (tỉnh Bình Dương) 420 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR ĐồngXanh (tỉnh Đồng Nai) 300 tấn/ngày;…[4]
Công nghệ xử lý CTR sinh hoạt phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ vàđốt Tại khu vực đô thị, tỷ lệ CTR sinh hoạt được chôn lấp trực tiếp khoảng34%, tỷ lệ CTR sinh hoạt được giảm thiểu hoặc tái chế tại các cơ sở xử lý đạtkhoảng 42% và lượng CTR còn lại là bã thải của quá trình xử lý được chônlấp chiếm khoảng 24%
Các công nghệ xử lý CTR sinh hoạt đang áp dụng ở nước ta ngày càng
đa dạng nhưng hiệu quả thực tế chưa được tổng kết, đánh giá một cách đầy
đủ Một số công nghệ trong nước đang triển khai áp dụng bước đầu đã đem lạihiệu quả nhất định Các công nghệ được nghiên cứu trong nước hầu hết docác doanh nghiệp tư nhân đảm nhiệm nên việc hoàn thiện công nghệ cũngnhư triển khai ứng dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn Cụ thể, cáccông nghệ mới, vừa triển khai ứng dụng, vừa hoàn thiện nên các dây chuyềncông nghệ và thông số kỹ thuật của thiết bị chưa hoàn thiện và chuẩn xác;chưa được kiểm tra, thẩm định đạt yêu cầu của cơ quan chức năng [4]
Trang 31Các công nghệ nước ngoài khi sử dụng tại Việt Nam gặp một số khókhăn do CTR phần lớn chưa được phân loại tại nguồn, độ ẩm cao, điều kiệnthời tiết nhiệt đới, lượng CTR tiếp nhận thấp hơn công suất thiết kế hoặckhông ổn định, đầu tư khá cao dẫn đến chi phí xử lý cao… Kết quả là hiệuquả xử lý CTR sinh hoạt chưa cao, công tác phân loại phức tạp, máy mócthiết bị mau bị hư hỏng, ăn mòn…
Phần lớn các bãi chôn lấp tiếp nhận CTR sinh hoạt chưa được phân loạitại nguồn, có thành phần hữu cơ cao nên tính ổn định thấp, chiếm nhiều diệntích đất, phát sinh lượng lớn nước rỉ rác Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinhphần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉrác, quá tải, không được che phủ bề mặt, không phun hóa chất khử mùi vàdiệt côn trùng đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí,sinh thái và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất củacộng đồng xung quanh [4]
Tỷ lệ CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTR thugom được (trong đó, khoảng 50% được chôn lấp hợp vệ sinh và 50% chôn lấpkhông hợp vệ sinh) Thống kê trên toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tậptrung ở các thành phố lớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi được coi là hợp
vệ sinh Ở phần lớn các bãi chôn lấp, việc chôn lấp rác được thực hiện hết sức
sơ sài Như vậy, cùng với lượng CTR được tái chế, hiện ước tính có khoảng60% CTR đô thị đã được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh và táichế trong các nhà máy xử lý CTR để tạo ra phân compost, tái chế nhựa, [4].Hiện nay, các cơ sở xử lý CTR sinh hoạt thành phân hữu cơ chủ yếu sửdụng công nghệ ủ hiếu khí hoặc kị khí trong thời gian khoảng 40- 45 ngày.Một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử lý CTR sinh hoạt Nam BìnhDương thuộc Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường BìnhDương (sử dụng dây chuyền thiết bị của Tây Ban Nha, công suất thiết kế 420
Trang 32tấn/ngày); Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh thuộcCông ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh (sử dụng dây chuyềnthiết bị của hãng Mernat-Bỉ, công suất thiết kế 200 tấn/ngày); Nhà máy xử lýrác Tràng Cát, thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hải Phòng (sửdụng dây chuyền thiết bị của Hàn Quốc, công suất thiết kế 200 tấn/ngày); Nhàmáy xử lý CTR Nam Thành, Ninh Thuận thuộc Công ty TNHH xây dựngthương mại và sản xuất Nam Thành (dây chuyền thiết bị của Việt Nam, côngsuất thiết kế 200 tấn/ngày, dự kiến sẽ nâng công suất lên 300 tấn/ngày)…Hệthống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý nhập khẩu từnước ngoài thường phải thực hiện cải tiến công nghệ, thiết bị để phù hợp vớiđặc điểm CTR sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn và điều kiện khí hậu ởViệt Nam [4].
Các phương pháp xử lý CTR đô thị hiện nay phổ biến là chôn lấp CTRkhông có xử lý; chôn lấp CTR có phun chế phẩm EM, vôi bột; chôn lấp CTR
có kỹ thuật kiểm soát, xử lý ô nhiễm; sử dụng lò đốt; chế biến phân composttheo công nghệ nước ngoài; chế biến CTR theo công nghệ Seraphin, An SinhASC; đốt CTR thu năng lượng; đốt CTR yếm khí thành than [3]
Trang 33Bảng 1.5 CTR sinh hoạt đô thị được xử lý bình quân một ngày
trong năm 2014 - 2015 phân theo khu vực
1 0
1 0
2 5
3 0 4T
ây
1
.
1
4 9
6 2 5Đ
2
4 (Nguồn: Báo cáo HTMT quốc gia giai đoạn 2011-2015)
Việc tìm hiểu một số phương pháp xử lý CTRSH và tình hình áp dụngcác biện pháp này tại Việt Nam hiện nay nhằm mục đích làm cơ sở cho việc
đề xuất các giải pháp quản lý CTR sinh hoạt của khu vực nghiên cứu củaphạm vi đề tài
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt và công tác quản lý CTRsinh hoạt tại khu vực KTX trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khu vực KTX Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, Phường Xuân Hòa, Thành phố Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian nghiên cứu: 9/2017- 01/2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá số lượng, thành phần CTRSH tại khu vực KTXtrường đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Đánh giá công tác quản lý, thu gom CTRSH tại khu KTX
- Đề xuất một số giải pháp quản lý CTRSH tại KTX để giảm thiểu ônhiễm môi trường
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, số liệu từ sách báo, internet, các đề tài nghiên cứu
có liên quan đến đề tài, các báo cáo về môi trường
2.4.2 Thu thập tài liệu sơ cấp
2.4.2.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Sử dụng phiếu điều tra đã lập sẵn câu hỏi để phỏng vấn sinh viên tạiKTX trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trang 35- Dựa vào phụ lục 2 số phiếu điều tra là: 80
- Số lượng điều tra: phỏng vấn ngẫu nhiên 80 phòng tại KTX trườngĐại học Sư phạm Hà nội 2 Trong đó:
- Tại 50 phòng ký túc xá được phỏng vấn bằng bảng hỏi, tiến hành phát
02 túi nilon đựng CTR mỗi ngày (1 túi đựng chất thải thực phẩm gồm thức ănthừa, lá cây, rau, củ quả…; 1 túi đựng chất thải vô cơ gồm giấy, thủy tinh,sành sứ, nilon, nhựa và loại khác…)
- Tần suất lấy mẫu: hàng ngày (kể cả thứ 7 và chủ nhật, trong thờigian 1 tháng)
- Thu mẫu và cân vào giờ cố định
- Tổng số mẫu rác thu thập là: 50 mẫu
- Cân khối lượng mẫu CTR để xác định lượng rác bình quân/người/ngày
Trang 36- Tiến hành phân loại CTR thải rồi cân từng thành phần sau đó tính tỷ lệ.
Từ đó xác định được thành phần CTR thải sinh hoạt
- Tiến hành thu mẫu trong 2 đợt:
+ Đợt 1: Tháng 9/2017-10/2017
+ Đợt 2: Tháng 1/2018-2/2018
Tiêu chí phân loại CTRSH
Dựa trên TCVN 6705:2009: Chất thải rắn thông thường- Phân loại(Normal solid wastes- Classification) Tiêu chuẩn này áp dụng cho các chấtthải rắn thông thường (chất thải rắn không nguy hại) để phân biệt các nhómloại chất thải rắn, phục vụ cho việc quản lý chất thải một cách an toàn đối vớicon người, đảm bảo vệ sinh môi trường và đúng với các quy định về quản lýchất thải rắn Căn cứ vào các tiêu chí phân loại của TCVN 6705:2009 và chitiết hóa tiêu chí phân loại chất thải rắn sinh hoạt thông thường thành cácnhóm sau:
* Xác định lượng CTR được thu gom
Theo dõi việc vận chuyển CTR tại bãi tập kết của khu vực KTX để đếm
số xe chở CTR trong ngày, tuần và tháng Từ đó xác định được khối lượngCTR trung bình được thu gom
* Xác định tỷ lệ thu gom
Tỷ lệ thu gom = (Tổng lượng CTR thu gom/tổng lượng CTR phátsinh) * 100%
Trang 37* Xác định thành phần CTRSH
Lấy một lượng CTR (10-15kg) tại bãi tập kết của khu vực KTX Sau đó
đổ xuống sàn đã trải bạt tiến hành thực hiện theo quy tắc 1/4 Tiến hành trộn
và tiếp tục chia 4 lấy 2 chéo nhau ta đi phân loại bằng tay và tiến hành cânthành phần
2.4.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Sử dụng các phần mềm word, excel để tổng hợp, phân tích các số liệu đãthu thập được Từ những số liệu thu thập, tìm những số liệu quan trọng, cầnthiết nhất để phục vụ vấn đề nghiên cứu Tổng hợp phiếu điều tra, phỏng vấndựa trên phần mềm MS Excel
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực KTX trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 nằm trên địa phậnphường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Khu vực nghiên cứucách trung tâm thành phố Phúc Yên khoảng 7km Phường Xuân Hoà nằm ởphía Tây Bắc thị xã Phúc Yên, có diện tích là 414,46 ha giáp xã Cao Minh, xãNam Viêm, phường Đồng Xuân của thị xã Phúc Yên và xã Tân Dân, xãMinh Trí của Huyện Sóc Sơn - Hà Nội Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2thuộc vùng Bán sơn địa, là vùng chuyển tiếp giữa trung du và đồng bằng Địahình phía Tây Bắc cao và thấp dần về phía Đông Nam Trường có ranh giớinhư sau: phía Đông giáp phường Đồng Xuân, phía Tây giáp xã Cao Minh,phía Nam giáp xã Nam Viên, phía Bắc giáp xã Cao Minh
Hình 3.1 Toàn cảnh khu vực KTX
(Nguồn: https://earth.google.com/web/)
Trang 393.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, tài nguyên
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, cóđặc điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc Nằm trong vùng khíhậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa
hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, trong các tháng từ tháng 5 đếntháng 10 Theo niên giám thống kê 2016 tỉnh Vĩnh Phúc tại trạm Vĩnh Yên:
Tuy nhiên do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên có sự chênh lệch khá lớn vềnhiệt độ giữa vùng núi và vùng đồng bằng Tại khu vực phường Xuân Hòa, từtháng 5 đến tháng 10, khí hậu nóng và ẩm Từ tháng 11 đến tháng 4 năm saukhí hậu lạnh
Lượng mưa trung bình năm 2016 đạt 192,26 mm Lượng mưa phân bốkhông đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11 Năm 2016lượng mưa cao nhất vào tháng 11 với lượng mưa 200mm thấp nhất ở tháng 2
là 9,1mm
Tổng số giờ nắng bình quân trong năm 2016 là 1442 giờ Tháng có nhiềunắng nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng có ít giờ nắng nhất là tháng 3 Độ ẩmbình quân cả năm là 80,5%
Tại khu vực KTX trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 có hướng gió chủđạo là hướng Đông và hướng Đông Bắc, mùa hè có hướng gió chủ đạo làĐông Nam Những yếu tố ảnh hưởng đến hướng gió là áp suất, đặc điểm địahình của khu vực và diễn biến khí hậu trong vùng
Trang 40Bảng 3.1 Số liệu khí tượng tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016
S ố g
7
85 1 4
66
80
84 27 2
45
68
81 1 1
21
75 1 2
00
81 3 1
79
84 6 1
5
79 1 1
410
7
77 1 1
511
2
012
0
75 1 1
3T
1 12T
ổ
2
9
14
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2007-2016) 3.1.1.3 Điều kiện thủy văn
KTX trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nằm trong vùng chịu ảnhhưởng chế độ thủy văn của lưu vực sông Cà Lồ Sông Cà Lồ là sông tiêuthoát nước chính của khu vực, là phụ lưu cấp 1 lớn thứ hai nhập vào sôngcầu về phía bờ phải Bắt nguồn từ phía Tây Bắc dãy Tam Đảo ở độ cao1268m, chảy qua vùng đồng bằng là chủ yếu, rồi nhập vào sông Cầu ởLương Phú, cách cửa sông Cầu khoảng 64km Đặc điểm của lưu vực sông
Cà Lồ là có độ cao trung bình lưu vực thấp trong lưu vực sông Cầu (87m)