1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với người việt nam tại thành phố hồ chí minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

204 78 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy phươngthức quản lý này có thể tác động và điều chỉnh đến hành vi NNT, nhưng vẫnthiếu một cơ chế để đảm bảo thực sự nâng cao tính tuân thủ tự nguyệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NCS VŨ THỊ BÍCH QUỲNH

QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành:

Mã số:

Quản lý kinh tế 9340410

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

HÀ NỘI – Năm 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS Dương Thị Bình Minh

Phản biện 1: PGS.TS Vũ Sỹ Cường

Phản biện 2: PGS.TS Trương Quốc Cường

Phản biện 3: PGS.TS Cao Thị Ý Nhi

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tạiHọc viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

9 JICA Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản

10 MTMM Đa khái niệm, đa phương pháp

15 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế châu Âu

16 RMSEA Độ phù hợp của mô hình so với tổng thể

Trang 4

i

Trang 5

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 3 1: Quản lý nợ thuế TNCN giai đoạn 2010-2018 72

Biểu đồ 3 2: Tổng số thu thuế thu nhập cá nhân Tp.HCM so với tổng thu ngân sách Tp.HCM giai đoạn 2010-2018 78

Biểu đồ 3 3: Tốc độ tăng trưởng bình quân của thuế TNCN so với các sắc thuế khác tại Tp.HCM giai đoạn 2010-2018 78

Biểu đồ 3 4: Phân bổ mẫu theo giới tính 103

Biểu đồ 3 5: Phân bổ mẫu theo độ tuổi 104

Biểu đồ 3 6: Phân bổ mẫu theo tình trạng học vấn 105

Biểu đồ 3 7: Phân bổ mẫu theo tình trạng học vấn 105

Biểu đồ 3 8: Phân bổ mẫu theo tình trạng làm việc 106

Biểu đồ 3 9: Phân bổ mẫu theo mức thu nhập hàng tháng 107

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Sự hình thành các hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT 57

Bảng 3.1: Số truy thu thuế TNCN tại Tp HCM giai đoạn 2010-2018 68

Bảng 3.2: Số thuế TNCN truy thu qua kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế tại TP HCM giai đoạn 2010-2018 68

Bảng 3.3: Số thuế TNCN truy thu qua kiểm tra tại trụ sở NNT tại Tp.HCM giai đoạn 2010-2018 69

Bảng 3 4: Tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế TNCN của Cục thuế Tp HCM trong giai đoạn 2010 - 2018 75

Bảng 3.5: Số thu thuế TNCN của các chi cục quản lý theo phân cấp 76

Bảng 3 6: Thang đo cảm nhận tham nhũng 96

Bảng 3 7: Thang đo cảm nhận tham nhũng vặt 96

Bảng 3 8: Thang đo chuẩn mực bắt buộc 96

Bảng 3 9: Thang đo chuẩn mực mô tả 97

Bảng 3 10: Thang đo chuẩn mực chủ quan 97

Bảng 3 11: Thang đo chuẩn mực cá nhân 97

Bảng 3 12: Thang đo cảm nhận công bằng 98

Bảng 3 13: Thang đo dự định tuân thủ thuế TNCN 98

Bảng 3 14: Kết quả Cronbach alpha các thang đo 99

Bảng 3 15: Kết quả phân tích EFA 101

Bảng 3 16: Kiểm định giá trị phân biệt 109

Bảng 3 17: Độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích 110

Bảng 3 18: Trung vị, độ lệch chuẩn và hệ số tải nhân tố của các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu định lượng 110

Bảng 3 19: Hệ số hồi quy của các mối quan hệ (chưa chuẩn hóa) 113

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 0 1: Quy trình thực hiện nghiên cứu 5

Hình 1 1: Tổng kết các nhóm nhân tố tác động đến thái độ tuân thủ thuế TNCN và định tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các nước phát triển 25

Hình 1 2: Tổng kết các nhóm nhân tố tác động đến thái độ tuân thủ thuế TNCN và định tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các nước đang phát triển 26

Hình 2.1: Tổng quan nội dung quản lý thuế 46

Hình 2 2: Mô hình hành vi tâm lý phổ biến 55

Hình 2 3: Mô hình tuân thủ 56

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 93

Hình 3 2: Quy trình nghiên cứu định lượng 94

Hình 3 3: Kết quả CFA (chuẩn hóa) mô hình tới hạn 110

Hình 3 4: Kết quả SEM (chuẩn hóa) mô hình lý thuyết cơ bản 113

Hình 3 5: Mô hình sau khi kiểm định 115

Trang 8

MỤC LỤC

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BIỂU ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

4.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 5

4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 5

4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 5

4.4 Dữ liệu nghiên cứu 7

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 8

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 10

6.1 Về mặt lý luận 10

6.2 Về mặt thực tiễn 11

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 11

CHƯƠNG 1 12

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 12

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 12 1.1.1 Các công trình trên thế giới 12

1.1.2 Các công trình tại Việt Nam 27

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 33

1.2.1 Đánh giá khái quát về kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án 33

1.2.2 Vấn đề mới cần nghiên cứu 34

CHƯƠNG 2 37

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 37

2.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ 37

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế và thuế thu nhập cá nhân 37

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về Quản lý thuế thu nhập cá nhân 41

2.2 MÔ HÌNH QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 54

Trang 9

2.2.1 Mô hình tâm lý hành vi phổ biến 54

2.2.2 Mô hình tuân thủ 55

2.3 HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 57

2.3.1 Sự hình thành hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 57

2.3.2 Các biểu hiện của hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 58

2.4 LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN THEO MÔ HÌNH TUÂN THỦ 60

2.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN 62

2.5.1 Chuẩn mực 62

2.5.2 Cảm nhận công bằng thuế thu nhập cá nhân 64

2.5.3 Cảm nhận tham nhũng 64

CHƯƠNG 3 65

PHÂN TÍCH QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65

3.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65 3.1.1 Các kết quả đạt được trong quản lý thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh 65

3.1.2 Những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh 78

3.1.3 Nguyên nhân của những bất cập trong quản lý thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh 82

3.2 PHÂN TÍCH QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN THEO LÝ THUYẾT HÀNH VI TUÂN THỦ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 86

3.2.1 Xây dựng các giả thuyết kiểm định trong mô hình hành vi tuân thủ của người nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân là người Việt Nam tại TP.HCM 86

3.2.2 Quy trình nghiên cứu định lượng 93

3.2.3 Xây dựng thang đo 95

3.2.4 Đánh giá sơ bộ thang đo 99

3.2.5 Kiểm định thang đo bằng CFA 107

3.2.6 Kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết bằng SEM 112

3.2.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu theo mô hình tuân thủ 115

CHƯƠNG 4 118

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2018 - 2025 118

4.1 HỘI NHẬP KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 118

4.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 122

4.2.1 Đổi mới mô hình quản lý thuế thu nhập cá nhân theo hướng chuyển từ mô hình tâm lý hành vi phổ biến sang mô hình tự tuân thủ 122

4.2.2 Mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc 124

Trang 10

4.3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍNH MINH 126

4.3.1 Nhóm giải pháp hình thành ý thức tự tuân thủ 126

4.3.2 Nhóm giải pháp điều kiện 136

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 145

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

PHỤ LỤC 160

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước vàgắn với quyền lực Nhà nước Quản lý thuế là quá trình tác động của cơ quanquản lý thuế đến người nộp thuế (NNT) nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luậtthuế Quá trình tác động của cơ quan quản lý thuế nhằm đảm bảo sự tuân thủpháp luật của NNT là quá trình tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuếnhư tuyên truyền thuế, hỗ trợ NNT, quản lý kê khai thuế, kế toán thuế, thanhtra thuế, kiểm tra thuế, đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợthuế Quá trình quản lý của cơ quan quản lý thuế đến NNT nhằm tác động vàđiều chỉnh hành vi tuân thủ của NNT theo đúng mục tiêu quản lý thuế

Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc nâng cao tính tuân thủ củaNNT, đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung, chính xác, kịp thời, thườngxuyên, ổn định vào ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thời thông qua quản

lý thuế, cơ quan thuế có thể bổ sung, sửa đổi các luật thuế nhằm thực hiệnhiệu quả các mục tiêu của pháp luật thuế

Trong công tác quản lý thuế nói chung, quản lý thuế thu nhập cá nhân(TNCN) có vị trí quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

ở Việt Nam ngày càng diễn ra sâu rộng thì quản lý thuế TNCN càng cần đượcquan tâm và nâng cao hiệu quả Vì hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ tạo cơ

sở để gia tăng các nguồn thu nhập cho các tầng lớp dân cư trong xã hội, màcòn làm phát sinh nhiều hoạt động kinh tế với quy mô lớn có tính chất phứctạp và lĩnh vực hoạt động đa dạng Trong khi đó, công tác quản lý thuế TNCN

ở Việt Nam hiện nay lại bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế

Việc lựa chọn vấn đề quản lý thuế TNCN làm chủ đề nghiên cứu là cầnthiết khách quan Điều đó xuất phát từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, về phương diện lý luận

Các nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thuế trước đây đã thu đượcnhững thành tựu đáng kể, đặt nền móng vững chắc cho công tác quản lý thuế

Trang 12

trong hoạt động thực tiễn Những nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết sửdụng quyền lực nhà nước để tác động đến hành vi của NNT nhằm cưỡng chếNNT tuân thủ pháp luật thuế Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy phươngthức quản lý này có thể tác động và điều chỉnh đến hành vi NNT, nhưng vẫnthiếu một cơ chế để đảm bảo thực sự nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của NNT.Đây chính là phương diện lý luận cần được nghiên cứu làm rõ, đặc biệt là sự tácđộng của chức năng quản lý thuế TNCN và các nhân tố ảnh hưởng đến việc nângcao tính tuân thủ của NNT cả về định tính và định lượng.

Thứ hai, về phương diện thực tiễn

Trong những năm qua, công tác quản lý thuế TNCN đã được tổ chứcthực thi ở Việt Nam, trong đó có địa bàn Tp HCM Việc thực hiện quản lýnày đảm bảo cho các quy định pháp luật về thuế TNCN đi vào cuộc sống, gópphần thực hiện các mục tiêu chính sách quốc gia Bên cạnh những kết quả đạtđược, công tác quản lý thuế tại Tp HCM cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cậpnhư: hiện tượng trốn lậu thuế vẫn rất phổ biến, tỷ lệ nợ đọng thuế ngày càngtăng và càng trở nên phức tạp hơn khi bối cảnh hội nhập và quy mô hoạt độngkinh tế ngày càng mở rộng Nguyên nhân của thực trạng trên không đến từ sựthiếu vắng các công cụ quản lý và các hình thức xử lý vi phạm luật thuế mà ở

ý thức và sự tuân thủ của NNT Điều này cho thấy: việc nâng cao hiệu lựcquản lý thuế cần gắn liền với việc nâng cao ý thức tự tuân thủ của NNT trên

cơ sở sử dụng hợp lý các chức năng và công cụ quản lý thuế để tác động đến

ý thức tự tuân thủ của NNT

Thứ ba, về cách tiếp cận trong nghiên cứu

Việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN đã dành được sựquan tâm chú ý của các nhà khoa học và quản lý Trên các diễn đàn khoa học đãxuất hiện nhiều công trình và đề tài, bài báo có liên quan đến quản lý thuếTNCN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, cácnghiên cứu này chỉ mới phân tích quản lý thuế TNCN dựa trên nội dung quản lýthuế theo các quy định của pháp luật Một số ít nghiên cứu có giải thích mối

Trang 13

quan hệ giữa quản lý thuế và việc nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT ở ViệtNam, song các nghiên cứu này chưa đưa ra được mô hình lý thuyết và không

có kiểm định thống kê, do đó kết quả đạt được là rất hạn chế Đây chính làkhoảng trống mở ra cơ hội để nghiên cứu sinh (NCS) tiếp tục nghiên cứu gópphần xây dựng nền tảng khoa học cho công tác quản lý thuế TNCN tại ViệtNam thông qua việc xây dựng mô hình và kiểm định mô hình lý thuyết vềquản lý thuế TNCN tại Việt Nam

Vì vậy, việc lựa chọn vấn đề “Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với

người Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế” làm chủ đề nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng không chỉ

làm sáng tỏ thêm về lý luận mà còn góp phần giải quyết những vấn đề cấpbách trong thực tiễn đặt ra

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của luận án 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, khái quát hóa về mặt lý thuyết các phương thức quản lý của

cơ quan thuế đối với NNT, phân tích các mô hình quản lý thuế TNCN đối vớiNNT theo các phương pháp định tính và định lượng, trên cơ sở đó đề xuất ápdụng mô hình tuân thủ trong quản lý thuế TNCN ở Tp HCM trong bối cảnhhội nhập quốc tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thuế TNCN nói chung trong đótập trung làm rõ mô hình quản lý thuế TNCN theo lý thuyết hành vi tâm lý phổ biến và lý thuyết hành vi tuân thủ

- Phân tích định tính về mô hình quản lý thuế TNCN đối với người ViệtNam tại Tp.HCM trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đánh giá thành tựu, hạnchế và nguyên nhân để có định hướng đổi mới mô hình quản lý thuế

- Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu định lượng về quản lý thuế

TNCN theo mô hình tuân thủ để đưa ra những hàm ý chính sách và khuyến

Trang 14

nghị về quản lý thuế TNCN theo mô hình tuân thủ của NNT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Cảm nhận tham nhũng có tác động vào các loại chuẩn mực của NNT(chuẩn mực bắt buộc, chuẩn mực mô tả, chuẩn mực chủ quan, chuẩn mực cá nhân)không?

- Cảm nhận tham nhũng vặt có tác động vào các loại chuẩn mực củaNNT (chuẩn mực bắt buộc, chuẩn mực mô tả, chuẩn mực chủ quan, chuẩn mực cánhân) không?

chuẩn mực chủ quan, chuẩn mực cá nhân) có tác động vào dự định tuân thủ

thuế TNCN không?

- Chuẩn mực bắt buộc, chuẩn mực mô tả, chuẩn mực chủ quan có tácđộng vào chuẩn mực cá nhân của NNT không? Chuẩn mực cá nhân của NNT

có tác động vào cảm nhận công bằng không?

- Cảm nhận công bằng của NNT có tác động vào dự định tuân thủ thuếTNCN không?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quản lý thuế TNCN (theo mô hình tâm lý hành

vi phổ biến và mô hình hành vi tuân thủ)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: tại thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi thời gian: tình hình thực tiễn trong giai đoạn 2010-2018 và đề

xuất kiến nghị trong tầm nhìn 2025

- Về quy mô và nội dung: Luận án sẽ nghiên cứu những vấn đề quản lýthuế TNCN có tác động đến tính tuân thủ của NNT để đổi mới mô hình quản lýthuế TNCN ở Tp HCM trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 15

- Phạm vi khảo sát: cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế TNCN là người Việt Nam tại Tp.HCM.

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu

Hình 0 1: Quy trình thực hiện nghiên cứu

Nguồn: NCS xây dựng.

4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trên cơ sở tổng kết lý thuyết về quản lý thuế TNCN, các mô hình quản lýthuế TNCN trên thế giới, từ đó NCS tìm mô hình quản lý thuế TNCN phù hợp ởViệt Nam Tiếp đến là thông qua phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, mô

tả, phân tích tình huống quản lý điển hình nhằm đánh giá thực trạng quản lý thuếTNCN tại Tp.HCM, từ đó đưa ra đánh giá chung về thực trạng quản lý thuếTNCN tại Tp.HCM trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Luận án sử dụng phương pháp khảo sát nhằm thu thập số liệu và kiểmđịnh mô hình lý thuyết mà luận án đề xuất Cụ thể: Luận án tổng kết lý thuyết vềquản lý hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu(mô hình cần kiểm định), xây dựng thiết kế nghiên cứu (gồm: quy trình nghiêncứu, thang đo, đánh giá sơ bộ thang đo, nghiên cứu chính thức) và phân tích kếtquả khảo sát (kiểm định thang đo bằng mô hình đo lường – confirm

Trang 16

factory analysis (CFA), kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết bằng môhình cấu trúc – structural equation modelling (SEM)).

4.3.1 Mẫu nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực hiện bằng phương pháp phỏngvấn sâu những người trong độ tuổi lao động và có phát sinh thu nhập chịuthuế (cá nhân kinh doanh, giảng viên chuyên ngành thuế, cán bộ thuế) Trên

cơ sở nghiên cứu sơ bộ, NCS thiết kế bảng câu hỏi gồm 31 câu hỏi với 7 mức

độ đánh giá

NCS sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu từNNT thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp Số lượng mẫu điều tra đượcxác định bằng công thức: N >= 5*x (x: tổng số biến quan sát hay là tổng sốcâu hỏi), hoặc N >= 10*x do NCS sử dụng phương pháp phân tích nhân tốEFA nên yêu cầu kích thước mẫu lớn [92] Áp dụng công thức này, với tổng

số câu hỏi là 31 câu hỏi, như vậy kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 155 vàkích thước mẫu tối đa khuyến khích thu thập là 310

4.3.2 Thang đo nghiên cứu định lượng

NCS sử dụng thang đo Likert trong luận văn này Thang đo Likert làloại thang đo trong đó “một chuỗi các phát biểu liên quan đến thái độ trongcâu hỏi được nêu ra và người trả lời sẽ chọn một trong các trả lời đó” [49, tr.246] Thang đo Likert thường được dùng để đo lường một tập các phát biểucủa một khái niệm Đây là thang đo phổ biến nhất trong đo lường các kháiniệm nghiên cứu trong ngành quản lý kinh tế [49]

4.3.3 Kiểm định thang đo bằng CFA

NCS kiểm định mô hình đề nghị bằng phương pháp phân tích nhân tốkhẳng định CFA thông qua phần mềm phân tích cấu trúc tuyến tính AMOS Lý

do luận án lựa chọn phương này là: phương pháp CFA trong phân tích mô hìnhcấu trúc tuyến tính có nhiều ưu điểm cho phép NCS kiểm định cấu trúc lý thuyếtcủa các thang đo lường như mối quan hệ giữa một khái niệm nghiên cứu với cáckhái niệm khác mà không bị chệch do sai số đo lường [127] Đồng thời,

Trang 17

NCS có thể kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo màkhông cần dùng nhiều nghiên cứu như trong các phương pháp truyền thống.Phương pháp này còn cho phép NCS kết hợp được các khái niệm tiềm ẩn với

đo lường của chúng và có thể xem xét các đo lường độc lập hay kết hợpchung với mô hình lý thuyết cùng một lúc

4.3.4 Kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết bằng mô hình cấu trúc SEM

Luận án sử dụng mô hình cấu trúc SEM cho phép NCS tiến hành cáccông việc như: kiểm định các giả thuyết về các quan hệ nhân quả có phù hợpvới dữ liệu thực nghiệm hay không; kiểm định khẳng định các quan hệ giữacác biến; kiểm định các quan hệ giữa các biến quan sát và không quan sát(biến tiềm ẩn)

Bên cạnh đó, mô hình cấu trúc SEM cung cấp các công cụ có giá trị vềthống kê, khi dùng thông tin đo lường để hiệu chuẩn các quan hệ giả thuyếtgiữa các biến tiềm ẩn; giúp giả thuyết các mô hình, kiểm định thống kêchúng; giúp giải quyết một số lượng lớn các biến quan sát và tiềm ẩn, cácphần dư và sai số

4.4 Dữ liệu nghiên cứu

- Dữ liệu thứ cấp nghiên cứu định tính: các báo cáo tổng kết công tác thuthuế TNCN, mục tiêu và phương hướng qua các năm trong giai đoạn 2010-2018 củaCục thuế Tp.HCM; các báo cáo tổng kết xây dựng Luật quản lý thuế

của Bộ Tài chính trong giai đoạn 2010-2018; các kết quả nghiên cứu từ cácluận án tiến sỹ của các trường đại học về chủ đề thuế TNCN liên quan mậtthiết đến luận án của NCS

- Dữ liệu sơ cấp nghiên cứu định lượng: luận án tiến hành thu thập dữliệu từ thị trường thông qua hai bước (sơ bộ và chính thức)

Cụ thể: Nghiên cứu sơ bộ định lượng được thực hiện với người đi làm cóthu nhập chịu thuế (chủ yếu là người làm công ăn lương) thông qua phương phápphỏng vấn trực tiếp với mẫu 101 người Sau đó NCS tiến hành hiệu chỉnh

Trang 18

thang đo, hoàn chỉnh bảng hỏi, cuối cùng nghiên cứu chính thức được thựchiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi phỏng vấn.

Kích thước mẫu của nghiên cứu này là 274 người Nghiên cứu chínhthức được tiến hành tại TP.HCM Mục đích của nghiên cứu này nhằm thuthập, phân tích dữ liệu khảo sát, khẳng định lại các thành phần cũng như giátrị và độ tin cậy của các thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết

Luận án đánh giá thang đo thông qua phương pháp độ tin cậy Cronbach’sAlpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Đồng thời, luận án được phân tíchdựa trên mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình nghiên cứu

Kết quả phân tích mô hình SEM cho thấy mô hình lý thuyết đề nghịcủa Luận án đạt độ tương thích với dữ liệu phân tích, 7/17 giả thuyết về mốiquan hệ của các khái niệm trong mô hình lý thuyết đã được chấp nhận

5 Những đóng góp mới của luận án

Mối quan hệ giữa quản lý thuế TNCN và hành vi tuân thủ của NNT đãđược trình bày chi tiết tại nhiều nghiên cứu Điểm mới của luận án là xem xétcác nhân tố mới tác động lên hành vi tuân thủ của NNT như chuẩn mực(chuẩn mực bắt buộc, chuẩn mực mô tả, chuẩn mực chủ quan, chuẩn mực cánhân), cảm nhận công bằng về thuế TNCN, cảm nhận tham nhũng, cũng nhưđóng góp của những nhân tố này trong mối quan hệ với quản lý thuế TNCNtại nền kinh tế mới nổi như Việt Nam Trên cơ sở đó, luận án đề xuất cácnhóm giải pháp mới từ việc tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới hành vituân thủ của NNT để góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý thuếTNCN của cơ quan thuế và Nhà nước

Cụ thể, luận án đã vận dụng lý thuyết hành vi tuân thủ và xây dựng môhình nghiên cứu định lượng để chỉ ra:

- Các thuộc tính của NNT như chuẩn mực xã hội về tuân thủ và chuẩnmực cá nhân về tuân thủ đóng vai trò quan trọng đối với dự định tuân thủ thuế

TNCN Cảm nhận về tham nhũng và cảm nhận công bằng về hệ thống thuế cũng

là những yếu tố thể hiện vai trò và hoạt động của chính phủ, cơ quan thuế

Trang 19

và các cơ quan phối hợp khác Vì vậy, các thang đo này sẽ giúp cho các nhàlàm chính sách có liên quan ở Việt Nam sử dụng để đo lường mức độ cảmnhận của NNT về các yếu tố trên.

- Cảm nhận tham nhũng tác động tiêu cực đến các chuẩn mực xã hội vềtuân thủ thuế đã không được chấp nhận Kết quả này cho thấy, một cách tổngquát, cảm nhận tham nhũng không phải là yếu tố làm giảm chuẩn mực xã hội

về tuân thủ thuế Tuy nhiên, cảm nhận tham nhũng tác động tiêu cực vàochuẩn mực cá nhân về tuân thủ thuế (giả thuyết này được chấp nhận), điềunày sẽ làm giảm dự định tuân thủ thuế TNCN của NNT Kết quả này cho thấytầm quan trọng của việc phải đẩy mạnh phòng chống tham nhũng trong lĩnhvực thuế, nếu giảm cảm nhận về tham nhũng của NNT sẽ làm tăng chuẩn mực

cá nhân về tuân thủ thuế của NNT và cuối cùng là dự định tuân thủ thuếTNCN sẽ tăng lên

- Các chuẩn mực xã hội tác động lên chuẩn mực cá nhân về tuân thủ thuếTNCN Điều này hàm ý là các nhà chính sách của Chính phủ và cơ quan thuế cóthể nghiên cứu và sử dụng các chương trình tuyên truyền hỗ trợ NNT với chi phíthấp hơn để thúc đẩy NNT Việt Nam tuân thủ việc nộp thuế TNCN một cáchhiệu quả, mà không nhất thiết phải làm tăng các chi phí quản lý, thanh tra, kiểmtra một cách tốn kém Tuy nhiên, cần lưu ý là các chương trình này cần chútrọng đến vai trò của chuẩn mực cá nhân của NNT, vì vai trò trung gian quantrọng của chuẩn mực cá nhân của NNT đã chỉ ra trong mô hình kiểm định

tuân thủ thuế TNCN Tuy nhiên, kết quả mẫu khảo sát cho thấy là những người thamgia trả lời cho rằng sự công bằng chưa được ở mức cao, chỉ nằm ở mức 4

trong thang đo Likert 7 điểm Điều này cũng mở ra cơ hội cho các nhà làmchính sách cần tiếp tục đẩy mạnh, cải cách hệ thống thuế, đặc biệt là thuếTNCN để NNT cảm nhận được hệ thống thuế TNCN thực sự công bằng choNNT, qua đó sẽ thúc đẩy họ tự nguyện tuân thủ thuế TNCN

Trang 20

Kết quả nghiên cứu của luận án cũng khẳng định các thang đo sử dụngtrong luận án này là có cơ sở khoa học Các nhà nghiên cứu có thể dùng chonhững nghiên cứu tiếp theo về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam, đồng thờicũng giúp cho các nhà làm chính sách về thuế TNCN ở Việt Nam có thể sửdụng để đo lường mức độ cảm nhận của NNT về các yếu tố ảnh hưởng đếnhành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT.

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

- Luận án này tiếp cận theo hướng nghiên cứu hàn lâm nhằm mục đích

mở rộng kho tàng trí thức của ngành khoa học về quản lý thuế nói chung vàquản lý thuế TNCN nói riêng Kết quả nghiên cứu mới của luận án chủ yếunhằm vào mục đích kiểm định các lý thuyết quản lý thuế trên thế giới để vậndụng vào điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó,luận án sử dụng kết quả nghiên cứu để giải thích và dự báo các kết quả thựctiễn trong quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng tại ViệtNam Cần lưu ý rằng kết quả nghiên cứu của các lý thuyết hàn lâm trong quản

lý không nhằm vào mục đích đưa ra các quyết định về quản lý cụ thể của cácnhà hoạch định chính sách

- Kết quả tìm được của luận án này chỉ giúp các nhà hoạch định chínhsách hiểu biết về các quy luật trong quản lý thuế nói chung và quản lý thuế

TNCN nói riêng để từ đó có thể vận dụng cụ thể vào việc ra quyết định điềuchỉnh chính sách Chính vì vậy, những giải pháp đề xuất của Luận án này chỉ

mang tính chất gợi mở, các nhà làm chính sách (Bộ Tài chính chẳng hạn) khi sửdụng kết quả nghiên cứu này lưu ý là không thể ứng dụng trực tiếp vào để thayđổi chính sách ngay mà cần phải thông qua những quá trình nghiên cứu, thí điểm

và cũng phải cần nhiều năm mới có thể ứng dụng trong thực tiễn được Luận ánnày là nguồn tham khảo quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng của các bộ,ngành và các cơ quan tham mưu của Chính phủ trong xây dựng chính sách Luận

án cũng là tài liệu tham khảo để ứng dụng trong các nghiên cứu ở

Trang 21

cấp độ thạc sỹ, tiến sỹ khác trong ngành kinh tế nói chung và quản lý kinh tế nói riêng.

- Luận án đã bổ sung và làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận về quản lýthuế TNCN, đặc biệt làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về tác động của nhân tốchuẩn mực xã hội, cảm nhận tham nhũng, cảm nhận công bằng về thuế đến hành vituân thủ thuế TNCN của NNT Kết quả nghiên cứu cũng khẳng

định các thang đo sử dụng trong luận án này là có cơ sở khoa học (đã có kiểmđịnh thống kê), các nhà nghiên cứu có thể dùng cho những nghiên cứu tiếptheo về quản lý thuế TNCN tiếp theo ở Việt Nam

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận án đề xuất việc tiếp tục nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý thuếTNCN theo mô hình tuân thủ trong thực tiễn quản lý thuế tại Việt Nam Nếuđược thực hiện sẽ đem lại hiệu quả kinh tế to lớn, không chỉ đảm bảo tăngnguồn thu NSNN, góp phần phát triển kinh tế đất nước mà còn tăng tính tựgiác tự tuân thủ nghĩa vụ thuế TNCN của NNT, tạo cơ sở để thuế TNCN làcông cụ phân phối thu nhập công bằng, góp phần củng cố và phát triển thểchế chính trị - xã hội bền vững ở Việt Nam Luận án đề xuất một số giải pháp

và kiến nghị góp phần đổi mới quản lý thuế TNCN ở Tp.HCM nói riêng vàViệt Nam nói chung trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề xuất kiến nghị, kết cấu luận án baogồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý thuếthu nhập cá nhân

- Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân

- Chương 3: Phân tích quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với người ViệtNam ở thành phố Hồ Chí Minh

- Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018-2025

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1.1 Các công trình trên thế giới

Các học thuyết về quản lý thuế kinh điển của các nhà kinh tế như AdamSmith, John Maynard Keynes, Paul Samuelson, Arthur Laffer xem xét quản lýthuế trong mối quan hệ với các vấn đề mang tính quyền lực nhà nước, tạo sựcông bằng và thuận tiện cho NNT Adam Smith được coi là một trong nhữngngười đặt nền móng cho các lý thuyết về quản lý thuế Trong tác phẩm “Nghiêncứu về bản chất và nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc” xuất bản năm 1776,Adam Smith cho rằng, để thu được tiền thuế, nhà nước không chỉ sử dụng quyềnlực cưỡng chế để bắt buộc người dân nộp thuế nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt độngliên tục của bộ máy nhà nước, mà quan trọng phải xây dựng mức thuế hợp lý,tạo thuận lợi trong thu nộp thuế, hạn chế tình trạng tham nhũng trong quản lýthuế Mặc dù, Adam Smith tập trung giải thích tính quyền lực nhà nước trongviệc thu thuế, nhưng ông vẫn coi trọng tính công bằng, thuận tiện và hiệu quảtrong quản lý thuế [125] Khi đề cập đến nội dung về tính công bằng khi đánhthuế TNCN, John Maynard Keynes cho rằng cần đánh thuế TNCN đối với người

có thu nhập cao theo biểu thuế lũy tiến để đạt “cầu hiệu quả” và cũng đề xuấtcần thực thi chính sách thuế để thu hút phần tiết kiệm của người dân để đưa vàođầu tư phát triển kinh doanh [36, tr 16] Trong khi, học thuyết Trọng cungkhông cho rằng hiệu quả thu thuế phụ thuộc vào mức thuế cao hay thấp Đại diệncho trường phái này nhà kinh tế học Arthur Laffer đã đưa ra đường cong lýthuyết phản ánh sự phụ thuộc giữa thuế suất và tổng số thuế thu được, gọi làđường cong Laffer Arthur Laffer đã chứng minh rằng mức thuế suất được xácđịnh hợp lý thì tổng số thu thuế là lớn nhất, từ đó đề

Trang 23

nghị cắt giảm mức lũy tiến của thuế TNCN, giảm thuế TNDN trên cơ sở tăng

cơ sở thuế và tăng số thuế nộp cho nhà nước [36, tr 22-24]

Trên cơ sở các học thuyết quản lý thuế và thực tiễn quản lý thuế tại cácquốc gia, các nghiên cứu sau này tập trung vào vấn đề cải cách chính sáchthuế, cụ thể:

- Nghiên cứu của Chandler và Wide năm 1991 đã phân tích các khíacạnh tham nhũng trong quản lý thuế và chứng minh rằng khi một số đối tượngnộp thuế sẵn sàng chi tiền hối lộ cho cán bộ thuế thì hầu như cán bộ thuếkhông có khả năng từ bỏ món lợi này Thậm chí, cán bộ thuế có thể ghi tăngmức tỷ lệ tiền phạt hoặc áp dụng mức phạt giảm hơn Từ kết quả nghiên cứu,các tác giả chỉ ra rằng một cơ quan quản lý thuế chuyên nghiệp là cơ quan cókhả năng loại bỏ hoàn toàn con người đi kiểm tra thuế và đề nghị cần tăng sốlượng đối tượng chịu sự kiểm tra hàng năm [80];

- Nghiên cứu của Bird và Jantscher năm 1992 đã hệ thống các quy địnhthủ tục hành chính của các quốc gia trên thế giới và dẫn chứng kết quả cải cáchthuế ở một số quốc gia như Bolivia, Uruguay, Colombia, [69];

- Nghiên cứu của Brys và Heady năm 2006 đã tổng kết những xu hướngcải cách thuế TNCN tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, từ đó

đề xuất hệ thống thuế cân bằng [77];

- Nghiên cứu của Silvani và Baer năm 1997 đã chỉ ra 10 nguyên tắc cần khithực hiện cải cách quản lý thuế: (1) cam kết chính trị, (2) khuyến khích tuân thủ tựnguyện, (3) đơn giản hóa hệ thống thuế, (4) chiến lược rõ ràng, (5) sẵn

sàng thay đổi, (6) đảm bảo hiệu quả, (7) phân nhóm NNT theo quy mô, (8) cócách tiếp cận tích hợp để thu thuế, (9) thời gian thu thuế cụ thể, (10) thực hiệnthí điểm [124];

Các nghiên cứu về quản lý thuế giai đoạn này hầu hết đứng trên quan điểmcủa Nhà nước, đều cho rằng nghĩa vụ thuế của NNT là đương nhiên Do đó, Nhànước sẽ thông qua các biện pháp tuyên truyền để NNT thực hiện nghĩa vụ nộpthuế Nếu NNT không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sẽ bị xử phạt Tuy

Trang 24

nhiên, Braithwaite năm 1985 viết tác phẩm “Trừng phạt hay thuyết phụcngười nộp thuế” [74], tiếp đó năm 2001 Braithwaite và Braithwaite giới thiệu

mô hình quản lý tuân thủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế [75] Các tácphẩm này đã đưa đến sự tranh luận trong giới nghiên cứu cũng như việc quản

lý thuế trong thực tiễn Nhiều học giả nghiên cứu về quản lý thuế không chorằng nghĩa vụ thuế của NNT với Nhà nước là đương nhiên Để giải thích chovấn đề này, các học giả đã đi sâu nghiên cứu hành vi của NNT tại nhiều quốcgia trên thế giới, từ đó xây dựng những luận điểm quan trọng cho việc quản lýthuế theo lý thuyết hành vi tuân thủ Đây là lý thuyết đứng trên góc nhìn củaNNT Một NNT có lý trí sẽ đánh giá chi phí và lợi ích của trốn thuế Nếu lợiích kỳ vọng lớn hơn chi phí thì NNT sẽ trốn thuế NNT sẽ đưa ra quyết định

lý trí khi xem xét các lựa chọn liên quan đến thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhànước Biện pháp răn đe của cơ quan thuế là công cụ hữu hiệu để quản lý thuế

vì gia tăng khả năng NNT bị phạt sẽ làm tăng chi phí của họ khi trốn thuế.Tuy nhiên, các tác giả cho rằng, gia tăng mức chế tài thường là một quá trìnhtốn kém cho công tác quản lý thuế và cũng không có gì đảm bảo sẽ cải thiệnđược tính tuân thủ của NNT [58], [67]

Các nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế tại các nước có thể chia thành 2nhóm: nhóm 1 là các quốc gia có nền kinh tế phát triển và nhóm 2 là các quốcgia có nền kinh tế đang phát triển Các quốc gia có nền kinh tế phát triển như

Áo, Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Đức, Hungary, Ý, NewZealand, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Anh và Mỹ (xemthêm Phụ lục 1) Nhóm các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nhưArgentina, Trung Quốc, Chi Lê, Ethiopia, Ghana, Ấn Độ, Iran, Macedonia,Malaysia, Pakistan, Ba Lan, Romania, Nga, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ, Yemen,Zimbabwe, (xem Phụ lục 2)

Các nghiên cứu đã chỉ ra có 15 nhân tố được phân thành 6 cơ chế tácđộng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT, cụ thể:

Trang 25

(1) Nhóm các nhân tố nhân chủng học (độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và tình trạng nghề nghiệp):

Nghiên cứu của Torgler năm 2007 cho rằng các nhân tố nhân chủng học

có thể ảnh hưởng tới NNT khi tuân thủ luật thuế [133] Ông giải thích cácnhân tố nhân chủng học có thể tác động đến thái độ của NNT, cuối cùng làdẫn tới hành vi tuân thủ thuế của họ

Nhân tố độ tuổi:

Các nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy mối quan hệ dương giữa

độ tuổi và thái độ về thuế của NNT Nhóm NNT có độ tuổi lớn hơn được tìmthấy là sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn nhóm NNT có độ tuổi thấp hơn ở cácnước phát triển, như nghiên cứu tại Úc của Devos năm 2008 [84], Torgler vàMurphy năm 2004 [136], nghiên cứu tại Canada của Torgler năm 2003 [129],nghiên cứu tại New Zealand của Marriott năm 2017 [104], nghiên cứu tại TâyBan Nha của Alm và Gomez năm 2008 [61] Trong khi đó, các nghiên cứu vềtác động của nhân tố độ tuổi tới thái độ tuân thủ thuế của NNT lại đưa ranhững kết quả khá mâu thuẫn nhau Ví dụ, các nghiên cứu của Torgler vàcộng sự vào các năm 2003 [129], năm 2004 [130] và năm 2012 [135] vànghiên cứu của Ristovska và cộng sự năm 2013 [122] tìm thấy mối quan hệdương của nhóm NNT có độ tuổi lớn với thái độ tuân thủ thuế Nhưng cácnghiên cứu của Ho và cộng sự năm 2013 [95], McGee năm 2014 [108] lạikhông tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa độ tuổi và thái độ tuân thủ thuếcủa NNT tại các nước đang phát triển

Giải thích cho các kết quả mâu thuẫn này, có học giả trên thế giới cho rằng

độ tuổi không phải là một yếu tố tác động đối với tất cả NNT Ví dụ, Torglernăm 2007 thì lý giải rằng có lẽ là tại các nước đang phát triển rất nhiều người trẻ

và người lớn tuổi không phải là đối tượng nộp thuế TNCN và do đó họ có thái

độ tích cực về việc tuân thủ thuế TNCN [133] Một số học giả khác thì cho rằng

có thể độ tuổi không phải là biến nghiên cứu chính trong hầu hết các nghiên cứuliên quan đến thái độ và hành vi tuân thủ thuế của NNT Cũng có

Trang 26

giải thích cho rằng những người có độ tuổi lớn thì là những NNT ít muốn rủi

ro hơn, và do đó họ sẽ sẵn sàng tuân thủ luật thuế TNCN hơn

Nhân tố giới tính:

Hầu hết các nghiên cứu tại các nước phát triển đều đưa ra kết luận là giớitính nữ có mối quan hệ dương với thái độ tuân thủ thuế TNCN, cụ thể: nghiêncứu tại Úc của Devos năm 2008 [84], nghiên cứu tại Canada của Torgler năm

2003 [129], nghiên cứu tại Estonia của McGee và cộng sự năm 2008 [114],nghiên cứu tại Mỹ của McGee và cộng sự năm 2008 [111] Các nghiên cứukhác tại New Zealand, Hà Lan và Ý cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên,các nghiên cứu tại các nước đang phát triển thì nhân tố giới tính tác động đếnthái độ tuân thủ thuế TNCN lại có nhiều kết quả trái ngược nhau Một sốnghiên cứu tại Malaysia của Kasipillai và Abdual-Jabbar năm 2006 [101],nghiên cứu tại Pakistan của Cyan và Martinez-Vazquez năm 2016 [81],nghiên cứu tại Nga của Alm và cộng sự năm 2006 [62] kết luận là phụ nữ cótính tuân thủ hơn nam giới Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại Romania củaMcGree năm 2006 [106] và nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của McGee và Benknăm 2011 [109] lại tìm ra mối quan hệ âm giữa giới tính và thái độ tuân thủthuế TNCN Nhưng đa số các nghiên cứu tại nhiều quốc gia đang phát triểnnhư Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Macedonia, Balan, … lại không tìm thấy

sự khác biệt gì giữa giới tính nam hay giới tính nữ của NNT có liên quan tớithái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT

Giải thích cho các kết quả trái ngược này, các nhà nghiên cứu cho rằngkhông nên xem xét nhân tố giới tính một cách độc lập, mà cần phải xem xétnhân tố này trong sự tương tác với các nhân tố như độ tuổi và trình độ học vấncủa NNT Để minh chứng cho quan điểm này, Ross và McGee năm 2012 tiếnhành nghiên cứu tại Đức và đạt được kết quả là nam giới và nữ giới nhìn chung

có cùng mức độ tuân thủ thuế TNCN, nhưng nam giới có trình độ học vấn caothì lại có mức độ tuân thủ cao hơn so với nữ giới [121] Sau đó, Yeaton vàStellenwerf tiến hành nghiên cứu tại Mỹ vào năm 2008 mối quan hệ của độ

Trang 27

tuổi, giới tính và trình độ học vấn của NNT với thái độ tuân thủ thuế TNCNcủa NNT và các tác giả tìm ra rằng có sự khác biệt giữa giới tính ở nhómNNT có độ tuổi trẻ và trình độ học vấn thấp, tuy nhiên khi xem xét nhómNNT có độ tuổi lớn hơn và trình độ học vấn tăng thì không có sự khác biệt vềgiới tính của NNT tới việc tuân thủ thuế TNCN của NNT.

Nhân tố trình độ học vấn:

Nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy NNT có trình độ học vấn càngcao thì càng am hiểu chính sách thuế TNCN và có khả năng có thái độ tích cực

về tuân thủ thuế TNCN Cụ thể: nghiên cứu tại Úc của Devos và cộng sự năm

2008 [84] và năm 2012 [85], nghiên cứu tại Hà Lan của Ross và McGee năm

2012 [121], và nghiên cứu tại Thụy Sỹ của Torgler năm 2005 [131] Tuy nhiên,cũng có nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ âm giữa trình độ học vấn và thái độ tuânthủ thuế TNCN của NNT, như nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012 [135]

và nghiên cứu tại Tây Ban Nha của Alm và Gomez năm 2008 [61] Một sốnghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa trình độ học vấn và thái độ tuân thủthuế TNCN của NNT như nghiên cứu của Torgler và Murphy năm 2004

[136] Trong khi các nghiên cứu tại các nước đang phát triển gần như khôngtìm thấy mối quan hệ giữa trình độ học vấn và thái độ tuân thủ thuế TNCN củaNNT như các nghiên cứu tại Trung Quốc của Ho và cộng sự năm 2013 [95],nghiên cứu tại Nga của Alm và cộng sự năm 2006 [62]

Lý giải cho các kết quả nghiên cứu không thống nhất này, các nhà nghiêncứu cho rằng trình độ học vấn của NNT không phản ánh đầy đủ mối liên hệ vớihành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT, mà cần phải nghiên cứu xem NNT cókiến thức về thuế hay không thì mới hình thành mối quan hệ giữa kiến thức thuếvới thái độ tuân thủ thuế TNCN của họ Để minh chứng điều này, Loo và

Ho năm 2005 đã tiến hành nghiên cứu 250 NNT tại Malaysia có trình độ họcvấn và họ phát hiện rằng những người này có kiến thức về thuế thấp dẫn tớiviệc thái độ tuân thủ thuế TNCN của họ cũng thấp [103]

Trang 28

Nhân tố tình trạng hôn nhân:

Hầu hết các nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy NNT đã lập giađình có mức tuân thủ thuế cao hơn NNT còn độc thân Cụ thể: nghiên cứu tại Áocủa Torgler năm 2005 [131], nghiên cứu tại Úc của Torgler và Murphy năm

2004 [136], nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012 [135], nghiên cứu tại Thụy

Sỹ của Torgler và Schneider năm 2007 [137], nghiên cứu tại Tây Ban Nha củaTorgler và Schneider năm 2007 [137] Tuy nhiên, cũng có vài nghiên cứu chothấy không có mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và thái độ tuân thủ thuếTNCN của NNT như nghiên cứu tại Đức của Hennighausen và Heinemann năm

2015 [95], nghiên cứu tại Hà Lan của Ross và McGee năm 2012 [121] và nghiêncứu tại Tây Ban Nha của Alm và Gomez năm 2008 [61]

Nghiên cứu tại các nước đang phát triển, các nghiên cứu cho thấy kết quả làNNT đã lập gia đình sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn NNT còn độc thân Tuynhiên cũng có nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân

và thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT, cụ thể nghiên cứu của Alm và cộng sựnăm 2006 [63], nghiên cứu của Ho và cộng sự năm 2013 [95]

Các kết quả nghiên cứu không thống nhất này được các nhà nghiên cứugiải thích có thể là do việc nghiên cứu tình trạng hôn nhân của NNT có khiếmkhuyết vì NNT đã lập gia đình có thể có thu nhập cao nhưng vợ hoặc chồngcủa họ lại có thu nhập thấp thì dẫn tới thu nhập bình quân của NNT cũngkhông cao Việc không xác định rõ ràng những yếu tố này dẫn tới các kết quảnghiên cứu khác nhau của các nghiên cứu

Nhân tố tình trạng nghề nghiệp:

Nghiên cứu tại các quốc gia phát triển cho thấy NNT tự kinh doanh hoặclàm việc bán thời gian thì ít sẵn sàng để tuân thủ luật thuế TNCN hơn NNTlàm việc toàn thời gian Cụ thể, nghiên cứu tại Úc của Devos năm 2008 [84],nghiên cứu tại Bỉ của Torgler và Schneider năm 2007 [137], nghiên cứu tạiNew Zealand của Marriot năm 2017 [104], nghiên cứu tại Thụy Sỹ củaTorgler năm 2005 [131]

Trang 29

Nghiên cứu tại các nước đang phát triển cũng cho thấy NNT tự kinhdoanh có mức độ tuân thủ thuế TNCN thấp hơn NNT làm việc toàn thời gian.

Cụ thể, nghiên cứu tại Ấn Độ của Torgler năm 2004 [130], nghiên cứu tạiNga của Alm và cộng sự năm 2006 [62], nghiên cứu tại các quốc gia Đông

Âu của Torgler năm 2011 [134]

Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu cho kết quả trái ngược, điều này

có thể do cách phân loại tình trạng nghề nghiệp khác nhau Có nghiên cứuchia tình trạng nghề nghiệp thành 3 loại: tự kinh doanh, bán thời gian và toànthời gian Nhưng có nghiên cứu lại chia tình trạng nghề nghiệp theo phân loạingành nghề như: quản lý, viên chức, kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giao nhận

và không làm việc như nghiên cứu của Devos năm 2008 [84] và nghiên cứucủa Cyan năm 2016 [81] Các nhà nghiên cứu này cũng cho rằng cần xem xéttình trạng nghề nghiệp trong bối cảnh chung với độ tuổi và giới tính

(2) Nhóm các nhân tố kinh tế (mức thu nhập, thuế suất và khả năng bị phát hiện trốn thuế):

Nhân tố mức thu nhập:

Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng NNT có thu nhập thấp sẵn sàng đóngthuế hơn NNT có thu nhập cao Cụ thể, nghiên cứu tại Hà Lan của Ross vàMcGee năm 2012 [121], và nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012 [135].McGee tiến hành nghiên cứu so sánh giữa nhiều quốc gia và cũng đưa ra kếtluận chung là NNT có thu nhập thấp thì sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn NNT

có thu nhập cao tại các quốc gia phát triển [108]

Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển lại đưa ra những kết quả khácnhau Một số nghiên cứu tìm ra rằng NNT có thu nhập cao thì có thái độ tuân thủthuế cao hơn những NNT có thu nhập thấp, như nghiên cứu tại Malaysia của Al-Mamun và cộng sự năm 2014 [59], nghiên cứu tại Macedonia của Ristovska vàcộng sự năm 2013 [122] Tuy nhiên, nghiên cứu của McGee năm 2012 lại chỉ rarằng NNT có thu nhập thấp lại sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn

Trang 30

NNT có thu nhập cao tại một số quốc gia như Trung Quốc, Philipine, PuertoRico, Malta, Moldova và Nga.

Lý giải cho những kết quả khác nhau này, các nhà nghiên cứu cho rằngcần xem xét mức thu nhập của NNT với sự thỏa mãn về tài chính của NNT.Chứng minh cho điều này, Torgler năm 2003 đã nghiên cứu và thấy rằngNNT có sự thỏa mãn về tài chính sẽ có thái độ tuân thủ thuế tốt hơn [128].NNT nếu không có sự thỏa mãn về tài chính sẽ có trạng thái phiền muộn, đặcbiệt là nếu họ phải đóng thuế Đối với NNT có thu nhập thấp, việc đóng thuế

có thể làm giảm chất lượng cuộc sống của họ Do đó, khi NNT xem việc đóngthuế là một gánh nặng, họ sẽ có xu hướng là không tuân thủ thuế

Nhân tố thuế suất:

Nghiên cứu tại hầu hết các quốc gia phát triển cho thấy thuế suất tăng sẽdẫn tới thái độ tiêu cực trong việc tuân thủ thuế TNCN của NNT Cụ thể:nghiên cứu tại Úc của Torgler và Murphy năm 2004 [136] Trong nghiên cứutại Mỹ, phần lớn những người trả lời cho rằng mức thuế TNCN họ phải đóng

là quá cao, trong khi giá trị mà họ nhận được từ các khoản đóng góp thuế chochính phủ là không cao, thậm chí là thấp [135]

Các nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển cũng cho thấy kết quảtương tự như trên Cụ thể: nghiên cứu tại Ghana của Abdul-Razak và Adafulanăm 2013 [55], nghiên cứu tại Sri Lanka của Jayawardane năm 2016 [98] vànghiên cứu tại 17 nước châu Mỹ Latin của Torgler năm 2005 [132] Các nghiêncứu cho thấy gánh nặng thuế tác động lên thái độ của NNT Nghiên cứu củaTorgler tại 17 nước châu Mỹ Latin còn chỉ ra tới 46% những người được hỏicảm thấy gánh nặng thuế quá cao là lý do mà mọi người không đóng thuế [132]

Lý giải cho các kết quả nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu cho rằng khi

mà thuế suất tăng thì sẽ giảm thu nhập của NNT và do đó NNT sẽ không sẵnsàng tuân thủ luật thuế Thuế suất tăng sẽ làm gánh nặng thuế tăng dẫn tớithái độ tuân thủ thuế của NNT bị giảm

Trang 31

Nhân tố khả năng bị phát hiện trốn thuế:

Các nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy khi khả năng bị pháthiện trốn thuế càng cao thì dẫn tới NNT tuân thủ nhiều hơn Cụ thể, nghiêncứu tại Úc của Devos năm 2012 [85], nghiên cứu tại Canada của Trivedi vàcộng sự năm 2004 [138], nghiên cứu tại New Zealand của Woodward và Tannăm 2015 [140] và nghiên cứu tại Mỹ của Bobek và cộng sự năm 2013 [71].Các nghiên cứu tại các nước đang phát triển cũng cho thấy kết quả tương

tự như nghiên cứu tại các nước phát triển Cụ thể: nghiên cứu tại Chile củaPomeranz năm 2015 [119], nghiên cứu tại Sri Lanka của Jayawardane năm

tố như niềm tin vào chính phủ hay sự công bằng sẽ tác động trực tiếp lên thái

độ tuân thủ thuế TNCN của NNT

Nhân tố niềm tin vào chính phủ:

Các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển cho thấy mối quan hệ dươnggiữa niềm tin vào chính phủ và thái độ tuân thủ thuế của NNT Cụ thể: nghiêncứu tại Áo của Casal và cộng sự năm 2016 [78], nghiên cứu tại Bỉ của Torgler vàSchneider năm 2007 [137], nghiên cứu tại Canada của Torgler năm 2003 [129],nghiên cứu tại New Zealand của Woodward và Tan năm 2015 [140], nghiên cứutại Hà Lan của Ross và McGee năm 2012 [121], nghiên cứu tại Mỹ của Jimenez

và Iyer năm 2016 [99], nghiên cứu tại Tây Ban Nha của Alm và Gomez năm

2008 [61], nghiên cứu tại Thụy Sỹ của Torgler năm 2005 [131]

Tương tự, các nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển cũng cho thấymối quan hệ dương giữa niềm tin vào chính phủ và sự tuân thủ thuế TNCN củaNNT Cụ thể: nghiên cứu tại Macedonia của Ristovska và cộng sự năm 2013[122], nghiên cứu tại Nga của Alm và cộng sự năm 2006 [62], nghiên cứu tại

Trang 32

Sri Lanka của Jayawardane năm 2016 [98], nghiên cứu tại Zimbabwe củaNyamwanza và cộng sự năm 2014 [117], …

Nhìn chung, niềm tin vào chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với thái

độ tuân thủ thuế của NNT ở các quốc gia trên toàn thế giới Niềm tin càng caothì thái độ tuân thủ thuế TNCN và hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNTcàng cao

Nhân tố sự công bằng:

Hầu hết các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ dương giữa cảm nhận về

sự công bằng và thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các nước phát triển

Cụ thể: nghiên cứu tại Áo của Casal và cộng sự năm 2016 [78], nghiên cứutại Úc của Devos vào năm 2012 [85], nghiên cứu tại Đức của Hennighausen

và Heinemann năm 2015 [94], nghiên cứu tại Hungary của Pantya và cộng sựnăm 2016 [118], nghiên cứu tại New Zealand của Woodward và Tan năm

2015 [140], nghiên cứu tại Tây Ban Nha của Alm và Gomez năm 2008 [61],nghiên cứu tại Hà Lan của Ross và McGee năm 2012 [121] và nghiên cứu tại

Mỹ của Jimenez và Iyer năm 2016 [99]

Kết quả trên cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu tại các nước đangphát triển Cụ thể: nghiên cứu tại Trung Quốc của Ho và cộng sự năm 2013[95], nghiên cứu tại Ghana của Abdul-Razak và Adafula năm 2013 [55],nghiên cứu tại Sri Lanka của Jayawardane năm 2016 [98] và nghiên cứu tạimột số nước châu phi khác của Ali và cộng sự năm 2014 [57]

giáo):

Nhân tố tự hào dân tộc:

Các nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy nếu NNT cảm thấy tự hào

về đất nước của họ, họ sẽ sẵn sàng tuân thủ luật thuế Quan điểm này được tìmthấy trong các nghiên cứu tại Áo của Torgler và Friedrich năm 2005 [131],nghiên cứu tại Bỉ của Torgler và Schneider năm 2007 [137], nghiên cứu tạiCanada của Torgler năm 2003 [129], nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012

Trang 33

[135], nghiên cứu Tây Ban Nha và Thụy Sỹ của Torgler và cộng sự từ năm

2005 tới năm 2009 [134]

Các nghiên cứu tại các nước đang phát triển cũng cho thấy mối quan hệdương giữa sự tự hào dân tộc và thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT Tuynhiên, các nghiên cứu còn tương đối ít, chỉ có một số nghiên cứu tại Macedoniacủa Risovska và cộng sự năm 2013 [122], nghiên cứu tại một số quốc gia châu

Á của Torgler năm 2004 [130]

Nhân tố tôn giáo:

Các nghiên cứu cho thấy niềm tin tôn giáo ngăn cản thái độ không tuânthủ thuế TNCN của NNT tại các quốc gia phát triển Cụ thể: nghiên cứu tạiCanada của Torgler năm 2003 [129], nghiên cứu tại Hà Lan của Ross vàMcGee năm 2012 [121], nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012 [135] vàtại một số quốc gia châu Âu của Torgler và cộng sự trong năm 2007 [133].Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng tôn giáo của NNT không cótác động lên thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT

Các nghiên cứu tại các nước đang phát triển thì chỉ một số ít nghiên cứucủa Torgler năm 2012 tìm thấy mối quan hệ giữa tôn giáo và thái độ tuân thủthuế TNCN của NNT [135] Nhìn chung, các nghiên cứu về tôn giáo và thái

độ tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các nước đang phát triển còn khá khiêmtốn, do đó cần tiếp tục được nghiên cứu trong thời gian sắp tới

đồng xã hội:

Tác động từ bạn bè, người thân, gia đình và cộng đồng xã hội là cảm nhận

về các hành vi thường xuyên mà một nhóm thường thực hiện Tác động từ bạn

bè, người thân, gia đình và cộng đồng xã hội được xem là một trong những nhân

tố quan trọng nhất tác động lên thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT Khi màNNT không chắc chắn về hành vi trong xã hội, NNT có xu hướng bị tác độngbởi chuẩn mực xã hội của nhóm, cộng đồng xã hội nơi NNT sinh sống hoặc củanhững người thân có tác động trực tiếp tới NNT Quan điểm này đã

Trang 34

được chứng minh qua các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển như nghiêncứu của Bobek và cộng sự năm 2013 [71], nghiên cứu của Dwenger và cộng

(6) Nhóm các nhân tố văn hóa:

Các nhân tố văn hóa bao gồm chuẩn mực, giá trị và niềm tin của mỗi cánhân trong một khu vực, địa bàn nhất định Văn hóa là sự chia sẻ các giá trị

và niềm tin của một cộng đồng người trong một xã hội nhất định Do đó, sựkhác biệt về văn hóa sẽ tác động lên thái độ tuân thủ thuế TNCN và hành vituân thủ thuế TNCN của NNT tại mỗi quốc gia

Các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển và đang phát triển cho thấymối quan hệ có ý nghĩa giữa các nhân tố văn hóa và thái độ tuân thủ thuếTNCN của NNT Ví dụ như nghiên cứu tại Thụy Sỹ, Bỉ và Tây Ban Nha củaTorgler và Schneider năm 2007 kiểm tra tác động của nhân tố văn hóa lên thái

độ tuân thủ thuế TNCN của NNT và tìm ra các minh chứng chứng minh chomối quan hệ trên [137] Mối quan hệ giữa nhân tố văn hóa và thái độ tuân thủthuế TNCN của NNT tiếp tục được khẳng định trong nghiên cứu của Bobek

và cộng sự năm 2007 trong nghiên cứu mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội

và thái độ tuân thủ thuế của NNT tại các quốc gia Singapore, Úc và Mỹ [72].Kết quả của nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hộivới dự định tuân thủ thuế TNCN và thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT ởcác quốc gia này

Các nghiên cứu về nhân tố văn hóa nhìn chung còn ít và cần tiếp tục nghiêncứu vì sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia có thể dẫn tới sự khác

Trang 35

biệt trong thái độ và hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các quốc giakhác nhau Do đó, cần có phải tiếp tục nghiên cứu tại các quốc gia phát triển

và đang phát triển

Trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu về quản lý thuế theo hướng tuân thủtại các nước, NCS khái quát hóa thành hai mô hình các nhân tố tác động đếnthái độ tuân thủ thuế của NNT cho các nước phát triển và các nước đang pháttriển như sau:

Hình 1 1: Tổng kết các nhóm nhân tố tác động đến thái độ tuân thủ thuế TNCN và định tuân thủ thuế TNCN của NNT tại

các nước phát triển

Nguồn: NCS tổng hợp.

Trang 36

Hình 1 2: Tổng kết các nhóm nhân tố tác động đến thái độ tuân thủ thuế TNCN và định tuân thủ thuế TNCN của NNT tại các nước đang phát triển

Nguồn: NCS tổng hợp.

Thông qua việc tổng kết các nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế TNCNtrên thế giới, NCS nhận thấy có sự khác biệt về các nhóm nhân tố tác động đếnthái độ và dự định tuân thủ thuế TNCN ở các nước phát triển (6 nhóm nhân tố)

so với các nước đang phát triển (5 nhóm nhân tố, không có nhóm nhân tố độnglực thúc đẩy bên trong) Đối với từng nhóm nhân tố, cũng có sự khác biệt về kếtquả nghiên cứu ở các nước phát triển và đang phát triển Ví dụ, nhóm nhân tốnhân chủng học, ở các nước phát triển các nhân tố tác động bao gồm: độ tuổi,giới tính, tình trạng hôn nhân và tình trạng nghề nghiệp, trong khi ở các nướcđang phát triển thì các nhân tố tác động cần quan tâm là: kiến thức thuế, tìnhtrạng hôn nhân và tình trạng nghề nghiệp Đối với các nhóm nhân tố như nhân tốkinh tế, nhân tố có tính trao đổi qua lại, nhân tố tác động từ bạn bè, người thân,gia đình và cộng đồng xã hội, nhân tố văn hóa có tác động vào thái độ và dựđịnh tuân thủ thuế TNCN của NNT, có sự tương đồng về kết quả nghiên cứugiữa các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới

Trang 37

1.1.2 Các công trình tại Việt Nam

Các nghiên cứu về thuế TNCN ở Việt Nam từ trước năm 2010 chủ yếu tậptrung vào phân tích các góc độ quản lý Nhà nước, hoặc về chính sách, hoặc về

cơ chế quản lý thu từ khi Luật thuế TNCN có hiệu lực, đánh giá thành công vàthất bại của chính sách thuế TNCN trong giai đoạn cải cách thuế hiện nay củaViệt Nam Các công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích trước và sau khichính sách thuế ban hành, nghiên cứu những biện pháp và định hướng hoàn thiệnchính sách thuế TNCN ở Việt Nam nhằm nâng cao vai trò của thuế TNCN Cácnghiên cứu về tổ chức hành thu tập trung tìm hiểu về cơ chế quản lý thu hiệnhành, đi sâu xem xét một vài nội dung của quản lý thuế TNCN như tổ chức bộmáy quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế… và phân tích những biến đổi củaquản lý thuế TNCN ở Việt Nam để đánh giá hiệu quả quản lý thuế

Trong phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án, NCS chỉ tập trung làm

rõ những nội dung đã nghiên cứu về quản lý thuế TNCN tại Việt Nam tronggiai đoạn 2010-2018 Có một số hướng nghiên cứu chính về quản lý thuếTNCN được tổng quan như sau:

Hướng nghiên cứu quản lý thuế TNCN theo lý thuyết tâm lý hành vi phổbiến Đây là hướng nghiên cứu phân tích nội dung quản lý thuế TNCN theocác quy định của pháp luật quản lý Nhà nước về thuế Cụ thể: các luận án tiến

sĩ của Lý Phương Duyên “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [18], Nguyễn Hoàng “Hoàn thiện quản lýnhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” [26] Có thể xếp cácnghiên cứu này vào nhóm nghiên cứu theo lý thuyết tâm lý hành vi phổ biến.Bởi lẽ, các nghiên cứu tiếp cận trên quan điểm của Nhà nước và thông quacông cụ là pháp luật để hỗ trợ, tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử phạt NNT

để buộc họ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNCN

Nguyễn Hoàng, trong luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện quản lý nhà nướcđối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” đã cập nhật được thành tựu và chỉ ranhững hạn chế của quản lý nhà nước đối với thuế TNCN ở Việt Nam

Trang 38

thông qua nghiên cứu sâu về chính sách và cơ chế quản lý thu hiện hành.Nguyễn Hoàng đã sử dụng mô hình kinh tế lượng trong thiết kế nghiên cứu,điều tra khảo sát thử nghiệm về tính tuân thủ thuế trên địa bàn Hà Nội Điểmmạnh của nghiên cứu của Nguyễn Hoàng là đã hệ thống được kinh nghiệmcủa các nước trên thế giới, chỉ ra được những bất cập của chính sách và cơchế quản lý của Việt Nam, trong đó có các nghiên cứu của các tổ chức quốc tếđang hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống thuế như Ngân hàng thế giới (WB),

Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF), Tổ chức các nước là thành viên của OECD,Liên minh châu Âu (EU), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) [26]

Lý Phương Duyên, “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều

kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ kinh tế bảo vệ tại Học viện Tài

chính Công trình này, Lý Phương Duyên đã sử dụng phương pháp nghiên cứutổng hợp, phân tích, hệ thống hóa để tiến hành nghiên cứu và kiến giải các phântích Về nội dung nghiên cứu, Lý Phương Duyên đã đi sâu xem xét các nội dungquản lý thuế TNCN Lý Phương Duyên cũng có công phân tích những biến đổicủa quản lý thuế TNCN ở Việt Nam trong khoảng thời gian nghiên cứu Dựatrên cơ sở phân tích đặc trưng của thuế TNCN là thuế trực thu, Lý PhươngDuyên đã tập trung phân tích vai trò của công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượngnộp thuế Lý Phương Duyên cũng đã tổng kết và phân tích các khoản thu có tínhchất là TNCN mà chính sách thuế Việt Nam đã tiến hành từ trước khi Luật thuếTNCN có hiệu lực (01/01/2009) [40] Tuy nhiên, luận án của Lý Phương Duyêncũng còn một số nội dung chưa thực sự dành dung lượng phân tích thỏa đángnhư chưa phân tích được hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động như thế nào đếnđối tượng nộp thuế, cũng như yếu tố hội nhập quốc tế về kinh tế ảnh hưởng nhưthế nào đến các khoản thu nhập của cá nhân [18]

Các nghiên cứu vừa nêu cũng chỉ rõ, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, một hệ thống thuế TNCN tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế vàNNT Tuy nhiên, nội dung này chưa được tập trung làm rõ, mà chủ yếu tập trungvào các vấn đề về xây dựng chính sách thuế TNCN, ban hành luật thuế

Trang 39

TNCN và tổ chức hành thu thuế TNCN Nghiên cứu của Lý Phương Duyên

và Nguyễn Hoàng có điểm chung với các công trình nghiên cứu về quản lýthuế TNCN theo quy định của pháp luật thuế TNCN giai đoạn từ trước năm

2010 là đã đi sâu phân tích trước và sau khi chính sách thuế TNCN ban hành,cũng như nghiên cứu đưa ra những biện pháp và định hướng hoàn thiện chínhsách thuế TNCN ở Việt Nam nhằm nâng cao vai trò của thuế TNCN Cácnghiên cứu này cũng phân tích cách tổ chức hành thu trong đó tập trung tìmhiểu về cơ chế quản lý thu, đi sâu xem xét một vài nội dung của quản lý thuếTNCN như tổ chức bộ máy quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế và phân tíchnhững biến đổi của quản lý thuế TNCN ở Việt Nam trong khoảng thời gian từnăm 2017 trở về trước để đánh giá hiệu quả quản lý thuế TNCN

Những nghiên cứu tiếp cận theo hướng quản lý thuế TNCN theo quy địnhcủa luật ở trên có những hạn chế nhất định Trong thực tiễn, nghiên cứu về quản

lý thuế TNCN đối với ngành quản lý kinh tế đa phần các nghiên cứu thường kếthợp với nghiên cứu thuế TNCN dưới góc độ chính sách và xem công tác quản lýthuế TNCN là nhiệm vụ của cơ quan thuế, do đó nội hàm của việc quản lý thuếTNCN chỉ xoay quanh các khái niệm theo quy định của pháp luật về thuếTNCN Thuận lợi của việc làm này là việc phân tích thực trạng quản lý thuếTNCN sẽ căn cứ trên những báo cáo và nhận định của cơ quan thuế các cấp, từTrung ương đến địa phương để làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng quản lýthuế TNCN và đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuếTNCN Tuy nhiên, hạn chế lớn là do chỉ gói gọn trong nội dung công tác quản lýthuế TNCN theo luật định, mà chưa bao trùm được những đối tượng không hoặcchưa nằm trong danh sách quản lý của cơ quan thuế Ví dụ, một công dân có thể

là NNT thuế TNCN tiềm năng hoặc thực tế phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN theoquy định của luật, tuy nhiên vì lý do nào đó mà họ không nằm trong danh sáchquản lý của cơ quan thuế thì đương nhiên là họ không nằm trong báo cáo của cơquan thuế Trong khi thực tế là đối tượng này hiện nay có rất nhiều và đa dạng,

cơ quan thuế rất khó nắm bắt và kiểm tra

Trang 40

Hướng tiếp cận quản lý thuế TNCN theo lý thuyết hành vi tuân thủ cũngnhận được sự quan tâm của cộng đồng khoa học tại Việt Nam Cụ thể: năm

2011 Học viện tài chính đã tổ chức Hội thảo khoa học chuyên đề về tuân thủthuế và nâng cao tính tuân thủ thuế tại Hà Nội Các công trình tiêu biểu như:PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hoài – Một số vấn đề lý luận về tuân thủ thuế[25], PGS TS Lê Xuân Trường – Thúc đẩy tính tuân thủ thuế - từ quan điểm

cổ điển đến hiện đại và thực tiễn Việt Nam [50], TS Lý Phương Duyên –Nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT và tính hiệu lực trong quản lý thuế [19],

TS Nguyễn Thị Minh Hằng – Tính đơn giản, công khai, minh bạch của chínhsách thuế đối với sự tuân thủ thuế tại Việt Nam [20], PGS TS Nguyễn ThịLiên – Tính tuân thủ của NNT và hiện đại hóa quản lý thuế, Ths Nguyễn ThịMinh Hòa – Nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT hướng tới quản lý tuân thủ[24], PGS TS Nguyễn Thị Thương Huyền – Giám sát kê khai thuế - Giảipháp nâng cao tính tuân thủ thuế trong mô hình quản lý thuế hiện đại [30],

TS Vương Thị Thu Hiền – Phát triển dịch vụ thuế điện tử ở Việt Nam – Giảipháp nâng cao tính tuân thủ thuế [23], TS Nguyễn Thị Kim Oanh – Kiểm trasau thông quan góp phần nâng cao tính tuân thủ thuế của doanh nghiệp[43],Tôn Thu Hiền – Khung chiến lược thúc đẩy sự tự nguyện tuân thủ thuế -Kinh nghiệm Singapore [22]

Tại TP HCM, trường Đại học Kinh tế TPHCM cũng định hướng việc tổngkết lý thuyết và nghiên cứu về quản lý hành vi tuân thủ của NNT tại Việt Nam từnăm 2012 Các nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp định lượnghoặc phương pháp hỗn hợp, bước đầu đã có sự tiến bộ hơn so với phương phápphân tích định tính đối với quản lý thuế TNCN trước đây Cụ thể: Kiều NguyệtThủy Tiên nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế TNCN [48], Lâm Thanh Hồngnghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế TNCN khảo sát tại địabàn Bình Dương [27], Lâm Thị Quế Ngọc nghiên cứu tác động của công bằngthuế đến sự tuân thủ của NNT TNCN ở Việt Nam [38], Đào Mộng Long nghiêncứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN tại Tp.HCM [32],

Ngày đăng: 03/09/2019, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bính (2018). “Người được Google trả 727.000 USD đã nộp thuế”.https://dantri.com.vn/kinh-doanh/nguoi-duoc-google-tra-727000-usd-da-nop-thue-20180907190837735.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người được Google trả 727.000 USD đã nộp thuế
Tác giả: Bính
Năm: 2018
4. Lê Chi (2018). “Một cá nhân có thu nhập từ Facebook, Google bị phạt và truy thu 4,1 tỷ đồng”. https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/mot-ca-nhan-co-thu-nhap-tu-facebook-google-bi-phat-va-truy-thu-4-1-ty-dong-3785937.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cá nhân có thu nhập từ Facebook, Google bịphạt và truy thu 4,1 tỷ đồng
Tác giả: Lê Chi
Năm: 2018
5. Bộ Tài chính (2017). “Tờ trình đề nghị xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi)”.http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/btc/r/cd/dtvb/dtddlyk/dtddlyk_chitiet?id=13980&_afrLoop=28409319869416192#!%40%40%3F_afrLoop%3D28409319869416192%26id%3D13980%26_adf.ctrl-state%3D6clczhc7r_4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình đề nghị xây dựng Luật quản lý thuế (sửađổi)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
6. Dương Đăng Chinh & Phạm Văn Khoan (chủ biên) (2007). Giáo trình quản lý tài chính công, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhquản lý tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh & Phạm Văn Khoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2007
7. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2010). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2010, mục tiêu và phương hướng năm 2011”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2010, mục tiêu và phương hướng năm 2011
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
8. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2011). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2011, mục tiêu và phương hướng năm 2012”, Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuthuế thu nhập cá nhân năm 2011, mục tiêu và phương hướng năm 2012
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
10. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2012). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2012, mục tiêu và phương hướng năm 2013”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2012, mục tiêu và phương hướng năm 2013
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
11. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2013). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2013, mục tiêu và phương hướng năm 2014”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2013, mục tiêu và phương hướng năm 2014
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
12. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2014). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2014, mục tiêu và phương hướng năm 2015”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2014, mục tiêu và phương hướng năm 2015
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
13. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2015). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2015, mục tiêu và phương hướng năm 2016”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuthuế thu nhập cá nhân năm 2015, mục tiêu và phương hướng năm 2016
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
14. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2016). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2016, mục tiêu và phương hướng năm 2017”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2016, mục tiêu và phương hướng năm 2017
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
15. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2017). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2017, mục tiêu và phương hướng năm 2018”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2017, mục tiêu và phương hướng năm 2018
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
16. Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh (2018). “Báo cáo tổng kết công tác thu thuế thu nhập cá nhân năm 2018, mục tiêu và phương hướng năm 2019”, Phòng Thu nhập cá nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tácthu thuế thu nhập cá nhân năm 2018, mục tiêu và phương hướng năm 2019
Tác giả: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
17. Nguyễn Thị Thùy Dương (2011). “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương
Năm: 2011
18. Lý Phương Duyên (2010). “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ, Học viện tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lý Phương Duyên
Năm: 2010
19. Lý Phương Duyên (2011). “Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế và tính hiệu lực trong quản lý thuế”, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính tuân thủ thuế của ngườinộp thuế và tính hiệu lực trong quản lý thuế
Tác giả: Lý Phương Duyên
Năm: 2011
20. Nguyễn Thị Minh Hằng (2011). “Tính đơn giản, công khai, minh bạch của chính sách thuế đối với sự tuân thủ thuế tại Việt Nam”, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đơn giản, công khai, minhbạch của chính sách thuế đối với sự tuân thủ thuế tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Năm: 2011
21. Nguyễn Thanh Hằng (2016). “Những thay đổi về chính sách thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Tài chính, 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thay đổi về chính sách thuếtrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thanh Hằng
Năm: 2016
22. Tôn Thu Hiền (2011). “Khung chiến lược thúc đẩy sự tự nguyện tuân thủ thuế - Kinh nghiệm Singapore”, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung chiến lược thúc đẩy sự tự nguyện tuânthủ thuế - Kinh nghiệm Singapore
Tác giả: Tôn Thu Hiền
Năm: 2011
46. Thanh tra Chính phủ (2012). Những vấn đề cơ bản về tham nhũng.http://thanhtra.gov.vn/ct137/Lists/LTaiLieu/View_Detail.aspx?CatID=-1&ItemId=6&LVID=&CapChaId=4 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w