1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn xuân hòa, huyện hà quảng, tỉnh cao bằng

69 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nước mặt là các dạng tích tụ nước tự nhiên hay nhân tạo có thể khai thác sử dụng trên mặt đất hoặc hải đảo bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch, đầm, phá, hồ chứa nước tự nhiên,

Trang 1

TRẦN THỊ THƯƠNG

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN

THỊ TRẤN XUÂN HÒA - HUYỆN HÀ QUẢNG

TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Địa Chính Môi Trường

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

TRẦN THỊ THƯƠNG

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ

TRẤN XUÂN HÒA - HUYỆN HÀ QUẢNG

TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Địa Chính Môi Trường

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Dương Thị Minh Hòa

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại các trường Đại học Đây là thời gian giúp cho mỗi sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức lý thuyết và vận dụng những kiến thức đó vào thực tế Thực tập tốt nghiệp là kết quả của quá trình tiếp thu kiến thức thực tế, qua đó giúp cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm để phục vụ cho quá trình công tác sau này

Để đạt được mục tiêu trên, được sự nhất trí của khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”

Đề hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý Tài Nguyên và Khoa Môi trường, đặc biệt là

cô giáo hướng dẫn: Ths Dương Thị Minh Hòa, UBND thị trấn Xuân Hòa và

bà con nhân dân trong thị trấn Xuân Hòa đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận Em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả sự giúp

đỡ quý báu đó

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn chế

Vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Trần Thị Thương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy chuẩn kỹ thuật quuốc gia về chất lượng nước sinh hoạt 25

Bảng 2.2: Quy chuẩn kỹ thuật quuốc gia về chất lượng nước ngầm 26

Bảng 3.1 Bảng mô tả vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt thị trấn Xuân Hòa 29

Bảng 3.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu trong phòng thí nghiệm 30

Bảng 4.1 Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tại thị trấn Xuân Hòa , huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng 36

Bảng 4.2: Nguồn nước phục vụ sinh hoạt của thị trấn Xuân Hòa 37

Bảng 4.3: Đánh giá cảm quan của người dân về nước giếng đào tại thị trấn Xuân Hòa 38

Bảng4.4: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng đào tại thị trấn Xuân Hòa 40

Bảng4.5: Đánh giá cảm quan của người dân về nước khe tại thị trấn Xuân Hòa 44

Bảng4.6: Kết quả phân tích chất lượng nước khe tại thị trấn Xuân Hòa 46

Bảng 4.7: Các phương pháp xử lý nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa 49

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Mô phỏng vị trí địa lý thị trấn Xuân Hòa 31 Hình 4.2 Nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt của thị trấn Xuân Hòa 37 Hình 4.3: Biểu đồ dánh giá cảm quan của người dân về nước giếng đào tại thị trấn Xuân Hòa 39 Hình 4.4 Biểu đồ kết quả phân tích chất lượng nước giếng đào tổ Xuân Đại 41 Hình 4.5 Biểu đồ kết quả phân tích chất lượng nước giếng đào

xóm Yên Luật 1 43 Hình 4.6 Biểu đồ đánh giá cảm quan của người dân về nước khe tại thị trấn Xuân Hòa 45 Hình 4.7 Biểu đồ kết quả phân tích chất lượng nước khe tổ Xuân Lộc 47 Hình 4.8 Biểu đồ kết quả phân tích chất lượng nước khe xóm Mai Nưa 48 Hình 4.9 Biều đồ các phương pháp xử lý nước sinh hoạt của người dân tại thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 50

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ tài nguyên môi trường

BVMT Bảo vệ môi trường

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc HTX Hợp tác xã

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở pháp lý của đề tài 4

2.2 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.2.1 Một số khái niệm 4

2.3 Cơ sở thực tiễn 8

2.4 Các loại ô nhiễm nước 10

2.5 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 13

2.6 Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam 15

2.6.2.Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam 18

2.6.3 Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam 20

2.6.4 Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam 21

2.7 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Cao Bằng 23

2.7.1.Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Cao Bằng 23

2.7.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 23

Trang 8

2.8 Quy chuẩn Việt Nam về nước sinh hoạt và nước ngầm 25

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Phương pháp kế thừa 27

3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 28

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu 28

3.4.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 29

3.4.5 Phương pháp đánh giá, tổng hợp, so sánh 30

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 31

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

4.1.2 Tài nguyên nước 33

4.1.3 Môi trường 33

4.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội 34

4.2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng 35

4.2.1 Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt 35

4.2.2 Nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 37

4.3 Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa 38

4.3.1 Đánh giá chất lượng nước giếng đào 38

Hình 4.3: Biểu đồ dánh giá cảm quan của người dân về nước giếng đào tại thị trấn Xuân Hòa 39

4.3.2 Đánh giá chất lượng nước khe 44

4.4 Các phương pháp xử lý nước sinh hoạt của người dân thị trấn Xuân Hòa 49

Trang 9

4.5 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại thị trấn Xuân

Hòa, huyện Hà Quảng, Tỉnh Cao Bằng 50

4.5.1 Biện pháp tuyên truyền giáo dục 50

4.5.2 Biện pháp pháp luật, chính sách 51

4.5.3 Biện pháp kinh tế 52

4.5.4 Biện pháp kĩ thuật 53

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Tất cả chúng ta đều biết rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia Tuy nhiên, trên khắp thế giới, nhiều người còn chưa có được nước an toàn và đầy đủ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của họ Tài nguyên nước đang bị đe doạ bởi các chất thải và ô nhiễm, bởi việc khai thác sử dụng kém hiệu quả, bởi sự thay đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi khí hậu toàn cầu và nhiều nhân tố khác [13]

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa

và nước biển Trong đó nguồn nước mặt và nước dưới đất là quan trọng nhất,

có liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người Nguồn nước mặt là các dạng tích tụ nước tự nhiên hay nhân tạo có thể khai thác sử dụng trên mặt đất hoặc hải đảo bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch, đầm, phá, hồ chứa nước tự nhiên, hồ chứa nước nhân tạo, băng tuyết…Nước dưới lòng đất hay nước ngầm là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sinh hoạt hằng ngày của con người và cây trồng

Nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con người, tuy nhiên hiện nay nước đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Dân số gia tăng, phát triển kinh tế và công tác quản lý tài nguyên nước chưa được thỏa đáng Con người sử dụng nước cho nhiều mục đích khác nhau Việc cải thiện cấp nước và điều kiện vệ sinh góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khỏe cho người dân

Xuân Hòa là thị trấn thuộc huyện Hà Quảng , tỉnh Cao Bằng Thị trấn Xuân Hòa có tuyến tỉnh lộ 203 chạy qua và nằm trên đường đi đến khu du lịchhang Pác Bó Thị trấn cósuối Lênin chảy từ khu vực hang Pác Bó qua địa bàn và thuộc lưu vực thượng lưu củasông Bằng Tại Xuân Hòa nguồn nước

Trang 11

sử dụng gồm nước khe, giếng đào và nước máy Vì vậy để giúp cho dân cư thị trấn Xuân Hòa có được nguồn nước đạt tiêu chuẩn cần phải tiến hành đánh giá đúng hiện trạng nước hiện tại để từ đó xây dựng các giải pháp xử lý thích

hợp Xuất phát từ mục tiêu đó, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa – huyện Hà Quảng –tỉnh Cao Bằng”

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Đề suất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm

- Áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn

- Nâng cao hiểu biết về kiến thức thực tế

- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường

- Bổ sung tư liệu cho học tập

Trang 12

- Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn của huyện

- Lựa chọn các giải pháp tối ưu để sử dụng nước có chất lượng đảm bảo

- Tạo số liệu làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo

vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở pháp lý của đề tài

bản pháp luật, pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước đó là:

- Luật Tài nguyên nước do Quốc hội cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/6/2012

pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường

- Thông tư số 75/2017/TT-BTNMT ngày 29/12/2017 quy định về bảo

vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất

- Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước

- Thông tư 50/2015/TT-BYT ngày 11/12/2015Quy định việc kiểm tra

vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt

+ QCVN 09:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất

+ QCVN 02:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt

2.2 Cơ sở lý luận của đề tài

2.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm Môi trường

Trang 14

Theo UNESCO, môi trường được hiểu là: “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người”

Theo Luật Bảo vệ Môi trường (2014) của Nước CHXHCN Việt Nam, thì môi trường được khái niệm: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [4]

* Khái niệm ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường: Là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản

lý môi trường [12]

Theo Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam:

“Ô nhiễm môi trường” là sự biến đổi của các thành phần môi trường không

phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [4]

*Nước và một số khái niệm liên quan

- Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí, nước đóng băng ở nhiệt độ 00C nước có khối lượng riêng lớn nhất

- Nguồn nước: là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

- Nước mặt: là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo

- Nước dưới đất: là nước tồn tại ở trong các tầng chứa nước dưới đất

- Nước sinh hoạt: là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người

Trang 15

- Nước sạch: là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam

- Nguồn nước liên tỉnh: là nguồn nước phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh thành phố trực thuộc trung ương trở lên [1]

- Nguồn nước nội tỉnh: là nguồn nước phân bố trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Nguồn nước liên quốc gia: là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnh thổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng

- Ô nhiễm nguồn nước: là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn,

kỹ thuật cho phép gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật

- Suy thoái nguồn nước: là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc qua các thời kỳ trước đó [1]

- Cạn kiệt nguồn nước: là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh

- Chức năng của nguồn nước: là những mục đích sử dụng nước nhất định dựa trên các giá trị lợi ích của nguồn nước

- Hành lang bảo vệ nguồn nước: là phần đất giới hạn dọc theo nguồn nước hoặc bao quanh nguồn nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định [1]

2.2.2 Các nguồn nước dùng trong sinh hoạt

- Nước máy: là dạng nước đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn nước sạch

- Nước ngầm: là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới

Trang 16

bề mặt Trái đất, có thể khai thác cho hoạt động sống của con người, con

người khai thác nước ngầm dưới 2 dạng:

+ Nước từ giếng đào

+ Nước từ giếng khoan

- Nguồn gốc của nước ngầm: Nước mưa, nước mặt và hơi nước trong không khí ngưng tụ lại thẩm thấu vào lòng đất tạo thành nước ngầm Nước ngầm được giữ lại hoặc chuyển động trong các lỗ rỗng hay khe nứt của các tầng đất đá tạo nên tầng ngậm nước Khả năng ngậm nước của tầng đất đá phụ thuộc vào độ nứt nẻ Các loại đất sét, hoàng thổ không chứa nước Ở nước ta, một số nơi phát hiện nước ngầm phong phú trong các trầm tích biển, trầm tích song và trong tầng vôi nứt nẻ

- Các trạng thái tồn tại của nước ngầm:

+ Ở thể khí: cùng với không khí nằm trong các lỗ hổng của đất đá + Ở thể bám chặt: bao quanh các hạt đất bằng một lớp rất mỏng, gắn chặt với đất bằng các lực dính, ở điều kiện bình thường không thể tách ra được

+ Ở thể màng mỏng: nằm bao quanh các phần tử đất cát bằng lực phân

tử, có thể di chuyển trong lòng đất dưới ảnh hưởng của lực phân tử nhưng không thể truyền được áp suất

+ Nước mao dẫn: chứa đầy trong các lỗ hổng nhỏ của đất, chịu tác dụng của sức căng mặt ngoài và trọng lực Nước mao đẫn có thể di chuyển trong đất và có thể truyền được áp suất Vùng nước mao dẫn nằm trên mực nước trọng lực

+ Nước trọng lực hay nước thấm: chứa đầy trong các lỗ hổng của đất, chuyển động dưới tác dụng của trọng lực và có thể truyền được áp suất

Trong tất cả các dạng trên thì chỉ co nước thấm là có trữ lượng đáng kể

và có khả năng khai thác được

Trang 17

- Đặc tính chung của nước ngầm: Nước ngầm của nước ta được phân

bố gần như khắp mọi nơi và nằm ở độ sâu không lớn Tầng chứa nước rất dày, trung bình khoảng 15 – 30m, có nhiều nơi tới 50 - 70 m

Do nước ngầm nằm sâu trong lòng đất và được bảo vệ bởi các tầng cản nước nên nước ngầm ở nước ta có chất lượng tốt: hàm lượng cặn nhỏ ít, ít vi trùng, nhiệt độ ổn định, công nghệ xử lý nước đơn giản nên giá thành sản xuất rẻ

Tùy thuộc vào tầng hóa địa của tầng chức nước và chất lượng nguồn

bổ cập mà trong tầng nước ngầm có hàm lượng muối khoáng lớn, nhất là các muối cứng, nếu dùng để cấp nước cho nồi hơi, thường phải làm mềm

2.3 Cơ sở thực tiễn

- Vai trò của nước đối với con người: Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong đời sống con người Trong quá trình hình thành sự cố trên trái đất thì nước và môi trường đóng vai trò quan trọng, nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữa cơ (tham gia vào qúa trình quang hợp) Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò trung tâm Những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước Nước là dung môi

của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể

Con người sống không thể thiếu nước Cơ thể chỉ cần mất đi 10% lượng nước thì lập tức các chức năng sinh lý sẽ bị rối loạn: nếu mất đi 20% lượng nước thì nhanh chóng dẫn đến nguy cơ tử vong Một cơ thể khỏe mạnh, nhịn ăn chỉ cần cung cấp đủ nước vẫn có thể duy trì sự sống trong vòng một tháng Ngược lại nếu thiếu nước, chỉ sử dụng thức ăn khô không có nước thì bình thường sau 5-7 ngày sẽ có nguy cơ tử vong Điều này cho chúng ta thấy rằng, nước có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự sống con người

Nước chiếm khoảng 60% thành phần cấu tạo cơ thể Hàm lượng nước ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới, người trẻ tuổi cần nhiều nước hơn người cao tuổi Đối với các bộ phận trong cơ thể, lượng nước phân phối không

Trang 18

giống nhau Trong xương chiếm 10%, trong mô mỡ chiếm 20% - 35%, trong thịt chiếm gần 70%, trong dịch vị và huyết tương nước chiếm tới 90% [5]

- Vai trò của nước đối với sinh vật

Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 – 90% khối lượng cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức)

Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, các boxyl,…

Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ Nước là môi trường hòa tan chất vô cở và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật

Nước bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định Do nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bào cho nên làm cho thực vật có mọt hình dạng nhất định

Nước nối liền cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường Trong quá trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ino H+ và OH do nước phân ly ra

Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ

cơ thể Nước là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật

Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phất tán nòi giống của các sinh vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật [6]

- Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất

+ Trong đời sống sinh hoạt: nước được sử dụng cho nhu cầu ăn uống, tắm giặt hằng ngày và hoạt động vui chơi giải trí như bơi lội,

+ Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước để phát triển Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần

Trang 19

25 lít nước, lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt Dân gian có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước trong nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hang đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sang, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí của đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt quá tốc độ tăng dân số thế giới Đối với Việt Nam, nước đã cùng với con người làm lên nền Văn minh lúa nước tại châu thổ sông Hồng – các nôi Văn minh của dân tộc, của đất nước, đã làm nên hệ sinh thái nông nghiệp có năng xuất và tính bền vững vào loại cao nhất thế giới, đã làm nên một nước Việt Nam có xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới hiện nay Nước Việt Nam theo nghĩa đen đúng của nó là nước – H2O

- Trong công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Nước dung để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học

Tóm lại: đối với con người nước là nguồn thực phẩm chính không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày Qua đây chúng ta thấy được rõ được vai trò

và tầm quan trọng của nước đối với đời sống sản xuất nông nghiệp, hoạt động công nghiệp và trong tất cả các ngành khác

2.4 Các loại ô nhiễm nước

Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm, như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt Hoặc dựa vào môi trường nước, như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương Hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý

- Ô nhiễm vật lý

Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn Sự phát triển của các vi khuẩn và các vi

Trang 20

sinh vật khác lại càng làm tăng tốc độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng

Nhiều nước thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ

Ngoài ra, các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hóa học như muối sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfua, phenol, làm cho nước có vị không bình thường Các chất amoniac, sulfua, cyanua, dầu làm cho nước có mùi lạ Thanh tảo làm cho nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm cho nước có mùi tanh của cá

- Ô nhiễm sinh học của nước

Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy,

Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được, chất thải sinh hoạt hoặc công nghiệp có chứa cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò sát sinh,

Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả Các nước thải từ lò sát sinh chứa một lượng lớn mầm bệnh

Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều

có nước thải chứa protein Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng

bị phân hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có tính độc và mùi khó chịu Mùi hôi của phân và nước cống chủ yếu là

do indol và dẫn xuất chứa methyl

- Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ

Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Mn, Cu, Hg là những chất độc cho thủy sinh vật

Trang 21

Đó là chì được sử dụng là chất phụ gia trong xăng và các kim loại khác như đồng, kẽm, crom, niken, cadimi rất độc đối với sinh vật thủy sinh

Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân hóa học cũng đáng lo ngại Phân bón làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm Nhưng các cây trồng chỉ được khoảng 30 – 40 % lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hóa sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới

- Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp

Ô nhiễm này chủ yếu là do hydrocacbon, nông dược, chất tẩy rửa, + Hydrocacbon

Hydrocacbon là các hợp chất của nguyên tố cacbon và hydro Chúng ít tan trong nước nhưng tan nhiều trong dầu và các dung môi hữu cơ Chúng là một trong những nguồn ô nhiễm của nền văn minh hiện đại Vấn đề hết sức nghiêm trọng ở những vùng nước lợ và thềm lục địa có nhiều cá

Sự ô nhiễm bởi các hydrocacbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển dầu trên biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương đối thường xuyên

Các vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi các hydrocacbon Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu là do vô ý vãi xăng dầu Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm

+ Chất tẩy rửa: Bột giặt tổng hợp và xà bông

Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950 Chúng là các chất hữu cơ có cực và không có cực Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-ionic Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylerne benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học

Xà bông là tên gọi chung có muối kim loại với acid béo Ngoài các xà bông natri và kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các

Trang 22

xà bông không tan thì chứa canxi, sắt, nhôm, sử dụng trong kỹ thuật (các chất bôi trơn, sơn, verni, )

+ Nông dược: Người ta phân biệt

Thuốc sát trùng

Thuốc diệt nấm

Thuốc diệt cỏ

Thuốc diệt chuột

Các nông dược tạo nên một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực nước Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông hoặc do việc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bờ biển

Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp nhưng hậu quả cho môi trường và sinh thái cũng rất đáng kể

Có ba loại thông số phản ánh đặc tính khác nhau của chất lượng nước

và thông số vật lý, thông số hóa học và thông số sinh học

2.5 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước

- Ô nhiễm tự nhiên:

Do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão,…hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng Cây cối, sinh vật chết đi, chúng

bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ Một phần sẽ ngấm vào lòng đất sau

đó ăn sâu vào nước ngầm gây nên ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn

Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu

- Ô nhiễm do hoạt động của người dân

Trang 23

+ Từ sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan, trường học; chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt và vệ sinh của con người

Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng, chất rắn và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà chất lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì tải lượng càng cao

Nước thải đô thị là loại nước thải tạo thành do sự gộp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các sơ sở thương mại, công nghiệp nhỏ trong khu đô thị Nước thải đô thị thường được thu gom vào hệ thống cống thải của thành phố, đô thị để xử lý chung Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70 – 90% tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vào đường cống

+ Từ hoạt động công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ các

cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp

cụ thể Ví dụ: nước thải của xí nghiệp thuộc da ngoài chất hữu cơ còn có kim loại nặng, nước thải của xí nghiệp cán thép chủ yếu là sắt, chì…

Hàm lượng nước thải chứa các chất độc hại vượt hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép đã gây nên ô nhiễm nặng nề nguồn nước mặt trong vùng dân

cư lân cận Mức độ ô nhiễm của các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn Điều nguy hiểm hơn là trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp, các khu chế xuất đa phần chưa có trạm xử lý nước thải, khí thải

và hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường

+ Từ y tế: Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là,

Trang 24

rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng, cũng có thể từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh nhân và cán bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện Điểm đặc thù của nước thải y tế có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải được xả ra từ những bệnh viện hay nhưng khoa truyền nhiễm, lây nhiễm Những nguồn nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người

và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải

Nước thải bệnh viện chứa vô số loại vi trùng, virus và các mầm bệnh sinh học khác trong máu mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh, các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí cả chất phóng xạ Do đó, được xếp vào danh mục chất thải nguy hại, gây nguy hiểm cho người tiếp xúc

+ Từ hoạt động nông nghiệp: Các hoạt động chăn nuôi gia súc, phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác; thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, ngô, vườn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gấp ba lần khuyến cáo Chẳng những thế, nông dân còn

sử dụng cả các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm trên thị trường như Aldrin, Thiodol, Monitor, Trong quá trình bón phân, phun xịt thuốc, người nông dân không hề trang bị bảo hộ lao động

Đa số nông dân không có kho cất giữ, bảo quản thuốc, thuốc khi mua

về chưa sử dụng xong bị vứt ngay ra bờ ruộng, số còn lại được thu gom bán phế liệu

2.6 Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam

Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào mức độ khai thác của con người và khả năng tái tạo của môi trường Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên

Trang 25

phổ biến Tuy nhiên việc sử dụng khai thác nguồn nước tài nguyên này gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước

2.6.1 Tình hình sử dụng nước trên thế giới

Nhu cầu nước ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người Theo sự ước tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10 % cho sinh hoạt Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia Ví dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nhân nghiêp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí Ở Trung Quốc thì 7% nước được sử dụng cho công nghiệp, 87% cho công nghiệp, 6% sử dụng cho nước sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991) [9]

Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất…, chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ mất 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Ví dụ cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 300.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng

160 lít, cần 300.000 lít nước để 14 sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp, để làm ra 01 lít nhiên liệu sinh học phải cần khoảng từ 1.000 đến 4.000 lít nước, sản xuất điện từ nguồn thủy điện dự kiến tăng trung bình hàng năm là 1,7% từ năm 2004 đến năm

2030 gia tăng tổng thể là 60% Phần nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất ô nhiễm (Cao Liêm và cs, 1990) [3]

Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao Theo M.I.Lvovits (1974) [11]

Trang 26

Trong tương lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3 /năm Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và

1 tấn bông vải cần 10.000 tấn nước Sở dĩ cần số lượng nước lớn như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới

và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là đối tượng tiêu thụ nhiều nước nhất chiếm 50% lượng nước tiêu thụ (so với 40% dành cho công nghiệp và 10% danh cho sinh hoạt đời sống) Nếu không có quy hoạch sử dụng hợp lý, nhu cầu nước sẽ tăng lên từ 50% đến 70% vào năm 2050, mặc dù sử dụng tài nguyên nước của một số nước hiện đã chạm đến mức giới hạn Đồng thời, thay đổi về lối sống và thói quen

ăn uống đã diễn ra trong nhiều năm gần đây, nhất là gia tăng tỷ lệ tiêu thụ thịt

và các sản phẩm bơ sữa tại những nước vừa giàu lên đã tác động mạnh mẽ tới tài nguyên nước Để sản xuất 1 kg ngũ cốc cần từ 800 đến 4.000 lít nước, trong khi đó để sản xuất 1 kg thịt bò phải tốn từ 2.000 đến 16.000 lít nước Nếu vào thời điểm năm 1985, một người Trung Quốc tiêu thụ 20 kg thịt thì vào năm 2009 con số này đã là 50 kg, điều đó có nghĩa là Trung Quốc cần có thêm 390 km3 nước

Nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/người/ngày Ngày nay, do

sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngày càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn Theo sự ước

Trang 27

tính đó thì đến năm 2000 nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1990, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao Liêm và cs, 1990) [3]

Theo ước tính, năm 2030 sẽ có 47% dân số thế giới sinh sống tại các vùng căng thẳng về nước Chỉ riêng tính ở châu Phi, do biến đổi khí hậu, số người chịu cảnh thiếu nước nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệu người Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như giao thông vận tải, giải trí ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội…nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội

2.6.2.Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng

Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông

Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640 km3 , tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 km3 Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu long (550 km3) và sông Hồng (50 km3) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km3 Như vậy so với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17.000 m3/người/năm Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500m3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được

Trang 28

tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông

và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp [5]

- Nước Ngầm: Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay, tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu nguồn nước này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến hành trong chừng chục năm gần đây Hiện nay phong trào đào giếng để khai thác nước ngầm được thực hiện ở nhiều nơi nhất là ở vùng nông thôn bằng các phương tiện thủ công, còn sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại cũng đã được tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn mà thôi

- Nước khoáng và nước nóng: Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có khoảng 350 nguồn nước khoáng và nước nóng, trong đó nhóm chứa Carbonic tập trung ở nam Trung bộ, đông Nam bộ và nam Tây nguyên, nhóm chứa Sulfur Hydro ở Tây Bắc và miền núi Trung bộ, nhóm chứa Silic ở trung

và nam Trung bộ, nhóm chứa Sắt ở đồng bằng Bắc bộ, nhóm chứa Brom, Iod

và Bor có trong các trầm tích miền võng Hà Nội và ven biển vùng Quảng Ninh, nhóm chứa Fluor ở nam Trung bộ, Phần lớn nước khoáng cũng là nguồn nước nóng, gồm 63 điểm ấm với nhiệt độ từ 300°C – 400°C, 70 điểm nóng vừa với nhiệt độ từ 41°C – 60°C và 36 điểm rất nóng với nhiệt độ từ 600°C – 1000°C, hầu hết là mạch ngầm chỉ có 2 mạch lộ thiên thuộc loại ấm gặp ở trung Trung bộ và ở đông Nam bộ Từ những số liệu trên cho thấy rằng tài nguyên nước khoáng và nước nóng của Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại

và phong phú có tác dụng chữa bệnh, đồng thời có tác dụng giải khát và nhiều công dụng khác

Trong những năm gần đây nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp và sinh hoạt không ngừng tăng lên theo đà phát triển của công nghiệp, sự gia

Trang 29

tăng dân số, mức sống của người dân không ngừng được nâng cao và sự phát

triển của các đô thị [6]

2.6.3 Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam

Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm

môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị Thực trạng ô

nhiễm nước mặt: Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưu các con sông

chính còn khá tốt Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu đã và đang có nhiều vùng bị ô

nhiễm nặng nề Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa

khô khi lượng nước đổ về các con sông giảm Chất lượng nước suy giảm

mạnh, nhiều chỉ tiêu như: BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho

phép nhiều lần

Thực trạng ô nhiễm nước dưới đất: Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt

Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiễm mặn, nhiễm

thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy

hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp

Thực trạng ô nhiễm nước biển: Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi

chất rắn lơ lửng (đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit,

colifom (chủ yếu là đồng bằng song Cửu Long), dầu và kim loại kẽm,… Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý là hệ

thống hồ trong công viên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của

Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của thành phố Người dân trong khu

vực này không có đủ nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu Điều kiện

sống của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong công viên là

nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh Mặc dù mở cửa từ năm 2002

nhưng công viên Yên Sở không được sử dụng hiệu quả do sự ô nhiễm và mùi

ô uế bốc lên từ hồ Vì vậy, quá trình phát triển vẫn dậm chân tại chỗ Nhiều

sông hồ ở phía Nam thành phố như Tô Lịch và Kim Ngưu cũng đang nằm

trong tình trạng ô nhiễm như vậy [5]

Trang 30

Tóm lại: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, lạc hậu Nhận thức của người dân về vấn đề môi trường chưa được cao còn hạn chế Đáng chú ý là sự bất cập trong công tác quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa được sâu sắc và đầy đủ Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ban ngành và địa phương chưa được đồng bộ, còn chồng chéo.

2.6.4 Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam

Nước thải sinh hoạt bao gồm nước thải từ khu dân cư, cao ốc văn phòng, khu nghỉ dưỡng, trường học, chợ, …Lượng nước thải này chủ yếu là nước thải sinh hoạt gia đình xuất phát từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người như nấu nướng, vệ sinh cá nhân, vệ sinh nhà cửa

Nước thải được chia làm 3 loại chính, với mỗi loại sẽ cần có một phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt riêng để đảm bảo tiêu chuẩn xả thải ra môi trường phù hợp với tiêu chuẩn và quy định của nhà nước

- Nước thải từ khu vệ sinh: là nước thải từ nhà vệ sinh, chứa các chất hữu cơ như phân, nước tiểu, các vi sinh vật gây bệnh, cặn lơ lửng

- Nước thải khu nhà bếp: có đặc trưng chứa hàm lượng dầu mỡ cao, lượng cặn, rác lớn

- Nước thải giặt là: có hàm lượng chất hữu cơ không đáng kể, chủ yếu

là các hóa chất dùng để tẩy rửa

Với những đặc trưng khác nhau như vậy, cần có cách xử lý nước thải riêng phù hợp với từng loại nước thải gia đình Ngoài ra, những yếu tố khác tác động đến việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp có thể kể đến là: lưu lượng và chế độ xả thải, mức độ cần thiết xử lý nước thải, đặc điểm nguồn tiếp nhận, điều kiện môi trường tại nơi dự kiến xây dựng nhà máy xử lý, điều kiện vận hành và quản lý hệ thống xử lý nước thải

Trang 31

Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt

Mục đích của việc xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất nhiễm bẩn, làm sạch nước để có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc tái sử dụng Dựa trên mục đích đó, có 3 phương pháp xử lý nước thải phổ biến, đó là: phương pháp hóa học, phương pháp sinh học, phương pháp hóa lý

- Phương pháp hóa học

Đây là phương pháp phổ biến, thường được sử dụng trong hệ thống xử

lý nước thải sinh hoạt Phương pháp này dựa trên các phản ứng hóa học xảy

ra giữa chất bẩn, chất ô nhiễm có trong nước thải với hóa chất thêm vào, gồm

có các phản ứng: trung hòa, oxy hóa khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất có hại Điểm ưu việt của cách làm này là hiệu quả cao Tuy nhiên, Phương pháp này cũng khá tốn kém

- Phương pháp sinh học

Phương pháp xử lý nước thải này loại bỏ các cặn bẩn, chất độc hại nhờ khả năng sống và hoạt động của các vi sinh vật có ích, làm phân hủy các chất hữu cơ và các thành phần ô nhiễm có trong nước thải Cách làm này chủ yếu gồm 5 nhóm chính: hiếu khí, trung gian anoxic, kị khí, kết hợp hiếu khí – trung gian anoxic – kị khí các quá trình hồ

Tuy nhiên, để hạn chế tối đa việc phải xử lý nước thải sinh hoạt và tránh gây ô nhiễm, mất vệ sinh môi trường xung quanh, chúng ta có một phương pháp tối ưu và tiết kiệm chi phí hơn cả, đó là sử dụng máy lọc nước Như vậy, để lựa chọn được phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt phù hợp và

Trang 32

hiệu quả nhất, người dùng cần cân nhắc nhiều yếu tố: bản chất loại nước thải, lưu lượng xả thải, mức độ cần thiết xử lý nước thải, đặc điểm nguồn tiếp nhận,…[10]

2.7 Thực trạng tài nguyên nước của tỉnh Cao Bằng

2.7.1.Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Cao Bằng

Do đặc thù Cao Bằng là một tỉnh vùng cao, địa hình phức tạp và bị phân cắt mạnh, theo đó tài nguyên nước mặt cũng phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số lưu vực sông lớn như sông Bằng Giang, sông Gâm, sông Quây Sơn… Một số vùng trong tỉnh còn thường xuyên phải đối mặt với tình trạng thiếu nước Cao Bằng là vùng thượng nguồn của một số sông thuộc hai hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Tả Giang (Trung Quốc) Trên địa bàn tỉnh có khoảng gần 1.200 con sông suối có chiều dài từ 2km trở lên với tổng chiều dài 3.175km, mật độ sông suối khoảng 0,47km/km2 Các sông lớn trên địa bàn tỉnh là: sông Bằng Giang, sông Gâm, sông Quây Sơn Đặc điểm của sông suối là có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, nhất là sông suối thuộc hệ thống sông Quây Sơn và sông Gâm Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, tập trung vào mùa lũ (chiếm 60 – 80%) Các hồ hình thành chủ yếu do cấu trúc địa hình bị chia cắt, trên địa bàn tỉnh có 1 hồ tự nhiên (hồ Thăng Hen) và một số hồ nhân tạo [7]

2.7.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Chế độ thủy văn các sông ở Cao Bằng phụ thuộc chủ yếu vò chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Chế độ thủy văn trên các sông thay đổi theo hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trên các sông ở Cao Bằng tương đối đồng nhất về thời gian, thường từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng 19 nước trên các sông suối thường chiếm 65 – 80% lượng nước cả năm Mùa cạn trên các sông bắt đầu từ tháng 10, có năm vào tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, có năm kết thúc vào tháng 6, 7 năm sau

Trang 33

Chất lượng nước tại các sông suối, ao hồ trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây đã và đang bị suy giảm, đặc biệt là các đoạn sông chảy qua địa bàn thành phố và các khu vực có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Trong giai đoạn 2005 – 2010, để tận thu và làm giàu quặng các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống tuyển xoắn, tuyển trọng lực có sử dụng lượng nước lớn gấp nhiều lần so với giai đoạn trước, trong khi đó công nghệ xử lý chưa phù hợp và gây ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực Các hoạt động khai thác vàng sa khoáng, cát sỏi tại các lòng sông suối không đúng theo quy định

đã làm thay đổi dòng chảy ở một số đoạn sông suối, tại các khu vực khai thác trái phép các đoạn sông suối bị ô nhiễm nặng Tổng lượng nước thải đô thị toàn tỉnh hiện nay ước tính khoảng 8.932 m3/ngày giai đoạn 2005 – 2010, hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn, tình trạng vứt rác thải, vật liệu xây dựng, xác động vật chết xuống sông đã và đang gây ô nhiễm

và mất mỹ quan các dòng sông

Tổng lượng nước thải công nghiệp toàn tỉnh vào những tháng sản xuất cao điểm vào khoảng 702.985 m3/tháng (nguồn thống kê từ các cơ sở nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp) Hầu hết lượng nước thải tuyển rửa quặng từ các mỏ được xử lý bằng phương pháp lắng sau đó tuần hoàn tái sử dụng Toàn bộ các bãi chôn lấp rác thải tại 13 huyện thị hiện nay vận hành không đúng quy trình chôn lấp, không có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc hệ thống xử lý nước rỉ rác đã bị hư hỏng Nước rỉ rác, nước mưa chảy tràn qua bãi rác ngấm ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường [7]

Trang 34

2.8 Quy chuẩn Việt Nam về nước sinh hoạt và nước ngầm

Bảng 2.1: Quy chuẩn kỹ thuật quuốc gia về chất lượng nước sinh hoạt

TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Giới hạn tối đa cho phép

- Giới hạn tối đa cho phép I: Áp dụng đối với các cơ sở cung cấp nước

- Giới hạn tối đa cho phép II: Áp dụng đối với các hình thức khai thác nước của cá nhân, hộ gia đình (các hình thức cấp nước bằng đường ống chỉ qua xử lý đơn giản như giếng khoan, giếng đào, bể mưa, máng lần, đường ống tự chảy)

Ngày đăng: 03/09/2019, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Sỹ Dũng (2007), “Nước sạch và vệ sinh môi trường vấn đề của toàn xã hội”, Tạp chí môi trường và cuộc sống, Hội nước sạch - Môi trường Việt Nam, Tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước sạch và vệ sinh môi trường vấn đề của toàn xã hội”
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng
Năm: 2007
2. Võ Dương Mộng Huyền và cộng sự (2013), “Báo cáo: Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước”, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo: Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước”
Tác giả: Võ Dương Mộng Huyền và cộng sự
Năm: 2013
3. Cao Liêm và Trần Đức Viên (1990), “Sinh thái học Nông nghiệp và bảo vệ môi trường”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học Nông nghiệp và bảo vệ môi trường
Tác giả: Cao Liêm và Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1990
6. Nguyễn Ngọc Nông, Đặng Thị Hồng Phương (2006), “Bài giảng luật và chính sách môi trường”, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng luật và chính sách môi trường”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nông, Đặng Thị Hồng Phương
Năm: 2006
4. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 5. Luật tài nguyên nước năm 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w