Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến thức đã học vào gia
Trang 1MỤC LỤC Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1 Phạm vi
2 Đối tượng III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
IV ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 3
PHẦN II: NỘI DUNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
1 Thực trạng chung 2 Thực trạng cụ thể 3 Kết quả khảo sát III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 6
IV HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN 12
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I BÀI HỌC KINH NGHIỆM 13
II Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 14
III KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI 14
IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 14 Đối với các cơ quan quản lý giáo dục
PHẦN I: MỞ ĐẦU I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trang 2Hiện nay, Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế giới và hơn bốn mươi quốc gia sử dụng nó như một ngôn ngữ chính và gần 400 triệu người dùng nó như một ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp Ở Việt Nam, tiếng Anh được xem là một ngoại ngữ chính trong các trường phổ thông hiện nay
Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, tôi luôn mong muốn học sinh của mình
có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến thức đã học vào giao tiếp thực tế Muốn vậy, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho mỗi tiết lên lớp học sinh đều hứng thú học tập tích cực rèn luyện và nhớ được bài ngay tại lớp
Chúng ta đều biết bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng
Thật vậy, nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không thể phát triển tốt các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho dù các em có nắm vững các mẫu câu và kiến thức ngữ pháp
Do vậy, giúp học sinh nắm vững các từ đã học để vận dụng vào việc rèn luyện các kỹ năng là việc làm rất quan trọng khiến tôi trăn trở và quyết định thực hiện đề tài:
II PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Phạm vi
Đề tài nghiên cứu các từ vựng và các bài khóa trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Anh 8, 9
2 Đối tượng
Học sinh lớp 8, 9 Trường PTDTNT Phó Bảng
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ thực tế của việc dạy và học từ mới Tiếng Anh ở trường PTDTNT Phó Bảng hiện nay, nhất là tình trạng thiếu vốn từ của học sinh Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao vốn từ cho học sinh khi thực hành các kỹ năng: Nghe, nói, đọc và viết tại lớp Giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn và yêu thích bộ môn Tiếng Anh hơn Qua đó nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường, nhất là chất lượng dạy và học Tiếng Anh hiện nay
IV ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã chỉ ra được cơ sở lý luận áp dụng vào thực tiễn dạy học ở trường PTDTNT Phó Bảng Từ thực trạng của vấn đề nghiên cứu, sáng kiến đã đề xuất được các biện pháp hữu hiệu, phù hợp, cụ thể phát huy được khả năng của người học, giải quyết được những khó khăn mà học sinh đang vướng mắc, góp
Trang 3phần nâng cao chất lượng dạy học Khắc phục được những hạn chế của việc dạy và học trước đây tại trường
Với việc nghiên cứu thành công đề tài sáng kiến kinh nghiệm sẽ giúp giáo
viên có được những kinh nghiệm sau:
Cách thức tổ chức dạy từ vựng có hiệu quả
Các bước tiến hành một tiết dạy từ vựng có hiệu quả
Hướng dẫn học sinh tự luyện tập, rèn luyện để có được càng nhiều vốn từ Tiếng Anh càng tốt
PHẦN II NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng Có thể thấy một ngôn ngữ là một tập hợp của các từ vựng Không thể hiểu ngôn ngữ mà không hiểu biết từ vựng, hoặc qua các đơn vị từ vựng Nhưng điều
đó không đồng nghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng lẻ, độc lập với nhau mà chỉ có thể nắm vững được ngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung
và Tiếng Anh nói riêng Vì từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nên nó được thể hiện dưới hai hình thức: Lời nói và chữ viết Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó, tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt của từ bằng lời nói và chữ viết Song do có mối liên quan của từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ) hoặc trong tình huống giao tiếp cụ thể, ta thấy từ vựng là các “viên gạch” còn ngữ pháp và các yếu tố ngôn ngữ khác được coi như các “mạch vữa” để xây lên thành một ngôi nhà ngôn ngữ
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thực trạng chung
Hiện nay trong nhà trường phổ thông, cũng giống như các bộ môn khác, việc dạy và học tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải cách sách giáo khoa, giảm tải nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp với nhận thức của học sinh, làm cho học sinh được tiếp cận với các nội dung, kiến thức hiện đại Vốn từ vựng tiếng Anh trong chương trình học cũng được sử dụng phù hợp với sự phát triển chung của xã hội
2 Thực trạng dạy từ vựng trong trường PTDTNT Phó Bảng
Mặc dù có những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình giảng dạy nhưng chúng tôi đã biết tự khắc phục những khó khăn trước mắt, từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy môn Tiếng Anh nhằm đáp ứng mục đích chương trình SGK mới
a Về phía giáo viên
Trang 4Bước đầu đã tiếp cận sử dụng tương đối tốt các kỹ thuật dạy học đặc trưng –
kỹ thuật dạy từ vựng
Đã quen và chủ động với cách thức tổ chức một tiết học có dạy từ
Phối hợp khá linh hoạt các kỹ thuật dạy học
Sáng tạo ra nhiều đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung các tiết dạy, vì vậy nhiều tiết dạy trở nên sinh động hơn, có sức lôi cuốn và đạt hiệu quả cao hơn
Sử dụng vận hành các trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ tốt cho quá trình dạy học có phần từ mới: Băng đĩa hình, tiếng, máy tính, máy cassette, đầu video, máy chiếu, loa, tranh ảnh…
b Về phía học sinh
Học sinh đã được quen dần với môn học, cách học từ
Nhiều học sinh đã nghe và nhận biết được giọng đọc, nói của người bản ngữ Phần lớn học sinh có khả nghe được những từ vựng có nội dung đơn giản, vừa phải thực hiện được các yêu cầu, bài tập của giáo viên
Một số học sinh đã hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong học tập
2 Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng
a Giáo viên
Qua thực tế dạy học những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũ dạy học
từ vựng thường được diễn ra theo kiểu: Người dạy (giáo viên) đọc bài rồi liệt kê ra những từ, theo giáo viên chưa từng xuất hiện trong quá trình dạy học là từ mới (new words); sau đó giáo viên giải nghĩa, cách sử dụng từ, từ loại cho học sinh Nó
có những hạn chế cơ bản như sau: Làm cho học sinh thụ động trong việc làm giàu vốn từ cho mình, sử dụng từ trong ngữ cảnh giao tiếp bị hạn chế, không linh hoạt
và thường lệ thuộc vào cấu trúc ngữ pháp Từ đó vấn đề được đặt ra ở đây là nghiên cứu áp dụng các kỹ năng dạy từ vựng, cụ thể là các kỹ năng giới thiệu và kiểm tra từ vựng đối với học sinh sao cho phù hợp và có hiệu quả tốt Vẫn còn một
số giáo viên gặp một số khó khăn nhất định trong việc thực hiện các thao tác, kỹ thuật dạy từ, trong việc lựa chọn các kỹ thuật cho phù hợp với từng tiết dạy, từng giai đoạn của tiết dạy Còn ngại sử dụng hoặc sử dụng chưa thành thạo đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy nghe như: đài, máy tính, máy chiếu…
b Học sinh
Trước hết, xuất phát từ đối tượng giảng dạy là học sinh ở lứa tuổi từ 12-16, kinh nghiệm cuộc sống còn ít, hiểu biết xã hội hạn chế, do đó vốn từ vựng dạy cho các em ở cấp học này thường phải được kết hợp với các kỹ năng dạy học cho phù hợp để gây sự quan tâm, hứng thú với học sinh Bên cạnh đó việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường còn diễn ra trong môi trường giao tiếp của thầy và trò có rất nhiều hạn chế Dạy học trong một tập thể lớn (thường là đơn vị lớp học có khoảng
20 học sinh hoặc hơn), trình dộ nhận thức có nhiều cấp độ khác nhau, phương tiện
Trang 5hỗ trợ giảng dạy chưa đồng bộ Những điều này làm phân tán sự tập chung của học sinh, tác động rất lớn đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh, làm chậm quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh và sự phân bố thời gian cho từng phần nội dung bài sao cho phù hợp với từng loại bài giảng (thực hành, kĩ năng) cũng là một tác động tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy từ vựng sao cho thích hợp
Động cơ để học từ vựng Tiếng Anh còn hạn chế Nhiều em ít có cơ hội để nghe từ vựng, ít được tiếp cận với thông tin đại chúng mà qua đó có thể nghe Tiếng Anh Một số em còn ngại nghe và nói bằng Tiếng Anh, còn sợ bị mắc lỗi do vốn từ còn hạn chế Học sinh chưa quen với tốc độ đọc, nói trong băng của người Anh
c Phương tiện đồ dùng dạy học
Đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng dạy còn hạn chế, một số còn thiếu như: tranh ảnh, băng, đĩa, đài hay máy tính…
Chất lượng băng không tốt, giọng đọc còn chưa rõ, tiếng ồn nhiều dẫn đến việc nghe từ của học sinh còn hạn chế
3 Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài
Trước khi nghiên cứu đề tài này tôi đã tiến hành khảo sát
Kết quả điều tra cụ thể như sau:
Kết quả khảo sát đầu năm học 2017 – 2018
Khối TSHS SLGiỏi% SLKhá% SLTrung bình% YếuSL % SLKém%
Qua điều tra tôi đã nhận ra rằng hầu hết các em nắm từ vựng không chắc, hoặc có rất ít vốn từ nên kỹ năng nghe và giao tiếp bằng Tiếng Anh còn hạn chế
III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Vai trò của các kĩ năng dạy từ vựng trong quá trình dạy và học Tiếng Anh
Các kĩ năng dạy từ vựng được áp dụng trong mọi quá trình dạy học Từ việc giới thiệu từ vựng, thực hành nói và viết, rèn luyện củng cố đến cả khởi động để tạo ra một giờ học sôi nổi ngay từ giây phút đầu của một giờ học Việc sử dụng các kĩ năng dạy từ vựng trong quá trình dạy tiếng Anh nhằm mục đích làm cho học sinh có vốn từ vựng đầy đủ, phục vụ cho quá trình học tiếng, nắm được ý nghĩa, cách sử dụng của từ vựng trong quá trình giao tiếp Các kỹ năng dạy từ khác nhau sẽ làm cho học sinh cảm thấy hứng thú với môn học, ghi nhớ từ vựng với ngữ cảnh giao tiếp, nâng cao khả năng tự học hỏi, học sinh sẽ tự làm giàu được vốn từ và tự kiểm tra được quá trình sử dụng từ của mình Học sinh sẽ chủ động trong các tình huống giao tiếp cũng như tiếp thu kiến
Trang 6thức mới Trong giới hạn của đề tài này là chỉ đề cập đến các kỹ năng giới thiệu và kiểm tra việc dạy và học từ vựng
2 Kỹ năng giới thiệu từ vựng
Giai đoạn đầu trong việc dạy từ vựng là phần giới thiệu từ mới với học sinh Giới thiệu từ mới có vai trò rất quan trọng trong một giờ học tiếng Anh Nó có thể giúp học sinh nắm được bao quát nội dung bài học, nắm được nghĩa của từ, cách
sử dụng từ vựng qua phần giới thiệu ban đầu của giáo viên Thông thường để giới thiệu một từ mới, giáo viên thường thực hiện các bước sau đây
Gợi mở từ bằng tranh vẽ, đồ vật thật, ví dụ, tình huống…
Giới thiệu từ dạy bằng Tiếng Anh
Cho học sinh nghe hai, ba lần
Cho học sinh nhắc lại từ mới đồng thanh 2 – 3 lần
Gọi học sinh nhắc lại cá nhân từ 2 đến 3 học sinh
Giáo viên trình bày từ cần dạy lên bảng
Kiểm tra nghĩa của từ bằng Tiếng Viêt
Kiểm tra trọng âm của từ Khi dạy xong tất cả từ mới, học sinh viết vào vở Song tất nhiên không phải từ mới nào xuất hiện trong quá trình giảng bài cho học sinh cũng được đưa vào phần giới thiệu từ mới Người giáo viên phải biết lựa chọn, xác định từ tích cực, chủ động trong quá trình để giảng dạy và cố gắng phát huy hết khả năng tự học hỏi của học sinh đối với những loại từ không tích cực Bên cạnh đó giáo viên còn phải biết cách sắp xếp các từ vựng sẽ dạy trong bài theo một trình tự hợp lý, hoặc tạo các lời dẫn gợi mở theo chủ điểm bài học
Ví dụ 1: Unit 1: Lesson 4 Reading (Lớp 8)
Từ vựng dạy gồm có 8 từ:
+ Character: (n) Tính cách
+ Sociable: (a) Cởi mở
+ Volunteer: (n) Tình nguyện
+ Orphanage: (n) Trại trẻ mồ côi
+ Reserved: (a) Kín đáo
+ Public: (n) Đám đông
+ Sense of humor: (n) Tính hài hước
+ Tell joke: (v) Kể chuyện hài
Song giáo viên chỉ cần giới thiệu 5 từ: Character, orphanage, reserved, sociable and tell joke Còn 3 từ: public, volunteer, sense of humor để học sinh chủ động tìm hiểu trong quá trình đọc bài Và với 5 từ mới phải dạy thì giáo viên nên sắp xếp theo trình tự để dạy
1 Orphanage.
2 Character.
Trang 73 Sociable.
4 Reserved.
5 Tell joke
Với lời dẫn cụ thể như sau:
Giới thiệu từ orphanage giáo viên có thể nói “It’s a place where childen without parents live” Học sinh sẽ hiểu ngay được từ đó nói về cái gì Tiếp tục các bước của trình tự giới thiệu từ, giáo viên có thể hỏi học sinh “What does tinh cach mean in English?” Học sinh có thể trả lời “It’s mean character”nếu các em biết hoặc “We don’t know” nếu các em không biết Trong trường hợp này giáo viên có thể nói luôn: tính cách means character in English (giới thiệu từ character) Giáo viên tiếp tục: Người ưa hoạt động, dễ gần gũi với những người lạ, giao tiếp rộng thì người đó có tính cách như thế nào? – Học sinh trả lời được từ cởi mở (giới thiệu từ sociable) Giáo viên hỏi tiếp: Trái với tính cởi mở là tính gì? – Học sinh trả lời được từ kín đáo, trầm tính (giới thiệu từ reserved) Bạn X lớp mình hay kể chuyện gì làm cả lớp buồn cười? – Học sinh trả lời được từ kể chuyện cười (giới
Ví dụ 2 Unit 2: Lesson 2 SPEAK (Grade 9)
Từ vựng dạy gồm có 6 từ theo trình tự
Short sleeved blouse (n) Áo cộc tay vai bồng
Sleeveless: (a) Không có tay áo
Faded: (a) Bạc màu
Plain: (a) Trơn, không có hoa văn
Plaid: (a) Kẻ ca rô
Baggy: (a) Rộng thùng thình
Giới thiệu từ “short- sleeved blouse”và từ “faded” giáo viên có thể dùng vật thực, giới thiệu từ “plaid” giáo viên có thể vẽ lên bảng, giới thiệu từ “plain”,
“baggy”, và “sleeveless” thì giáo viên có thể dùng tranh ảnh minh họa
Ví dụ 3 UNIT 9: Lesson 1: Listen and read (Grade 8)
Từ vựng cần dạy gồm có 4 từ nên được sắp xếp theo trình tự
Ambulance (n) Xe cứu thương
Emergency (n) Ca cấp cứu
Unconcious (a) Bất tỉnh
Bleed (v) Chảy máu
Với lời dẫn cụ thể như sau:
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh và hỏi “what’s this?” Học sinh trả lời:
Xe cứu thương Giáo viên nói: Xe cứu thương means ambulance in English (Giới thiệu từ ambulance) Giáo viên hỏi: Khi nào chúng ta cần đến một chiếc xe cứu thương Học sinh trả lời: Khi có ca cấp cứu (giới thiệu từ emergency) “Tỉnh táo”
Trang 8tiếng Anh nói thế nào? – Concious – Em có biết từ đối nghĩa với “concious” là gì? (Giới thiệu từ unconcious) – Khi chúng ta bị cắt vào tay thì có hiện tượng gì ? – chảy máu (giới thiệu từ bleed) Bên cạnh việc sắp xếp, bố trí thứ tự từ vựng để dạy giáo viên còn phải sử dụng các kĩ năng giới thiệu từ mới, tạo sự hấp dẫn với học sinh thông qua các kĩ năng giới thiệu từ Ta cũng biết lượng thời gian để giới thiệu
từ vựng trong một giờ học chiếm một phần nhỏ, chỉ từ 5 đến 7 phút (và tối đa là 10 phút) nên khi giới thiệu từ giáo viên phải thực hiện việc dẫn dắt sao cho thật rõ ràng, cụ thể, đơn giản và nhanh chóng Giáo viên phải lựa chọn kĩ năng giới thiệu
từ cho phù hợp, vừa để thu hút sự tập trung của học sinh, vừa để học sinh có thể ghi nhớ từ vựng ở giai đoạn đầu của tiết học và vận dụng từ vào thực hành Với 3 ví dụ 1, 2 và 3 vừa nêu ở trên, ta thấy trong một bài dạy giáo viên sử dụng nhiều kĩ năng khác nhau để giới thiệu một số từ lượng từ nhất định
Ví dụ 1: Giới thiệu từ thông qua
Gợi ý: Orphanage
Dịch: Character
Tình huống: Sociable
Trái nghĩa: Resrved
Vật thật làm ví dụ: Tell joke
Ví dụ 2: Giới thiệu từ thông qua
Vật thật: Short – sleeved blouse, faded
Vẽ: Plaid
Tranh ảnh: Plain, baggy, sleeveless
Ví dụ 3: Giới thiệu từ thông qua
Tranh ảnh: Ambulance Tình huống: Emergency, bleed Trái nghĩa: Unconcious
Kỹ năng giới thiệu từ rất phong phú, song sử dụng chúng ra sao, sử dụng khi nào và với mục đích gì lại là vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ và áp dụng linh hoạt để đạt được mục đích giảng dạy
* Các kỹ năng giới thiệu từ thông dụng là
a Giới thiệu từ vựng thông qua các đồ dùng trực quan
Vật thật:
Ví dụ: bulb, water bill (Unit 7 – grade 9), doll (Unit9 – grade 9)
Tranh ảnh
Ví dụ: eye chart, wheel chair (Unit 9), graze (Unit 4 – Grade 8)
Với sách giáo khoa mới lớp 8 – 9 hiện nay có nhiều tranh ảnh đẹp, giáo viên
có thể tận dụng điều này để thực hiện giới thiệu từ vựng cho học sinh
b Giới thiệu từ thông qua hành động của giáo viên
Ví dụ: Wrap, mix, press (Unit 10) Brush teeth, get dressed (Grade 6)
Trang 9c Giới thiệu từ mới thông qua ngữ cảnh
Giúp học sinh hiểu cách sử dụng từ được học và sử dụng đúng từ trong từng tình huống giao tiếp
Ví dụ: Award (Unit 13), Guarantee (Unit 14) – grade 8
Control (Unit 5), innovation (Unit 7) – Grade 9
d Giới thiệu từ thông qua các từ đồng nghĩa và trái nghĩa
Là một cách kết hợp vừa giới thiệu từ mới, vừa ôn luyện được phần từ đã dạy
Ví dụ: Noisy >< quiet (Unit 8), diferrent >< same
e Giới thiệu từ thông qua các ví dụ
Kỹ năng này giúp cho học sinh có tập hợp từ theo chủ điểm
Ví dụ Chores: do the washing up, sweep the floor, cook, tidy up, and make the bed…
Subjects: Math, History, English……
f Giới thiệu từ bằng phương pháp dịch nghĩa
Kỹ năng này giúp cho giáo viên giới thiệu từ một cách ngắn gọn, không tốn thời gian Nhất là với các từ có nghĩa trừu tượng
Ví dụ: Demonstrate (Unit 2), contact (Unit 10), behavior (Unit 5), deposite
(Unit 10) – Grade 8
Nói tóm lại: Sử dụng kĩ năng giới thiệu từ vựng chính là tìm cách tiếp cận với sự lĩnh hội kiến thức của học sinh một cách gần nhất, dễ dàng nhất, giúp học sinh thu nhận kiến thức một cách nhanh hơn, hứng thú với bài học hơn Và để đạt được hiệu quả cao trong phần giới thiệu từ vựng ngoài việc lựa chọn các kĩ năng giới thiệu từ phù hợp, giáo viên còn phải thực hiện phần phát âm từ một cách chuẩn mực, trình bày từ đúng chính xác và rõ ràng trên bảng để học sinh nhận biết
từ vựng được dạy ở mọi góc độ khách quan
3 Kiểm tra
Kiểm tra từ vựng của học sinh cũng là một phần quan trọng trong quá trình dạy học Nó xác định xem học sinh nắm được từ ở mức độ nào Việc kiểm tra thường diễn ra dưới hai cấp độ đó là: Đơn giản và hoàn thiện
a Kiểm tra đơn giản
Kiểm tra đơn giản là việc kiểm tra từ vựng riêng lẻ, kiểm tra ngay sau khi hoàn thành việc giới thiệu từ vựng Các hoạt động kiểm tra ở từng bài giảng thường được giáo viên nêu ra dưới dạng các trò chơi khiến học sinh thích thú, say
mê với bài học, kích thích sự ganh đua trong học tập thông qua một số trò chơi như:
Rub out and remember: Xóa phần từ đã giới thiệu trên bảng và yêu cầu học sinh tái tạo lại ở trên bảng
Trang 10Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên bảng Yêu cầu học sinh vỗ vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ đó (từ trên bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại)
What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho học sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũ của nó
Jumbled words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu cầu học sinh viết lại từ cho đúng
Word square: Giáo viên chuẩn bị ô chữ có chứa các từ đã giới thiệu, yêu cầu học sinh khoanh tròn các từ mà các em tìm thấy
Netword: Học sinh viết mạng từ theo chủ điểm
Bingo: Học sinh chọn 5 từ trong số các từ mà giáo viên gợi ý trên bảng, sau khi nghe giáo viên đọc, nếu học sinh nào nghe có được 5 từ trước nhất thì hô to
“bingo”
Guessing game: Một học sinh viết từ vào một tờ giấy hoặc sử dụng hình ảnh
từ, sau đó dùng các từ khác miêu tả, diễn đạt từ đó cho các học sinh khác đoán
Matching: Một cột giáo viên viết từ, còn cột thứ hai viết khái niệm hoặc định nghĩa không theo thứ tự của cột thứ nhất, sau đó yêu cầu học sinh nối từ với khái niệm hoặc định nghĩa của chúng
Ordering: Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ vào vở, sau đó giáo viên đọc một đoạn văn ngắn có chứa các từ đó, học sinh nghe và đánh dấu thứ tự các từ theo trình tự đọc
Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau để tạo ra sự mới mẻ, không gây nhàm chán cho học sinh Song ta cũng cần chú ý đến đối tượng học sinh, hay chính là trình độ nhận thức của học sinh nhanh hay chậm để đảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên và với mọi học sinh Đối với các học sinh khá, tiếp thu bài nhanh giáo viên sử dụng các kĩ năng thường mang tính chất yêu cầu học sinh tái tạo lại phần từ đã học như; Rubout and remember, slap the board, what and where, net word Đối với học sinh yếu, tiếp thu chậm hơn thì sử dụng các cách kiểm tra mang tính gợi mở từ như: jumbled words, wordsquare, matching, ordering
b Kiểm tra hoàn thiện
Bên cạnh việc kiểm tra đơn giản, còn có kiểm tra hoàn thiện Kiểm tra hoàn thiện được thực hiện sau khi phần từ vựng được thực hành, ôn luyện và củng cố trong các giờ thực hành nói – viết, giờ luyện kĩ năng nghe, đọc, viết Loại kiểm tra này thường diễn ra dưới dạng kiểm tra nói hoặc viết Giáo viên có thể thực hiện ngay trong phần “warm up” của bài dạy hoặc dưới dạng kiểm tra bài cũ, kiểm tra
15 phút, 45 phút hoặc kiểm tra học kỳ