Trong đó con người cô đơn là đối tượng được nhiều nhà văn khám phá tạo nên những tác phẩm đặc sắc như Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một ngựa Ma Văn Kháng, Thời xa vắng Lê Lựu, Tướng v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN PHƯƠNG HÀ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Phương Hà, người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
để tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Văn học ViệtNam, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuậnlợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện Phan Thị Thơm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS NguyễnPhương Hà Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giảkhác Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện Phan Thị Thơm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Khái quát về con người cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại
8 1.1.1 Khái niệm con người cô đơn 8
1.1.2 Các kiểu con người cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại
9 1.2 Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một ngựa 12
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học 13
1.2.2 Giới thiệu về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa 14
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG BIỂU HIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN VÀ MỘT MÌNH MỘT NGỰA 17
2.1 Con người cô đơn trước thời cuộc 17
2.1.1 Con người cô đơn khi xây dựng cuộc sống mới 17
2.1.2 Con người cô đơn trong môi trường mới, cuộc sống mới 20
2.1.3 Con người cô đơn không thể hòa nhập với cuộc sống hiện tại
23 2.2 Con người cô đơn trong cuộc sống gia đình 25
2.2.1 Con người cô đơn khi muốn níu kéo, gìn giữ những giá trị truyền thống 25
2.2.2 Con người cô đơn khi chạy theo những cám dỗ, ham muốn vật chất
27 CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN VÀ MỘT MÌNH MỘT NGỰA 30
Trang 63.1 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 30
3.2 Ngôn ngữ 33
3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 33
3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 35
3.2.3 Ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm 38
3.3 Giọng điệu 40
3.3.1 Giọng điệu trữ tình, tha thiết, sâu lắng 40
3.3.2 Giọng điệu triết lý, suy ngẫm 42
3.3.2 Giọng điệu thương cảm, xót xa……….44
PHẦN KẾT LUẬN……… 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
1.1 Có thể thấy, văn học Việt Nam sau năm 1986 chuyển mình sang
thời kì mới, hướng tới cảm hứng thế sự, đời tư Chính vì vậy, nhiều nhà văn
đã tìm đến tiểu thuyết để phản ánh sâu rộng bức tranh hiện thực xã hội rộnglớn Họ đã khám phá con người với mọi mặt của cuộc sống đời thường, conngười công dân với những khát vọng lớn lao, con người tự nhiên với nhữngkhát vọng bản năng thầm kín, con người đời tư với những lo âu và bi kịch,con người hoài nghi, bất an, hay là con người cô đơn với những khao khátđược giải thoát Trong đó con người cô đơn là đối tượng được nhiều nhà văn
khám phá tạo nên những tác phẩm đặc sắc như Mùa lá rụng trong vườn, Một
mình một ngựa (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê, Chút thoáng Xuân Hương, Trương Chi (Nguyễn Huy
Thiệp), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài) …
1.2 Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn mở đường cho sự
nghiệp đổi mới văn học Với quan niệm sáng tác “nhìn thẳng vào sự thật, nóicho rõ sự thật”, tác phẩm của ông đã tạo nên nhiều cuộc tranh luận sôi nổitrên diễn đàn văn học Ma Văn Kháng thành công ở cả hai thể loại truyệnngắn và tiểu thuyết, đạt nhiều giải thưởng văn học như: Giải nhì trong cuộcthi truyện ngắn của báo Văn nghệ 1967 – 1968, Giải thưởng Hội Nhà văn(năm 1984), Giải thưởng hội nhà văn Việt Nam (năm 1995), Giải thưởng vănhọc Đông Nam Á (năm 1998) … Với những thành tựu đạt được, Ma VănKháng đã khẳng định tên tuổi và chỗ đứng của mình trong nền văn xuôi ViệtNam hiện đại
1.3 Văn học là nhân học, xét cho cùng cái đích đến của nhà văn trong
mọi tác phẩm văn chương là con người Trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn và Một mình một ngựa, Ma Văn Kháng đã khám phá và phát hiện những
đặc sắc về con người trong các mối quan hệ, nổi bật là hình tượng con người
cô đơn, lạc lõng và con người tha hóa, biến chất trong cuộc sống thời kì đổimới Ông viết về con người, viết cho con người bằng những chiêm nghiệm,
Trang 8bằng sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc Có thể thấy tác phẩm đã chạm đến tráitim độc giả một cách chân thực, sâu lắng.
1.4 Gần đây, đoạn trích Mùa lá rụng trong vườn (trích từ tiểu thuyết
cùng tên của Ma Văn Kháng) được đưa vào giảng dạy trong chương trình bộ
môn Ngữ văn ở bậc THPT Vì thế, tìm hiểu đề tài Con người cô đơn trong
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 (khảo sát qua tiểu thuyết Mùa lá
rụng trong vườn và Một mình một ngựa) giúp chúng tôi có những hiểu biết
sâu sắc hơn tác phẩm, về giá trị tư tưởng và khuynh hướng văn học đổi mớisau 1975 Đồng thời, đây là nguồn tư liệu cho giáo viên THPT rèn luyện,nâng cao trình độ tư duy và các thao tác phân tích tác phẩm văn học vào việcgiảng dạy các tác phẩm trong nhà trường Vì những lí do trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài Con người cô đơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau
1975 (khảo sát qua tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một
ngựa).
2 Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng là một nhà văn có những đóng góp xuất sắc cho nềnvăn học Việt Nam hiện đại Thành tựu mà ông đạt được cho ra đời hơn 20truyện ngắn, 15 tiểu thuyết, một hồi kí văn chương, một tiểu luận và bút kínghề văn Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thực sự thu hút được sự chú ý, quantâm của đông đảo công chúng cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học
Nhà phê bình văn học Lã Nguyên trong bài viết Khi nhà văn đào bới
bản thể ở chiều sâu tâm hồn đăng trên Tạp chí văn học số 9 (1999) in trong
lời giới thiệu cuốn Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng nhận định: “Ma Văn
Kháng là nhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hóa, bình dị, hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc được làm người với ý nghĩa đích thực của nó…” [9] Chính vì vậy khi đọc những sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng ta
nhận thấy những vấn đề có ý nghĩa dân tộc, ý nghĩa nhân sinh sâu sắc
Bản thân Ma Văn Kháng từng chia sẻ: “Mỗi tác phẩm tôi viết ra đều
ứng với một phần cuộc đời tôi Cơn mưa mùa hạ viết về thời kì đổi mới Mùa
lá rụng trong vườn là những câu chuyện thời hậu chiến xảy ra ở gia đình.
Tác phẩm tôi để tâm lực vào nhiều nhất đó là Một mình một ngựa gắn với
Trang 9quãng thời gian tôi làm thư kí cho tỉnh ủy Lào Cai Đồng bạc trắng hoa xòe hay Chim én liệng trời cao là cuộc đời 25 năm gắn bó với mảnh đất, con
người Tây Bắc Lưu bút cuộc đời chất chứa giá trị gia đình, tập hợp những kỉ niệm về người mẹ của tôi” Ông cho rằng: “Văn chương là niềm vui lớn của
cuộc đời tôi” Tác giả đã đem đến cho bạn đọc những tác phẩm giàu sự hiểubiết về chính cuộc đời của ông một cách chân thực nhất
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất bản năm 1985, nó đã nhận
được sự quan tâm, bàn luận của độc giả, cũng như giới nghiên cứu, phê bình
Tác giả Kim Vinh trong bài nghiên cứu Nhà văn Ma Văn Kháng trong sự
nghiệp đổi mới văn nhận xét: “ Tác phẩm của anh được đọc nhiều và thảo luận sôi nổi một phần vì đã đề cập đến vấn đề gia đình Ma Văn Kháng có lẽ cũng là một trong số ít các nhà văn hiện nay quan tâm đặc biệt đến tầng lớp bình dân, cụ thể là bình dân Hà Nội Dưới ngòi bút của anh, hình ảnh người bình dân hiện lên với tất cả sự tốt đẹp và phức tạp trong tính cách, phẩm chất Có thể coi Lý là nhân vật thành công nhất của Ma Văn Kháng và của cả văn học sau 1975 ở lĩnh vực này” [18,18].
Trong bài viết đăng trên Tạp chí Đại học Vinh (2006) với nhan đề Bi
kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng,
tác giả Nguyễn Công Thanh cho rằng: “Truyền thống văn hóa dân tộc và
truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong thời đại mới là những vấn đề cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm Khăng khăng giữ lại tất cả những gì của ngày xưa không phải là chuyện hợp thời, nhưng thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi nề nếp nhất định sẽ dẫn tới bi kịch” [15].
Từ góc độ nghệ thuật, khi nghiên cứu tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn, tác giả Trần Cương (1985) với bài viết Mùa lá rụng trong vườn – Một đóng góp mới của Ma Văn Kháng đăng trên Báo Nhân dân chủ nhật nhận xét:
“Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một
quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình” [2].
Trang 10Nghiên cứu về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, tác giả Hoàng Sơn (1985) trong bài viết Trò chuyện với tác giả Mùa lá rụng trong vườn đăng trên Báo Tiền phong nhận định: “Thật ra vấn đề gia đình chỉ là cái cớ, vỏ bọc
bên ngoài Điều nhà văn tìm hiểu cũng là điều muốn nói với bạn đọc là vấn
đề sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [4, 14].
Bên cạnh tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một ngựa là
tác phẩm mà Ma Văn Kháng tâm huyết nhất Nó là sự trải nghiệm, là hànhtrình trong chính cuộc đời của nhà văn Ông đã tâm sự trên trang Vietinfo,
(04/2009): “Thật tình tôi đã định không viết tiểu thuyết Nhưng trong những
ngày nghỉ ngơi, ngẫm lại đời mình, tôi bỗng nhận ra còn một đoạn đời có chút ý nghĩa của mình bị chính mình lãng quên Ấy là mấy năm trời tôi sang làm thư kí cho bí thư tỉnh ủy Ở đó tôi được sống và công tác với hai lớp người: người cán bộ lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh ủy và các cán bộ trợ
lý giúp việc Và thế là tôi quyết định phải kể nốt những truyện mình đã viết ở đoạn đời này” Có thể nói đây chính là cách lí giải sự ra đời của tiểu thuyết Một mình một ngựa Ma Văn Kháng đã tái hiện lại những kỷ niệm với vùng
đất Lào Cai từ năm 1955 với vai trò là giáo viên Đến năm 1965 ông làm thư
ký cho bí thư tỉnh ủy Trường Minh Soi chiếu vào tác phẩm, người đọc có thểthấy được hình bóng của nhà văn qua nhân vật Toàn
Nghiên cứu về tiểu thuyết Một mình một ngựa, Đỗ Hải Ninh trong bài viết Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Một mình một ngựa (đăng trên
w
w w p h o ng d i e p n e t n gày 28/7/2009) đã cho rằng: “Sức nặng ở nhân vật
Quyết Định không chỉ ở hình tượng một mình một ngựa oai hùng, dũng mãnh
mà còn nằm ở những đoạn độc thoại, dòng ý thức với những tâm sự sâu kín của ông” [10] Tác giả của bài viết đã có cái nhìn khái quát về hệ thống nhân
vật trong cuốn tiểu thuyết
Bàn về nhân vật trong tiểu thuyết, nhà phê bình Hoài Nam có những
nhận định tinh tế: “Di chuyển điểm nhìn vào từng nhân vật khiến sự trần thuật
trở nên phức hợp, đa tuyến, cuốn tiểu thuyết đã đi sâu vào thế giới bên trong con người, mở rộng nhận thức hiện thực đồng thời tạo nên sự đa nghĩa, nhiều
tầng của tác phẩm” Tác giả nhấn mạnh: “Một mình một ngựa không có
nhiều đột phá, cách tân trong nghệ thuật tự sự nhưng hấp dẫn ở cách kể
Trang 11chuyện hóm hỉnh, tạo được điểm nhấn ấn tượng” [8] Ở đây, nhà nghiên cứu
đã chú ý đến yếu tố tự truyện của tác phẩm, trong đó người kể chuyện là hàm
ẩn, được kể theo điểm nhìn của nhân vật Toàn, sau đó khéo léo di chuyểnđiểm nhìn vào nhân vật khác làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm
Nhận xét về phương diện nghệ thuật, tác giả Bình Nguyên Trang trong
bài viết Ma Văn Kháng, nửa thế kỉ một mình một ngựa cho rằng: “Một mình một ngựa có cấu trúc chặt chẽ, các tuyến nhân vật và các chi tiết được đan
cài vào nhau một cách tài tình, xuyên suốt trong tác phẩm đã tái hiện cái đẹp
và cái hạn chế của một thời đã đi vào quá vãng” [16] Tác giả của bài viết đã
đánh giá về sự vững vàng và kĩ thuật của một cây bút văn xuôi có quá trình vàbản lĩnh
Ngoài ra, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hai tácphẩm này Có thể liệt kê đến: Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thúy Hà
(2010) với nhan đề Ám ảnh về nỗi cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một
ngựa của Ma Văn Kháng đã chỉ ra chân dung những con người kiêu hùng và
đầy mặc cảm cô đơn đó là nhân vật Quyết Định – hình ảnh một thế hệ cán bộcách mạng vừa hiên ngang, vừa oanh hùng, vừa cô đơn và nhân vật Toàn –hình ảnh người trí thức phân tâm sống giữa cộng đồng mà không thể hòa hợp,
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Giang (2009) với tên gọi Thế giới nhân
vật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng đã chỉ ra các
kiểu nhân vật như nhân vật tự ý thức, nhân vật tha hóa, Luận văn Thạc sĩ của
Dương Thị Sáu (2013) – Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời
kì đổi mới cũng chỉ ra các kiểu nhân vật đó là nhân vật người trí thức, nhân
vật người phụ nữ và các loại nhân vật khác
Tóm lại, qua việc khảo sát và tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi thấy córất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới hai tiểu thuyết này Nhưngcác bài viết, công trình nghiên cứu mang tính chất lẻ tẻ hoặc là những vấn đề
gợi mở, chưa thực sự đi sâu Từ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Con người cô đơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau năm 1975 (khảo sát qua tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa) cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích làm rõ những biểu hiệncon người cô đơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 (khảo sát qua
tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa) trên phương diện
nội dung và nghệ thuật Qua đó thể hiện quan niệm nhà văn, đồng thời khẳngđịnh vị trí Ma Văn Kháng đối với văn học đổi mới sau 1975
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu khái niệm con người cô đơn và các kiểu con người
cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại
Thứ hai: Tìm hiểu một số phương diện nội dung về hình tượng conngười cô đơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 (qua hai tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa) như: con người cô
đơn trước thời cuộc, con người cô đơn trong cuộc sống gia đình…
Thứ ba: Tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật như nghệ thuật xâydựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, góp phần thể hiện hình tượng conngười cô đơn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trong giới hạn của một khóa luận, chúng tôi
tập trung nghiên cứu vấn đề: Con người cô đơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 (khảo sát qua tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (Nhà xuất bản Văn học, 2016)
+ Tiểu thuyết Một mình một ngựa (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2015)
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, bình giảng tác phẩm
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính củakhóa luận được triển khai thành ba chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nội dung biểu hiện con người cô đơn trong tiểu thuyết Mùa
lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện con người cô đơn trong tiểu thuyết
Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái quát về con người cô đơn trong văn học Việt Nam đương đại
1.1.1 Khái niệm con người cô đơn
Theo Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, Nxb Đà Đẵng (2006):
“Cô đơn” tức là “chỉ có một mình, không có người thân, không nơi nương
tựa” Như vậy, có thể hiểu cô đơn là một mình, sống đơn độc không có ai bên
cạnh, không nương tựa được vào đâu, tách biệt với thế giới xung quanh,không chịu tác động của yếu tố ngoại cảnh
Theo chiết tự chữ Hán trong từ điển của tác giả Thiều Chửu, “cô”
nghĩa là “mồ côi, mồ côi cha sớm”, cũng có nghĩa là “cô độc, trơ trọi một
mình, không ai giúp đỡ” “Đơn” có nghĩa là “lẻ”, “riêng” và chỉ có “một”.
Vậy “cô đơn” chỉ sự lẻ loi, cô độc, đơn chiếc của con người
Từ góc độ triết học “cô đơn” thuộc về vô thức Nó được xem là mộttrạng thái tồn tại sẵn có trong mỗi con người Cô đơn cũng tồn tại như nhữngcảm xúc khác của con người (hỉ, nộ, ái, ố…), nó mang trong mình những đặctrưng, những giá trị riêng có, để khác biệt với những trạng thái cảm xúc khác
Trong cuốn Từ điển tâm lí của tác giả Nguyễn Khắc Viện (2001), khái niệm cô đơn được định nghĩa là “một trong những yếu tố căn nguyên tâm lí
ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của con người khi ở vào một tình huống không quen thuộc (bị thay đổi) hoặc hoàn cảnh bị cách ly thực nghiệm, địa lý,
xã hội hay do bị tù, các mối quan hệ trực tiếp với những người khác bị cắt đứt gây ra những phản ứng cảm xúc cấp tính trong một loạt các trường hợp xuất hiện sự sốc tâm lí với các biểu hiện chính: lo âu, trầm cảm và rối loạn thần kinh thực vật” [10, 17].
Như vậy, cô đơn là một trạng thái tâm lí phổ biến của con người Đó làtrạng thái mà con người cảm thấy hoang mang, lạc lõng, khi không có ai ởbên Cốt lõi của sự cô đơn là nỗi sợ bị bỏ rơi, bị lãng quên, không được côngnhận, không được thấu hiểu và đồng cảm
Trang 15Nỗi cô đơn của con người bao gồm các cấp độ Thứ nhất là cảm xúc côđơn, những cảm xúc rời rạc, riêng lẻ, thoáng qua Thứ hai là cảm giác cô đơn,
đó là một quá trình tâm lí, xuất hiện khi có các sự vật, hiện tượng của thế giớixung quanh tác động trực tiếp vào con người Thứ ba là tâm trạng cô đơn, nóđược hiểu là những biểu hiện tâm lí tồn tại trong một khoảng thời gian tươngđối ổn định và trực tiếp chi phối đến người mang tâm trạng đó về nhiều mặt
Như vậy, có thể hiểu con người cô đơn là trạng thái tâm lí lẻ loi, đơnchiếc tự bản thể hoặc bị rơi vào hoàn cảnh bị cắt đứt sợi dây liên hệ với cuộcđời
đại
1.1.2 Các kiểu con người cô đơn trong văn học Việt Nam đương
Ngay từ văn học Trung đại con người cô đơn đã xuất hiện Chịu ảnhhưởng của ý thức hệ phong kiến “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, những tàinăng lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, NguyễnDu… với cá tính mạnh mẽ, không chịu bó hẹp trong bất kì khuân khổ nào, họ
đã “vượt khung thời đại”, đứng ngoài trật tự chung của xã hội Bởi vậy, họcảm thấy cô đơn, thu mình vào thế giới nội tâm cá nhân Con người nhập thếnhư Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về ở ẩn Người có chí phò vua giúp nước nhưNguyễn Du phải than thầm:
“Bất tri tam bác dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Trang 16Đến đầu thế kỉ XX, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân làm nên một cuộccách mạng lớn trong văn học Việt Nam Xung quanh cái tôi cá nhân, văn họckhám phá thêm nhiều giá trị mới Chủ đề con người cô đơn vốn manh nha từvăn học trung đại đến giai đoạn này trở thành mối quan tâm lớn hơn, ám ảnhhơn Điều này tạo tiền đề để văn học 1930 – 1945 có cuộc bứt phá ngoạnmục, đặc biệt là phong trào thơ Mới Thơ Mới đã đem đến quan niệm nhânsinh, quan niệm nghệ thuật mới mẻ Thơ Mới đã tạo nên tiếng nói giải phóngcái tôi cá nhân trong sự bất hòa với thực tại Chính sự bất hòa này, tạo nên sự
cô đơn cho con người
Xuân Diệu là thi sĩ tài hoa có lòng yêu sống, ham sống nồng nàn nhưngrồi ông cũng nhận ra sự hữu hạn, ngắn ngủi của cuộc đời:
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua
Xuân con non, nghĩa là xuân sẽ già”
Nếu như nỗi buồn của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử là nỗi buồn thời gianthì đến Huy Cận ta bắt gặp một nỗi buồn không gian Chính không gian bao
la, rợn ngợp của trời đất đất : “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” (Tràng
giang), đã làm nên nỗi buồn thiên cổ : “Một chiếc linh hồn nhỏ / Mang mang thiên cổ sầu” (Ê chề) Nỗi buồn chất chứa dai dẳng trong hồn thơ Huy Cận trở
Trang 17thành nỗi cô đơn trong chính cõi lòng thi nhân : “Củi một cành khô lạc mấy
dòng” (Tràng giang)
Có thể khẳng định, Xuân Diệu đến Hàn Mặc Tử tới Huy Cận đều mangtrong mình nỗi cô đơn Nỗi cô đơn của họ bắt nguồn từ việc họ đem cái tôiđối diện với vũ trụ, rồi nhận ra sự nhỏ nhoi, phù du của kiếp người Càng cốgắng vượt thoát, quẫy đạp ra khỏi nỗi cô đơn thì họ lại càng nhận ra cái mênhmông, vô hạn của thế giới, càng đào sâu hơn nữa vào cái tôi cá nhân bản thểthì lại càng cô đơn
Đến giai đoạn 1945 – 1975, hình ảnh con người cô đơn hầu như vắngbóng Sự nghiệp giải phóng dân tộc đòi hỏi văn học mang ý thức cộng đồng,khẳng định con người của đoàn thể, tập thể trong cuộc đấu tranh giành độclập tự do Thái độ khắt khe của dư luận với những tác phẩm có âm hưởng
buồn như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Vòng trắng của Phạm Tiến Duật
giải thích vì sao chủ đề cô đơn không có chỗ dựa trên diễn đàn văn học
Sau năm 1975 đất nước hòa bình và đi vào quỹ đạo đổi mới, ý thức cánhân xuất hiện trở lại Văn học được giải phóng khỏi chức năng tuyên truyền
cổ vũ để mở rộng khám phá cuộc sống và con người Những biến động lớnlao của cuộc sống, những bất an trước thời điểm nhiều xáo trộn, rạn vỡ là cơ
sở cho sự quan tâm đến trạng thái cô đơn và hình tượng con người cô đơn.Trạng thái cô đơn thấm đượm trong những dòng thơ mang cảm hứng thế sự
và đời tư, phảng phất trong những bài thơ triết lí về bản thể con người Trongvăn xuôi, các nhà văn đi sâu vào hiện thực xã hội về đề tài hôn nhân, gia đình,
đô thị Khi hiện thực được phơi mở ở nhiều khóc khuất hình ảnh con người côđơn xuất hiện Nguyễn Khải với nhiều nhân vật “lạc thời” Chu Lai, Bảo Ninhkhắc họa những nhân vật bị chấn thương tinh thần bởi chiến tranh, đánh mấtmối liên hệ với hiện tại Tạ Duy Anh có những trang viết ám ảnh về hànhtrình cô độc của những cá thể con người trong cuộc xô dạt dữ dằn của thời
cuộc Ông tướng một thời oanh liệt trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy
Thiệp dù có một quá khứ xuất sắc nhưng khi về với thời buổi hiện tại thì vẫn
cô đơn Trong Thời xa vắng của Lê Lựu cô đơn luôn thường trực ở mỗi
nhân\vật Giang Minh Sài, Châu, Tuyết Đó là nỗi cô đơn khi họ không cònchung mục đích, lí tưởng, và nó không còn phù hợp với xã hội đương thời Vì
Trang 18vậy họ trở nên lạc lõng, cô đơn Đặc biệt là trong tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn và Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng gợi ra hình ảnh con
người cô đơn khi cố níu kéo, gìn giữ những giá trị truyền thống, khi không thểbắt nhịp được với cuộc sống đời thường, hay con người cô đơn khi xây dựngcuộc sống mới, cô đơn trong cuộc sống, môi trường mới
Tóm lại, có thể khẳng định : từ xưa đến nay con người cô đơn luônđồng hành với văn học Ở mỗi thời đại, các nhà văn, nhà thơ lại khám phá ranhững nỗi cô đơn khác nhau của con người, làm nên sự phong phú đa dạngcho văn học Nỗi cô đơn trở thành đối tượng khám phá của các nghệ sĩ ở mọithời đại
1.2 Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Một mình một
Sau khi đất nước thống nhất, cuối năm 1976, nhà văn chuyểncông tác về tại Hà Nội và giữ chức Tổng biên tập, Phó giám đốc Nhà xuất bảnLao động Từ tháng 3/1955, ông là Uỷ viên ban chấp hành, ủy viên Đảngđoàn Hội nhà văn Việt Nam khóa V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nướcngoài
Sinh ra ở thủ đô nhưng Ma Văn Kháng đã dám dấn thân khámphá vùng đất mới lạ, đầy khó khăn ở Tây Bắc Ở đây, nhà văn đã dành hếtthanh xuân, nhiệt huyết của mình để góp phần sức mình xây dựng, thay đổi
Trang 19mảnh đất còn khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu Tất cả những việc mà nhà văn đãlàm ở nơi đây, đã để lại trong ông bao kỉ niệm, những chiêm nghiệm về cuộcđời, về con người, đây là nguồn cảm hứng đề nhà văn viết nên nhiều tác phẩmhay và độc đáo.
Năm 1976 khi chuyển về Hà Nội công tác, sống giữa đô thị hiện đại với sựthay đổi chóng mặt của xã hội mới với muôn vàn những bộn bề bon chen vàphức tạp đã tạo nên cảm hứng sáng tác cho nhà văn Ông đã quan sát cuộcsống sâu sắc, tỉ mỉ, toàn diện, và thành công với nhiều tác phẩm giàu giá trị,
giàu tính nhân văn Nhà văn từng chia sẻ:“Mỗi tác phẩm tôi viết ra đều ứng
với một phần cuộc đời tôi” Cả cuộc đời của Ma Văn Kháng cống hiến, làm
việc hết mình, vừa hoàn thành tốt sự nghiệp chung của đất nước vừa chắt lọcnhững mẩu nhỏ của cuộc đời mình để tạo nên những tác phẩm văn học đặcsắc, thỏa mãn niềm say mê và dành trọn cho những trang văn của mình
1.2.1.2 Sự nghiệp văn học
Ma Văn Kháng là nhà văn có bút lực dồi dào Ông sáng tác rấtnhiều tiểu thuyết và truyện ngắn Các tác phẩm của Ma Văn Kháng tập trungvào hai đề tài chính, đó là cuộc sống của nhân dân miền núi cao Tây Bắc vàđời sống của nhân dân thành thị trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ sau năm1975
Các tác phẩm chính của ông bao gồm:
Côi cút giữa cảnh đời (1989)
Đám cưới không có giấy giá thú (1989)
Trang 20Chó bi, đời lưu lạc (1992)
Trái chín mùa thu (1988)
Heo may gió lộng (1992)
Trăng soi sân nhỏ (1994)
Ngoại thành (1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng (1996)
Vòng quay cổ điển (1997)
* Hồi kí
Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng thương nhớ (2009)
Đặc biệt, nhà văn được trao nhiều giải thưởng danh giá như: Giảithưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1986); Giải thưởng của Hội đồng Vănxuôi Hội Nhà văn Việt Nam (1995); Giải thưởng Văn học ASEAN (1995);Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (năm 2001); Giải thưởng HồChí Minh về Văn học nghệ thuật (2012)
Có thể thấy Ma Văn Kháng chính là một cây đại thụ của làng vănhọc Việt Nam Ông đã cống hiến cho nền văn học nước nhà một khối lượngtác phẩm lớn và giàu giá trị, góp phần làm nền văn học phong phú hơn đadạng hơn cả về nội dung và nghệ thuật
1.2.2 Giới thiệu về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và Một mình
một ngựa
Ma Văn Kháng là một nhà văn tâm huyết, ông giành cả cuộc đờicho nghiệp văn chương Cuộc đời sáng tác của ông chia làm hai giai đoạn Ởgiai đoạn đầu tiên, ông sáng tác những truyện ngắn và tiểu thuyết về đề tàimiền núi
Trang 21Ở giai đoạn sau, Ma Văn Kháng chuyển hướng sang đề tài thành
thị với những tiểu thuyết tiêu biểu như Mùa lá rụng trong vườn và Một mình
một ngựa
Mùa lá rụng trong vườn ra đời gây chấn động dư luận và nó
được coi là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời làm văn của tác giả.Tiểuthuyết hoàn thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vào năm
1985 Cho đến giờ, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua nhưng Mùa lá rụng trong
vườn vẫn là cuốn tiểu thuyết “gối đầu giường”, vẫn còn nguyên giá trị, gợi
nhiều suy nghĩ với độc giả
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, xoay quanh câu chyện về
gia đình ông Bằng – một gia đình trí thức cũ ở thủ đô lúc bấy giờ Ông Bằng
là một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu Ông có năm người con trai, con cảcủa ông là anh Tường tham gia chiến tranh và hi sinh ngoài mặt trận, chị Hoài
là con dâu, mặc dù đã tái giá nhưng luôn quan tâm, chia sẻ và có trách nhiệmvới gia đình chồng cũ Đông là con trai thứ hai, một trung tá đã xuất ngũ, cóthái độ sống đơn giản, thờ ơ đến mức vô tâm, đối lập hẳn với Lý (vợ Đông),một người phụ nữ nhanh nhẹn, tháo vát, thực dụng có phần chua ngoa, ghêgớm Người con thứ ba của ông là Luận, một nhà báo với nhiều suy tư triết lí,
vợ anh là Phượng một người sống hết sức tình cảm, chân thành Thứ tư là Cừ,người con khiến ông Bằng phải đau đầu nhất Trong mắt người cha, Cừ làmột đứa con hư hỏng, bỏ gia đình, bỏ vợ con trốn sang nước ngoài Người
em út là Cần đang du học ở Liên Xô và sắp về nước Cứ tưởng rằng, một giađình mẫu mực có nề nếp gia phong sẽ được ổn định, nhưng cuối cùng nếpsống ấy lại bị phá hoại bởi sự biến động của nền kinh tế thị trường Chỉ saumột năm, có biết bao nhiêu chuyện xảy ra trong gia đình ông Bằng Biết tin
Cừ phản bội Tổ quốc, trốn ra nước ngoài, ông Bằng suy sụp rồi qua đời, Lýmải chạy theo ham muốn, dục vọng cá nhân mà trượt dài trên con đường sangã Gia đình
“mẫu mực” ấy đã đổ vỡ rồi rơi vào bi kịch
Năm 2009 tiểu thuyết Một mình một ngựa ra đời Đây là cuốn
tiểu thuyết thứ mười ba của Ma Văn Kháng, được coi là tác phẩm nhà văntâm đắc, dụng công viết vì nó là một phần của cuộc đời ông Trong đó nhà
văn từng tâm sự: “Một mình một ngựa là đoạn đời mà bây giờ tôi mới viết nó
Trang 22ra để mọi người có thể hình dung đầy đủ về bản thân tôi” Cuốn tiểu thuyết là
câu chuyện kể về quãng đời mà ông ở Lào Cai làm thầy giáo rồi làm thư kícho bí thư tỉnh ủy Trường Minh
Một mình một ngựa là câu chuyện trong những năm chiến tranh
chống Mỹ - câu chuyện của hai thế hệ: Bí thư Quyết Định và nhân vật Toàn –một giáo viên dạy văn bị luân chuyển công tác sang làm thư kí cho Bí thưTỉnh ủy Trong cuốn tiểu thuyết, nổi bật hình tượng Bí thư Định sớm giác ngộcách mạng, “một mình một ngựa” lao vào sào huyệt của thổ ty chúa đất đểthuyết phục họ theo cách mạng Ông có một năng lực chính trị vững vàngnhưng cũng là một con người có nội tâm phức tạp Ông có những điểm đáng
tự hào nhưng cũng có những hạn chế và mang trong mình nỗi cô đơn Cònnhân vật Toàn vì quá yêu nghề giáo và bị ràng buộc bởi những kỉ niệm đẹpvới nghề nên anh cảm thấy cô đơn khi không thể hòa nhập được với môi
trường mới, cuộc sống mới Chính vì thế, khi đọc Một mình một ngựa độc giả
sẽ thấy hiện lên hình ảnh nhân vật vừa kiêu hùng lại vừa cô liêu
Mùa lá rụng trong vườn và Một mình một ngựa đều là những
tiểu thuyết đặc sắc của Ma Văn Kháng Cả hai tiểu thuyết đều thành công vàtạo nên dấu ấn trong lòng độc giả bởi sự chân thực, sâu lắng và giàu ý nghĩanhân sinh
Trang 23CHƯƠNG 2 NỘI DUNG BIỂU HIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU
THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN VÀ MỘT MÌNH MỘT NGỰA
Sau năm 1975, đất nước thống nhất bước vào thời kì khôi phục và pháttriển Nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với chủ trương mở cửa hội cùngthếgiới Điều này kéo theo sự thay đổi về mặt xã hội, văn hóa Lúc này đời sốngvăn hóa – tư tưởng diễn biến khá phức tạp, con người phải thật nhanh nhạy đểthích ứng với sự thay đổi đó Con người phải đối mặt với những biến cố, thửthách Để rồi không ít người rơi vào tình trạng mâu thuẫn, trở thành kẻ lạcthời, bảo thủ, không chịu tiếp thu những giá trị mới phù hợp Tất cả điều đókhiến cho con người của thời đại mới mang trong mình nỗi cô đơn Ma VănKháng bắt kịp với những bề bộn ngổn ngang của thời đại mới Tiểu thuyếtcủa ông đi sâu phản ánh hiện thực đời sống mà nổi bật là nỗi cô đơn của conngười Nhà văn đã có những phát hiện tinh tế để làm nổi bật lên nỗi cô đơncủa con người trong chính gia đình mình, cô đơn ngay trong cộng đồng mìnhđang sống
2.1 Con người cô đơn trước thời cuộc
2.1.1 Con người cô đơn khi xây dựng cuộc sống mới
Ngay nhan đề tiểu thuyết Một mình một ngựa đã thể hiện nỗi cô đơn,
nổi bật là hình tượng nhân vật Bí thư tỉnh ủy Định Ông xuất thân dân tộcTày, tên thật là Nông Đình Khoan Bí thư Định là người có bản lĩnh chính trịvững vàng, một mình một ngựa vào tận hang ổ của thổ ty, chúa đất để vậnđộng họ đi theo Cách mạng Từ một người thanh niên cộng sản, giờ đây ông
đã trở thành một Bí thư tỉnh ủy, dồn hết tâm huyết và sức lực để cải thiện đờisống cho bà con nông dân vùng núi này Cứ tưởng rằng ông cùng với banthường vụ tỉnh ủy sẽ đoàn kết, hợp sức hợp lòng xây dựng cuộc sống tốt đẹpcho mọi người nhưng ông Bí thư Tỉnh ủy lại rơi vào cảnh cô đơn, lẻ loi giữa
tập thể cán bộ mỗi người một kiểu: “Cỗ xe này do năm con ngựa kéo Năm
con ngựa này, may là có con ngựa đầu đàn tên là Quyết Định còn khả dĩ… Còn thì hỏng cả! Ngựa Gia thì nóng nảy, bộp chộp Ngựa Văn Hiến thì láu
Trang 24cá, tinh ma, hăng xằng vô lối Ngựa Ké Lanh thì già nua, lẩn thẩn Ngựa Đình thì lờ ngờ, ngô ngọng, ngay môn tập đọc còn chưa sạch nước cản Văn bản phòng dưới người ta viết sẵn là: Mùa đông năm nay rét kéo dài, mạ chết Nhiều người hoang mang, bỏ đi buôn… Thế mà bố đọc thành: Mùa đông năm nay rét kéo dài mà chết nhiều người… thì mọi người cười không đứt ruột chết
là may đấy! Với bầy ngựa này thì có ngày chúng… đưa tất cả chúng ta xuống
hố đấy!” [78,6] Ai nấy đều có kế hoạch riêng của mình: ông Văn Hiến thì
chăm chăm với việc xới đất ở vùng Na Ảng để gieo lúa mì Ông Ké Lanh chỉgiỏi với việc bắt và nuôi ong Ông Đồng mải mê với việc bắt cóc nấu cháo ăn
đêm Còn những người trợ lý thì mỗi người một tính nết: “Ông Duyễn vốn
hương sư thì vui vẻ cẩn thận Ông Bình thì hiền lành dễ dãi Ông Căn đúng là phong thái ông thợ cạo, thung dung, đĩnh đạc, tỉ mẩn, thóc mách Sắc sảo, nói năng vừa thâm nho vừa ngang tang bạo miệng thì phải là ông Đồng” [80,6].
Việc xây dựng cuộc sống mới phải có sự hợp sức, đoàn kết của cá một tập thểnhưng mỗi người đều bảo vệ ý kiến riêng của mình, họ không nhiệt huyết,sống thờ ơ, vô trách nhiệm với công việc chung Một Bí thư Tỉnh ủy bận rộnvới trăm công nghìn việc, vậy mà mọi thứ dồn hết lên vai ông Ông tự mìnhđến các bản xa xôi của người Hà Nhì, người Mông, động viên khích lệ, mangtới cho đồng bào một cuộc sống ổn định và ấm no Bí thư Định đến với đồngbào dân tộc không chỉ là một người đứng đầu tổ chức chính trị mà kiêm thêm
nhiều vai trò là “nhà kinh tế học”, “nhà nông học, lâm học”, lúc nào cũng nhăm nhăm “kiếm tìm phát hiện ra nguồn lực còn ẩn náu trong thiên nhiên” Ông quan niệm “giải phóng cho con người khỏi áp bức bóc lột là cả một sự
nghiệp vĩ đại Nhưng giải phóng cho con người thoát khỏi tối tăm, nghèo đói lạc hậu có phải là một công cuộc kém lớn lao Vấn đề bây giờ là cho người ta thấy cái khát và chỉ cho con người ta đến cái giếng? Và như vậy là sẽ phải xóa bỏ hoàn toàn các hình ảnh thảm thương, cái bòng ma đói khổ Sùng A Mang để nó thôi không còn hiện hình và khảm khắc vào tâm não của mọi người như ở Hội nghị Mường Thông Sẽ không còn thấy thảm cảnh vợ chồng con cái ông bà lôi thôi bồng bế nhau đi trong cuộc thiên di vô định” [139,6].
Ông luôn trăn trở, suy nghĩ làm sao để bà con miền núi bớt khổ, làm sao để
họ có cuộc sống ổn định, tập trung làm ăn mà không cần phải di cư nữa Ôngtriển khai những kế hoạch cho nhân dân trong bản trồng những loại cây phù
Trang 25hợp với đất đai để có năng suất cao, trồng đậu tương thay cho cây thuốcphiện Cuối cùng, mong ước, khát vọng của ông cũng thành sự thực Ôngsung sướng đến nghẹt thở, bởi đó là sự thay đổi cho toàn bộ vùng rẻo cao
hoang hóa này: “ông Quyết Định không thể kìm được mình nữa…Bật cửa xe
ông nhẩy ngay xuống và xăm xăm bước vào một mảnh ruộng đậu tương rùm ròa rậm rạp ngay bên dệ đường Ràn rạt ràn rạt, đậu tương lúc lỉu từng chum quả chĩu nặng quệt liên tiếp vào hai ống quần ông Tốt quá! Đậu tương năm nay sai quả quá! A lúi! Đầy no! Tốt quá! Thắng lợi rồi!” [86,6] Để có được
thành công ấy, bí thư Định phải lao tâm khổ tứ, trực tiếp chỉ huy bao nhiêunăm bằng mồ hôi, công sức và nước mắt
Thật tiếc và đáng buồn, khi trên hành trình xây dựng cuộc sống mớinày, ông là người cô đơn Thậm chí trong hội nghị tổng kết mười năm nôngnghiệp ở một tỉnh miền núi phía Bắc với hơn trăm đại biểu tại Mường Thông,ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo trực tiếp gồm năm người, nhưng đến lúc quan
trọng nhất thì không còn một ai Mỗi người viện một lí do vắng mặt: “Ông
Gia đã nhảy lên chiếc môtô Jawa, nói là phải về gấp tỉnh để làm việc với Thiếu tướng Tư lệnh Quân khu II Sáng hôm sau nữa thì ông Nông Văn Đình,
ủy viên thường vụ mới được bầu làm chủ tịch tỉnh, lấy cớ chuẩn bị đi họp hội nghị về công tác tổ chức ở Trung ương, cũng rút nốt Còn lại trên đoàn chủ tịch là ông Ké Lanh và ông Quyết Định Thì ông Ké Lanh chốc chốc lại bỏ chỗ, lần xuống hội trường đi tìm ống điếu thuốc lào, kề cà chuyện vãn với mấy ông già người Tày, sau khi mất hút hàng giờ, trở lại ghế ngồi trên đoàn chủ tịch thì ngơ ngơ ngác ngác chõ xuống hỏi thư kí đoàn: “Đến đâu rồi, các cậu!” … Cho đến cuối ngày thứ ba, buổi cuối cùng của hội nghị, khi ông Ké Lanh vin lí do phải đi dự cuộc họp của ngành văn hóa được tổ chức ở gần đó, vắng mặt nốt ở đoàn chủ tịch thì Toàn có cảm giác ông Quyết Định đã ở vào thế một mình một cõi ở nơi đầu sóng ngọn gió” [44,6] Chỉ còn lại một mình
ông Quyết Định đứng lên bảo vệ chân lí của đường lối, nguyên tắc của tổchức và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống quần chúng Một quá khứ kiêuhùng, khi “một mình một ngựa” ông đi vào hang ổ của bọn thổ ty, chúa đấtkhông run sợ, thì tại hội nghị này, một mình ông cô độc, lẻ loi đứng lên bảo
vệ chân lí: “Không nao núng, dao động Bí thư tỉnh ủy lúc này tưởng như một
Trang 26cá thể cô độc, nhưng ngoài mềm trong cứng, thật sự là một linh hồn thép, một lập trường kiên định, trước sau như một” [48,6].
Có thể thấy, xuyên suốt tác phẩm là hình tượng con người “hàm chứa
cái mặc cảm cô đơn của mỗi đời người” mà ông bí thư tỉnh ủy Quyết Định là
đại diện tiêu biểu Mặc dù cô đơn nhưng ông vẫn thực hiện đúng vai trò củamình, quan tâm tới cuộc sống của đồng bào miền núi với quan niệm muốnxây dựng cuộc sống mới thì trước hết dân phải ổn định và no đủ Dù có khókhăn, một mình ông vẫn không nản chí, lùi bước, vẫn mang trong mình nhiệthuyết vượt qua mọi gian khổ để mang lại cho nhân dân, đồng bào cuộc sốngtốt đẹp hơn
2.1.2 Con người cô đơn trong môi trường mới, cuộc sống mới
Khảo sát tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975, chúng tôi thấy hìnhảnh con người mang trong mình nỗi cô đơn trong môi trường mới, cuộc sốngmới Họ là những nhân vật tự ý thức sâu sắc về bản thân, về công việc của
mình Điển hình là nhân vật Toàn (Một mình một ngựa) được nhà văn khắc
họa rõ nét
Trong tiểu thuyết Một mình một ngựa, Ma Văn Kháng đã kể về thời kì
đã qua, về những kí ức được tái hiện bằng chính trải nghiệm của nhà văn.Xuyên xuốt tác phẩm là hình ảnh ông Bí thư tỉnh ủy Quyết Định vừa hiênngang vừa oai hùng nhưng cũng mang trong mình đầy “mặc cảm cô đơn củamột đời người” Giống với ông Định, nhân vật Toàn cũng mang trong mìnhnỗi cô đơn, lạc lõng giữa cộng đồng, giữa xã hội mình đang sống bởi môitrường sống đó không phù hợp với tính cách của anh
Toàn vốn là một thầy giáo dạy văn ở trường cấp ba thị xã Bước ngoặtlớn trong cuộc đời của Toàn khi anh nhận được lệnh của cấp trên, phải bỏnghề dạy học chuyển sang làm thư kí cho Bí thư tỉnh ủy Hoàng Liên Nghề
giáo vốn là niềm đam mê của Toàn “Cái công việc dạy dỗ đào tạo con người”
đã gắn bó vào máu thịt vào anh Toàn không muốn “chia tay với mái trường,
với phấn trắng bảng đen, với tiếng trống trường rung vang một nhịp điệu cổ điển quen thân Chia tay với các bài giảng Các buổi lên lớp vừa trang trọng như đứng giữa thánh đường, vừa sôi nổi thân mật trong cảm giác hài hòa,
Trang 27hóa thân Chia tay với các bạn bè đồng nghiệp Với các gương mặt học trò tin yêu và nghịch ngợm Chia tay với cuộc sống của một ông giáo” [11,6] Thế
nên Toàn cứ nấn ná, không muốn dời bỏ nghề dạy văn của mình Anh chầnchừ suốt ba tháng hè và nhiều ngày sau đó Nhưng rồi, anh vẫn phải nhận
lệnh cấp trên với “nỗi hẫng hụt và nao dậy trong lòng anh một niềm nhớ tiếc
thăm thẳm cùng một nỗi buồn man mác, một nỗi buồn thoáng chút ủy mị, nhưng vô cùng sâu xa Một nỗi buồn ứa lệ Nỗi buồn thân phận Nỗi buồn của một cuộc chia tay… Anh phải chia tay với những gì đã gắn bó máu thịt…” [11,6] Chính vì vậy, mà khi sang làm thư kí cho Bí thư Tỉnh ủy, Toàn
luôn cảm thấy cô đơn, không thể thích nghi với môi trường sống, công việckhông phù hợp với mình
Sống giữa cộng đồng, xã hội luôn cảm thấy lạc lõng nhưng Toàn vẫn
cố gắng hết sức giúp đỡ ông Định, người mà anh luôn yêu mến, tôn trọng.Anh cùng với ông Bí thư đi khắp nơi trên vùng núi hoang hiểm trở, khám phá
ra nhiều điều thú vị về vùng núi Hoàng Liên và con người nơi đây Sốngtrong môi trường làm việc mới, anh vẫn luôn nhớ nhung, khao khát hơi ấmgia đình, đau đáu trở về với đam mê dạy học, viết văn Toàn không thể hòamình vào với con người, cuộc sống, công việc ở đây Anh khao khát đượccống hiến, được lao động, được sống một cuộc đời ý nghĩa của chính mìnhchứ không phải là cuộc sống của một nhân viên trong văn phòng Tỉnh ủy O
Tròn Anh cô độc trong tập thể mình đang sống: “Lát sau, đám tổ tôm vào
cuộc mải mê Thấy chả còn ai để ý đến mình, Toàn lặng lẽ đứng dậy trở về buồng […] Những người đang chơi tổ tôm đang tiêu pha thời gian vào việc
vô bổ, hay đó là một phương thức tồn tại của họ? Và như vậy thì giữa Toàn
và họ, tầng lớp cán bộ chuyên nghiệp này, những kẻ giúp việc cho bộ máy chính trị cấp tỉnh, giữa tuyệt đại đa số những người sống vô tư, ít bận tâm lo nghĩ và Toàn, kẻ cứ luôn trăn trở, dằn vặt, chọn lựa, tự vấn mình, ai là người sống cho đúng nghĩa là sống và sung sướng hơn” [241,6] Quan điểm sống
của Toàn và mọi người nơi đây khác biệt quá Một người thầy đam mê, luôntrăn trở với nghề thì làm sao có thể phù hợp với cuộc sống của lớp ngườichính trị mà đại đa số là vô tư, là dành thời gian cho những việc vô bổ Chính
vì vậy mỗi khi cô đơn, lạc lõng anh lại hồi tưởng về những kí ức làm thầy