1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chữ nôm sáng tạo trong chinh phụ ngâm khúc của đoàn thị điểm

64 257 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SỰ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== NGUYỄN THỊ HÀ CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG CHINH PHỤ NGÂM KHÚC CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Văn học Việt N

Trang 1

CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG

CHINH PHỤ NGÂM KHÚC CỦA

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SỰ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ HÀ

CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG

CHINH PHỤ NGÂM KHÚC CỦA

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ THANH VÂN

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi đã hoàn thành khóa luận với đề tài “Chữ Nôm sáng tạo trong

Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm” dưới sự giúp đỡ tận tình của

các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cácthầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu đáocủa cô hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thanh Vân

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tôi đã nhận được sự động viên,quan tâm của gia đình, bạn bè, giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy cô, gia đình, bạn bè đã giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận, đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâusắc nhất đến cô giáo hướng dẫn của mình TS Nguyễn Thị Thanh Vân đã giúptôi hoàn thành khóa luận này

Do thời gian làm khóa luận có hạn nên đề tài còn nhiều hạn chế, rấtmong được sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô, bạn bè để bài luận hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Trong suốt quá trình làm đề tài “Chữ Nôm sáng tạo trong Chinh phụ

ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm” tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy

cô giáo tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm HàNội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo TS Nguyễn Thị ThanhVân Tôi đã tham khảo, trích dẫn từ các tài liệu có liên quan đến những vấn đềtrong bài luận Nhưng tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứucủa riêng cá nhân tôi, nó không trùng với bất kì nghiên cứu nào trước đó Nếusai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2

3 Mục đích nghiên cứu: 5

4 Đối tượng nghiên cứu: 5

5 Phạm vi nghiên cứu: 6

6 Phương pháp nghiên cứu: 6

7 Đóng góp của khóa luận 7

8 Bố cục khóa luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 TÁC GIẢ ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM KHÚC 8

1.1 Tác giả Đoàn Thị Điểm 8

1.1.1 Cuộc đời Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) 8

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 12

1.2 Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc 18

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời 18

1.2.2 Nội dung bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm 20

1.2.3 Giá trị nghệ thuật 23

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG CHINH PHỤ NGÂM KHÚC 25

2.1 Chữ Nôm 25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm 25

Trang 6

2.1.2 Sự khác biệt chữ Hán và chữ Nôm 27

2.1.3 Sự phân loại của chữ Nôm 28

2.1.4 Vai trò của chữ Nôm đối với nền văn học, văn hóa của Việt Nam 30

2.1.5 Chữ Nôm trong xã hội ngày nay 31

2.2 Khảo sát hệ thống chữ Nôm sáng tạo trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc 32

2.2.1 Loại định hướng bằng báo hiệu 32

2.2.2 Loại định hướng bằng chính âm đầu 33

2.2.3 Loại định hướng theo phạm trù liên tưởng 35

2.2.4 Loại định hướng bằng nghĩa chữ Hán cụ thể 43

2.2.5 Loại định hướng bằng chữ Nôm lược nét, chữ Nôm viết tắt 45

Tiểu kết chương 2 47

Chương 3 DẠY HỌC TRÍCH ĐOẠN TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 48

3.1 Sơ lược về trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” 49

3.1.1 Vị trí trích đoạn 49

3.1.2 Nội dung cơ bản 49

3.2 Thực trạng dạy học tác phẩm ở trường THPT 50

3.3 Tiếp cận trích đoạn từ các dị bản Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm 51

Tiểu kết chương 3 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 7

“Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn gây ra một tiếng vang lớn trên

văn đàn, đã được Đoàn Thị Điểm diễn tả lại bằng chữ Quốc ngữ (Chữ Nôm),tác phẩm cũng chính là tiếng lòng của người nữ sĩ tài hoa

Cuốn “Chinh phụ ngâm khúc” do Đặng Trần Côn là người đã sáng tác

phỏng dịch: trong đó 3 bản bằng thể thơ lục bát hoặc 4 bản bằng thể thơ songthất lục bát của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản,Bạch Liên Am Nguyễn và hai dịch giả khuyết danh Trong đó bản dịch phổ

biến nhất được gọi là “bản hiện hành” (hay bản A) tuy nhiên đã nảy sinh ra

vấn đề: ai là dịch giả của bản dịch này? Có ý kiến cho rằng bản dịch là củaPhan Huy Ích, tuy nhiên hiện nay người biên soạn sách giáo khoa Ngữ Văn ởbậc Trung học phổ thông và Trung học cơ sở và các nhà nghiên cứu cho rằng

đó là bản dịch của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

“Chinh phụ ngâm khúc” ra đời đã khẳng định được sức sống và sự

trường tồn mạnh mẽ của ngôn ngữ văn hóa Việt Đây cũng là một tác phẩm

Trang 8

có vai trò quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam nói chung và vănhọc Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX nói riêng.

Đối với tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm đã có rất

nhiều các công trình nghiên cứu tác phẩm này ở những khía cạnh và mức độkhác nhau, nhưng đa số là tìm hiểu về mặt nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

mà chưa có công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh và hệ thống nghiên cứu cácchữ Nôm sáng tạo trong tác phẩm Vì vậy chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu

hệ thống các chữ Nôm sáng tạo trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của

Đoàn Thị Điểm để mở rộng tầm hiểu biết về bản diễn Nôm của tác giả

Mặt khác, “Chinh phụ ngâm khúc” còn các trích đoạn tiêu biểu được

giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn 10 với trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của

người chinh phụ” và chương trình Ngữ Văn lớp 7 Việc đưa tác phẩm vào

giảng dạy phần nào cho thấy tầm quan trọng của tác phẩm trong văn học ViệtNam Tác phẩm chính là nguồn tri thức vô tận để các nhà nghiên cứu văn họcđánh giá Nhận thức tầm quan trọng của tác phẩm, chúng tôi đã chọn đề tài

khóa luận “Chữ Nôm sáng tạo trong Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị

Điểm” Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn phần nào mang tới chobạn đọc những tri thức về tác giả, tác phẩm, cũng như thấy được tài năng củaĐoàn Thị Điểm trong việc sử dụng linh hoạt các chữ Nôm sáng tạo Đồngthời, với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, đưa ranhững nhận định, đánh giá có sức thuyết phục, tìm hiểu, trang bị nguồn kiếnthức sâu sắc, đầy đủ hơn về tác phẩm, phục vụ cho công việc giảng dạy saunày và giải quyết những vấn đề có liên quan đến chữ Nôm và việc nghiên cứuchữ Nôm hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến việc nghiên cứu đề tài “Chữ Nôm sáng tạo trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm mà chúng tôi đã lựa chọn,

đã có các bài viết và các công trình nghiên cứu sau đây:

Trong tập “Giảng văn Chinh phụ ngâm khúc” xuất bản ở Thanh Hóanăm 1950, Giáo sư Đặng Thai Mai có viết: “…Sự thực thì hai trăm năm saukhi tập Chinh phụ ngâm đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong

Trang 9

hình thức Việt văn của nó, người ta chỉ biết có một bài Chinh phụ, người ta

chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh phụ ấy là Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn

Thị Điểm”

Năm 1968, Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu”

cũng đã viết: “Bao nhiêu tâm sự của một người phụ nữ vắng chồng mà biếtthủ tiết được tả rõ cả ra”

Năm 1975, Đào Duy Anh trong cuốn “Chữ Nôm nguồn gốc cấu tạo

-diễn biến” đã viết về một số cách đọc chữ Nôm và nêu rất nhiều ví dụ tương

đối khó Bên cạnh đó, tác giả còn có thêm một chương nghiên cứu chữ NômTây để đối chiếu với cả chữ Nôm ta

Năm 2013, Nguyễn Ngọc San trong cuốn “Lý thuyết chữ Nôm văn

Nôm” đã viết về cấu tạo các kiểu loại chữ Nôm, còn đưa ra cách đọc các chữ

Nôm, trong đó phần phụ lúc còn đưa ra các hệ thống bộ thủ để xác định chữNôm

Trong “Tạp chí Hán Nôm”, số 3 năm 2011, với tiêu đề “Góp phần phân định chữ Nôm tự tạo và chữ Nôm mượn chữ Hán” đã đề cập tới cách phân

chia chữ Nôm làm hai loại lớn: chữ Nôm mượn chữ Hán và chữ Nôm tự tạo,được cố GS Nguyễn Tài Cẩn và N.V.Xtankevich nêu ra đầu tiên vào năm

1976 trong bài “Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm” Tuy quan

điểm bước đầu đã nói lên được cách cấu tạo chữ Nôm và đã được các nhànghiên cứu chữ Nôm lúc đó chấp nhận rộng dãi nhưng khi bắt tay vào phânchia thì đã gặp phải rất nhiều khó khăn nhất định

Đối với vấn đề giải thích từ, ngữ trong các bản dịch Nôm “Chinh phụ

ngâm khúc”, qua nghiên cứu khảo sát chúng tôi thấy rằng có nhiều tác phẩm

đã tiến hành chú giải, hiệu đính, khảo dị… đối với bản dịch hiện hành và các

bản chữ Nôm “Chinh phụ ngâm khúc” khác như “Chinh phụ ngâm Hán Nôm tuyển tập” của Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng, “Chinh phụ ngâm bị khảo” của

Hoàng Xuân Hãn, “Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải” có nguyên văn chữ nho,dịch âm, dịch nghĩa và chú thích rõ ràng của Đinh Xuân Hội; Biên soạn:

Nguyễn Đỗ Mục, “Chinh phụ ngâm khúc giảng luận” (Thuần Phong, NXB Á Châu- Sài Gòn, bản thứ tư), “Chinh phụ ngâm diễn ca”-Đoàn Thị Điểm

Trang 10

(Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, hiệu khảo, chú giải, NXB Văn học,1987)…Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc chú thích một vàicác từ cổ, các điển cố, điển tích… và thực hiện so sánh với các dị bản khác,chỉ ra những chữ dùng khác nhau giữa các dị bản, các cách viết khác nhau củacùng một từ ở cùng một vị trí trong các bản dịch Các nhà nghiên cứu chưathực sự tập trung chú giải chi tiết , đầy đủ và hệ thống các từ ngữ điển cố vănhọc trong bản dịch Nôm A - bản hiện hành để người đọc nói chung và họcsinh nói riêng có thể tiếp nhận văn bản toàn vẹn và sâu sắc hơn.

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề của tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc”

còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án tiến sĩ, khóaluận tốt nghiệp:

- “Khảo sát các bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc và hướng tiếp cận trong nhà trường phổ thông”, Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Hán

Nôm của Phạm Thị Hường, 2017 Tác giả đã khảo sát các bản dịch Nôm của

“Chinh phụ ngâm khúc” trong đó tập trung vào 3 bản chính: 1 - Cuốn “Chinh

phụ ngâm khúc”, Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, Tôn Thất Lương dẫn giải

và chú thích, NXB Tân Việt Sài Gòn, 1953; 2 - Bản “Chinh phụ ngâm bị lục”, NXB Liễu Văn đường tàng bản; 3 - Bản “Chinh phụ ngâm diễn âm từ khúc” chép tay in trong “Tổng tập Văn học Việt Nam”, tập 13B, NXB Khoa học xã

hội, Hà Nội, năm 1997

- “Tìm hiểu chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm Chinh phụ ngâm diễn Nôm”, Khóa luận tốt nghiệp của Đỗ Thị Yến, 2016 Tác giả đã nghiên

cứu và khảo sát hệ thống chữ Nôm mượn nguyên chữ Hán trong tác phẩm

“Chinh phụ ngâm khúc”.

- “Đặc điểm thi pháp Chinh phụ ngâm”, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn,

chuyên ngành Lý luận văn học của Nguyễn Trọng Hòa, 2008 Tác giả nghiên

cứu hệ thống những đặc điểm về thi pháp của “Chinh phụ ngâm khúc” trên

các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người; không gian và thời giannghệ thuật, các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật

Bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm là một tác

phẩm rất nổi tiếng Tác phẩm này được rất nhiều các nhà nghiên cứu và cáchọc giả quan tâm nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở các vấn đề liên quan đến

Trang 11

hình tượng người phụ nữ, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay việc so sánh giữa cáctác phẩm ngâm khúc, các tranh cãi về vấn đề ai là dịch giả của các văn bản Chứ cũng chưa thấy có một công trình nghiên cứu đi sâu về hệ thống chữNôm sáng tạo trong tác phẩm này.

Trên cơ sở những vấn đề có liên quan đến đề tài, để tìm hiểu sâu sắc

hơn về tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” chúng ta nên mở rộng tầm nghiên

cứu về bản dịch bằng chữ Nôm Bởi chữ Nôm là chữ tượng hình, trong bảnnguyên gốc của tác giả có nhiều chữ Nôm với những dụng ý khác nhau màtrong bản dịch bằng chữ quốc ngữ khó có thể lột tả hết Trước tình hình nhưthế, chúng tôi tiếp tục công việc của những người đi trước góp phần tìm hiểu

thêm về bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm và đặc

biệt là hệ thống chữ Nôm sáng tạo

3 Mục đích nghiên cứu

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu, khảo sát về các kiểu chữ Nôm sáng

tạo trong “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm tương đối ít và chưa

được nghiên cứu một cách tập trung Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướngđến những mục đích nghiên cứu sau:

- Thấy được vị trí, vai trò và ý nghĩa của tác phẩm trong hệ thống cáctác phẩm bằng chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam

- Tìm hiểu về cấu tạo của chữ Nôm nói chung và hệ thống chữ Nômsáng tạo nói riêng trong “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm

- Thấy được sự tài tình, sáng tạo, linh hoạt trong bút pháp của ĐoànThị Điểm Đồng thời, khẳng định tài năng bậc thầy của nữ sĩ trong việc diễnNôm tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn và giá trị to lớn

của bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm khúc”.

- Rút ra bài học kinh nghiệm cũng như việc phân tích các trích đoạnđược hướng dẫn giảng dạy dưới trường phổ thông, có cái nhìn khái quát vềmặt ngữ nghĩa trong bản dịch chữ quốc ngữ Mở ra các hướng tiếp cận tácphẩm một cách phong phú hơn trong nhà trường Phổ Thông

4 Đối tượng nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài “Chữ Nôm sáng tạo trong Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm”, đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là chủ yếu trên

Trang 12

bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” hiện hành của dịch giả Đoàn Thị Điểm do

các tác giả Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng biên soạn, Nguyễn Đình Thảng

hiệu đính chữ Nôm trong cuốn “Chinh phụ ngâm Hán Nôm tuyển tập”, Nhà

xuất bản Thuận Hóa - Huế, 2000

Chúng tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu, khảo sát về hệ thống chữ

Nôm sáng tạo trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm,

thực hiện phân loại các kiểu chữ Nôm

5 Phạm vi nghiên cứu:

Để hoàn thành đề tài một cách tốt nhất, việc nghiên cứu được tiến hành

khảo sát 408 câu thơ trong “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm (“Chinh phụ ngâm Hán Nôm tuyển tập”, biên soạn: Nguyễn Thế, Phan Anh

Dũng; Hiệu đính chữ Nôm: Nguyễn Đình Thảng) Trọng tâm của khóa luận

là đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các kiểu loại chữ Nôm sáng tạo trong tác

phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” Qua quá trình khảo sát, phân tích, thống kê từ

đó để thấy được sự phong phú và đa dạng của chữ Nôm

6 Phương pháp nghiên cứu:

Để phục vụ cho công việc nghiên cứu đề tài đồng thời để có nguồn tưliệu phong phú và đủ tin cậy, đáp ứng được mục đích đặt ra chúng tôi tiếnhành các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp văn bản học Hán Nôm

Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp xác định tìnhtrạng của văn bản, xác định bản in, giấy in, màu mực, kĩ thuật, bảo tàng, kíhiệu xác định tác giả và niên đại ra đời của tác phẩm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích tổng hợp là từ những ngữ liệu đã tập hợp, thống

kê được chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để làm sáng tỏvấn đề cần được nghiên cứu

- Phương pháp phân tích ngữ văn học

Phương pháp phân tích ngữ văn học là phương pháp xem xét hoản cảnh

ra đời của tác phẩm, những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật mà tác giả gửigắm

Trang 13

- Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp thống kê phân loại là phương pháp có thể tập hợp, thống

ke những nguồn tư liệu có liên quan đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu.Phương pháp này được sử dụng như một phương pháp chính trong quá trìnhnghiên cứu nội dung đề tài

7 Đóng góp của khóa luận

Với đề tài nghiên cứu “Chữ Nôm sáng tạo trong Chinh phụ ngâm khúccủa Đoàn Thị Điểm”, đây là bước khởi đầu nhằm mở ra những hướng khaithác, tiếp cận mới với tác phẩm văn học, đạt hiệu quả cao trong việc khám

phá giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của “Chinh phụ ngâm khúc”.

Đề tài cho chúng ta hiểu thêm những tri thức về tài năng của Đoàn ThịĐiểm trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc vào các tác phẩm văn chương

Đề tài đóng góp vai trò quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứugiảng dạy

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1 TÁC GIẢ ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ TÁC PHẨM

CHINH PHỤ NGÂM KHÚC

1.1 Tác giả Đoàn Thị Điểm

1.1.1 Cuộc đời Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748)

con gái Đoàn Doãn Nghi Quê quán ở làng Hiến Phạm, tên Nôm là làng Giữa(còn gọi là Giai Phạm) huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là tỉnh HưngYên Bà sinh năm 1705(năm Ất Dậu) dưới đời vua Lê Hy Tông

Theo giả phả của họ Đoàn, bà vốn gốc họ Lê, đến đời Đoàn Doãn Nghithì chuyển sang họ Đoàn, cha là Lê Doãn Nghi sau đó đã đổi thành ĐoànDoãn Nghi Đoàn Doãn Nghi, hiệu là Dương Kinh, có thể coi là người khaikhoa cho dòng họ Ông đỗ Hương Cống, hỏng mấy khoa thi Hội, ban đầuđược trao chức Điển bạ, nhưng sau chỉ dạy học và bốc thuốc Năm 20 tuổi,Đoàn Doãn Nghi ở tại quê nhà, ông đã lấy một người vợ họ Nguyễn, sinhđược hai người con, một con trai tên là Đoàn Doãn Sỹ và một con gái tên làĐoàn Thị Quỳnh, (Tuy nhiên các tài liệu về hi người con này khá ít chỉ biếtsau đó thì Đoàn Doãn Sỹ cũng thi đậu Hương Cống và làm Tri Huyện ở ChâuHoan (Nghệ An)) Trong thời gian dạy học ở kinh thành Thăng Long, ĐoànDoãn Nghi đã yêu và cưới con gái của một vị quan võ họ Vũ, tước Thái Lĩnh

Bá, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm Người vợ họ Vũ cũng sinhđược hai người con, con trai đầu lòng là Đoàn Doãn Luân và một người congái là Đoàn Thị Điểm Hai anh em, từ bé được nuôi dưỡng ở gia đình ông bàngoại ở làng Vũ Điện, huyện Nam Sang Cả hai anh em đều là bậc tài hoa nổidanh trong làng Nho, đều có tư chất thông minh vượt bậc, dáng người đẹp đẽ

và có tài văn chương đặc biệt

Đoàn Doãn Luân ngay từ tấm bé đã được thân phụ dạy cho học chữHán, 5 tuổi ông đã biết ráp chữ thành câu, đến năm 10 tuổi thì học thông Kinh

Trang 15

Sử, trưởng thành ông thi đậu Hương cống, nhưng ông không theo đuổi conđường chức tước mà chỉ ở nhà dạy học Đoàn Doãn Luân là một người giàutình cảm và thủy chung, khi còn ít tuổi được cha mẹ hỏi cưới con gái của tiến

sĩ Lê Hữu Hỷ (có bản chép là Lê Hữu Mưu) Người con gái ấy tên là Lê Thị

Vy, tuy nhiên sau lễ hỏi, chẳng may cô dâu bị bệnh đậu mùa, để lại di chứngtrên mặt bị rỗ hoa và chân tay trở nên lóng cóng Bên nhà gái thấy vậy, đãmấy lần xin được hủy hôn vì e rằng không thể đảm bảo hạnh phúc lứa đôi chođôi vợ chồng trẻ Nhưng Đoàn Doãn Luân không nghe, một mực quyết giữhạnh của người quân tử, một lòng thủy chung, không đổi thay vì sắc đẹp, điều

đó đã làm cho mọi người hết sức kính phục Lê Thị Vy được gả về nhà họĐoàn, gặp cảnh mẹ chồng hiền em dâu thảo, cũng đã dốc hết lòng giúp đỡmọi việc trong gia đình Năm 1726, vợ chồng Đoàn Doãn Luân sinh đượcngười con gái đầu lòng và 3 năm sau lại sinh một con trai

Đoàn Thị Điểm, tuy là con gái nhưng lại rất được gia đình quan tâm,

ngay từ thuở còn nhỏ, bà đã được học chữ nghĩa, học đủ “Ngũ Kinh” và “Tứ Thư” Đoàn Thị Điểm thường cùng anh trai rèn tập sách vở, thử tài đọ sức,

việc thử tài đọ sức làm cho tình anh em hòa thuận thân ái, tri âm tri kỷ Có lẽđây là những tháng năm đẹp đẽ nhất cuộc đời nữ sĩ Ngoài ra, bà còn được mẹdạy cho nghề nữ công đã làm những món đồ khéo léo để tham dự hội triểnlãm như: Những khúc mía được làm thành lầu cao gọi là Đài Chín Tầng,những vỏ trái bưởi được cắt xếp hình hoa quỳnh Năm 16 tuổi, Đoàn ThịĐiểm tiếng tăm của bà vang xa, nổi tiếng là một tài nữ trẻ tuổi Quan thượngthư Lê Anh Tuấn, vốn đã có quen biết với Đoàn Doãn Nghi, lại vô cùng quýmến tài văn chương và đức hạnh của Đoàn Thị Điểm nên đã nhận làm connuôi và đưa về phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long sống Trong thờigian sống ở nhà của dưỡng phụ Lê Anh Tuấn, Đoàn Thị Điểm đã đọc đượcnhiều các loại sách quý báu khác nhau trong kho sách của quan Thượng Thư,

vì vậy mà kiến thức của bà đã được mở mang rất nhiều Không chỉ vậy mànhà của thượng thư còn có rất nhiều các quan lại khắp nơi và văn nhân lui tới,

đó cũng là một trong những cơ hội để bà có dịp gặp gỡ giao lưu quen biết vớinhiều người có danh vọng, khoa bảng và cũng chính vì vậy mà tiếng tăm của

bà về tài ứng đối văn chương được đồn vang Dưỡng phụ của bà vì thấy bà

Trang 16

thông minh lỗi lạc, nên muốn dạy dỗ những điều cần thiết để đưa vào tiếncung, đối với đương thời thì đó là một vinh dự, nhưng bà lại không đồng ý vìkhông muốn gò bó cuộc sống trong cung Nữ sĩ đã xin dưỡng phụ cho phép

về quê, bà cùng anh trai đến nơi cha dạy học là Lạc Viên

Đoàn Doãn Nghi là người phóng khoáng, tuy không thành đạt trên conđường khoa danh, nhưng ông cũng chẳng bận tâm nhiều, ông chọn con đườngdạy học ở Lạc Viên, huyện An Dương (nay thuộc tỉnh Hải Phòng) Học tròcủa ông ở Lạc Viên đông, cũng có một số người đỗ đạt như Hương CốngThần Minh Giám và nhiều người khác Dạy học ở Lạc Viên được vài năm thìông lâm bệnh nặng và mất tại đây, năm 1729 Hai anh em Đoàn Thị Điểmcùng học trò đưa xác cha về quê làm tang lễ, dựng nhà thờ và dựng bia chocha Sau tang lễ, Đoàn Doãn Luân cũng đưa vợ con về ở luôn quê nhà tại làngHiến Phạm, sau đó lại chuyển sang làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là

Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) mở trường dạy học Người chị dâu do bệnh đậu mùa

mà trở nên có tật ở tay, vì thế mà Đoàn Thị Điểm luôn là ngườigiúp đỡ chịdâu lo việc tề gia nội trợ, lại giúp anh trong việc giao thiệp ứng biến với bênngoài Cuộc sống tạm ổn định được khoảng một thời gian ngắn ngủi thì độtnhiên Đoàn Doãn Luân bị bại bệnh đột ngột từ trần, để lại hai đứa con thơ,người vợ tật nguyền và một mẹ già Gánh nặng gia đình đè nặng lê vai nữ sĩ

Ở cái tuổi gần khoảng 30, Đoàn Thị Điểm vừa lo phụng dưỡng báo hiếu với

mẹ già, lại phải nuôi dạy hai cháu khôn lớn, đối với người chị dâu thì chọnnghĩa chọn tình Nữ sĩ đã phải cùng làm một lúc rất nhiều công việc khácnhau như vừa phải soạn thảo văn chương, vừa dạy học và làm thuốc chữabệnh kiếm tiền Tiếng tăm của nữ sĩ ngày càng vang xa, có rất nhiều ngườihâm mộ nữ sĩ

Khoảng giữa thế kỉ XVIII, nông dân nổi dậy ở khắp nơi khiến vùng HảiĐông không còn cảnh yên bình, nhiều làng xóm bị binh lửa phá hoại, ĐoànThị Điểm đưa cả gia đình tới nhà của người học trò ở xã Chương Dương,huyện Thượng Phúc để tránh nạn và sinh sống Đoàn Thị Điểm không cònmuốn tiếp tục làm nghề bốc thuốc nữa, mà bà đã mở trường dạy học, trongđám học trò có Đào Duy Doãn quê ở Chương Dương sau đó đỗ tiến sĩ

Trang 17

Đoàn Thị Điểm là người phụ nữ có bản lĩnh, bà không chỉ nổi tiếng vềtài văn chương, đối đáp Bên cạnh bà đã có biết bao giai thoại đã khẳng địnhtài năng, bà đã từng áp đảo các vị anh tuấn trong giới nho sĩ Nhưng cũng có

lẽ vì sự hoàn hảo ấy mà đường tình duyên của nữ sĩ lại muộn màng, nhưngdường như cảnh nhà cũng làm bà lỡ làng tuổi xuân Cũng có các vị danh vọngtrong hàng quan chức nhờ người mai mối, nhưng chỉ để làm lẽ làm kế Bà vốn

là một người cứng cỏi, đương nhiên không thể chấp nhận được những cuộchôn nhân đầy tính gán ghép như thế Nữ sĩ đã từ chối tất cả, dường như đếnthời điểm này thì nữ sĩ đã không còn muốn để ý tới chuyện hôn nhân nữa, màmột lòng muốn toàn tâm phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy hai cháu Trong thờigian dạy học ở Chương Dương, Nguyễn Kiều đã cất công nhiều lần đến xincầu hôn bà, năm ấy nữ sĩ đã 37 tuổi

Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, sinh năm 1695, tại làng Phú Xã, huyệnHoài Đức Năm 18 tuổi ông đậu Giải Nguyên,21 tuổi đã đậu Tiến sĩ, là người

có tài văn chương lỗi lạc Nguyễn Kiều góa vợ, có hai người con trai và mộtcon gái Cầu hôn Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Kiều còn viện đến cả mối quan hệchị em giữa bà và người vợ trước của ông là bà Lê Thị Hằng, con gái Lê AnhTuấn, đến cả gia đình khó khăn của ông, khi ngày lên đường đi sứ giả đã gần

mà các con ông còn nhỏ thiếu người chăm sóc Có lẽ vì trọng nhân cách và tàinăng của ông, hay vì cảm mối chân tình của ông, cuối cùng Đoàn Thị Điểm

đã nhận lời Bà Điểm về nhà chồng, sống những ngày tháng hạnh phúc vợchồng tâm đầu ý hợp, yêu thương đằm thắm Đoàn Thị Điểm thường cùngchồng sướng họa và nhiều lúc còn có ý khuyến khích khuyên răn khi thấy ông

tỏ ra hiếu thắng và tự thị Tuy nhiên hạnh phúc đôi lứa quá ngắn ngủi, chưađầy một tháng về nhà chồng, thì Nguyễn Kiều phải đi sứ Trung Quốc Lệthường đi sứ 2 năm thì trở về, nhưng lần này khi sứ bộ ta trở về tới tỉnhQuảng Tây, gặp đúng lúc dân chúng vùng này nổi lên chống nhà Thanh nên

đã bị nghẽn đường Sứ bộ Việt Nam không thể trở về nước ngày mà buộcphải lưu lại cả năm trời, chờ cho đến khi giặc yên Trong lúc chồng đi sứ,Đoàn Thị Điểm ở nhà lo chu toàn mọi việc, khi thì ở bên nhà chồng chăm sóc

ba con của chồng, khi thì trở về nhà mẹ ruột để chăm sóc mẹ già và hai cháu

Bà đã làm tròn hết thảy các trách nhiệm của người con, người mẹ, người vợ

Trang 18

Sau khi giặc yên, Nguyễn Kiều trở về, vợ chồng sum họp sau hơn 3năm xa cách nhớ nhung Song chỉ sau chưa đầy ba năm sau, năm1748,Nguyễn Kiều lại được cử làm Tham thị ở Nghệ An Ban đầu bà không đồng ý

đi cùng chồng, vì còn mẹ già và có linh cảm sẽ gặp chuyện chẳng lành trongchuyến đi, nhưng sau vì chồng thuyết phục nên bà mới bằng lòng theo chồng

đi nhận chức.Trên đường cùng chồng đến nhiệm sở, Đoàn Thị Điểm đã bịcảm nặng, chạy chữa không khỏi, cuối cùng bà mất ở Nghệ An ngày 11 tháng

9 năm 1748 Nguyễn Kiều vô cùng thương tiếc vì sự ra đi của người vợ khituổi đời còn quá trẻ Vì không thể đưa linh cữu của bà về quê nhà ngay được,ông đã quàn quan vợ tại Nghệ An, một tháng sau đó mới đưa về NguyễnKiều đã sáng tác một bài văn tế vô cùng thống thiết để tiễn đưa linh cữu bàxuống thuyền khi đưa về quê nhà, được Hoàng Xuân Hãn diễn Nôm trongcuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”:

“Ô hô! Hỡi nàng! Huệ tốt Lan thơm!

Phong tư lộng lẫy, cử chỉ đoan trang,

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Đoàn Thị Điểm là một tác gia có bút pháp phong phú và đa dạng, bàkhông chỉ giỏi văn thơ chữ Hán, mà còn thuần thục trong việc sáng tác thơchữ Nôm Bà sáng tác nhiều nhưng chủ yếu là tản mạn, trải qua nhiều tranhcãi, hiện nay đã nhất trí coi ba tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” diễn âm,

“Truyền kì tân phả” và “Hồng Hà phu nhân di văn” là phần di cảo bà “để lại”

cho văn học của chúng ta, tuy về mặt văn bản vẫn còn những tranh cãi Tác

phẩm “Truyền kì tân phả”, nữ sĩ đã tìm cho thể loại ngoại nhập này một

hướng đi thích hợp với sự quan tâm của văn học Việt Nam Trong tác phẩm,

Trang 19

Đoàn Thị Điểm đã xây dựng thành công ba hình mẫu lí tưởng: Một người vìnghĩa cương thường, một người vì triều đại - đất nước và một người vì sựcông bằng, quyền sống, quyền tự chủ của nữ giới Không phải ngẫu nhiên mànhân dân bao đời đã suy tôn bà phi Bích Châu và chúa Liễu Hạnh thành thánh,

là vị thánh bất tử của dân Việt Sau truyện truyền kì của Đoàn Thị Điểm có rấtnhiều các tác giả đã đi theo con đường của nữ sĩ mà không phải tiếp tục con

đường của bậc thầy thể loại là Nguyễn Dữ “Chinh phụ ngâm khúc” bản

nguyên tác của Đặng Trần Côn có nhiều ý kiến tranh cãi Đoàn Thị Điểmkhông phải là tác giả của bản dịch hiện hành Tuy nhiên có nhiều ngữ liệu, tàiliệu đã đi đến khẳng định bản dịch hiện hành là của Đoàn Thị Điểm Bản dịch

“Chinh phụ ngâm khúc” đã đưa thể song thất lục bát đạt đến một trình độ mới, như tạo đà cho thể loại đạt tới đỉnh cao với “Cung oán ngâm khúc” của

Nguyễn Gia Thiều Ngoài ra, còn có các tác phẩm được sưu tập trong “Hồng

Hà phu nhân di văn”, tuy không chính quy như “Truyền kì tân phả” hay

“Chinh phụ ngâm khúc”, nhưng cũng đủ cho chúng ta cảm nhận về những

thuần phong mỹ tục, nề nếp quy củ, văn minh và nhân văn

1.1.2.1 Truyền kì tân phả

“Truyền kì tân phả” còn có tên gọi khác là “Tục truyền kì”, được viết

trong thời kì Đoàn Thị Điểm vẫn còn là Hồng Hà nữ sĩ và đã được người anhtrai của mình “phê bình” Năm 1735, Đoàn Doãn Luân mất như vậy, thời gianhoàn thành sách là khoảng trước năm 1735 và Đoàn Thị Điểm chưa trở thànhphu nhân của Tiến sĩ Nguyễn Kiều Tác phẩm của Đoàn Thị Điểm đã cónhiều thay đổi với diện mạo mới nhưng vẫn có sự nối tiếp bút pháp truyền kìmạn lục của Nguyễn Dữ, được coi là thành công và tiêu biểu cho thể loạitruyền kì ở thế kỉ XVIII Về tác phẩm này, có một số thư tịch cổ nhắc tới,nhưng ghi chép cụ thể thì chỉ có trong ba tài liệu duy nhất Thứ nhất, tronglịch triều hiến chương loại chí, phần truyện kí mục Văn tịch chí, Phan HuyChú ghi: “Tục truyền kỳ 1 quyển, nữ học sĩ Đoàn Thị Điểm soạn ghi chépnhững cuộc hội ngộ linh dị, gồm: Bích Câu kỳ ngộ, Hải Khẩu linh từ, Vân cát

nữ thần, hoành sơn tên cục, An Ấp liệt nữ, Nghĩa khuyển thập miêu, tất cả có

6 truyện”

Trang 20

Thứ hai, trong bài văn tế vợ khi đưa linh cữu xuống thuyền thì NguyễnKiều nói đến 4 truyện:

“Hiển cựu Chế Thắng chi tích,

Biểu tân trinh liệt chi danh;

Ngụ chân tung vu Vân Cát thần nữ,

Thuật nhàn tình vu Đối thoại yến anh.”

Nghĩa là:

“Làm tỏ sự tích Chế Thắng xưa (tức truyện Hải khẩu linh từ)

Nêu cao danh trinh liệt mới (tức chuyện An Ấp liệt nữ

Ngụ dấu tiên trong Vân Cát thần nữ

Thuật nhàn tình trong đối thoại yến anh”

Thứ ba, trong gia phả họ Đoàn- “Đoàn thị thực lục” có soạn lại ghi 5

truyện , ngoài 4 truyện trên ra còn có thêm một truyện là “Mai ảo” Theo

“Đoàn thị thực lục” thì đương thời tác phẩm này đã bị thất lạc, không còn

nguyên vẹn và được Lạc Thiên đường khắc in năm Gia Long thứ 10 (1811)

Hiện nay văn bản “Truyền kì tân phả” còn được lưu giữ tại thư viện Hán

Nôm bao gồm:

1 Bản A 48 gồm 183 trang, khổ 25*15cm, do Lạc Thiện đường tàngbản, in vào ngày tháng xuân năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thứ 10(1811),

bìa sách ghi “ Hồng Hà phu nhân trứ”, gồm 6 truyện: “ Hải Khẩu linh từ lục,

Vân Cát thần nữ lục, An ẤP liệt nữ, Bích Câu kỳ Ngộ, Tùng bách thuyết thoại,

Long hổ đấu kì”.

2 Bản mang kí hiệu VHv.2959, gồm 90 trang, khổ 24*16cm, cũng in

và ngày tháng xuân năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thứ 10(1811), có tên là

“Tục truyền kỳ lục”, chỉ gồm 3 truyện.

3 Bản mang kí hiệu VHv.1487 chép tay, gồm 158 trang, khổ27*15cm, có niên đại chép: Tháng trọng xuân, năm Tự Đức thứ 17(1864),trong văn bản kiêng húy chữ thời, chữ Hoa

“Truyền kì tân phả” đã được Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp dịch 4

truyện đầu, Nhà xuất bản Giáo dục in năm 1962; gần đây Bùi Hạnh Cẩn đã

Trang 21

dịch cả 6 truyện, công bố trong Văn tuyển Đoàn Thị Điểm do Nhà Xuất BảnVăn Hóa Thông tin in năm 2002.

“Đền thiêng ở Hải Khẩu” (Hải Khẩu linh từ lục)

“Truyện nữ thần ở Vân Cát” (Vân Cát nữ thần truyện)

“Truyện người liệt nữ ở An Ấp” (An Ấp liệt nữ lục)

“Cuộc kỳ ngộ ở Bích Câu” ( Bích Câu kỳ ngộ ký)

Phụ chép: “Chuyện trò dưới rặng tùng bách” (Tùng bách thuyết thoại)

Phụ chép: “Bài ký chuyện rồng hổ thi tài” (Long Hổ đấu kỳ ký)

1.1.2.2 “Chinh phụ ngâm khúc”

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những sáng tác quan trọng đánh

dấu tên tuổi của Đoàn Thị Điểm Căn cứ vào thời điểm ra đời của nguyên tácchữ Hán và hoàn cảnh đời tư của Đoàn Thị Điểm, các nhà nghiên cứu ướcđoán tác phẩm được sáng tác năm 1742-1745 Đó cũng chính là thời điểmNguyễn Kiều đi sứ sang Trung Quốc, Đoàn Thị Điểm mới về nhà chồng chưađầy một tháng đã chịu cảnh “nuôi già dạy trẻ”

Về vấn đề ai là dịch giả của bản “Chinh phụ ngâm khúc” hiện hành đã

được rất nhiều các nhà nghiên cứu, các nhà khảo cứu… quan tâm từ năm

1926 Có nhiều tranh cãi về tác phẩm này dịch giả là ai, Một số các nhànghiên cứu cho rằng bản A hay bản hiện hành là của Phan Huy Ích họ cònđưa ra được các dẫn chứng khác nhau để chứng minh Tuy nhiên trong bài tựa

cuốn “Chinh phụ ngâm khúc” in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “Nhớ xưa, Đặng

Tiên sinh làm ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm” Từ đó bản “Chinh

phụ ngâm” hiện hành được coi là của Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm.

Thuần Phong Ngô Văn Phát, giáo sư Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam

học sử” và Nguyễn Đỗ Mục trong “Chinh phụ ngâm dẫn giải”, Đặng Thái Mai trong “Giảng văn Chinh phụ ngâm” cũng khẳng định bản “Chinh phụ ngâm” hiện hành là của Đoàn Thị Điểm Dựa vào các tài liệu mà chúng tôi đã

tham khảo ở trên và chương trình sách giáo khoa hiện hành thì chúng tôi coivăn bản hiện hành là của Đoàn Thị Điểm

1.1.2.3 “Hồng Hà phu nhân di văn”

Trang 22

“Hồng Hà phu nhân di văn” là phần phụ biên của “Đoàn thị thực lục”,

được chép trong Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã,Trung Phú thôn, Cổ Tự chỉ (Bản giấy chữ cổ thôn Trung Phú, xã Giai Phạm,tổng Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ) ký hiệu AH.A1/1-2, Thưviện Hán Nôm, gồm 91 trang (tư tờ 53a đến tờ 98a) Sách được một viên thừaphái sao lại theo một bản “giấy cổ” của xã Giai Phạm; thời gian sao là ngày 6tháng 8 năm Khải Đinh thứ 4(1919) Văn bản có chữ kí của Quản bạ cháuTrưởng họ Lê là Lê Văn Thiệu và nhận thực của Lý trưởng Đoàn Xuân Mai làcháu họ Đoàn Tác phẩm Thực lục này và một ít thơ văn của Đoàn Thị Điểmđược Khê Ngô Văn Triện giới thiệu trên tiểu thuyết thứ bảy tư năm 1944, vềsau Hoàng Xuân Hãn cũng đã nhắc tới, nhưng tập di văn hoàn chỉnh thì mãiđến năm 1973 nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Kim Hưng mới tìm thấy vàcông bố trên Tạp chí Văn học, số 1 năm 1978 Nguyễn Kim Hưng đã khảo sáttương đối kĩ về văn bản, giới thiệu 3 đôi câu đối, một số đoạn văn xuôi, 2 bàithơ chữ hán và 1 bài thơ nôm Theo tác giả bài viết, trong tập sách chất lượngcủa các tác phẩm so le nhau nhiều quá, đặc biệt là trong sách lại có nhiềunhững tác phẩm được ra đời rất muộn ví như câu đối điếu vợ thứ Ngô Thì Sỹmất năm 1770

- “Phụng nghĩ bản đình đệ niên nhập tịch kỳ phúc tàng quy ước thúc

mục lục bảng văn” (Vâng soạn mục lục bảng văn giao ước trong lễ tàng quynhập tịch hàng năm của đình làng)

- “Tế huynh Doãn Luân công văn” (Văn tế anh là Doãn Luân)

- “Đại nghĩa hạ Hiệp trân quan trướng văn tính đối liên” (Trướng văn

và câu đối chúc mừng quan Hiệp trấn)

- “Hưu hạ thi tính tự” (Lại thơ mừng và lời tựa)

- Các câu đối



Hưng Đạo Đại Vương từ

(Câu đối đền thờ Hưng Đạo Đại vương)

   



“Tướng lược bát điều minh uyển diệm;

Trang 23

Anh hùng nhất kiếm tủng giang sơn.”

(Tướng lược tám điều ghi ấn ngọc;

Anh hùng một kiếm vút non sông)





“Giang thung sát Thát, danh lưu sử;

Thần tịch trừ ma trạch tại nhân.”

(Cọc cắm lòng sông giết giặc Thát, danh thơm lưu sách sử;

Chiếu cầu trước bệ thần trừ ma, ơn huệ để cho dân)

(Trần Thị Thanh Băng dịch, “Một điểm tinh hoa thơ văn Hồng Hà nữ

1.1.2.4 Những bài thơ chữ Hán và chữ Nôm

- “Yên Nhân đình bộ thi” (Đình Yên Nhân, thơ làm theo vần)

- “Đại nghĩ bái hạ Tham đốc quan cẩm hồi tỉnh thân, ngũ luật” (Viết

thay kính mừng quan Tham đốc áo gấm về làng thăm cha mẹ)

- “Hạ hương nho đăng thọ” (Mừng thọ vị nho học trong làng lên lão)

- “Họa bản trấn Hiệp trấn quan hạ thọ thi” (Họa vần thơ mừng thọ quan

Hiệp trấn bản vấn)

- “Nguyên vận” (Nguyên vần của quan Hiệp trấn)

- “Đại huynh phụng cựu Đông Triều huyện quan thi, nhị thủ” (Bài thơthay anh tặng cựu quan huyện Đông Triều)

Trang 24

-“ Canh vận tính ngữ” (Thơ họa vần và Lời dặn)

-“ Dạ du mạn hứng” ( Cảm hứng dạo chơi đêm)

- “Đại tiểu điệt hạ bá phụ thọ thi” (Thơ viết thay cháu mừng thọ bác)

- “Hạ đồng lý hiền lão thi” (Mừng trưởng lão đức độ người cùng làng)

- “Phụng hương tiên đạt thi” (Thơ kính tặng bậc hiển đạt trước trong

- “Tặng hương hữu học sinh thi” (Thơ mừng bạn học ngưởi cùng làng)-“Hạ nhân thọ, quốc âm thi” (Thơ quốc âm chúc thọ người)

- “Thơ đùa tặng người béo” (Nối vần bài trước)

1.2 Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc”

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời

1.2.1.1 Nguyên tác “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn

Đặng Trần Côn quê làng Nhân Mục (Làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay

là quận Thanh Xuân – Hà Nội, hiện chưa rõ năm sinh, năm mất

Ông là người hiếu học, có tài văn chương, nhưng vì tính tình phóngkhoáng “đuềnh đoàng không buộc”, thích uống rượu, không ưa sự trói buộc

Là người tài hoa, tiếc rằng con đường thi cử của tương đối ông lận đận, nênông chỉ đậu Hương cống, thi Hội hỏng Ông nhận chức huấn đạo ở mộttrường phủ, tri huyện Thanh Oai, cuối đời ông mới chuyển về kinh làm Ngự

sử đài chiếu khán, ít lâu sau đó ông mất Sáng tác của Đặng Trần Côn ngayhồi còn trẻ được đã được đánh giá “Có phong cách cao trội” Ngoài Chinhphụ ngâm, Đặng Trần Côn còn có một số bài thơ dề tanh tám cảnh đẹp ở TiêuTương và một số bài phú: Trương Lương bố y, Khấu môn thanh

Có nhiều sự tranh cãi về việc ra đời của bản nguyên tác chinh phụngâm Lê Trọng Hàm trong cuốn Minh Đô sử cho rằng “Chinh phụ ngâm”được sáng tác năm Cảnh Hưng thứ 41(1780) [Trần Văn Giáp,2003,tr.920].Phan Huy Chú ghi : “Sách Chinh phụ ngâm là bởi hương cống Đặng TrầnCôn soạn, nhân đầu đời cảnh hưng, việc binh đao nổi dậy người ta đi đánhphải lìa nhà, ông cảm thời mà làm ra” (“Lịch triều hiến chương loại chí”)

Trang 25

Cảnh Hưng bắt đầu từ năm Canh thân(1740), việc binh đao kéo dài khoảng1740-1751 Việc Phan Huy Chú viết Đặng Trần Côn sáng tác “Chinh phụ

ngâm khúc” vào đầu đời Cảnh Hưng không có nghĩa nhất định phải là khoảng

năm 1740-1742

Như vậy, “Chinh phụ ngâm khúc” được viết vào những năm 40 của thế

kỉ XVIII thời kì bão táp nhất của cuộc khởi nghĩa nông dân ở đàng ngoài

1.2.1.2 Diễn Nôm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm khi được Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi đã đến ở nhàcủa dưỡng phụ tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long, có dịp gặpĐặng Trần Côn Đặng Trần Côn nhỏ tuổi hơn Đoàn Thị Điểm, một chàngthiếu niên anh tuấn tài hoa, Đặng Trần Côn rất quý mến Đoàn Thị Điểm cả vềnhan sắc lẫn tài đôi đáp văn chương, nên có gửi đến bà một bài thơ tỏ ý cầuhôn Đoàn Thị Điểm không trả lời lại Đặng Trần Côn nhưng có kể với chị em

“Cái ông Cống Đặng, miệng còn hội sữa, làm thơ chưa song mà còn đi nóichuyện vợ chồng” Đặng Trần Côn nghe xong thì vô cùng tức giận, ông cốgắng miệt mài đèn sách, cố đậu cho bằng được Tiến sĩ trong kì thi hội

Đầu niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê Trung Hưng, thời buổi chiến tranh libiệt loạn lạc, trai tráng bị bắt đi lính, gây cảnh biệt li đau khổ cho biết bao giađình, ông Đặng Trần Côn đã đem hết tất thảy tâm huyết viết nên tác phẩm

“Chinh phụ ngâm khúc” bằng Hán văn theo thể thơ xưa Cổ Nhạc phủ Khi

viết xong Đặng Trần Côn có đưa tác phẩm cho ông Ngô Thời Sĩ xem Ông Sĩ

xem xong lấy làm thán phục nói rằng: “Văn chương tới mức này thì Lão Ngô tôi chỉ còn biết bái phục mà thôi” Lúc trước vì bị Đoàn Thị Điểm coi thường,

nên ông đã gửi bản nguyên tác chữ Hán cho Đoàn Thị Điểm xem, với ngụ ýtrước đây bà Đoàn Thị Điểm coi thường ông là một sai lầm Đoàn Thị Điểm

đã lấy chồng là Tiến sĩ Nguyễn Kiều, nhưng chồng bà đang đi sứ vì bị giặclàm cho nghẽm đường nên chưa thể trở về được Đoàn Thị Điểm xem xongtác phẩm Hán văn của Đặng Trần Côn thì rất phục tài văn chương của họĐặng, bà càng yêu thích tác phẩm hơn khi thấy tâm sự của người chinh phụcũng giống như hoàn cảnh của bà lúc bấy giờ Chồng bà đi sứ sang Tàu giốngnhư đi lính thú chinh chiến nơi biên thùy, bà ở nhà lòng hết sức nhớ nhung lo

Trang 26

lắng cho người chồng của mình, lại còn có biết bao mối lo đang đè nặng trênvai bà Tâm hồn của bà rung động mãnh liệt và cũng vì muốn đáp lại tấmchân tình của Đặng Trần Côn đã dàn cho bà, bà đem cả cảm xúc của tâm hồnmình diễn Nôm tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” Hán văn của Đặng TrầnCôn, theo lối thơ trữ tình song thất lục bát.

1.2.2 Nội dung bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm

“Chinh phụ ngâm khúc” là một tác phẩm thơ trữ tình Toàn bộ khúc

ngâm là sự giãi bày tâm trạng cảm xúc của người vợ có chồng đi lính xa nhàchưa trở về Trên mỗi câu thơ trong tổng số 408 câu thơ của bản dịch đềukhông ít thì nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện tiếng lòng của người thiếuphụ Tác phẩm cũng có thể chia ra làm ba bộ phận như sau: Phần mở đầukhúc ngâm là việc người chồng ra trận và sự tiếc nuối khi chia ly, tiếp đến làcảnh người vợ chờ đợi chồng của mình trở về và kết thúc là tác phẩm là mongmuốn chồng trở về sum họp trong ánh hào quang của chiến thắng Sự kiệnchính, được xem là biến cố chính của cuộc đời người chinh phụ là việc chồngcủa mình đã phải ra chiến trận trong lúc cả hai người “tuổi đương chừng niênthiếu”, sự kiện này đã làm chia cắt ước mơ hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ

Mở đầu khúc ngâm, người chinh phụ nhớ về cảnh chia tay người chồngcủa mình, sự day dứt không nỡ để chồng ra đi nhưng vì mâu thuẫn trong lòng,người chinh phụ đành phải để chồng ra đi Mâu thuẫn cơ bản đặt ra trongsuốt tác phẩm là mâu thuẫn giữa “phép công” và “niềm tây” (niềm tư), mởđầu tác phẩm này mâu thuẫn cũng đã xuất hiện Cặp vợ chồng trẻ đang sốngtrong những ngày hạnh phút sau ngày kết hôn thì chiến tranh xảy ra Vì sựnguy cấp của đất nước, vì ý thức về nghĩa vụ, vì danh dự của đấng nam nhihào kiệt và đây cũng là dịp để lập công danh, đem vinh hiển về cho gia đình,dòng họ Vì những lẽ đó người chinh phu “Xếp bút nghiên theo việc đaocung” Người chinh phụ tuy rằng buồn sầu lưu luyến chồng nhưng: “Phépcông là trọng niềm tây sá nào” Nàng còn ca ngợi chí khí, hành động củangười chồng:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,Xếp bút nghiên theo việc đao cungThành liền mong hiến bệ rồng

Trang 27

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trờiChí làm trai dặm nghìn da ngựa

Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”

Dù nghĩ đến công danh của người chồng, nhưng người vợ cũng khôngthể tránh khỏi những buồn đau Tình yêu và hạnh phúc lứa đôi đang ở độnồng nàn thắm thiết nhất thì đành phải tạm chia lìa đứt đoạn

“Bóng cờ tiếng trống xa xaSầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng”

“Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền”

Sau buổi tiễn biệt người chồng của mình, người chinh phụ trở về vớichốn khuê phòng, ngày đêm chỉ biết chờ đợi người chinh phu trở về Ngườichinh phụ ở nhà đợi chờ, nàng từng tưởng tượng đến cuộc sống, vận mệnhcủa người chinh phu nơi chiến địa hiểm ác Khung cảnh chiến trường hiện lêntrước mắt nàng thật đen tối và mù mịt, không âm vang của tiếng ngựa hí,tiếng quân reo, hay tiếng leng ceng va chạm của vũ khí mà chỉ có một luồng

tử khí lạnh lẽo bao trùm

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo”

Hoặc nàng còn tưởng tượng đến cái kết bi thảm của chính người chồngcủa mình ở chốn thương trường:

“Chinh phu tử sĩ mấy ngườiNào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.”

Những câu thơ đã phần nào phản ánh chiến tranh phong kiến là phi lí,

là đối lập lại với chính cuộc sống của con người Những con người một khitham gia vào cuộc chiến tranh là những con người đi vào cõi chết Người vợ

ở nhà chờ chồng trong nhớ nhung vô vọng, nàng nhiều lần nhớ đến những lờihẹn ước của chồng nhưng “Người sao mười hẹn chín thường đơn sai”, có lúcnàng được tin chồng, nhưng rồi dần dần vắng biệt Người vợ ở nhà cứ chờchồng trong mòn mỏi vô vọng, mọi cố gắng nỗ lực để xua tan nỗi buồn củanàng đều trở nên bất lực, nàng đã làm thử những việc như: “gieo quẻ bói, đề

Trang 28

chữ trên gấm, gượng đốt hương, gượng soi gương, tìm đến chồng qua cảnhững giấc mơ”:

“Duy còn hồn mọng được gần

Đêm đêm thường đếm Giang Tân tìm ngườiTìm chàng thuở Dương đài lối cũ

Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa.”

Nhưng giấc mộng quá ngắn ngủi, mộng vẫn chỉ là mộng, thực tại quáphũ phàng vẫn không sao có thể thay thế được Ngược lại cái đẹp đẽ của hồnmộng lại càng làm cho cuộc sống của nàng thêm chua sót mà thôi:

“Sum vầy mấy lúc tình cờ

Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuânGiận thiếp thân lại không bằng mộng

Được gần chàng bến Lũng thành quan”

Chinh phụ đã có lúc tưởng như mình không còn chịu nổi nỗi đau xacách, con người thật trong nàng như bắt đầu cất tiếng nói, nàng ý thức về việc

đi ra chiến trường như đi vào cõi tử Nàng hối hận vì giấc mộng công hầu mà

để chồng của mình ra đi chinh chiến để rồi hạnh phúc tuổi xuân bị dang dở.Giờ đây niềm tây như chiến thắng phép công Nàng dám phủ nhận lí tưởngcông danh, nàng đã hiểu hạnh phúc lứa đôi có ý nghĩa hơn chiếc ấn phong hầu.Nhưng ý nghĩ thà khuyên chàng đừng chịu tước phong đặt vào hoàn cảnh ấy

nó không chỉ có ý nghĩa coi trọng hạnh phúc, coi trọng sinh mệnh của conngười Mà nó hoàn toàn có ý nghĩa phản chiến vì đối lập với âm mưu của giaicấp thống trị

Kết thúc ngâm khúc chinh phụ cầu mong cho sự phù hộ cho chồngmình có thể trăm trận nên công và trở về trong sự chào đón, cùng những ánhhào quang của chiến thắng với mọi thứ vinh quang Để cho sự hi sinh hạnhphúc lứa đôi không bị phí hoài

“Chinh phụ ngâm khúc” chính là tiếng nói tố cáo mạnh mẽ đối với

chiến tranh phong kiến phi nghĩa phục vụ quyền lợi của một con người, mộtdòng họ và giai cấp thống trị phong kiến, chà đạp lên quyền sống, quyền hạnhphúc của con người Cuộc chiến tranh ơhong kiến phi nghĩa ấy đã làm tan nát

Trang 29

bao gia đình, là nguyên nhan chia rẽ biết bao hạnh phúc lứa đôi Khi ngườichồng ra trận , bất kể người phụ nữ nào ở nhà chờ chồng cũng có thể trở thànhngười chinh phụ Tác phẩm chính là tiếng nói đòi quyền sống quyền hạnhphúc, quyền được tự do cho con người, trước hết là hạnh phúc ân ái vợ chồngcần phải được thỏa mãn Người chinh phụ luôn luôn khát khao được sốngcùng chồng của mình được chia sẻ những lo toan trong cuộc sống, có mộtcuộc sống an yên.

1.2.3 Giá trị nghệ thuật

Trong “Chinh phụ ngâm khúc” khúc nghệ thuật ước lệ được tác giả sửdụng một cách phổ biến Ở đây các chi tiết không nên hiểu theo ý nghĩa xácthực của nó mà phải hiểu trong tính ước lệ tượng trưng Dù sáng tác với bútpháp ước lệ tượng trưng nhưng tác phẩm vẫn phản ánh chân thực cuộc sống,tác phẩm nói đến các vấn đề cơ bản của thời đại, tâm lí của con người thời đại

Tác giả xây dựng được một kết cấu chặt chẽ, miêu tả được những diễnbiến phong phú, tinh vi trong tâm tình người chinh phụ theo một trình tự logictâm lí chặt chẽ bảo đảm sự thống nhất Tác giả đã gắn tâm lí với hoàn cảnh,tôn trọng quy luật tâm lí Sự đau khổ được tăng dần, nhận thức về chiến tranhcũng như diễn biến Tác giả còn chú ý đến việc khai thác nhiều yếu tố tâm línhư liên tưởng, hồi tưởng, tưởng tượng

Trong tác phẩm còn sử dụng thủ pháp trùng điệp, liên hoàn, chiếu ứng

để tạo ra những đợt sóng cảm xúc, sự linh hoạt của tác giả khi dùng cảnh để tảtình, tình cảnh có khi mâu thuẫn có khi lại là thống nhất Không chỉ vậyChinh phụ ngâm còn có cả một kho từ vựng diễn tả tình cảm u sầu với nhữngsắc thái khác nhau của người chinh phụ

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Ở chương này đã cho chúng ta thấy được một cuộc đời đầy chắc trở vàsóng gió của Đoàn Thị Điểm Tuy chỉ là phận nữ nhi nhưng bà không kém gìđấng nam nhi về mặt tài hoa uyên bác Dù số phận có nghiệt ngã nhưngkhông vì thế mà bà bị khuất phục Đoàn Thị Điểm không chỉ là một ngườicon hiếu thảo, anh trai mất bà thay cả phần anh trai chăm lo cho mẹ già, giúpanh trong việc chăm sóc chị dâu và hai cháu, nữ sĩ đã làm tròn bổn phận củamột người con Không chỉ vậy bà còn là một người vợ đảm đang, khi chồngphải đi sứ, giữ vững đạo hạnh của một người làm vợ Bà ngày đêm nhớ mongchồng, chăm lo chu đáo cho các con của chồng, lo việc chu toàn bên nhàchồng Bà xứng đáng là người phụ nữ “dung sắc kiều lệ, cử chỉ đoan trang,lời nói văn hoa, sự làm lễ độ”, là người có tài “xưa nay hiếm”

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” ra đời trong hoàn cảnh văn thơ chữ

Nôm đang ở giai đoạn phát triển rực rỡ nhất Tác phẩm là dấu ấn nổi bật làmnên tên tuổi của Đoàn Thị Điểm, tuy chỉ là bản dịch chữ Nôm của bản nguyêntác chữ Hán của Đặng Trần Côn, song dường như tác phẩm của bà đã làm lu

mờ đi bản chính của Đặng Trần Côn Với việc sử dụng chữ Nôm một cáchlinh hoạt, sáng tạo đã đem lại những giá trị nghệ thuật to lớn cho thơ ca dân

tộc “Chinh phụ ngâm khúc” là tiếng nói của những người chinh phụ có

chồng đi đánh giặc, tác phẩm gần gũi với cuộc sống nhân dân lúc bấy giờ Vàtác phẩm còn có giá trị to lớn cho đến ngày hôm nay

Trang 31

Chương 2 CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG

“CHINH PHỤ NGÂM KHÚC”

2.1 Chữ Nôm

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm

được dùng để viết tiếng Việt Chữ Nôm bao gồm bộ chữ Hán phồn thể đểviết các từ Hán Việt và dựa theo quy tắc ký âm của chữ Hán phồn thể để tạo

ra các ký tự mới để viết các từ thuần việt không có trong bộ chữ Hán phồnthể

Sự ra đời của chữ Nôm được nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra nhữnggiả thuyết khác nhau:

Có giả thuyết cho rằng, chữ Nôm đã được tạo ra từ khi vó ngựa viễnchinh của phương Bắc đến Việt Nam xâm lược Những chữ Nôm đầu tiên củanước ta ra đời, được dùng để gọi tên các địa danh, các khái niệm không tồn tạitrong Hán văn, mặc dù những cứ liệu thành văn còn lại hết sức ít ỏi, đã khôngthể khảo sát, kiểm chứng một cách chính xác sự thực này Nhưng đó cũngđược coi là một giả thuyết về sự ra đời của chữ Nôm

Phạm Huy Hổ trong "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?” thì chorằng chữ Nôm đã có từ thời Vua Hùng Theo Văn đa cư sĩ Nguyễn Văn Sancho rằng chữ Nôm ra đời từ thời Sỹ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2.Nguyễn Văn Tố lại dựa vào hai chữ “bố cái” trong danh xưng “Bố cai đạivương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng và từ đó cho rằng chữNôm có từ thời Phùng Hưng thế kỉ thứ 8 Cũng có ý kiến khác cho rằng dựavào chữ Cồ trong quốc hiệu Đại Cồ Việt để cho rằng chữ Nôm có từ thời vuaĐinh Tiên Hoàng

Khi mới xuất hiện, chữ Nôm thuần túy mượn nguyên dạng chữ Hán đểghi âm tiếng Việt cổ Phép đó gọi là chữ giả tá Dần dần, người Việt đã thôngthạo hơn khi sử dụng chữ Nôm đã ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phầngợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn Phépnày gọi là hài thanh

Trang 32

Trước thế kỉ XV chỉ còn lại một số ít di tích còn lưu lại dấu vết của chữNôm trên các văn bia và ghi chép của người đời sau chép lại những bài tươngtruyền sáng tác từ thời Lý Trần Bước sang giai đoạn văn học từ thế kỉ XV-XVII, chữ Nôm có bước phát triển vượt bậc so với thế kỉ trước với sự xuấthiện của nhiều tập thơ với quy mô đồ sộ như: “Quốc âm thi tập” của NguyễnTrãi(gồm 254 bài), “Hồng Đức Quốc ân thi tập” của Lê Thánh Tông, “BạchVân am thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (gồm 170 bài), Ngự đề hòa danhbách vịnh (Chúa Trịnh Căn); Ngoài ra còm có các truyện thơ Nôm tiêu biểunhư “Lâm truyền kì ngộ và Thạch tuyền ca khúc” dài 12 câu gần với các điệuhát nói… Đặc biệt hơn với sự xuất hiện của rất nhiều các tác phẩm như “Lâmtuyền vãn” của Phùng Khắc Hoan (185 câu), “Ngọa Long cương vãn”(136câu), “Tư Dung vãn” (332 câu) của Đào Duy Từ Đồ sộ hơn vào cuối thế kỉXVII là sự ra đời của “Thiên Nam ngữ lục”, tập diễn ca lịch sử Việt Nambằng thơ Nôm gồm 8136 câu lục bát… Với số lượng sáng tác tương đối lớn

đã mở ra một bước ngoặc mới cho thơ ca dân tộc, bao gồm thơ trữ tình và thơ

“Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm Thơ lục bát như “Truyện Kiều”của Nguyễn Du và “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu Bên cạnh đó còn

có các tác phẩm Nôm khuyết danh khác như “Thạch Sanh”, “Trê Cóc”, “Nhị

độ mai”, “Phan Trần”, “Tấm Cám”, “ Lưu Bình Dương Lễ”… Cuối giai đoạnnày của chữ Nôm đã xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như cáctác phẩm của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương…

Bước sang giai đoạn cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX, dưới sự cai trị củachính quyền thuộc địa và bảo hộ của Pháp, vị thế của chữ Hán và chữ Nômbắt đầu suy giảm ở cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ Kì thi Hương cuối cùng được tổchức lần lượt tại Nam Kỳ và năm 1864, Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm

1918 Chữ Hán vẫn được dạy trong thời Pháp thuộc còn văn học Nôm vẫn có

Ngày đăng: 03/09/2019, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1975), Chữ Nôm nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến, NXB Khoa học và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXBKhoa học và Xã hội
Năm: 1975
2. Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc (1994), Những khúc ngâm chọn lọc, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhữngkhúc ngâm chọn lọc
Tác giả: Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
3. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, NXB Bộ quốc gia giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB Bộ quốc giagiáo dục
Năm: 1968
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
5. Đỗ Thị Hảo (2010), Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hảo
Nhà XB: NXB Khoa họcxã hội
Năm: 2010
6. Gs.Ts Nguyễn Quang Hồng (2014.), Tự điển chữ Nôm dẫn giải, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điển chữ Nôm dẫn giải
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
7. Nguyễn Ngọc San (2003), Lý thuyết chữ Nôm, văn Nôm, NXB Đại học sưu phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết chữ Nôm, văn Nôm
Tác giả: Nguyễn Ngọc San
Nhà XB: NXB Đại họcsưu phạm
Năm: 2003
8. Trần Thị Băng Thanh (2017), Một diểm tinh hoa - Thơ văn Hồng hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, NXB phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một diểm tinh hoa - Thơ văn Hồng hà nữsĩ Đoàn Thị Điểm
Tác giả: Trần Thị Băng Thanh
Nhà XB: NXB phụ nữ
Năm: 2017
9. Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng (2000), Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợptuyển
Tác giả: Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2000
10. Nguyễn Thị Thanh Vân (2007), “Luận văn Thạc sĩ có tên Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị thực lục”, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ có tên Nghiên cứuĐoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị thực lục
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Vân
Năm: 2007
11. Lê Minh Quốc, “Đoàn Thị Điểm - Nữ sĩ tài đức vẹn toàn”, WWW .for u m .n x b t re . c o m .vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thị Điểm - Nữ sĩ tài đức vẹn toàn
12. Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 2(2014), Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm khúc - Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình cảnh lẻ loi của ngườichinh phụ ("trích "Chinh phụ ngâm khúc
Tác giả: Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
13. Tạp chí Hán Nôm (2008), Hán Nôm học trong nhà trường, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Nôm học trong nhà trường
Tác giả: Tạp chí Hán Nôm
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã hội
Năm: 2008
14. Viện nghiên cứu Hán Nôm (2006), Từ điển chữ Nôm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chữ Nôm
Tác giả: Viện nghiên cứu Hán Nôm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w