1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước theo định hướng xhcn

22 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 48,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. Khái niệmNền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường (người bán cần tiền, người mua cần hàng hóa, dịch vụ và họ gặp nhau trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền klinh tế xã hội, trong đó các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường nhằm tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao. Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hóa, các yếu tố sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua – bán và đều được coi là hàng hóa.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN

1.1 Khái niệm

Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế Khi các quan hệ kinh tế giữacác chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường (người bán cần tiền,người mua cần hàng hóa, dịch vụ và họ gặp nhau trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi lànền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền klinh tế - xã hội, trong đó các quan hệ kinh tế củacác cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hóa, dịch vụ trênthị trường nhằm tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Khi tất cả các quan hệkinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hóa, các yếu tố sản xuất như:đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý,các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua – bán và đều được coi làhàng hóa

Kinh tế thị trường – kinh tế hàng hóa là sản phẩm của cả xã hội, nó là bước đi tất yếukhách quan của loài người gắn với sự phát triển của sản xuất Nó không phải là giai đoạnlịch sử trước chủ nghĩa xã hôi, càng không phải chỉ của chủ nghĩa xã hội như một sốngười quan niệm

Trong xã hội có giai cấp, có nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau với những lợi íchkhác nhau thì nền kinh tế hàng hóa không thể thuần nhất Gắn với mỗi hình thức sở hữu

tư liệu sản xuất của mỗi tầng lớp xã hội là một thành phần kinh tế có những đặc thù, cóquá trình phát triển riêng Bởi vậy, nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tếcũng là một tất yếu khách quan của lịch sử Điều đó không phụ thuộc vào ý chí chủ quancủa giai cấp hay tầng lớp nào

Tuy nhiên, phạm trù kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa nhiều thành phần không phải làphạm trù vĩnh viễn mà nó mang tính lịch sử Trước hết, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗiphương thức sản xuất khác nhau, kinh tế thị trường có những đặc điểm riêng Những đặcđiểm này bị điều kiện lịch sử cụ thể của giai đoạn và phương thức sản xuất đó quy định.Bởi vậy, nói đến kinh tế thị trường bao giờ cũng phải gắn nó với một thể chế, một chế độchính trị - xác hội nhất định, không có một nền kinh tế thị trường chung cho mọi xã hội,mọi trình độ phát triển của loài người Ở mỗi chế độ chính trị, giai cấp thống trị và đảngcầm quyền (của giai cấp đó) luôn sử dụng kinh tế thị trường như một phương tiện để pháttriển kinh tế - xã hội theo mục tiêu và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị Ta có thểnhận biết điều đó qua những bằng chứng lịch sử

Trang 3

Trong xã hội phong kiến, thị trường trao đổi, mua bán hàng hóa còn giản đơn bởi sảnxuất chưa phát triển Thị trường bị bó hẹp trong phạm vi cát cứ của các lãnh chúa phongkiến.

Thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, khi chủ nghĩa tư bản còn ở giai đoạn tự do cạnh tranhthì thị trường cũng mang đầy đủ tính chất tự do cạnh tranh đó Các nhà lý luận thời đó,tiêu biểu là Adam Smith đòi hỏi một “thị trường tự do”, kêu gọi Nhà nước đừng có canthiệp vào, “không cần có kế hoạch, không cần có quy tắc, thị trường sẽ giải đáp tất cả”

Đó là thời kỳ gắn liền với nền chính trị cộng hòa, với Nhà nước dân chủ tư sản đang cònphải đương đầu với thế lực quân chủ chuyên chế

Kinh tế thị trường chịu sự tác động, điều hành của Nhà nước thể hiện rõ trong nền thống

tị phát xít Ở đó, hoạt động của nền kinh tế phải răm rắp tuân theo mệnh lệnh của Nhànước trong một cơ chế hết sức nghiêm ngặt

Trong lịch sử, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, có rất nhiều môhình kinh tế thị trường khác nhau, tùy thuộc vào chế độ chính trị của từng nước, vào giaicấp nào nắm quyền Song, nét nổi bật ở tất cả các mô hình đó là sự kết hợp chặt chẽ giữanền kinh tế và chính trị, giữa kinh tế với dân tộc, kinh tế thị trường bao giờ cũng là nềnkinh tế thị trường hỗn hợp, nhiều thành phần, vận động và phát triển không thể thiếuđược sự can thiệp của Nhà nước

1.2 Các loại kinh tế thị trường (KTTT):

- Theo hình thức hàng hóa:

+ Nền KTTT với hàng hóa truyền thống: thị trường lương thực, vải, sắt thép, xăng dầu…+ Nền KTTT với hàng hóa hiện đại: thị trường vốn, thị trường bất động sản, thị trườngsức lao động, thị trường công nghệ…

- Theo mức độ tự do:

+ Nền KTTT tự do cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo

+ Nền KTTT có sự điều tiết của Nhà nước

+ Nền KTTT hỗn hợp: Kết hợp sự điều tiết của Nhà nước với điều tiết của “Bàn tay vôhình” là cơ chế thị trường

- Theo mức độ nhân văn, nhân đạo:

+ Nền KTTT thần túy kinh tế

+ Nền KTTT xã hội

1.3 Ưu điểm của nền KTTT:

- Tự động đáp ứng nhu cầu, có thể thanh toán được của cải xã hội một cách linh hoạt vàhợp lý;

- Có khả năng huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội;

Trang 4

- Tạo ra động lực mạnh để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao vàthông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;

- Phản ứng nhanh, nhạy trước các thay đổi của nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh tếtrong nước và thế giới

- Buộc doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm trong kinhdoanh diễn ra trong thời gian dài và trên các quy mô lớn

- Tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, kỹ thuật,nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao

- Tạo ra sự bất bình đẳng, phân hóa giảu nghèo

- Lợi ích chung dài hạn của xã hội không được chăm lo

- Mang theo các tệ nạn như buôn gian bán lậu, hàng giả, tham nhũng…

- Tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá một cách có hệ thống nghiêm trọng vàlan rộng

- Sản sinh và dẫn đến các cuộc chiến tranh kinh tế

1.5 Đặc trưng của KTTT

a Đặc trưng của KTTT giản đơn

- Một là: Quá tình lưu thông những sản phẩm vật chất và phi vật chất từ sản xuất đến tiêudùng phải được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua bán

Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong quá trình sản xuất có thể được thực hiện bằngnhiều cách: Luân chuyển nội bộ, luân chuyển qua mua bán Trong nền kinh tế thị trường,sản phẩm được sản xuất ra chủ yếu để trao đổi thông qua thị trường bằng phương thứcmua – bán

- Hai là: Người trao đổi hàng hóa phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao đổi nênthị trường ở ba mặt sau đây:

+ Tự do chọn nội dung sản xuất và trao đổi

+ Tự do chọn đối tác trao đổi

Trang 5

+ Tự do thỏa thuận giá cả trao đổi

+ Tự do cạnh tranh

- Ba là: Hoạt động mua bán được thực hiện thường xuyên rộng khắp, trên cơ sở một kếtcấu hạ tầng tối thiểu, đủ để việc mua bán diễn ra được thuận lợi, an toàn với một hệ thốngthị trường ngày càng đầy đủ

- Bốn là: Các đối tác hoạt động trong nền kinh tế đều theo đuổi lợi ích của mình Lợi ích

cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế

- Năm là: Tự do cạnh tranh là thuộc tính của nền KTTT, là động lực thúc đẩy sự tiến bộkinh tế và xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, có lợi cho cả ngườisản xuất và người tiêu dùng

- Sáu là: Sự vận động của các quy luật khách quan của thị trường dẫn dắt hành vi, thái độứng thể của các thể tham gia thị trường, nhờ đó hình thành một trật tự nhất định của thịtrường từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng

b Đặc trưng của nền kinh tế thị trường hiện đại

Nền kinh tế thị trường hiện đại có đầy đủ các đặc trưng của một nền kinh tế thị trườnggiản đơn, đồng thời nó còn có các đặc trưng sau đây:

Một là: Có sự thống nhất mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị xã hội

Hai là: Có sự quản lý của nhà nước, do nhu cầu không chỉ của Nhà nước đại diện cho lợiích của giai cấp cầm qyền, mà còn do nhu cầu của chính các thành viên, những ngườitham gia kinh tế thị trường

Ba là: Có sự chi phối mạnh mẽ của phân công và hợp tác quốc tế, tạo ra một nền KTTTmang tính quốc tế, vượt ra khỏi quốc gia động và mở Tham gia vào quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra với quy

mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở nênmột chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận gắn bó hữu cơ với các bộphận khác

1.6 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế

KTTT là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, đảm bảo có năng suất, chất lượng vàhiệu quả cao Thị trường luôn năng động, luôn luôn đổi mới Tuy nhiên, bên cạnh nhiều

ưu điểm, nền KTTT còn tồn tại một số khuyết tật như thiếu định hướng, tính chu kỳ,phân hóa giàu nghèo, vấn đề độc quyền, ngoại ứng, hàng hóa công cộng…

Nền KTTT ở Việt Nam là nền KTTT có sự quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước theođịnh hướng XHCN KTTT hiện đại là hình thức phát triển tất yếu của chính bản thânkinh tế, bởi Nhà nước với những công cụ hữu hiệu của mình sẽ sửa chữa những khiếmkhuyết của cơ chế thị trường, đồng thời, cơ chế thị trường buộc những công cụ điều tiếtcủa Chính phủ phải phù hợp với yêu cầu của thị trường, nên nó sẽ sửa chữa được tính chủquan dễ có của Chính phủ

Trang 6

Từ đây, với mô hình KTTT hiện đại, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn cho quốc gia nước mìnhmột định hướng phát triển kinh tế Ở Việt Nam, mô hình kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN được Đảng ta chính thức lựa chọn và chỉ đạo tổ chức thực hiện từ Đại hộiĐảng lần thứ VI năm 1986 KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vừa tuân thủ theocác quy luật của KTTT vừa có sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tính định hướngXHCN Do đó thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hiểu là thể chế KTTT,trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng đểphát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh Nói cách khác, thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN là công cụ hướng dẫn cho các chủ thể trong nền kinh tế vận động theo đuổi mụctiêu kinh tế - xã hội tối đa, chứ không phải mục tiêu lợi nhuận tối đa.

Trong nền kinh tế thị trường cần phải có sự quản lý của Nhà nước vì những lý do sau:

- Thứ nhất, mặc dù thị trường có vai trò to lớn nhưng không thể thiếu vai trò của nhànước, cơ chế có tính phổ biến là cơ chế hỗn hợp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặttiêu cực và những thất bại của thị trường Sự can thiệp của Nhà nước nhằm đảm bảo hiệuquả sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, đảm bảođịnh hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa, khắc phục những khuyết tật vốn

có của nền kinh tế thị trường, kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển

Trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý nhà nước về kinh tế là một yêucầu khách quan và phải tuân thủ các nguyên tắc chung của nhà nước về kinh tế trong nềnKTTT như mọi nước khác Nhìn chung, sự can thiệp của Nhà nước vào nền KTTT cũngnhằm mục tiêu hạn chế và khắc phục khắc phục những khuyết tật của nền KTTT; đồngthời, Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN còn phải chủ động sử dụng kinh tếthị trường để phục vụ cho mục tiêu của CNXH, dẫn dắt nền kinh tế phát triển đi lênXHCN, chứ không để KTTT phát triển tự phát theo con đường tư bản chủ nghĩa Để giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu về vai trò của Nhà nước càng cần thiết hơn.Bởi lã định hướng XHCN phụ thuộc trước hết vào vai trò mục tiêu của Nhà nước, nhất làlĩnh vực phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, đảm bảo phát triển nhanh đồngthời giải quyết tốt các vấn đề xã hội, phát triển bền vững…

- Thứ 2, trình độ xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có sự điềutiết của Nhà nước - một trung tâm quyền lực đối với nền kinh tế

Trong nền KTTT, các chủ thể kinh doanh đều có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên rất íthoặc không quan tâm đến những ngành không có lợi nhuận, hoặc lợi nhuận thấp nhưnglại rất cần thiết và quan trọng đối với nền kinh tế Vì vậy, phải có sự quản lý của Nhànước để cho nền kinh tế phát triển đúng hướng, bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế và ổnđịnh xã hội Lịch sử và thực tiễn của thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của Nhànước Không phải nước nào chuyển sang KTTT đều giàu có cả Ngày nay, giàu, nghèocủa một quốc gia trước hết là vai trò của Nhà nước gắn liền với tầm nhìn và tư duy chiếnlược Ổn định hay rối loạn, tăng trưởng hay suy thoái, giàu hay nghèo đều tìm thấynguyên nhân từ Nhà nước Cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu phải chăngbắt nguồn từ tư tưởng của thuyết tự do mới, sự bất cập về thể chế tiền tệ, buông lỏnggiám sát đã làm đổ vỡ có tính hệ thống

Trang 7

- Thứ ba, bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình Nhà nước phải giảiquyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên và cơ bản trong nền kinh

tế quốc dân

Trong qua trình hoạt động kinh tế, con người có quan hệ với nhau Lợi ích kinh tế là biểuhiện cụ thể của mối quan hệ đó Mọi thứ mà con người phấn đấu đều liên quan đến lợiích của mình Trong nền KTTT, mọi đối tác đều hướng đến lợi ích riêng của mình.Nhưng khối lượng kinh tế thì có hạn và không thể chia đều cho mọi người, nên xảy ra sựtranh giành về lợi ích và từ đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích Trong nền KTTT

có những loại mâu thuẫn cơ bản sau:

+ Mâu thuẫn giưa tăng trưởng kinh tế với môi trường tự nhiên bị xuống cấp

+ Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với khoảng cách thu nhập trong xã hội gia tăng+ Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề ý thức đạo đức xã hội với lối sống thựcdụng, chạy theo lợi ích vật chất, nạn tham nhũng trở thành căn bệnh phổ biến

+ Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề mất an toàn về sức khỏe, tính mạng conngười trong xã hội

+ Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với sức sản xuất chưa thực sự được phát huy hếtnăng lực: Tài dân, sức dân, vốn trong dân… chưa thực sự được khơi thông

+ Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thị trường, giữa chủ và thợ, giữa ngườisản xuất với toàn thể cộng đồng…

- Thứ tư, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của Nhà nước

Nhà nước hình thành từ khi xã hội có giai cấp Nhà nước bao giờ cũng đại diện cho lợiích của giai cấp thông trị trong đó có lợi ích kinh tế Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội doNhà nước ta xác định, quản lý chỉ đạo là nhằm đem lại lợi ích vật chất và tinh thần chonhân dân Tuy vậy, trong nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với nước ngoài, khôngphải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn nhất trí Vì vậy, xuất hiện xu hướngvừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quá trình hoạt động kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu,quan hệ quản lý, quan hệ phân phối

Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế Nhà nước ta phải thể hiện bản chất giai cấpcủa mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và nhân dân ta Chỉ có Nhà nước mới có thể làmđược điều đó Như vậy là, trong quá trình phát triển kinh tế, Nhà nước ta đã thể hiện bảnchất giai cấp của mình

Bên cạnh những lý do khách quan trên đây còn có nguyên nhân do từ chính hiệu quảquản lý nhà nước về kinh tế trong thời gian qua Sau gần 30 năm đổi mới, nhất là mấynăm gần đây, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam từng bước được hình thành Qua

đó, sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiêntất cả mới chỉ là bước đầu Sự Quản lý của Nhà nước về kinh tế còn nhiều yếu kém, hiệulực và hiệu quả quản lý còn thấp Hệ thống luật pháp, chính sách chưa đồng bộ và chưanhất quán, kỷ cương pháp luật chưa nghiêm Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kếhoạch, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai… còn nhiều yếu kém, hồ sơ; thủ tục hành

Trang 8

chính vẫn còn rườm rà, cải cách hành chính còn chậm và chưa kiên quyết Do đó, việcnâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường ở ViệtNam cũng là một yêu cầu khách quan và cấp bách.

Tóm lại, quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là tất yếu khách quan nhằm phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, độngviên sức mạnh của toàn dân tộc, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ lao độngsáng tạo được tiến hành một cách tối ưu, các quan hệ lợi ích được thực hiện một cách dânchủ, cong bằng, văn minh, phát huy các lợi ích trước mắt và lâu dài; hỗ trợ tập trung chocác công dân có điều kiện đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” bằng cách tạocác tiền đề về ý chí, khát vọng và niềm tin vào con đường làm giàu, về các tri thức vàthông tin có liên quan đến sự nghiệp kinh tế, các hành ngang pháp lý, các phương tiệnsản xuất kinh doanh mà công dân không thể tự lực được như vốn, hạ tầng cơ sở, các điềukiện để mở rộng thị trường trong và ngoài nước, bảo vệ và tăng cường mở rộng môitrường kinh doanh, môi trường thiên nhiên

1.7 Bản chất và đặc trưng của nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN của Việt Nam

Kinh tế thị trường được thừa nhận là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, khôngphải là cái riêng của CNTB và KTTT không đồng nhất với CNTB Đại hội VIII của Đảng

1986 đã chỉ rõ: sản xuất hàng hóa là thành tựu của văn minh nhân loại, nó không đối lậpvới CNXH, nó cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xâydựng Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về tiếp tụchoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN cũng đã chỉ rõ; Nền KTTT là sản phẩm củavăn minh nhân loại được phát triển tới trình độ cao dưới CNTB, nhưng bản thân KTTTkhông đồng nghĩa với CNTB

Lựa chọn KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quangiữa KTTT với CNXH, mà là nắm bắt quy luật và vận dụng sáng tạo xu thế khách quancủa KTTT trong thời đại nay, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong quá trìnhxây dựng đất nước Trên cơ sở nhân thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự đúcrút kinh nghiệm phát triển KTTT thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng CNXH củaViệt Nam và Trung Quốc, Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương phát triển nềnKTTT định hướng XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lênCNXH ở Việt Nam

KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế mờ phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tếtrong thời đại ngày nay Nền KTTT định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh

tế dựa trên nguyên tắc và tuân thủ nhưng quy luật của KTTT, tức thể hiện đầy đủ các đặctrưng chung, cơ bản của nền kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo yếu tố đinh hướng XHCN Cácyếu tốt định hướng XHCN mang “tính nội sinh” trong quá trình phát triển kinh tế ở ViệtNam là những dấu hiệu nay là tiêu chí để nhận biết bản chất và phân biệt KTTT ở nước tavới KTTT các nước khác Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu ra 7 nội dung định hướngXHCN trong nền KTTT, đó là:

Trang 9

1) Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;2) Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sốngnhân dân;

3) Đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, đồng thời khuyến khích mọi người dân làm giàuchính đáng và giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát nghèo, từng bước khá giảhơn;

4) Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh

tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân

5) Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sáchphát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục giảiquyết tốt nhất vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người

6) Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồngthời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn khác và thông qua phúc lợi xã hội;7) Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nềnkinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đến đại hội XI và XII đã bổ sung và phát triển các quan điểm của các kỳ đại hộitrước và lần nữa khẳng định: “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinhdoanh và hình thức phân phối”, “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tậpthể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tếtập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”, “ Cácyếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ các loại thị trường từng bước được xâydựng, phát triển, vừa tuân thủ theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa đảm bảotính định hướng xã hội chủ nghĩa”

Trang 10

PHẦN 2 HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN

Ngày 3-6-2017, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn nghị quyết.

2.1 Tình hình và nguyên nhân

1- Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X,Ðảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinhnghiệm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần quan trọng đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xãhội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân,bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại,hội nhập quốc tế

- Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn;kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, có nhiều đặc điểmcủa nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sáchngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầuthực tiễn và thực hiện cam kết hội nhập quốc tế Chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế,loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng Các quyền và nghĩa vụ về tài sản được thể chếhóa tương đối đầy đủ Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên Việcđổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh;kinh tế tập thể được quan tâm đổi mới; kinh tế tư nhân ngày càng được coi trọng; đội ngũdoanh nhân không ngừng lớn mạnh; thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt được kết quả tíchcực

- Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết vớithị trường khu vực và thế giới Hầu hết các loại giá hàng hoá, dịch vụ được xác lập theo

cơ chế thị trường Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn;quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế được bảo đảm hơn

- Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức,từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu Việc huyđộng, phân bổ và sử dụng nguồn lực phù hợp hơn với cơ chế thị trường Các cơ chế,chính sách đã chú trọng kết hợp giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội, tạo cơ hội cho người dân tham gia và nhận được thành quả từ quá trình phát triểnkinh tế Phương thức lãnh đạo của Ðảng, hoạt động của Nhà nước từng bước được đổimới phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế

Trang 11

2- Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tathực hiện còn chậm Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâuthuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước độtphá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.

- Hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh

tế còn nhiều hạn chế Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa các chủthể kinh tế Cải cách hành chính còn chậm Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sựthông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao Quyền tự do kinh doanh chưa đượctôn trọng đầy đủ Quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm minh

- Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc,kém hiệu quả Giá cả một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu chưa được xác lập thật sự theo

cơ chế thị trường

- Thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều bất cập Bất bìnhđẳng xã hội, phân hoá giàu - nghèo có xu hướng gia tăng Xóa đói, giảm nghèo còn chưabền vững

Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

-xã hội chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới về kinh tế Cơ chế kiểm soát quyền lực, phân công,phân cấp còn nhiều bất cập Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển củakinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; hiệu lực, hiệu quả chưa cao; kỷ luật, kỷ cươngkhông nghiêm Hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả chưa cao, thiếu chủ động trongphòng ngừa và xử lý tranh chấp thương mại quốc tế

3- Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủyếu là do nguyên nhân chủ quan, đặc biệt là do: Nhận thức về nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ Tư duy bao cấp còn ảnh hưởng nặng nề Năng lựcxây dựng và thực thi thể chế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với sự phát triển của nềnkinh tế thị trường Việc quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương của Ðảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước ở các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu thiếu quyếtliệt, hiệu quả thấp và chưa nghiêm Vai trò, chức năng, phương thức hoạt động của các cơquan trong hệ thống chính trị chậm đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thịtrường trong điều kiện hội nhập quốc tế Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống, tệ quan liêu, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảmhiệu lực, hiệu quả trong thực hiện chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhànước

2.2 Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu

1 - Quan điểm chỉ đạo

- Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mộtnhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bềnvững; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội

Ngày đăng: 31/08/2019, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w