1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỈNH QUẢNG TRỊ

92 220 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrẻ em khuyết tật (TEKT) là những người yếu thế và phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Sự tồn tại của TEKT là một thực tế khách quan, do nhiều nguyên nhân khác nhau: nguyên nhân do môi trường sống, nguyên nhân do xã hội, nguyên nhân bẩm sinh… Đa số TEKT rơi vào tình trạng nghèo nàn, thất học và chịu nhiều thiệt thòi hơn so với trẻ không khuyết tật.Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính trên thế giới cứ 10 trẻ em thì có 1 trẻ phải đối mặt với khuyết tật.Ở Việt Nam, theo số liệu của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, tính đến tháng 62015, Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT, chiếm hơn 7,8% dân số; trong đó TEKT chiếm 28,3%. (Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội, 2015)Kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam 20162017 cho thấy tỷ lệ các dạng khuyết tật chức năng chủ yếu thường gặp đối với trẻ có độ tuổi từ 2 – 17 tuổi như sau: khuyết tật về thần kinh (2.21%), khuyết tật vận động thân dưới (0.50%), khuyết tật đa chức năng (0.78%), khuyết tật nhận thức (0.74%), khuyết tật giao tiếp (0.62%), khuyết tật nghe (0.22%), khuyết tật nhìn (0.15%). (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2019)TEKT và gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, những gia đình có thành viên là TEKT thường nghèo hơn, TEKT có ít cơ hội đi học hơn so với các bạn cùng trang lứa. Ở các cấp học cao hơn thì cơ hội đi học của TEKT càng thấp hơn. Đến cấp Trung học phổ thông chỉ có chưa đến 13 TEKT đi học đúng tuổi, so với tỷ lệ 23 trẻ em không khuyết tật. Mặc dù việc đưa TEKT vào hòa nhập với trẻ em khác và học chung giáo trình đã cho những kết quả tích cực, nhưng chỉ có 2% trường Tiểu học và Trung học cơ sở có thiết kế phù hợp với trẻ khuyết tật và khoảng 17 số trường có một giáo viên được đào tạo về khuyết tật. (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2019)Do hạn chế về chức năng, TEKT gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày và tham gia các hoạt động học tập, hoạt động xã hội... Dù TEKT luôn mang trong mình nỗi mặc cảm, tự ti nhưng trẻ luôn có nhu cầu được tham gia các hoạt động, được độc lập về mọi mặt. Vì vậy, việc trợ giúp cho TEKT là rất quan trọng.

Trang 1

HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM

ĐỒNG THỊ TÙNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TRẺ EM

KHUYẾT TẬT TỈNH QUẢNG TRỊ

Ngành học, Chuyên ngành: Công tác xã hội

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM

ĐỒNG THỊ TÙNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TRẺ EM

KHUYẾT TẬT TỈNH QUẢNG TRỊ

Ngành học, Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã sinh viên: 1557610091 Ngành học, Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã ngành: 52.76.01.01 Người hướng dẫn khoa học: ThS Trịnh Hà My

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến khoa Công tác xã hội - Học viện Phụ nữ Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài khóa luận của mình

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và toàn thể giáo viên, nhân viên của Trường trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị đã tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi có thể thực hiện nghiên cứu của mình một cách thuận tiện nhất

Xin chân thành cảm ơn các em nhỏ tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị đã hưởng ứng, hợp tác để tôi có được những thông tin hữu ích trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Trịnh Hà My, tất cả các nguồn tài liệu đã được công bố đầy đủ, nội dung của khóa luận là trung thực

Sinh viên Đồng Thị Tùng Lâm

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của khóa luận 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT 4

1.1 Cơ sở lý luận chung 4

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan 4

1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 9

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỈNH QUẢNG TRỊ 21 2.1 Giới thiệu chung về trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị 21

2.2 Đặc điểm của trẻ em khuyết tật tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị 24 2.3 Đánh giá hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật tại Trường trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị 43

2.3.1 Phục hồi chức năng trong học tập, sinh hoạt 45

2.3.2 Phục hồi chức năng trong hướng nghiệp – dạy nghề 55

2.3.3 Phục hồi chức năng trong các hoạt động xã hội 60

2.4 Những khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật tại trường 63

Trang 5

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 68

3.1 Giải pháp, đề xuất 68

3.2 Khuyến nghị 69

PHẦN KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Nhu cầu của trẻ khiếm thính và khiếm thị 36 Bảng 2.2: Các phương tiện hỗ trợ học tập, sinh hoạt của trẻ khiếm thính 45 Bảng 2.3: Các phương tiện hỗ trợ trẻ khiếm thị trong học tập, sinh hoạt 47 Bảng 2.4: Mức độ hài lòng về việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ học tập, sinh

hoạt của trẻ khiếm thính 51 Bảng 2.5: Đánh giá của trẻ khiếm thính về việc truyền đạt kiến thức của giáo viên 52 Bảng 2.6: Mức độ hài lòng về phương tiện hỗ trợ trong học tập, sinh hoạt của trẻ

Bảng 2.7: Đánh giá của trẻ khiếm thị về việc truyền đạt kiến thức của giáo viên 53 Bảng 2.8: Những khó khăn trong học nghề của trẻ khiếm thính và khiếm thị 57 Bảng 2.9: Sự tham gia của TEKT vào các hoạt động xã hội tại trường 61

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Những khó khăn trẻ khiếm thính và khiếm thị gặp phải trong học tập 26 Biểu đồ 2.2: Những khó khăn trong sinh hoạt của trẻ khiếm thính 29 Biểu đồ 2.3: Những khó khăn trong học tập của trẻ khiếm thị 30 Biểu đồ 2.4: Sự tham gia của TEKT vào các hoạt động PHCN tại trường 44

Biểu đồ 2.5: Mức độ sử dụng các phương tiện hỗ trợ trong học tập, sinh hoạt của trẻ

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em khuyết tật (TEKT) là những người yếu thế và phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã

hội Sự tồn tại của TEKT là một thực tế khách quan, do nhiều nguyên nhân khác nhau:

nguyên nhân do môi trường sống, nguyên nhân do xã hội, nguyên nhân bẩm sinh… Đa số TEKT rơi vào tình trạng nghèo nàn, thất học và chịu nhiều thiệt thòi hơn so với trẻ không khuyết tật

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính trên thế giới cứ 10 trẻ em thì có 1 trẻ phải đối mặt với khuyết tật

Ở Việt Nam, theo số liệu của Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội, tính đến tháng

6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT, chiếm hơn 7,8% dân số; trong đó TEKT chiếm 28,3% (Bộ Lao Động – Thương Binh & Xã Hội, 2015)

Kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam 2016-2017 cho thấy tỷ lệ các dạng khuyết tật chức năng chủ yếu thường gặp đối với trẻ có độ tuổi từ 2 – 17 tuổi như sau: khuyết tật về thần kinh (2.21%), khuyết tật vận động thân dưới (0.50%), khuyết tật đa chức năng (0.78%), khuyết tật nhận thức (0.74%), khuyết tật giao tiếp (0.62%), khuyết tật nghe (0.22%), khuyết tật nhìn (0.15%) (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2019)

TEKT và gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, những gia đình có thành viên

là TEKT thường nghèo hơn, TEKT có ít cơ hội đi học hơn so với các bạn cùng trang lứa

Ở các cấp học cao hơn thì cơ hội đi học của TEKT càng thấp hơn Đến cấp Trung học phổ thông chỉ có chưa đến 1/3 TEKT đi học đúng tuổi, so với tỷ lệ 2/3 trẻ em không khuyết tật Mặc dù việc đưa TEKT vào hòa nhập với trẻ em khác và học chung giáo trình đã cho những kết quả tích cực, nhưng chỉ có 2% trường Tiểu học và Trung học cơ sở có thiết kế phù hợp với trẻ khuyết tật và khoảng 1/7 số trường có một giáo viên được đào tạo về khuyết tật (Tổng cục Thống kê và UNICEF, 2019)

Do hạn chế về chức năng, TEKT gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày và tham gia các hoạt động học tập, hoạt động xã hội Dù TEKT luôn mang trong mình nỗi mặc cảm, tự ti nhưng trẻ luôn có nhu cầu được tham gia các hoạt động, được độc lập về mọi mặt Vì vậy, việc trợ giúp cho TEKT là rất quan trọng

Theo kết quả nghiên cứu và đánh giá mô hình PHCN dựa vào cộng đồng ở Việt Nam cho thấy 70% NKT có tỷ lệ phục hồi cao và cơ hội để hòa nhập với cộng đồng TEKT được

PHCN sớm sẽ có khả năng phục hồi tốt hơn, tạo nhiều cơ hội để các em tham gia các hoạt động học tập, vui chơi; sinh hoạt hằng ngày của các em sẽ bớt những khó khăn hơn (Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội, 2015)

Trang 9

Hiện nay có khá nhiều trường học dành cho TEKT, các em được hỗ trợ về giáo dục cũng như PHCN về khuyết tật Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về thực trạng TEKT cũng như hiệu quả của hoạt động PHCN cho TEKT tại đây

Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “Hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ

em khuyết tật tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị” vừa có ý nghĩa lý luận, vừa

mang tính thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động PHCN cho TEKT Từ đó đề xuất một

số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động PHCN cho TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

Mục tiêu cụ thể:

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động PHCN cho TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị:

- Nghiên cứu lý luận về TEKT, hoạt động PHCN cho TEKT

- Nghiên cứu thực trạng chung của TEKT và hoạt động PHCN cho TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động PHCN cho TEKT tại Trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động PHCN cho TEKT

- Khách thể nghiên cứu:

+ TEKT đang theo học tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị;

+ Giáo viên giảng dạy tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

+ Lãnh đạo trường TEKT tỉnh Quảng Trị

4 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

Thời gian nghiên cứu: Từ 01/2019 đến 05/2019 (04 tháng)

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Tổng hợp, phân tích tài liệu, giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ… có liên quan

đến TEKT, hoạt động PHCN cho TEKT làm cơ sở lý luận

b Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:

Thực hiện phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với 62 TEKT (48 trẻ khiếm thính, 14 trẻ khiếm thị) có khả năng nhận thức tốt đang theo học tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị nhằm tìm hiểu về thực trạng TEKT, hiệu quả hoạt động PHCN tại trường Trẻ chậm PTTT với những hạn chế về mặt nhận thức, trí tuệ giảm sút Vậy nên tác giả loại đối tượng này ra khách thể nghiên cứu bằng bảng hỏi, tiến hành thu thập thông tin

về đối tượng thông qua phương pháp PVS đối với giáo viên tại trường

Các số liệu thu thập bằng bảng hỏi được xử lý bằng google biểu mẫu

c Phương pháp phỏng vấn sâu:

- PVS 10 giáo viên giảng dạy tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị nhằm tìm hiểu thực trạng TEKT theo học và hoạt động PHCN cho TEKT tại trường, những tồn tại và

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động PHCN

- PVS 10 TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị nhằm xác định những khó khăn, hiệu quả hoạt động PHCN cho TEKT

- PVS 01 lãnh đạo trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị nhằm đánh giá thực trạng

TEKT đang theo học, tìm hiểu hoạt động PHCN, những thuận lợi và khó khăn, hạn chế còn

tồn tại của hoạt động này và các đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động PHCN cho TEKT

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật

Chương 2: Thực trạng hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật tại trường

Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO

TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1.1 Cơ sở lý luận chung

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.1.1.1 Trẻ em khuyết tật

a) Trẻ em

Khái niệm trẻ em đã được các văn bản luật pháp Quốc tế và Việt Nam quy định

trong các văn bản Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em: “Trẻ em là bất

kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Liên Hiệp Quốc, 1989) Còn Luật trẻ em Việt Nam 2016

thì quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Việt Nam, 2016)

Như vậy, Luật trẻ em 2016 và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em có

sự khác nhau về độ tuổi khi định nghĩa về “trẻ em” Trong khóa luận này, nghiên cứu sử

dụng quy định của Luật trẻ em 2016 đó là: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”

về vấn đề này

▪ Khuyết tật

Mặc dù có khá nhiều tranh cãi về thuật ngữ “khuyết tật”, nhưng Tổ chức Y tế Thế

giới đã đưa ra khái niệm về khuyết tật dựa trên hệ thống phân loại Quốc tế ICF: “Khuyết

tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế về hoạt động và tham gia, thể hiện ở những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)” (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014)

Khái niệm “khuyết tật” mà tổ chức WHO đưa ra không chỉ đề cập đến những khiếm khuyết của cá nhân NKT mà còn đề cập đến các yếu tố bên ngoài (yếu tố môi trường) tác động đến tình trạng bị hạn chế tham gia các hoạt động của NKT

Trang 12

▪ Người khuyết tật

Cũng như thuật ngữ “khuyết tật”, thuật ngữ “người khuyết tật” cũng đã được đưa

ra nhiều khái niệm khác nhau, thay đổi theo từng giai đoạn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử

Trước đây, trong các văn bản quốc tế cũng như của Việt Nam thường theo sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” Theo Tuyên ngôn về quyền của NKT được Đại hội đồng Liên

hiệp quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì “Người tàn tật (handicapped) có nghĩa là bất cứ

người nào mà không có khả năng tự bảo đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những

sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ” (Nguyễn

Thị Kim Hoa, 2014)

Cũng tương tự như trên, nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật

quy định tại Điều 1:“Người tàn tật là người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở

lên do tàn tật, được hội đồng giám định y khoa xác định” (Chính Phủ Việt Nam, 1995)

Tiếp theo phải kể đến đó là Pháp lệnh người tàn tật Việt Nam ban hành vào ngày

30/07/1998 đưa ra khái niệm về NKT: “Là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ

thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh họat, học tập gặp nhiều khó khăn” (Ủy Ban Thường vụ

Quốc Hội Việt Nam, 1998)

Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản liên quan đến NKT đều không sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”

Tại điều 1, Công ước Quốc tế về các quyền của người khuyết tật (2006) nêu rõ:

“Người khuyết tật (people with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” (Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, 2006)

Tương tự theo đó, Đạo luật về người khuyết tật Hoa Kỳ năm 1990 (ADA

- Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa: “NKT là người có sự suy yếu về thể

chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” (Văn phòng Quyền Dân sự (OCR) thuộc Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa

Kỳ (DHHS), 1990)

Ở Việt Nam, Theo Luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày

17/06/2010 quy định tại Điều 2, Chương 1, Luật người khuyết tật định nghĩa rằng: “Người

Trang 13

khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”

(Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2010)

Như vậy, khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai đoạn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới Từ những định nghĩa trên, xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho nội dung của khóa

luận này, khái niệm về “Người khuyết tật” được hiểu như sau: “Người khuyết tật là người

bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan trong một thời gian dài được biểu hiện dưới dạng tật và do các rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở sự tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội.”

c) Trẻ em khuyết tật

Từ những khái niệm về “trẻ em”, “khuyết tật”, “người khuyết tật” nêu trên, xuất phát

từ thực tiễn nghiên cứu và phục vụ trực tiếp cho nội dung nghiên cứu của đề tài, trong

nghiên cứu này, khái niệm TEKT được hiểu là: “TEKT là những trẻ dưới 16 tuổi có khiếm

khuyết về cấu trúc chức năng cơ thể hoạt động không bình thường, dẫn đến gặp khó khăn đặc thù trong hoạt động học tập, vui chơi và lao động và không thể theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục - dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết.”

d) Các dạng khuyết tật

Có khá nhiều tiêu chí phân loại các dạng khuyết tật ở Việt Nam Đầu tiên, theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, khuyết tật được phân loại theo các dạng:

Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu cổ, chân,

tay, thân hình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

Khuyết tật nghe nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe

và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng,

màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm

soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

Trang 14

Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện

bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cơ thể khiến cho hoạt động

lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các dạng trên (Chính Phủ Việt Nam, 2012)

Thứ hai, trong PHCN, để dễ nhận biết và dễ thực hiện cũng như để tạo thuận lợi và

sự phù hợp áp dụng phương pháp PHCN cho TEKT, để TEKT dễ dàng chấp nhận tình trạng khuyết tật của mình, tăng cường khả năng hợp tác của TEKT, người ta phân loại khuyết tật thường gặp ở Việt Nam như sau:

- Khuyết tật/ giảm chức năng về vận động

- Khuyết tật/ giảm chức năng về nhận thức

- Khuyết tật/ giảm chức năng về nhìn

- Khuyết tật/ giảm chức năng về nghe/nói (khó khăn về nghe hoặc nói hoặc nghe

và nói kết hợp)

- Rối loạn hành vi, tâm thần

- Mất/giảm cảm giác (Bao gồm giảm cảm giác do bệnh phong gây ra hoặc giảm

vị giác, khứu giác do các nguyên nhân khác nhau)

- Các dạng tật khác (Bộ Y tế, 2008)

Trong giới hạn đề tài khóa luận này, tác giả tiến hành nghiên cứu dưới 03 dạng TEKT: Trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị và trẻ chậm PTTT

1.1.1.2 Hoạt động phục hồi chức năng

PHCN là một trong những lĩnh vực quan trọng đối với TEKT, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của TEKT về mọi mặt để trẻ có thể hoà nhập và bình đẳng trong xã hội, qua đó phát huy được tối đa năng lực của mình

a) Hoạt động phục hồi chức năng

Dưới góc độ sinh lý học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp

của con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người

Trang 15

Dưới góc độ tâm lý học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế

giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới khách quan (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới khách quan và cả về phía con người

Dưới góc độ triết học: Hoạt động là mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách

thể (Phạm Hồng Hạnh (2017)

Thuật ngữ “hoạt động” còn được hiểu theo các phương diện:

Xét về phương diện loài: Hoạt động lao động của con người, là sự tác động tích cực

của con người vs thế giới khách quan để tạo ra sản phẩm Trong lao động sử dụng công cụ lao động và sự phân công lao động

Xét về phương diện cá thể: Hoạt động của cá thể quy định sự tồn tại của cá thể Hoạt

động là quá trình tác động tích cực của con người vào thế giới khách quan, kết quả tạo ra sản phẩm về phía thế giới (đồ vật, tri thức) và tạo ra sản phẩm về phía con người (hình thành chức năng tâm lý mới, cấu tạo tâm lý mới) (Khái niệm hoạt động – Tâm lý học, nd)

Có thể thấy rằng, thuật ngữ “hoạt động” đã được xét dưới nhiều góc nhìn và trên nhiều phương diện khác nhau Với thực tiễn đề tài nghiên cứu này, “hoạt động” được hiểu

là: “Quá trình thực hiện những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã

hội, sự gắn kết giữa chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động Kết quả tạo ra sản phẩm về phía thế giới (đồ vật, tri thức) và tạo ra sản phẩm về phía con người (hình thành chức năng tâm lý mới, cấu tạo tâm lý mới).”

▪ Phục hồi chức năng

“PHCN” là một thuật ngữ trong y khoa và cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau

về thuật ngữ này

Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một khái niệm đầy đủ về PHCN như sau: “PHCN

bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập

xã hội, có những cơ hội bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội.” (WHO,

2011)

Trong thông tư số 46/2013 của Bộ Y tế, PHCN được hiểu: “Là quá trình trợ giúp

cho người bệnh và người khuyết tật bằng phương pháp y học, kỹ thuật PHCN, biện pháp giáo dục và xã hội làm giảm tối đa ảnh hưởng của khuyết tật, giúp người bệnh có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động xã hội và hòa nhập cộng đồng” (Bộ Y tế, 2013)

Cũng có khái niệm khác về PHCN như: “PHCN là trả lại các chức năng bị giảm

hoặc bị mất cho người tàn tật hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng tàn tật của mình khi ở nhà hoặc ở cộng đồng PHCN không chỉ huấn luyện người tàn tật thích nghi với môi

Trang 16

trường sống mà còn tác động vào môi trường và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hội nhập của người tàn tật” (Phục hồi chức năng, nd)

Theo tài liệu “Hướng dẫn người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa

vào cộng đồng” định nghĩa rằng: “PHCN là một hình thức cung cấp các biện pháp PHCN

về thể chất, tâm thần, hỗ trợ về mặt xã hội, việc làm, giáo dục và tạo ra các điều kiện thuận lợi khác tại cộng đồng để NKT có thể phát huy được hết khả năng của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống để hoà nhập xã hội.” (Bộ Y tế, 2008)

Từ các định nghĩa về “hoạt động”, “PHCN” được nêu ở trên, với thực tiễn đề tài

nghiên cứu này, “hoạt động PHCN” được hiểu là: “Hoạt động y học, xã hội, giáo dục, kinh

tế và kỹ thuật phục hồi tạo ra các điều kiện thuận lợi để NKT có thể phát huy được hết khả năng của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống để hoà nhập xã hội.”

b) Hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật

Từ những khái niệm về “khuyết tật”, “trẻ em khuyết tật”, “hoạt động PHCN” ở trên, đề tài nghiên cứu này sử dụng định nghĩa về “hoạt động PHCN cho TEKT” như sau:

“Hoạt động PHCN cho TEKT là các hoạt động y học, xã hội, giáo dục, kinh tế và kỹ thuật phục hồi nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi để TEKT có thể phát huy được hết khả năng của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống để hoà nhập xã hội.”

1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.1.2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

Năm 1943, A Maslow đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của

nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó là lý thuyết

về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Tổng quan về lý thuyết Thang bậc nhu cầu của Maslow (Maslow’s Hierarchy of Needs) Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc (Bùi Thị Xuân Mai, 2014)

Dưới đây là bậc thang nhu cầu nhằm đánh giá nhu cầu của TEKT xếp theo bậc thang tầm quan trọng từ thấp đến cao

Trang 17

Trong cách tiếp cận của Maslow, con người luôn có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn nhu cầu cao hơn và đối với TEKT cũng như vậy, cũng cần có 5 nấc thang nhu cầu như tất cả các cá nhân khác TEKT cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi trẻ em, tuy nhiên TEKT có thêm những nhu cầu hỗ trợ đặc biệt do những khó khăn mà khuyết tật gây ra Dựa trên tháp nhu cầu Maslow, TEKT có những nhu cầu:

➢ Nhu cầu cơ bản

Đây là nhu cầu đầu tiên, cơ bản nhất đối với mỗi người Nhu cầu vật chất bao gồm: thức uống, nước uống, chỗ ở, quần áo, được chăm sóc khi đau ốm,… Nếu nhu cầu này

không được đáp ứng thì trẻ sẽ không thể tồn tại, duy trì cuộc sống và phát triển

➢ Nhu cầu về sự an toàn

Có thể hiểu môi trường sống an toàn là một môi trường sống không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Được đảm bảo sức khỏe, được tiếp cận các DV y tế,…đối với TEKT thì nhu cầu này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nhu cầu an toàn được thể hiện ngay từ khi đứa trẻ mới lọt lòng đồng thời cũng duy trì và tồn tại trong suốt đời người Điều đó có thể lý giải tại sao trẻ em từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành vẫn luôn luôn cần có người thân bên cạnh và TEKT cũng như vậy Để TEKT làm việc độc lập và vô cùng khó khăn, nếu như TEKT sống trong sự sợ hãi hoặc bất ổn định Khi trẻ sợ, điều quan trọng nhất đối với trẻ là có được một môi trường an toàn Ở TEKT, việc đi lại, di chuyển, cử động khó khăn; tinh thần thường cảm thấy bất an Việc tự bảo vệ của trẻ lại càng khó khăn, hay những kỹ năng trong cuộc sống còn thiếu, cho nên trẻ thường nhút nhát, tự ti, thường ngại tiếp xúc với người khác, đôi khi còn sợ sệt

Nhu cầu được thể hiện mình Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội/ nhu cầu được yêu

thương Nhu cầu an toàn

Nhu cầu cơ bản

Hình 1: Bậc thang nhu cầu của Maslow

Trang 18

Trẻ có nhu cầu, mong muốn được an toàn, không bị bỏ rơi, sao nhãng hay bóc lột, bạo lực,…; Trẻ có nhu cầu được đảm bảo an toàn sinh mạng trong môi trường sống của mình, trong những hoạt động sinh hoạt hằng ngày, trong học tập, tham gia vào các hoạt động xã hội và cả về tâm lý,… Nếu sống trong môi trường thiếu an toàn, tâm lý của trẻ em luôn bất

ổn, nối lo sợ, ám ảnh sẽ xuất hiện đe dọa cuộc sống tinh thần của trẻ

➢ Nhu cầu xã hội/ được yêu thương

Con người có nhu cầu được thể hiện tình cảm, đón nhận thình yêu thương và cảm thấy mình thuộc vào một nhóm, cộng đồng, xã hội TEKT cũng mong muốn có tình yêu thương

từ gia đình yên ấm, bạn bè, cộng đồng, mong muốn được giao lưu trò chuyện với mọi người xung quanh, có những mối quan hệ bạn bè tốt, được lắng nghe, được thấu hiểu và sẻ chia…Với TEKT nhu cầu tình cảm là không thể thiếu Sự động viên, an ủi của người khác đối với trẻ là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao để các em vượt qua những khó khăn, thiệt thòi, mặc cảm, lo âu,… TEKT có nhu cầu được giao tiếp, chia sẻ, trò chuyện, lắng nghe,…; cần yêu thương, được đùm bọc, gắn bó, quan tâm,…; cần hòa nhập, không bị phân biệt đối

xử, không bị cách ly,…

➢ Nhu cầu được tôn trọng

Được tôn trọng là một nhu cầu chính đáng của con người Trong cuộc sống, bất kỳ cá nhân nào cũng đều mong muốn nhận được sự quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh.Việc con người mong muốn được tôn trọng cho thấy bản thân mỗi cá nhân đều có khát vọng trở thành người có ích, cảm thấy mình được thừa nhận trong nhóm, tập thể hay một cộng đồng nào đó Nhu cầu được tôn trọng là đặc biệt đối với TEKT Tôn trọng giúp trẻ có được sự tự tin, dám nói lên những mong muốn của mình Tôn trọng có nghĩa là tôn trọng sự khác biệt, không xa lánh…

➢ Nhu cầu được thể hiện mình

Đối với trẻ em nói chung, muốn phát triển tốt, trở thành con người có ích cho xã hội, các em cần được sống trong một môi trường tốt cùng với sự nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục TEKT cũng có những mong muốn của bản thân, được tham gia và tự khẳng định mình trong các mối quan hệ với gia đình, bạn bè và xã hội Dù có những hạn chế về bản thân mình những TEKT vẫn có những khả năng tiềm ẩn, có những ước mơ, những hoài bão riêng TEKT có nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, tìm hiểu, tích lũy kiến thức,…),

về thẩm mỹ, cái đẹp và thực hiện được những ước mơ và khẳng định bản thân mình trong cuộc sống…

TEKT có rất nhiều nhu cầu khác nhau, việc áp dụng thuyết nhu cầu Maslow để xem xét trẻ đã được đáp ứng những nhu cầu nào, có những nhu cầu nào chưa được thỏa mãn,

Trang 19

chưa được đáp ứng Từ đó có thể đánh giá, phân loại và xác định nhu cầu của từng trẻ khuyết tật Thông qua việc xác định, đánh giá và phân loại nhu cầu của mỗi trẻ để có những các phương pháp can thiệp, trị liệu PHCN đúng đắn và có hiệu quả

1.1.2.2 Thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludvig Von Bertalanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực như sinh học, kinh tế, xã hội học Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với hệ thống xung quanh Hệ thống bao gồm các tiểu hệ thống và các thành phần Hệ thống các phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành phần càng đa dạng (Trần Đình Tuấn, 2009)

Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, chính sách, các cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi trường Lý thuyết hệ thống xem mỗi một cá nhân con người được cấu thành nên từ các tiểu hệ thống: sinh học, tâm lý - xã hội trong quá trình hỗ trợ PHCN cho TEKT cần đặt hoạt động đó dưới góc nhìn hệ thống PHCN cho TEKT bao gồm nhiều mặt, nhiều biện pháp, những biện pháp về y tế, xã hội, kinh tế, giáo dục,… Việc ứng dụng thuyết hệ thống vào nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá về hệ thống các hoạt động PHCN cho TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị (trong học tập, dạy nghề, sinh hoạt, xã hội) được triển khai như thế nào, chỉ ra được những hiệu quả, những mặt hạn chế, chưa phát huy được và từ đó đưa ra các phương

pháp đẩy mạnh tổng thể hoạt động PHCN cho TEKT

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu đề cập đến hoạt động PHCN cho TEKT Các tác giả nghiên cứu vấn đề này chủ yếu quan tâm đến các nội dung: các hình thức PHCN, thực trạng hoạt động PHCN, các phương pháp PHCN

và đánh giá hiệu quả hoạt động PHCN

Trang 20

1.2.1 Các hình thức phục hồi chức năng

Hiện nay có nhiều hình thức PHCN được triển khai tại Việt Nam Hoạt động PHCN giúp cho các hoạt động vốn bị cản trở, khó khăn do bệnh tật của TEKT trở nên dễ dàng hơn Nhờ vậy mà sau khi PHCN, họ có thể vui chơi, học tập, làm việc, hòa mình vào với cộng đồng, giúp họ có thái độ tích cực hơn với cuộc sống, từ đó, có thể thay đổi cách nhìn nhận của xã hội đối với NKT nói chung và TEKT nói riêng

Tác giả Bùi Thị Kim Hoa (2014) đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT và nêu nên các loại hình chăm sóc trợ giúp NKT và vai trò của NV CTXH với NKT Giáo trình còn đề cập đến những khó khăn của TEKT trong trường học (từ những khó khăn chủ quan đến những khó khăn khách quan), đưa ra các mục đích và hình thức PHCN Về hướng thực hành, giáo trình nêu các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình, cũng như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT cũng như TEKT

Hình thức tại bệnh viện hay các trung tâm PHCN

Đây là hình thức phổ biến từ trước đến nay NKT tới viện và được các nhân viên Y tế can thiệp PHCN Hình thức này có thể đem lại hiệu quả và chất lượng điều trị PHCN rất cao Tuy nhiên với sự hạn chế về nguồn nhân lực cán bộ PHCN trong khi nhu cầu PHCN của NKT là rất lớn nên hình thức này chỉ đáp ứng được một số rất ít nhu cầu của NKT Mặt

khác chi phí cho PHCN hình thức này khá lớn (tính cả chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp)

Hình thức ngoài bệnh viện và trung tâm PHCN

Cán bộ y tế PHCN tại chỗ, các cán bộ PHCN tổ chức các buổi khám và hướng dẫn PHCN cho một nhóm những NKT theo địa bàn sinh sống một cách định kỳ Số NKT được tiếp cận với PHCN cũng đã được phục hnhiều hơn Với hình thức này, tốn kém nhưng vẫn thiếu sự phối hợp giữa cơ quan y tế, giáo dục, nghề nghiệp và xã hội; Sự giúp đỡ và tham gia của cộng đồng hạn chế

Hình thức PHCN dựa vào cộng đồng (PHCN DVCĐ)

PHCN DVCĐ là việc chuyển giao kiến thức về khuyết tật và kỹ năng phục hồi đến tận NKT tại gia đình và do NKT, gia đình cùng cộng đồng tiến hành dưới sự hướng dẫn của cán bộ y tế địa phương trong việc chăm sóc y tế, giáo dục, nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác Làm thay đổi nhận thức của xã hội nhìn nhận chấp nhận NKT là thành viên bình đẳng

PHCN DVCĐ là biện pháp chiến lược nằm trong sự phát triển của cộng đồng về PHCN, bình đẳng về mọi cơ hội hòa nhập xã hội cho tất cả NKT

Trang 21

PHCN DVCĐ được triển khai với sự phối hợp chung của chính bản thân NKT, gia đình và cộng đồng bằng những dịch vụ y tế, giáo dục, hướng nghiệp và xã hội thích hợp (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014)

1.2.2 Các nghiên cứu về hoạt động PHCN cho TEKT

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động PHCN

Trong những năm gần đây, các quan niệm về khuyết tật và PHCN có những thay đổi lớn PHCN y học đơn thuần được thay thế bởi mô hình phục hồi chức năng xã hội Ở Việt Nam, các hoạt động PHCN cho NKT đã được cải thiện, chất lượng ngày một hoàn chỉnh hơn, đáp ứng một phần nhu cầu của NKT Bên cạnh đó cũng có những mặt hạn chế, tồn tại cần được cải thiện để nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động

Theo tác giả Nguyễn Minh Thủy với bài viết “Các yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch

vụ phục hồi chức năng của NKT” của Tạp chí Y tế cộng đồng cho thấy rằng, tại Việt Nam,

các nghiên cứu về sự tiếp cận các dịch vụ và thực trạng hoạt động PHCN còn rất nghèo nàn, chủ yếu nằm trong nghiên cứu về tác động của chương trình PHCN DVCĐ mà chưa đưa ra được một bức tranh hoàn chỉnh phân tích thực trạng hoạt động PHCN, các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ PHCN cho các dạng tật khác nhau Nghiên cứu chỉ

ra yếu tố thứ nhất, về địa lý, NKT sống trong vùng nông thôn, miền núi, hải đảo,… sẽ ít có khả năng tiếp cận dịch vụ PHCN, đặc bệt là dịch vụ y tế cần thiết Thứ hai, về yếu tố kinh

tế - xã hội, TEKT/NKT có trình độ trung học cơ sở có nhiều khả năng tiếp cận dịch vụ hơn… Kết quả cũng cho thấy cân có những biện pháp để tăng tỷ lệ TEKT tiếp cận được với dịch vụ cần thiết qua các kênh thông tin, trong đó có dịch vụ PHCN, đặc biệt đối với nhóm khuyết tật cần được can thiệp PHCN y học và nhóm khuyết tật ở địa bàn miền núi, nông thôn, những vùng khó khăn… (Nguyễn Minh Thủy, 2013)

Tương tự như trên, tổng hợp của Celia Pechak, PT, MPH & PhD (C) Mary

Thompson với nghiên cứu “Disability and Rehabilitation in Developing countries”,

(Khuyết tật và PHCN ở các nước đang phát triển) đưa ra thực trạng của việc thực hiện

PHCN trong y tế và PHCN DVCĐ Nghiên cứu đánh giá thực trạng của dịch vụ PHCN ở các nước đang phát triển trên thế giới, đưa ra một hoạt động PHCN y tế lý tưởng sẽ bao gồm: chăm sóc y tế, trị liệu vật lý, điều trị âm ngữ, điều dưỡng chuyên nghiệp, trị liệu tâm

lý – xã hội, liệu pháp chuyên môn Nhưng trên thực tế, hoạt động PHCN chưa được hoàn hảo như vậy Thứ nhất, PHCN y tế thường tập trung tại các trung tâm đô thị, nhiều NKT cũng như TEKT khác không thể tiếp cận vì chi phí tài chính và/hoặc khoảng cách địa lý; Thứ hai, hầu hết các bác sĩ không được đào tạo chuyên sâu về PHCN, nếu có thì còn rất hạn chế; Thứ tư, việc trị liệu chuyên môn là không phổ biến, hiện đang ít nơi tiến hành việc

Trang 22

điều trị tâm lý – xã hội và các liệu pháp chuyên môn cho NKT và gia đình NKT; Thứ năm, các chuyên viên trị liệu âm ngữ, chuyên viên PHCN và nhân viên tâm lý là rất hiếm và chênh lệch về mức độ đào tạo của từng chuyên viên Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nêu ra những khó khăn của TEKT nói riêng và NKT nói chung về ảnh hưởng của họ đến sự phát triển của xã hội; về sự tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế và PHCN (Celia Pechak, PT, MPH, PhD (C) Mary Thompson, 2007)

Nghiên cứu về phương pháp PHCN cho TEKT

Việt Nam hiện đã triển khai nhiều phương pháp PHCN cho NKT nói chung và TEKT nói riêng PHCN DVCĐ là một chương trình đã được triển khai từ năm 1987 tại Tiền Giang, cho đến nay thì mạng lưới PHCN DVCĐ đã được phát triển ở 51/63 tỉnh, thành phố với hơn 50% số huyện, trên 50% số xã, khoảng 74% NKT sống tại các địa phương được hưởng lợi từ mạng lưới này Chương trình PHCN DVCĐ của Bộ Y tế đã phát hành nhiều tài liệu hướng dẫn can thiệp, điều trị PHCN về y học, giáo dục, kinh tế, xã hội, … với các dạng khuyết tật khác nhau

Trong tài liệu “PHCN cho người khuyết tật/ giảm chức năng nhìn” đã đưa ra những

dấu hiệu phát hiện vấn đề, khó khăn của TEKT và NKT/ giảm chức năng nhìn, từ đó đưa

ra hướng can thiệp, điều trị PHCN, can thiệp giáo dục cho TEKT/ giảm chức năng nhìn trong dạy nghề cho người có khuyết tật/giảm chức năng nhìn; trợ giúp về tâm lý và xã hội

cho người mù và TEKT nhìn,… (Bộ Y tế, 2008)

Tiếp theo đó, tài liệu “PHCN cho trẻ giảm thính lực (khiếm thính)” nêu ra những kiến

thức cơ bản nhất về khái niệm, triệu chứng, cách phát hiện, các biện pháp chăm sóc và PHCN cho trẻ giảm thính lực Ngoài ra, tài liệu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản về những nơi có thể cung cấp dịch vụ cần thiết mà gia đình trẻ có thể tham khảo (Bộ Y tế, 2008)

“PHCN cho trẻ chậm phát triển trí tuệ” là cuốn tài liệu giới thiệu về trẻ khuyết tật trí

tuệ, những đặc điểm và dạng khuyết tật trí tuệ, những khó khăn mà trẻ chậm PTTT đang gặp phải như: vấn đề tự chăm sóc, vấn đề học tập, sở thích, vận động cảm giác, nhận thức

và tâm lý xã hội; tài liệu đưa ra những nguyên nhân, các dấu hiệu phát hiện sớm trẻ chậm PTTT và cách can thiệp sớm như: trị điệu PHCN/ điều trị y học, hướng nghiệp, giáo dục

trẻ và hỗ trợ gia đình trẻ,… (Bộ Y tế, 2008)

Tương tự như các tài liệu trên, cuốn tài liệu “Phục hồi chức năng trẻ tự kỷ” giới thiệu

chung về trẻ tự kỷ và các dạng/ mức độ, nguyên nhân và những khó khăn của trẻ tự kỷ Tài liệu cũng đưa ra những biện pháp phát hiện sớm và các hình thức, phương pháp can thiệp,

Trang 23

trị liệu PHCN cho trẻ tự kỷ và cung cấp một số cơ sở, dịch vụ hỗ trợ trẻ tự kỷ… (Bộ Y tế, 2008)

Ngoài ra, cuốn tài liệu “Thể thao, văn hóa và giải trí cho người khuyết tật” đã nêu ra

tầm quan trọng của thể thao, văn hóa và giải trí đối với NKT nói chung và TEKT nói riêng Những hoạt động đó giúp NKT/TEKT phát triển kỹ năng vận động/trí tuệ, nhận thức, xã hội; Tăng cường sự tham gia của NKT vào đời sống xã hội; Tạo nên thái độ tốt của NKT đối với xã hội và gia đình; Giảm sự cách ly, xa lánh NKT, gia đình họ; Tăng cường chất lượng cuộc sống của NKT và tái PHCN cho bản thân NKT Đưa ra những hoạt động, các phương pháp tổ chức phù hợp với từng dạng và độ tuổi khuyết tật, các hoạt động vui chơi kích thích phát triển của TEKT (Bộ Y tế, 2008)

Bên cạnh đó, theo tác giả Nguyễn Hải Hữu và các cộng sự (được trích dẫn bởi Trần

Đăng Khoa, 2017) với tài liệu “Tập huấn chăm sóc người tàn tật” đưa ra những hướng dẫn

về nghiệp vụ, kỹ năng chăm sóc NKT cho cán bộ, nhân viên tại các cơ sở BTXH

Cụ thể các nghiên cứu về các phương pháp PHCN trong giáo dục, tác giả Nguyễn

Hữu Dũng với đề tài “Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tại các trường dạy

TEKT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đã đưa ra đánh giá về những hạn chế trong hoạt động PHCN

trong dạy học cho TEKT và đưa ra một số phương pháp PHCN trong học tập đối với trẻ khiếm thính (phương pháp dạy ngôn ngữ ký hiệu, ngôn ngữ bằng ngón tay, phương pháp đọc hình miệng, phương pháp tổng hợp), đối với trẻ chậm PTTT (phương pháp làm mẫu, dùng lời, dùng hình vẽ, tranh ảnh hoặc chữ viết, cử chỉ, ký hiệu) và những định hướng điều chỉnh phương pháp PHCN cho TEKT… (Nguyễn Hữu Dũng, 2009)

Cùng với phương pháp trong dạy học cho TEKT của tác giả Nguyễn Hữu Dũng, các bài giảng về đại cương giáo dục TEKT lần lượt của Trần Thị Hòa, Lê Thị Hằng và TS Huỳnh Thị Thu Hằng cũng đưa ra những hình thức giáo dục đặc biệt cho TEKT tại trường

học Tác giả Trần Thị Hòa với bài giảng “Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị” đưa ra

những vấn đề chung về trẻ khiếm thị và các phương pháp can thiệp PHCN trong giáo dục đối với trẻ khiếm thị (phương pháp dung chữ Braille, phương pháp kích thích trực quan,…); (Trần Thị Hòa, 2008)

Bài giảng “Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thính” của Lê Thị Hằng và “Đại cương

về giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ” của Huỳnh Thị Thu Hằng, Khoa Tâm lý – Giáo

dục, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng cũng đã giới thiệu về những vấn đề chung về trẻ khiếm thính và chậm PTTT, những đặc điểm về ngôn ngữ, giao tiếp, nhận thức, hành vi, trí nhớ,… của trẻ Các bài giảng cũng đưa ra những phương pháp can thiệp PHCN trong giáo dục TEKT như tiếp cận song ngữ, giap tiếp tổng hợp, đối với trẻ khiếm thính và các

Trang 24

phương pháp tâm vận động, kích thích giác quan,… đối với trẻ chậm PTTT (Lê Thị Hằng,

Huỳnh Thị Thu Hằng, 2008)

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả PHCN cho TEKT

Nhìn chung tất cả các nước đang phát triển, việc phát hiện thường không được thực hiện ở giai đoạn sớm Nhiều TEKT không được chẩn đoán cho đến khi bắt đầu đi học mẫu giáo hoặc muộn hơn, do đó khi được chẩn đoán thì tình trạng của trẻ không còn ở giai đoạn can thiệp tốt nhất; thậm chí trong nhiều trường hợp, khi khuyết tật ở trẻ được phát hiện thì những cơ hội để cải thiện tình trạng đã hoàn toàn bị bỏ lỡ

Báo cáo “Mô hình phục hồi chức năng cho TEKT tại trung tâm Hương Sen, những

vấn đề cần quan tâm giải quyết” đưa ra kết quả sau khi PHCN trong thời gian 3 – 6 tháng

đối với TEKT tại trung tâm Cụ thể về TEKT vận động: có 92,4% trẻ tiến bộ tốt; có 1,9% trẻ không tiến bộ bởi lý do khuyết tật nặng và thời gian điều trị ngắn Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ và chậm nói, câm điếc có 45,5% trẻ tiến bộ tốt và 3,6% trẻ không tiến bộ do tàn tật nặng và thời gian điều trị ngắn Nhiều trẻ sau khi điều trị tại Trung tâm, khi trở về cộng đồng đã được Trung tâm giới thiệu đi học nghề tại Trường Kỹ nghệ I Sơn Tây, thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung tâm Dạy nghề nhân đạo ở Hà Nội Sau vài năm

đã có thể kiếm được việc làm, tự lập và nuôi sống bản thân… (Đỗ Thị Thanh Hương & Phùng Thanh Thảo, nd)

Theo tác giả Nguyễn Hữu Chút (2017) với đề tài “Đánh giá tác động của mô hình

tăng cường phát hiện sớm khuyết tật đối với các bà mẹ có con dưới 6 tuổi tại huyện Hoài Đức – thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 – 2016” đã đưa ra những đánh giá về hiệu quả của

việc phát hiện và can thiệp sớm, trong đó việc can thiệp PHCN sớm cho TEKT đem lại những kết quả tích cực Tại Việt Nam, một số chương trình đề án đã được triển khai và kết quả tốt và một trong những chương trình có nội dung phát hiện sớm đầu tiên là chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCN DVCĐ) Chương trình PHCN DVCĐ

áp dụng các biện pháp sàng lọc phát hiện sớm – can thiệp sớm tại cộng đồng do cán bộ tại cộng đồng thực hiện đã có hiệu quả trong việc nâng cao cuộc sống, chức năng của TEKT, bao gồm cả khuyết tật về thị lực, về nghe và cả những KT khác Theo đánh giá của chương trình cho thấy nếu TEKT được can thiệp PHCN sớm thì ảnh hưởng của khuyết tật với cuộc sống, học tập của trẻ sẽ giảm bớt đi rất nhiều và nhiều trẻ đã có cơ hội hòa nhập xã hội Bên cạnh hai đề tài trên, tác giả Hoàng Mai Khanh - Trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh với đề tài“Các yếu tố ảnh hưởng đến

việc hội nhập của TEKT trong trường học” cũng đưa ra kết quả nghiên cứu về một số yếu

tố ảnh hưởng đến việc hội nhập của TEKT trong trường học tại 03 trường giáo dục chuyên

Trang 25

biệt trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã khảo sát 126 cha mẹ của TEKT (khiếm thị, khiếm thính và một số trẻ đa tật), 33 giáo viên qua bảng hỏi điều tra Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố từ hạn chế về khiếm khuyết của bản thân trẻ, nhà trường và gia đình có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, hợp tác của TEKT, khuyến khích hội nhập trong môi trường học đường và đánh giá về tác động của hoạt động PHCN cho TEKT Đặc biệt, những yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa trẻ với anh chị em, thầy cô, bạn bè và các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể, giao lưu tác động rất tích cực đến khả năng giao tiếp,

hỗ trợ phát triển các kỹ năng xã hội cho TEKT Để việc học tập, lĩnh hội tri thức, nghề nghiệp, nhóm kỹ năng xã hội của TEKT được phát triển, thúc đẩy trẻ hội nhập xã hội tốt, nghiên cứu chỉ ra những kỹ năng, kiến thức các cha, mẹ trẻ cần có về dịch vụ PHCN cho trẻ, nếu trẻ được can thiệp PHCN sớm sẽ hiệu quả hơn đến việc hội nhập của TEKT (Hoàng Mai Khanh, 2016)

Song song với việc đưa ra các số liệu về hiệu quả việc PHCN cho TEKT trong các

nghiên cứu trên, bộ tài liệu “Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” của WHO

đưa ra kết quả của việc can thiệp PHCN cho TEKT, trong đó nổi bật kết quả hoạt động này

đối với cô gái có tên là Selam: Kể từ khi lên tám tuổi, Selam bị một khối u màng não lành

tính và bị nhìn kém, nhưng theo thời gian, cô bị mất đi thị lực Do khuyết tật và nghèo đói của mình, cô không được can thiệp phẫu thuật và không thể tiếp tục việc học của mình và Selam ngày càng trở nên chán nản Cô trở nên cô đơn, chỉ ở nhà và không giao lưu với bạn

bè Cô đã trở thành một gánh nặng cho gia đình, những người không biết phải làm gì với

cô Tuy nhiên, sau khi được nhân viên PHCN DVCĐ điều trị bằng các phương pháp phục hồi, các bài huấn luyện, Selam bây giờ đã khá độc lập và có thể tự do đi lại Cô cũng đang học chữ nổi Braille vì thế cô có thể trở lại trường học Nhờ vào sự can thiệp của PHCN DVCĐ, chất lượng cuộc sống của Selam đã thay đổi đáng kể và không còn là một gánh nặng cho gia đình.” Hoạt động PHCN đã tác động lên Selam giúp cô có một cuộc sống

mới, có thể độc lập tự do đi lại và tham gia vào mọi hoạt động học tập, xã hội, tiến tới hòa nhập cộng đồng (WHO, 2010)

Nghiên cứu nước ngoài của Michelle L Rogers & Dennis P Hogan (2003) với đề tài

“Family Life With Children With Disabilities: The Key Role of Rehabilitation” (Cuộc sống

gia đình với trẻ em khuyết tật: Vai trò chính của PHCN) đưa ra những hạn chế về khiếm khuyết và giới hạn chức năng của TEKT thường gắn liền với một loạt các kết quả tiêu cực trong gia đình, chúng bao gồm việc giảm đi cơ hội học tập, cơ hội việc làm của TEKT, giảm thời gian kiếm thêm thu nhập của gia đình, tăng thời gian dành cho chăm sóc TEKT trong gia đình và tăng thêm thời gian làm việc nhà (Breslau, 1983); tăng sự khủng hoảng

Trang 26

về tài chính (Hodapp & Krasner, 1994; Jacobs & McDermott, 1989; Lu-kemeyer et al.; Thyen et al.) Nghiên cứu cũng đưa ra những tác động của hoạt động PHCN, hoạt động chăm sóc y tế đối với TEKT và vai trò của việc sử dụng các biện pháp PHCN cho TEKT

có thể làm giảm bớt chi phí gia đình trong việc chăm lo cho TEKT Mặt khác, đối với TEKT, chăm sóc y tế và PHCN là thành phần quan trọng trong sự phát triển TEKT và cơ hội hòa nhập cuộc sống khi trẻ bước sang tuổi thanh thiếu niên và người lớn

Nhìn chung, những nghiên cứu, đánh giá trên thế giới và Việt Nam về TEKT và hoạt động PHCN chủ yếu là các nghiên cứu tìm hiểu về dấu hiệu phát hiện sớm, những vấn đề

mà TEKT và gia đình gặp phải và ảnh hưởng của TEKT trực tiếp để gia đình, xã hội; đánh giá những hiệu quả của hoạt động can thiệp sớm, điều trị y học/ PHCN kịp thời, những thiếu sót mà hoạt động PHCN đang còn tồn tại Tổng quan những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về TEKT và hoạt động PHCN cho TEKT, tôi nhận thấy các tác giả

đã quan tâm nhiều vấn đề liên quan đến vấn đề khuyết tật nói chung và TEKT nói riêng

Đó là các xu hướng nghiên cứu về việc phát hiện, các đánh giá hoạt động can thiệp, PHCN cho TEKT Trong mỗi vấn đề, các nhà nghiên cứu đã có những mối quan tâm, có những cách nhìn nhận khác nhau

Trang 27

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, đề tài đã đưa ra những nội dung cơ bản về TEKT và hoạt động PHCN cho TEKT: những khái niệm về TEKT, hoạt động PHCN cho TEKT cùng với các lý thuyết ứng dụng vào đề tài và tổng quan nghiên cứu liên quan đến vấn đề này trên thế giới và Việt Nam

Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về TEKT, từ những khái niệm về “trẻ em”, “khuyết tật”, “người khuyết tật”, đề tài đã thống nhất đưa ra một khái niệm đầy đủ về TEKT với các yếu tố: là những trẻ dưới 16 tuổi có khiếm khuyết về cấu trúc chức năng cơ thể hoạt động không bình thường, dẫn đến gặp khó khăn đặc thù trong hoạt động học tập, vui chơi, lao động và không thể theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục - dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết… Đề tài cũng đã đưa ra một khái niệm thống nhất về “hoạt động PHCN cho TEKT” bao gồm các

hoạt động các hoạt động y học, xã hội, giáo dục, kinh tế và kỹ thuật phục hồi nhằm tạo ra

các điều kiện thuận lợi để TEKT có thể phát huy được hết khả năng của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống để hoà nhập xã hội Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các dạng TEKT

ở Việt Nam và giới hạn các dạng trẻ trong đề tài nghiên cứu này là trẻ khiếm thính, khiếm thị và chậm PTTT

Một số lý thuyết như thuyết nhu cầu Maslow, thuyết hệ thống được sử dụng trong đề tài nhằm có thể xác định, đánh giá và phân loại các nhu cầu của TEKT cũng như phân tích, đánh giá về hệ thống hoạt động PHCN cho TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị với mục đích phục vụ cho quá trình nghiên cứu - đưa ra các phương pháp can thiệp, trị liệu PHCN cho TEKT đúng đắn, hiệu quả và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động này

Đề tài cũng trình bày những nghiên cứu, đánh giá trên thế giới và Việt Nam về TEKT

và hoạt động PHCN chủ yếu là các nghiên cứu về các hình thức PHCN, thực trạng hoạt động PHCN, các phương pháp PHCN cho TEKT và hiệu quả của hoạt động này Nhìn chung các tác giả đều tìm hiểu về dấu hiệu phát hiện sớm, những vấn đề mà TEKT và gia đình gặp phải và ảnh hưởng của TEKT trực tiếp để gia đình, xã hội; đánh giá những hiệu quả của hoạt động can thiệp sớm, điều trị y học/ PHCN kịp thời, những thiếu sót mà hoạt động PHCN đang còn tồn tại Các tác giả đã quan tâm nhiều các vấn đề liên quan đến khuyết tật nói chung và TEKT nói riêng Trong mỗi vấn đề, các nhà nghiên cứu đã có những mối quan tâm, có những cách nhìn nhận khác nhau

Những khái niệm công cụ, lý thuyết và các nghiên cứu trong chương này sẽ là cơ

sở, khung lý luận nhằm phục vụ cho việc phân tích, trình bày kết quả nghiên cứu trong các

chương tiếp theo

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ

EM KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1 Giới thiệu chung về trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

Cách trung tâm thành phố Đông Hà 3km về phía Đông Nam, tọa lạc trên đường Nguyễn Trung Trực có một ngôi trường đặc biệt mà các em trẻ ở đây không giống như các trẻ em bình thường khác, các em cần được chăm sóc và nuôi dưỡng đó là trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị Theo báo cáo Kết quả công tác giáo dục học năm 2002 - 2003, trường được thành lập ngày 16 tháng 2 năm 1994 theo công văn số 64/TCCB, theo quyết định của giám đốc Sở GD & ĐT Quảng Trị (V/v thành lập trung tâm giáo dục TEKT Thị

xã Đông Hà) Từ lúc mới thành lập cả trường chỉ có 12 em khiếm thính, tính đến nay quy

mô số lượng đã tăng lên ở tất cả các dạng tật (khiếm thính, khiếm thị, chậm PTTT) Trong suốt 25 năm qua, mặc dầu trường đã trải qua nhiều lần đổi tên từ Trung tâm giáo dục TEKT thị xã Đông Hà; rồi trường giáo dục TEKT Nguyễn Đình Chiểu, nay là trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

Gồm những chức năng, nhiệm vụ sau:

- Giáo dục chuyên biệt cho cả ba loại tật cơ bản và các trẻ đa tật

- Tư vấn can thiệp sớm

- Hỗ trợ giáo dục hòa nhập bậc tiểu học

- PHCN và định hướng di chuyển, lao động tự phục vụ, sinh hoạt hàng ngày, giáo dục kĩ năng sống…

- Hướng nghiệp dạy nghề: may, vi tính …

Trong 25 năm qua, trường trẻ em khuyết tật Quảng Trị đã xây dựng được một mô hình giáo dục đặc biệt Việc dạy và học, việc quản lý trẻ nội, bán trú đối tượng là TEKT gặp quá nhiều phức tạp Nếu không có lòng yêu thương các em bị tật nguyền thì khó vượt qua rào cản Đội ngũ lãnh đạo và thầy cô giáo nhà trường cùng cán bộ công nhân viên đã hết lòng vì trẻ thân yêu, tận tâm, tận tụy đem lại niềm tin yêu cho trẻ, cho cha mẹ các em, cho các bậc lãnh đạo Kết quả phấn đấu xây dựng của nhà trường thu hút được sự chú

ý quan tâm của các tổ chức xã hội

Trang 29

2.1.4 Cơ cấu tổ chức

Hiện tại, đội ngũ nhân viên, cán bộ nhà trường bao gồm:

- Đội ngũ lãnh đạo: 03 người

- Chi bộ Đảng: 03 người

- Ban chấp hành Công đoàn: 02 người

- Đoàn thanh niên: 01 người

- Tổ văn phòng: 02 người

- Tổ chuyên môn: 32 người

Ban Giám hiệu

Ban chấp hành Công đoàn

niên

môn

Ban thường trực Hội cha mẹ trẻ

Trang 30

Kể từ ngày thành lập Trung tâm giáo dục TEKT tiền thân của trường TEKT hiện nay, nhà trường đã hoạt động tích cực, toàn diện thực hiện đầy đủ những quy định theo đúng kỉ cương nề nếp của một đơn vị trường tiểu học Và thực hiện nghiêm túc cách dạy

và học của một trường giáo dục chuyên biệt, xứng đáng là một trường tiên tiến cấp tỉnh của ngành giáo dục Quảng Trị

Nhiều giáo viên đã được bồi dưỡng học tập và tập huấn chuyên đề dạy chuyên biệt, nâng cao trình độ lên Cao đẳng tiểu học, Đại học tiểu học và Đại học giáo dục đặc biệt Trường có 03 cô giáo được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia và có một giải thi đồ dùng dạy học toàn quốc Đa số đều là giáo viên giỏi bậc tiểu học Hoạt động chuyên môn

ổn định tạo được nề nếp, hình thành được các tổ chức đoàn thể trong nhà trường

2.1.5 Hoạt động chính

a) Hoạt động dạy và học

- Thực hiện phương pháp giáo dục và dạy học tiên tiến với sự hỗ trợ tối ưu của trang thiết bị hiện đại Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và đào tạo phù hợp với mô hình đào tạo chất lượng cao; Bố trí sắp xếp thời khóa biểu hợp lý đảm bảo thời lượng cho các buổi học, tiết học tự chọn, nâng cao, ngoại khoá chuyên đề

- Tổ chức học bán trú hai buổi với chương trình tăng cường nâng cao, với sự quản

lý kỷ luật nghiêm túc, nề nếp, quy củ

- Tổ chức học theo phòng học bộ môn, học trên mạng; mở rộng các hình thức dạy

và học đối với các trường trong và ngoài nước

- Chỉ đạo khai thác, sử dụng có hiệu quả trang thiết bị phòng thí nghiệm, thực hành

- Liên kết với các trường THPT, Đại Học trong và ngoài tỉnh, Trung tâm ngoại ngữ,

…để mời giáo viên tham gia giảng dạy các chuyên đề, các Câu lạc bộ

- Liên kết với một số trường ở các nước có nền giáo dục phát triển như Singapore, Anh quốc, Australia…để tổ chức liên hoan trại hè cho trẻ tham quan hội nhập, du học có học bổng…

- Tổ chức Câu lạc bộ năng khiếu cho trẻ (Văn hóa, nghệ thuật, thể thao…) Tổ chức các buổi hội thảo, cimena, các cuộc thi olympic… phục vụ cho công tác dạy và học

Trang 31

b) Hoạt động giáo dục toàn diện

- Tăng cường hoạt động của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các tổ chức xã hội, giao lưu các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao;

- Liên kết với trung tâm tư vấn để kịp thời tư vấn về tâm lý, tình cảm cho giáo viên, trẻ, phụ huynh trẻ

2.2 Đặc điểm của trẻ em khuyết tật tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị 2.2.1 Đặc điểm chung của trẻ em khuyết tật tại trường

a) Số lượng:

Dựa trên báo cáo Kết quả công tác giáo dục năm 2018 của trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị, hiện trường đã và đang thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dạy 124 trẻ khuyết tật Trong đó: trẻ khiếm thị có 14 em (chiếm 11,3%) (06 em đã đi học hòa nhập tại các trường trung học cơ sở); trẻ khiếm thính có 48 em (chiếm 38,7%); trẻ chậm PTTT có

có gia đình thuộc diện trung bình và 1,6% trẻ có gia đình thuộc diện khá Điều này cho thấy

về mặt kinh tế của TEKT cũng chưa được đáp ứng đầy đủ và thiệt thòi trong cuộc sống

Trang 32

d) Giới tính:

Theo số liệu khảo sát được thực hiện với 62 TEKT (khiếm thính, khiếm thị) trong đó

có 36 trẻ nam (chiếm 58,06%) và 21 trẻ nữ (chiếm 41,94%) Với nhìn nhận chung của trường thì hiện tại TEKT nam nhiều hơn TEKT nữ, tuy nhiên đây chưa phải độ chênh lệch

lớn

e) Độ tuổi:

TEKT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị ở nhiều độ tuổi khác nhau Độ tuổi TEKT từ 6 – 16 tuổi hiện đang là độ tuổi chiếm số lượng lớn tại trường (chiếm 95,2% trong tổng số 124 em) Độ tuổi dưới 06 tuổi chiếm số lượng 06 em (chiếm 4,8%), những em trong

độ tuổi này thuộc vào hoạt động can thiệp sớm mới được triển khai của nhà trường và chủ

yếu là những trẻ bại não, động kinh, tự kỷ

“Từ năm học 2012, trường có đưa thêm mảng can thiệp sớm cho trẻ dưới 6 tuổi Đa số con em khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chưa được phát hiện và được can thiệp sớm, khiến cho việc PHCN cho các em ngày càng khó hơn khi các em đã học bậc tiểu học, chưa được tư vấn và phát hiện các dấu hiệu Hiện tại tỷ lệ trẻ dưới 6 tuổi đang có số lượng ít, có 06 em đang được can thiệp sớm, chủ yếu là trẻ động kinh, bại não, tự kỷ hay

chậm PTTT” (PVS, Giáo viên)

Mặc dù độ tuổi trung bình TEKT tại trường là từ 6 - 16 tuổi, tuy nhiên cũng có sự chênh lệch về độ tuổi trong một lớp học Có những lớp có sĩ số dưới 10 em, nhưng lại có nhiều độ tuổi khác nhau

“…Trong một lớp có giới tính chênh lệch và cũng có nhiều độ tuổi khác nhau Các em lớn tuổi thì khả năng của các em hiểu bài nhanh hơn còn các em nhỏ tuổi thì mình phải kiên trì hơn, kèm cặp nhiều hơn bởi vì các em đang chậm và tiếp thu chưa tốt.”

(PVS, Giáo viên)

Việc có nhiều độ tuổi khác nhau trong cùng một lớp học cũng gây ra những khó khăn nhất định khi thực hiện các hoạt động trợ giúp cho TEKT Đối với các em lớn tuổi hơn thì trong quá trình giảng dạy ít gặp những khó khăn hơn, các em tiếp thu nhanh hơn so với những em khác Ngược lại thì các em nhỏ tuổi hơn sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp thu kiến thức, các em chậm hiểu hơn so với các em lớn tuổi

Trang 33

f) Hình thức học tập TEKT tại trường tham gia

Theo báo cáo Kết quả công tác giáo dục năm 2018 của trường, trong số 124 TEKT đang theo học tại trường, hiện có 06 em đã đi học hòa nhập tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn (trẻ khiếm thị) và 118 em đang học tại trưởng Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị ở cả hai cơ sở (bao gồm trẻ khiếm thính và chậm PTTT)

2.2.2 Khó khăn của trẻ em khuyết tật tại trường

➢ Khó khăn trong học tập

Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở trẻ khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác như (khiếm thính, khiếm thị …) khả năng tiếp thu tri thức rất khó khăn Đồng thời, trẻ khuyết tật cũng cần những hình thức giáo dục phù hợp với từng đặc điểm khiếm khuyết của mình

Khiếm thính là một dạng khuyết tật đặc biệt Trẻ khiếm thính thường không nghe và nói được cho nên trẻ hạn chế trong quá trình tương tác, học hỏi từ xung quanh dẫn đến

Chuẩn bị bài trước khi đến lớp

Ghi chép tiếp thu bài giảng

Tự học và sắp xếp thời gian học

Ôn tập hệ thống hóa kiến thức

Làm việc độc lập với sách

Rèn luyện kỹ năngKiểm tra đánh giá kết quả học tập

Sử dụng các máy móc trợ giúp khi học tập

Biểu đồ 2.1: Những khó khăn trẻ khiếm thính và khiếm thị gặp phải

trong học tập

Trẻ khiếm thị Trẻ khiếm thính

Trang 34

phát triển chậm hơn những trẻ không khuyết tật ở cùng độ tuổi Khó khăn trong giao tiếp

là rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày của trẻ khiếm thính/ giảm thính lực

Vì thính lực của trẻ bị hạn chế nên việc nghe giảng rất khó khăn, dẫn tới trẻ gặp nhiều trở ngại trong học tập Mặc dù trẻ bị giảm thính lực có khả năng học lớp hoà nhập với các trẻ không khuyết tật, những giáo viên, bạn học cần phải biết sử dụng ngôn ngữ ký hiệu hoặc ra dấu khi muốn trao đổi với trẻ khiếm thính Các môn học như Tiếng Việt, Sử, Địa cần nghe nói và viết nhiều nên trẻ thường gặp khó khăn

“Trong học tập thì các em gặp khó khăn nhất là việc tiếp thu kiến thức và khó khăn khi giao tiếp với cô giáo, và từ những khó khăn trong giao tiếp này thì việc truyền đạt kiến thức cho trẻ là rất khó, đặc biệt đối với môn Tiếng Việt Bởi vì, vốn hiểu biết của các em

rất hạn chế.” (PVS, Giáo viên)

Kết quả điều tra thực hiện với 48 trẻ khiếm thính tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị cho thấy tất cả các trẻ đều gặp phải những khó khăn trong học tập Việc khó khăn trong giao tiếp, vốn từ kém dẫn đến việc tiếp thu kiến thức và làm việc độc lập với sách trở nên rất khó khăn (chiếm 93,8%)

Tương tự trẻ khiếm thính thì trẻ khiếm thị cũng có những khó khăn nhất định trong hoạt động học tập Với trẻ khiếm thị, do cách quan sát, cách tri giác bằng tai nghe, học đọc

và ghi chép bằng tay, nên trong học tập trẻ thường bị chậm (trong quá trình ghi bài) Trẻ dễ

bỏ sót nội dung hoặc hiểu nội dung thiếu chính xác

Theo khảo sát đối với 14 trẻ khiếm thị tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị

(Biểu đồ 2.1), tỷ lệ trẻ khiếm thị gặp khó khăn nhiều nhất là trong hoạt động “làm việc độc

lập với sách” (chiếm 85,7%), đa số các em không thể nhìn được bằng mắt thường và việc

học tập, tiếp thu và ghi nhớ bài giảng phụ thuộc ghi chép bằng chữ nổi và việc lắng nghe, vậy nên việc độc lập làm việc với sách giáo khoa là một hạn chế đối với các em

Dựa trên số liệu biểu đồ 2.1 có thể thấy được rằng, việc “ghi chép tiếp thu bài giảng”

và “chuẩn bị bài trước khi đến lớp” của trẻ khiếm thị gặp khó khăn nhiều hơn so với trẻ

khiếm thính Vì trẻ khiếm thị gặp khó khăn nhất định trong đọc sách, nên việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp và ghi chép tiếp thu bài giảng của trẻ khiếm thị cũng gặp những khó khăn

hơn so với trẻ khiếm thính, cụ thể có 78,6% trẻ khó khăn trong việc “ghi chép tiếp thu bài

giảng” và gặp khó khăn trong việc “chuẩn bị bài trước khi đến lớp”

Đặc biệt, những trẻ khiếm thị đã đi học hòa nhập tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thường gặp khó khăn trong việc ghi chép bài giảng Trẻ học hòa nhập sẽ được học

Trang 35

với chương trình cao hơn so với bậc tiểu học, giáo viên giảng bài và đọc cũng nhanh hơn

và không thể chăm sóc sát sao cho mỗi trẻ, trong quá trình ghi chép trẻ khiếm thị chỉ viết bằng chữ Braille (chữ nổi), vậy nên một số trẻ không thể ghi chép bài kịp, một phần không thể sửa lỗi bằng chữ nổi khi đã viết sai, việc tiếp thu cũng chậm và khó khăn hơn so với các bạn cùng lớp Tuy nhiên, để theo kịp các bạn ở lớp học và chương trình bài giảng, trẻ khiếm thị đã tự rèn luyện các kỹ năng khác của mình để có thể hiểu những kiến thức cô giáo giảng dạy, bởi trẻ khiếm thị có tư duy một cách logic và suy nghĩ, tưởng tượng, hình dung như

trẻ bình thường nên cũng khắc phục một phần nào đó những khó khăn trong học tập

“Trong học tập, việc nghe giảng thì không gặp khó khăn là mấy, tụi em vẫn nghe giảng được như các bạn bình thường, mặc dù không nhìn thấy trên bảng nhưng tụi em vẫn hình dung và hiểu cô giáo nói Tuy nhiên chương tình học tụi em học càng cao lên thì cô giáo dạy càng nhanh, đọc nhanh nên việc ghi chép của tụi em rất khó, vì viết bằng chữ nổi

nên có những lúc ghi không kịp.” (PVS, Nữ, 17 tuổi – Lớp 9)

Đối với trẻ chậm PTTT, trẻ có trí tuệ dưới mức trung bình, khả năng tư duy chậm Khả năng học tập của trẻ chậm hơn so với bạn cùng lứa tuổi Đồng thời chậm phát triển kỹ năng “thích ứng” như: giao tiếp, tự chăm sóc, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, kỹ năng

xã hội, tham gia cộng đồng, tự định hướng, sức khoẻ và an toàn, học tập, sở thích và việc làm…

Do hạn chế về trí tuệ, nhận thức và tư duy chậm nên khả năng học tập cũng như các

kỹ năng của trẻ chậm PTTT tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị còn yếu hơn so với các bạn cùng lứa tuổi Trẻ thường không chú ý, mất tập trung, hay bị sao nhãng Việc học các kỹ năng và kiến thức mới của trẻ chậm PTTT thường chậm hơn so với những đứa trẻ khỏe mạnh, trẻ thường không nhớ được những sự kiện đơn giản đã xảy ra vài giây hoặc vài phút trước, khó ghi nhớ thông tin như tên, số, chữ và các chi tiết nhỏ Tùy theo mức độ chậm phát triển của trẻ mà khả năng ghi nhớ cũng bị ảnh hưởng theo

“Trẻ chậm PTTT gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức và các kỹ năng của mình trong những trường hợp khác nhau với tình huống mà các em đã từng gặp Tuy có những tình huống gần giống với tình huống quen thuộc nhưng các em vẫn lúng túng và thực hiện sai Ví dụ, các em biết con vịt bơi dưới nước, thuyền buồm chạy dưới nước, khi học bài “làm quen phương tiện giao thông”, cô hỏi “phương tiện gì chạy dưới nước”? trẻ

trả lời là “con vịt” (PVS, Giáo viên)

Thực tế cho thấy sự hình thành và phát triển của trẻ chậm PTTT muộn và chậm hơn

so với trẻ bình thường cùng độ tuổi Chính điều này gây cản trở cho trẻ trong việc lĩnh hội tri thức, hòa nhập với bạn bè cùng trang lứa

Trang 36

“Có những em tận 3 năm vẫn chưa hiểu được số, cô nói thì các em nói theo thôi, còn các

em vẫn chưa nhận biết và hiểu hết, có khi vừa nói xong 1 2 phút thì các em lại không thể

nhớ nổi, tuy nhiên cũng có một số em vượt trội hơn thì đã làm được các phép tính thật

đơn giản So với những em nặng thì các em đó khá hơn, nhưng để đánh giá bậc tiểu học

thì các em còn yếu và chậm, một mặt bởi vì từ nhỏ các em đã không được phát hiện và

can thiệp sớm nên khi lên tiểu học thì rất khó khắc phục.” (PVS, Giáo viên)

Như vậy, trẻ chậm PTTT có chức năng trí tuệ dưới mức trung bình là một trong

những hạn chế lớn nhất của người chậm PTTT nói chung và trẻ em bị chậm PTTT nói riêng

Sự hạn chế về chức năng trí tuệ phụ thuộc vào mức độ chậm PTTT của trẻ, mức độ chậm

PTTT càng nặng thì sự hạn chế về khả năng trí tuệ của trẻ càng lớn

➢ Khó khăn trong sinh hoạt

Các hoạt động sinh hoạt thường ngày bao gồm các hoạt động: giao tiếp, vận động,

di chuyển, nghe, hoạt động tự phục vụ bản thân trong cuộc sống hằng ngày (nấu ăn, giặt

quần áo, đánh răng, rửa mặt, …) Việc sinh hoạt hằng ngày của mỗi trẻ là cần thiết, trẻ

khuyết tật tại trường trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị cũng tham gia vào các hoạt động

thường ngày trong cuộc sống, với những hạn chế của bản thân, trẻ cũng gặp phải có những

khó khăn trong sinh hoạt của mình

Nghe Nhìn Vận động, di

chuyển Giao tiếp

Tự phục vụ bản thân

Biểu đồ 2.2: Những khó khăn trong sinh hoạt

của trẻ khiếm thính

Không khó khăn Hơi khó khăn Rất khó khăn Không thể thực hiện được

Trang 37

Số liệu từ biểu đồ 2.2 cho thấy hoạt động “nghe” và hoạt động “giao tiếp” là hai hoạt động mà của trẻ khiếm thính gặp nhiều khó khăn nhất Cụ thể có 32/48 trẻ khiếm thính cảm thấy rất khó khăn và 14/48 trẻ khiếm thính hoàn toàn không thể thực hiện được khả năng nghe; có 30/48 trẻ khiếm thính cảm thấy rất khó khăn trong hoạt động giao tiếp

Việc hạn chế về chức năng nghe ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của trẻ Như chúng ta đã biết, cảm giác và tri giác là nền tảng của nhận thức Chúng là những nguồn gốc cơ bản của những kiến thức mà chúng ta nhận thức được từ thế giới xung quanh Trong những dạng cảm giác thì cảm giác nghe và nhìn có ý nghĩa chủ yếu Cảm giác nhìn đóng một vai trò quan trọng, tuy nhiên mất đi khả năng nghe sẽ khiến cho trẻ mất khả năng tri giác về âm thanh Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác và tri giác nghe đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Nghe được tiếng nói của mọi người xung quanh trẻ

sẽ nói được bập bẹ và hình thành tiếng nói, lĩnh hội tri thức Sự phá hủy tri giác ở trẻ khiếm thính kéo theo sự hình thành ngôn ngữ, trẻ khiếm thính sẽ bị cậm hoặc không thể phát âm chính xác, khiến cho trẻ khó khăn rất nhiều trong vấn đề giao tiếp thường ngày

Đối với những đứa trẻ khác, có một đôi mắt tinh tường, đôi tay chắc khỏe là có thể dễ dàng làm được mọi việc Nhưng với trẻ khiếm thị, trẻ không thể quan sát mọi vật và sự việc xung quanh một cách rõ ràng và đầy đủ Do vậy, hạn chế về khả năng nhìn đã làm cho trẻ khiếm thị gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày (ăn uống, tắm giặt, đi lại, nấu

ăn, …), đặc biệt trong việc vận động, di chuyển

di chuyển Giao tiếp

Tự phục

vụ cá nhân

Biểu đồ 2.3: Những khó khăn trong sinh hoạt của trẻ khiếm thị

Không khó khăn Hơi khó khăn Rất khó khăn Không thể thực hiện được

Trang 38

Theo số liệu khảo sát bảng hỏi thực hiện với 14 trẻ khiếm thị tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị cho thấy đa số trẻ khiếm thị đều gặp khó khăn trong việc thực hiện chức

năng nhìn, vận động, đi lại và tự phục vụ cá nhân (Biểu đồ 2.3) Trong tổng số 14 trẻ khiếm

thị có 6/14 trẻ không thể thực hiện được khả năng nhìn, 2/14 trẻ thực hiện rất khó khăn và 6/14 hơi khó khăn; về khó khăn trong đi lại có 2/14 trẻ cảm thấy rất khó khăn và 11/14 trẻ thực hiện hơi khó khăn; về khả năng tự phục vụ cá nhân có 7/14 trẻ nhận thấy còn hơi khó khăn trong việc này

Có thể thấy rằng, đối với trẻ khiếm thị, ngoài việc khó khăn về khả năng nhìn thì trẻ còn gặp những khó khăn trong việc định hướng, di chuyển và tự phục vụ cá nhân (tắm rửa,

ăn uống, giặt quần áo, …) Điều này khiến cho việc sinh hoạt hằng ngày của các em cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều Ngoài ra, trong quá trình giao tiếp, trẻ khiếm thị không thể nhìn thấy những cử chỉ, nét mặt, hành vi của người khác cũng như mô tả cảm xúc, biểu cảm nét mặt của bản thân mình, do vậy trẻ khiếm thị cần nhiều thời gian hơn so với trẻ mắt sáng

để có thể tìm hiểu mọi điều xung quanh để có thể giao tiếp được lưu loát và tự phục vụ cá nhân tốt hơn trong cuộc sống

“Em thì đã trải qua 10 năm học hỏi và trao đổi với môi trường xung quanh, nên có thể định hướng, di chuyển tốt hơn bằng các cảm giác nghe, sờ và việc tự phục vụ được bản

thân không còn khó khăn nữa.” (PVS, Nam, 15 tuổi - Lớp 8)

Vì vậy, để có thể giao tiếp bình thường với mọi người trong các hoạt động và sinh hoạt hằng ngày ít gặp khó khăn hơn, trẻ khiếm thị đã phải trải qua nhiều thời gian để có thể tìm hiểu và nhận biết được tất cả

➢ Khó khăn về mặt xã hội

Trẻ khiếm thính/ giảm thính lực thường bị hạn chế trong quan hệ xã hội Theo kết quả khảo sát đối với 48 trẻ khiếm thính cho thấy 100% trẻ khiếm thính đang đều nhận thấy bản thân gặp khó khăn trong việc tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt khó khăn về mặt giao tiếp, có 36/48 trẻ cảm thấy khó khăn trong giao tiếp Việc gặp khó khăn trong vấn đề giao tiếp khiến trẻ khiếm thính gặp khó khăn trong kết bạn, giao lưu, tạo mối quan hệ xã hội… Đối với trẻ khiếm thính khi tham gia chơi nhóm, tập thể, các hoạt động thể thao, trò chơi trí tuệ, trẻ cần hiểu được luật chơi và những quy định, những thông tin cần thiết Do vậy, khi tham gia các hoạt động xã hội hay các mối quan hệ xã hội, với những cản trở về nghe

và giao tiếp thì trẻ khiếm thính khó có thể nắm bắt được những quy định, nội dung trong các hoạt động thông qua quá trình tiếp nhận thông tin đó trong việc giao tiếp, trao đổi với mọi người

Trang 39

“Do mất chức năng nghe của mình nên trẻ không thể tiếp thu được tiếng nói mà phải dựa vào nhìn là chủ yếu Người bình thường muốn nói chuyện với các em cũng rất khó, cần phải biết các ký hiệu ngôn ngữ Chính vì thế mà các em ít giao tiếp với mọi người xung quanh, cũng vì đó mà các em khó có thể tạo dựng các mối quan hệ của mình hơn, các em cũng ít tham gia các hoạt động vui chơi có tính quy luật, dần dần thì các em cô lập với cộng đồng… Ngoài ra, khi mà các em tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã hội hay giáo dục pháp luật thì các em rất khó tiếp thu được những quy tắc, hành vi xã

hội một cách đầy đủ ” (PVS, Giáo viên)

Việc tiếp nhận những quy tắc hành vi xã hội là một việc khó đối với trẻ khiếm thính Với nhiều lý do như trẻ không hiểu một cách đầy đủ ngôn ngữ, những lời giải thích về các mối quan hệ, các chuẩn mực, giá trị đạo đức và cách ứng xử Trong xã hội có vô vàn các mối quan hệ đan chéo, trong từng mối quan hệ đó có những điều trẻ được làm song cũng

có những điều trẻ không được phép làm và như vậy để trẻ khiếm thính có thể cư xử đúng trong tất cả mọi tình huống thì đòi hỏi trẻ không chỉ học tập qua cách nhìn người khác xử

sự mà chính giáo viên và phụ huynh phải hướng dẫn, giải thích cho trẻ

Đối với trẻ khiếm thị, ở lứa tuổi nhỏ, trẻ khiếm thị thường tương tác chủ yếu với bố

mẹ, những khi lớn lên, đến độ tuổi đi học, trẻ bắt đầu mở rộng các mối quan hệ xã hội của mình, không chỉ những người thân như ông bà, cha mẹ mà được mở rộng ra với bạn bè cùng trang lứa Sự tương tác bắt đầu trở nên phức tạp hơn khi trẻ có nhu cầu quen biết nhau Lúc này, trẻ khiếm thị có thể biểu hiện được sự thân thiện và cùng chơi, cùng trò chuyện,… Khi tuổi lớn dần thêm, trẻ khiếm thị gặp những khó khăn về mặt xã hội rõ ràng hơn, trẻ không theo kịp các bạn sáng (trẻ mắt sáng) trong các trò chơi ngoài trời và đòi hỏi nhiều kỹ năng khi tham gia mà bản thân trẻ khiếm thị bị hạn chế

Qua những cuộc điều tra PVS với 14 trẻ khiếm thị tại trường Trẻ em khuyết tật tỉnh

Quảng Trị thấy rằng 100% trẻ khiếm thị đều cảm thấy rất khó khăn về vận động, di chuyển

đặc biệt trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội Ngoài ra, các em không tham gia vào những hoạt động đòi hỏi sự định hướng, di chuyển trong không gian, cụ thể là các hoạt động thể dục thể thao

“… Chúng em không tham gia hoạt động thể dục thể thao tại trường, bởi vì mắt tụi em nhìn không được hoặc có những bạn nhìn kém cũng không thể tham gia hoạt động thể dục Việc phân biệt ánh sáng, màu sắc và cả để có thể đi lại, chạy nhảy ở ngoài trời là rất khó khăn, vậy nên tụi chỉ tham gia những hoạt động phù hợp với bản thân Bên cạnh

đó, chúng em cũng khó làm bạn với các bạn hơn.” (PVS, Nữ, 15 tuổi – Lớp 8)

Trang 40

Trẻ khiếm thị khó khăn trong việc nắm bắt các dấu hiệu thị giác như cử chỉ, nét mặt, giao tiếp phi ngôn ngữ, cử động của cơ thể, và giao tiếp mắt thường được tự lĩnh hội qua quan sát và bắt chước Trẻ cũng ít hoặc gần như không sử dụng những hành vi phi ngôn ngữ để duy trì sự tương tác xã hội Ngoài ra, trẻ khiếm thị khó khăn trong di chuyển độc lập Thông thường, trẻ gặp khó khăn trong việc kiểm soát môi trường cơ học xung quanh

Do vậy, trẻ khiếm thị cũng gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa

Ở người bình thường, để có thể giao tiếp có hiệu quả cần phải có kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ (diễn đạt ý nghĩ thành ngôn từ) và kỹ năng tiếp nhận ngôn ngữ (hiểu những gì người khác nói) Đối với trẻ chậm PTTT, các em có sự hạn chế về cả hai kỹ năng này, đặc biệt là kỹ năng ngôn ngữ Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chậm PTTT không mất nhiều thời gian hơn và trình độ ngôn ngữ của trẻ thấp hơn so với trẻ bình thường hai tuổi Những vấn

đề trong giao tiếp của trẻ chậm PTTT ở đây thường biểu hiện như: chậm hoặc hoàn toàn không có ngôn ngữ nói, những trẻ nói được thì có vấn đề trong việc bắt đầu và duy trì cuộc hội thoại Ngoài ra, vì giao tiếp đã rất khó khăn nên việc xây dựng mối quan hệ xã hội của trẻ cũng gặp nhiều hạn chế, trẻ có thể kém khi giao tiếp qua lại một - một, trong nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn

“Khi các em giao tiếp, các em không sử dụng các phương pháp giao tiếp đi kèm như cử chỉ, các em nói được thì thường chỉ nói chuyện theo một cách rất hạn chế, ví dụ như các

em chỉ nói “có” hoặc “không” Các em khó lắng nghe người khác, khó hiểu được suy nghĩ của bạn bè, thầy cô Ngoài ra, các em rất khó để chơi cùng nhau, làm cùng nhau hay lắng nghe người khác nói, luân phiên chờ đến lượt mình cũng như không quan tâm

đến bạn bè…” (PVS, Giáo viên)

Phát triển kỹ năng xã hội là khả năng học cách giao tiếp, chơi và xây dựng mối quan

hệ với người khác Do ảnh hưởng của sự rối loạn trí tuệ nên ở nhóm trẻ này thường không

có những khái niệm về bản thân, về những người xung quanh trẻ, trẻ không biết thiết lập mối quan hệ và bày tỏ thái độ tích cực của mình với người khác

➢ Khó khăn về mặt tâm lý

Về tâm lý, trẻ khiếm thính có những hành vi cáu giận, nóng tính bất thường diễn ra thường xuyên trong quá trình phát triển tâm lý Đồng thời, khả năng tiếp nhận thông tin trong quá trình phát triển tâm lý trẻ khiếm thính không toàn diện Mối quan hệ giữa trẻ khiếm thính với bạn bè cùng trang lứa bị hạn chế rất nhiều do khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ kém Sự mặc cảm, không hòa nhập ngày càng tăng, trẻ cảm thấy tự ti trong cuộc sống Trẻ khiếm thính không tiếp nhận được đầy đủ các thông tin, đồng thời khó khăn trong việc diễn đạt thông tin đến người khác, vì thế, trẻ thường có hành vi cáu giận, nóng tính bất

Ngày đăng: 01/09/2019, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế. (2008). Hướng dẫn cán bộ phục hồi chức năng và cộng tác viên về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cán bộ phục hồi chức năng và cộng tác viên về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
2. Bộ Y tế. (2008). Hướng dẫn người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
3. Bộ Y tế. (2008). Phục hồi chức năng cho người khuyết tật/ giảm chức năng nhìn. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho người khuyết tật/ giảm chức năng nhìn
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
4. Bộ Y tế. (2008). Phục hồi chức năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
5. Bộ Y tế. (2008). Phục hồi chức năng cho trẻ giảm thính lực (khiếm thính). Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho trẻ giảm thính lực (khiếm thính)
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
6. Bộ Y tế. (2008). Phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
7. Bộ Y tế. (2008). Thể thao, văn hoá và giải trí cho người khuyết tật. Hà Nội: NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thao, văn hoá và giải trí cho người khuyết tật
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
10. Brenda Gannon and Brian Nolan. (2011). Disability and social inclusion in Ireland. Economic and Social Research Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability and social inclusion in Ireland
Tác giả: Brenda Gannon and Brian Nolan
Năm: 2011
11. Celia Pechak, PT, MPH, PhD (C) Mary Thompson, PT. (2007). Disability and Rehabilitation in Developing countries. Texas: Woman University Dallas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability and Rehabilitation in Developing countries
Tác giả: Celia Pechak, PT, MPH, PhD (C) Mary Thompson, PT
Năm: 2007
18. Huỳnh Thị Thu Hằng (2008). Đại cương về giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Hằng
Năm: 2008
19. Lê Thị Hằng (2008). Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thính. Đà nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thính
Tác giả: Lê Thị Hằng
Năm: 2008
20. Phạm Hồng Hạnh. (2017). Bài giảng Tâm lý học đại cương. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Tâm lý học đại cương
Tác giả: Phạm Hồng Hạnh
Năm: 2017
21. Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên). (2014). Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật”. Hà Nội: NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
22. Trần Thị Hòa. (2008). Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về giáo dục trẻ khiếm thị
Tác giả: Trần Thị Hòa
Năm: 2008
23. Hoàng Mai Khanh. (2016). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hội nhập của trẻ em khuyết tật trong trường học. Tạp chí Phát triển KH & CN, X3, tr.70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển KH & CN
Tác giả: Hoàng Mai Khanh
Năm: 2016
24. Bùi Thị Xuân Mai (Chủ biên). (2014). Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội. Hà Nội: NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2014
27. Nguyễn Thị Minh Thủy. (2013). Các yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng của người khuyết tật. Tạp chí Y tế cộng đồng, 30, tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng của người khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thủy
Năm: 2013
29. Trần Đình Tuấn. (2009). Lý thuyết và thực hành công tác xã hội. Hà Nội: NXB Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành công tác xã hội
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: NXB Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội
Năm: 2009
31. WHO. (2010). Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Thụy Sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: WHO
Năm: 2010
33. Bộ Lao Động – Thương Binh & Xã Hội. (2015). Lấy từ: http://cand.com.vn/Xa- hoi/dam-bao-quyen-va-loi-ich-cua-nguoi-khuyet-tat-375574/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w