1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình trạng dinh dưỡng và kết quả tư vấn sau ngừng bổ sung dinh dưỡng uống cho trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi tại ba trường mầm non huyện tiền hải, thái bình

119 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tình trạng dinh dưỡng và một số vi chất dinh dưỡng của trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi sau 12 tháng ngừng bổ sung Pediasure tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình .

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

PHẠM THỊ DUYÊN

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KẾT QUẢ TƯ VẤN SAU NGỪNG BỔ SUNG DINH DƯỠNG ĐƯỜNG UỐNG CHO TRẺ TỪ 30 ĐẾN DƯỚI 60 THÁNG TUỔI TẠI BA TRƯỜNG MẦM NON

HUYỆN TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

Chuyên ngành : Dinh dưỡng

Mã số : 8720401

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Hướng dẫn khoa học: TS Trương Hồng Sơn

PGS.TS Ninh Thị Nhung

THÁI BÌNH – 2019

Trang 2

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo Sau đại học , các thầy cô giáo Khoa Y tế công cộng, Bộ môn Dinh Dưỡng và An toàn thực phẩm - Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trương Hồng Sơn và NGƯT PGS.TS Ninh Thị Nhung, những người thầy, cô đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, Khoa nội tiết vi chất dinh dưỡng - Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình nay đổi thành Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, tham gia học tập và triển khai thu thập số liệu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc, Khoa xét nghiệm Bênh viện Nhi tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và làm xét nghiệm tại đây

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân xã, Trạm y tế xã, Ban giám hiệu

và các cô giáo Trường mầm non xã Tây Lương, xã Tây Phong, xã Tây Tiến huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, các bạn đồng nghiệp cùng tập thể anh chị em học viên lớp cao học Dinh dưỡng K3 đã động viên, ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình học tập hoàn thành luận văn

Thái Bình, ngày … tháng 6 năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Duyên

Trang 3

Tôi là Phạm Thị Duyên, học viên khóa 3 Trường Đại học Y Dược Thái Bình chuyên ngành Dinh Dưỡng, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn

của TS Trương Hồng Sơn và PGS.TS Ninh Thị Nhung Luận văn của tôi

được tiếp nối từ đề tài: Hiệu quả của Pediasurere lên tình trạng dinh dưỡng

của trẻ SDD thấp còi từ 24 đến 48 tháng tuổi tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái bình” Do PGS.TS Ninh Thị Nhung là chủ nhiệm đã được báo cáo tại hội

nghị Quốc tế Dinh dưỡng và phát triển lần thứ 5 tổ chức tháng 3/2017 tại

Cộng hòa dân chủ nhân dân Pháp

2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, chưa được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Thái Bình, ngày … Tháng 6 năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Duyên

Trang 4

CBYT Cán bộ y tế

CN/CC(WHZ) Cân nặng theo chiều cao

FAO (Food and Agriculture Organization of

the United Nations) Tổ chức lương thực thế giới

NCDDKN Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị

SD (Standard Deviation) Độ lệch chuẩn

UNICEF (The United Nations Children’s Fund) Quỹ nhi đồng liên hợp quốc

WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 3

1.1.1 Một số khái niệm về suy dinh dưỡng ở trẻ em 3

1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em 4

1.1.3 Hậu quả của suy dinh dưỡng do thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin 9

1.2 Tình hình SDD ở trẻ em hiện nay và một số yếu tố liên quan 11

1.2.1 Tình hình SDD ở trẻ em trên Thế giới 11

1.2.2 Tình hình SDD ở trẻ em tại Việt nam 13

1.2.3 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Thái Bình và huyện Tiền Hải 16

1.3 Các giải pháp can thiệp cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em 18 1.3.1 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe 18

1.3.2 Biện pháp can thiệp y tế tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em 19

1.3.3 Các giải pháp bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm 20

1.4 Các nghiên cứu cải thiện tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần của trẻ 21 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: 28

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu: 28

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: 29

2.2.3 Quy trình nghiên cứu 30

2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 31

Trang 6

2.2.6 Tổ chức triển khai 36

2.2.7 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu 37

2.2.8 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 38

2.2.9 Sai số và hạn chế của nghiên cứu 38

2.2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Mô tả kết quả tư vấn dinh dưỡng đến sự thay đổi khẩu phần của trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi sau ngừng bổ sung pediasure 12 tháng tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 40

3.2 Xác định tình trạng dinh dưỡng và một số vi chất dinh dưỡng của trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi sau 12 tháng ngừng bổ sung Pediasure tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 52

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 64

4.1 Mô tả kết quả của tư vấn dinh dưỡng tới sự thay đổi khẩu phần của trẻ từ 42 đến dưới 60 tháng tuổi sau ngừng bổ sung Pediasure 12 tháng tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 65

4.2 Tình trạng dinh dưỡng và một số vi chất dinh dưỡng của trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi sau 12 tháng ngừng bổ sung Pediasure tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 72

KẾT LUẬN 82

KHUYẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu tại thời điểm ban đầu và sau 12

tháng theo giới và tháng tuổi 40Bảng 3.2 Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên nhóm thực phẩm giầu đạm ở

trẻ sau 12 tháng ngừng 41Bảng 3.3 Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên nhóm thực phẩm giầu glucid

ở trẻ 42Bảng 3.4 Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên nhóm thực phẩm giầu lipid

ở trẻ 42Bảng 3.5 Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên nhóm thực phẩm giầu

vitamin và chất khoáng ở trẻ 43Bảng 3.6 Giá trị năng lượng khẩu phần (Kcal/ngày) của trẻ theo giới tính,

nhóm tuổi ở 3 trường mầm non 44Bảng 3.7 Giá trị protein khẩu phần của trẻ 44Bảng 3.8 Giá trị protein khẩu phần g/ngày) của trẻ theo giới tính, nhóm tuổi 45Bảng 3.9 Giá trị lipid khẩu phần (g/ngày) của trẻ theo giới tính, nhóm tuổi 45Bảng 3.10 Giá trị glucid khẩu phần (g/ngày) của trẻ theo giới tính, nhóm

tuổi ở 3 trường mầm non 46Bảng 3.11 Tính cân đối giữa các chất sinh năng lượng khẩu phần của trẻ 47Bảng 3.12 Tỉ lệ trẻ đạt về nhu cầu các chất sinh năng lượng khẩu phần theo

nhóm tuổi 48Bảng 3.13 Tỉ lệ trẻ đạt về nhu cầu các chất sinh năng lượng khẩu phần theo

giới tính 49Bảng 3.14 Hàm lượng một số vitamin trong khẩu phần của trẻ 51Bảng 3.15 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại thời điểm ngừng bổ sung

Pediasure theo giới tính 52

Trang 8

Pediasure theo giới và nhóm tuổi 53Bảng 3.17 Giá trị trung bình các chỉ số Z-score của trẻ sau 12 tháng ngừng

Pediasure theo giới và nhóm tuổi, trường 54Bảng 3.18 Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi sau 12 tháng ngừng

Pediasure theo giới, nhóm tuổi, trường học 55Bảng 3.19 Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân sau 12 tháng ngừng

Pediasure theo giới, nhóm tuổi, trường học 56Bảng 3.20 Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể gầy còm sau 12 tháng ngừng

Pediasure theo giới, nhóm tuổi 57Bảng 3.21 Đặc điểm mắc thấp còi phối hợp với các thể suy dinh dưỡng khác

theo giới tính của trẻ sau 12 tháng ngừng Pediasure 58Bảng 3.22 Giá trị trung bình các chỉ số Z - score của trẻ theo các thể SDD 59Bảng 3.23 Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin ở trẻ theo giới ở thời

điểm ngừng Pediasure 59Bảng 3.24 Giá trị trung bình của các chỉ số hóa sinh ở trẻ sau 12 tháng

ngừng Pediasure theo giới 60Bảng 3.25 Giá trị trung bình các chỉ số hóa sinh ở trẻ sau 12 tháng ngừng

Pediasure theo nhóm tuổi 60Bảng 3.26 Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin ở trẻ sau 12 tháng

ngừng Pediasure theo giới 61Bảng 3.27 Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin ở trẻ sau 12 tháng

ngừng Pediasure theo nhóm tuổi 61Bảng 3.28 Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin ở trẻ sau 12 tháng

ngừng Pediasure theo trường học 62

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo địa bàn nghiên cứu 41Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ trẻ đạt về nhu cầu về năng lượng khẩu phần theo giới và

tháng tuổi 50Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ trẻ đạt về nhu cầu về một số chất khoáng trong khẩu phần 50Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của trẻ em tại thời điểm bắt đầu và

sau 12 tháng ngừng bổ sung Pediasure 58Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin ở trẻ tại thời điểm

bắt đầu và sau 12 tháng ngừng Pediasure 62

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng (SDD), thiếu vi chất dinh dưỡng, khẩu phần ăn không đảm bảo, ở trẻ em vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo ước tính có khoảng 178 triệu trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới ở các nước đang phát triển bị SDD thể thấp còi và 55 triệu trẻ SDD thể gầy còm [49] Việt Nam là một trong 36 quốc gia có tỷ lệ SDD cao nhất thế giới, đặc biệt là tỷ lệ SDD thấp còi Suy dinh dưỡng không chỉ làm chậm phát triển thể chất, trí tuệ, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, mà còn gây hậu quả lâu dài tác động tới tầm vóc người trưởng thành, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân [3], [31]

Hiện nay quá trình giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em tại các nước đang phát triển vẫn còn rất chậm [39], [44], [46] Ở nước ta trong những năm qua nhờ triển khai Chương trình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dưỡng chung ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể Tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi trong giai đoạn 2010-2015 thể nhẹ cân giảm từ 17,5% đến 14,1%, thể thấp còi giảm từ 29,3% xuống 24,6% Tuy nhiên, mức độ giảm xuống không đồng đều giữa các vùng, khu vực, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao và rất cao ở vùng miền núi cao, đồng bào dân tộc thiểu số Các khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ là những nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao hơn so với các vùng khác trên cả nước [33], [35]

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, kinh tế mới phát triển, vấn đề chăm sóc cho cộng đồng nói chung và trẻ em nói riêng ngày càng được quan tâm , tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu gần đây (2014) của Trần Quang Trung tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình cho thấy: Tỷ lệ mắc SDD thể thấp còi là 26,9%, tỷ lệ này cao hơn trung bình cả nước là 24,9% và tỉnh Thái Bình là 25,2% [28]

Trang 11

Các nghiên cứu cho thấy nguyên nhân của suy dinh dưỡng thấp còi là do khẩu phần không cung cấp đủ năng lượng và vi chất Sự thiếu hụt về vi chất dinh dưỡng hoàn toàn có thể phòng ngừa và thanh toán Có nhiều cách để thực hiện điều này như truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho người chăm sóc, tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm, bổ sung các sản phẩm dinh dưỡng đường uống Trong đó giải pháp bổ sung dinh dưỡng đường uống, từ bổ sung liều cao gián đoạn đến sử dụng hàng ngày là một trong những giải pháp đạt được hiệu quả nhanh nhất

Pediasure là một trong những sản phẩm dinh dưỡng đường uống cung cấp nguồn dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sử dụng cho trẻ trong nghiên cứu này, giúp trẻ nhanh chóng bắt kịp và tiếp tục đà tăng trưởng tối ưu cả về thể chất và trí tuệ Pediasure giúp trẻ có chỉ số phát triển cân nặng và chiều cao dưới chuẩn nhanh chóng phát triển bắt kịp và tiếp tục đà tăng trưởng Tuy nhiên, diễn biến tăng trưởng của trẻ sau khi ngừng bổ sung pediasura còn duy trì được hay không và có thể duy trì được bao lâu, đồng thời tìm ra các giải pháp duy trì hiệu quả tăng trưởng ổn định cho những trẻ can thiệp dinh dưỡng

trước đó Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và

kết quả tư vấn sau ngừng bổ sung dinh dưỡng đường uống cho trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải, Thái Bình”,

nhằm các mục tiêu:

1 Mô tả kết quả tư vấn dinh dưỡng tới sự thay đổi khẩu phần của trẻ từ

30 đến dưới 60 tháng tuổi sau ngừng bổ sung Pediasure12 tháng tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

2 Xác định tình trạng dinh dưỡng và một số vi chất dinh dưỡng của trẻ

từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi sau 12 tháng ngừng bổ sung Pediasure tại 3 trường mầm non huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi

1.1.1 Một số khái niệm về suy dinh dưỡng ở trẻ em

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo các chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động

Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: Thời kỳ

có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể [62]

Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ

lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh

Trang 13

dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, người

ta có thể sử dụng để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác [29]

Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, kèm theo đó là các bệnh nhiễm khuẩn Những nghiên cứu về tỷ lệ suy dinh dưỡng đã chỉ ra các nước thuộc châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á từ trước cho đến nay vẫn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao Không chỉ có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao mà còn có tỷ lệ tử vong cao nhất do bị suy dinh dưỡng [37], [41], [43], [55]

Mức độ thiếu dinh dưỡng protein năng lượng trung bình chung của cả nước đang ở ngưỡng ý nghĩa sức khỏe cộng đồng mức trung bình cho cả chỉ tiêu nhẹ cân và thấp còi Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi không chỉ là hậu quả của thiếu ăn và các bệnh nhiễm trùng, mà chính suy dinh dưỡng làm cho sức đề kháng kém, trẻ dễ mắc nhiễm trùng hơn, từ đó tạo ra vòng xoắn suy dinh dưỡng và nhiễm trùng ở trẻ [29]

Vi chất dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng, khi thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cơ thể Vi chất dinh dưỡng gồm nhóm các vitamin tan trong nước như vitamin B, C, nhóm vitamin tan trong dầu như vitamin A, E

K và nhóm các chất khoáng (canxi, phospho, sắt, kẽm, iod, selen, )

1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em

* Nguyên nhân suy dinh dƣỡng trẻ em

- Thiếu dinh dưỡng

Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân chiếm 60% suy dinh dưỡng ở trẻ em Thiếu dinh dưỡng có thể xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng tiêu

Trang 14

thụ dưỡng chất hoặc cả hai Giảm cung cấp chủ yếu là do chế độ ăn của trẻ không đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, thiếu năng lượng, protein cùng các VCDD, trong đó có sắt, axit folic, kẽm; trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu và thức ăn chế biến không phù hợp, năng lượng thấp Tăng tiêu thụ khi trẻ ốm, thất thoát chất dinh dưỡng do bệnh lý Trong đa số trường hợp, SDD xảy ra

do sự kết hợp của cả 2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào, vừa tăng năng lượng tiêu hao [17], [33], [47]

Trong thời kỳ 6 tháng đầu, trẻ em không được bú sữa mẹ hay sữa mẹ bị thiếu, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm, bộ máy tiêu hóa trẻ chưa thể hấp thu tốt được Thời kỳ khi được 6 tháng tuổi trở đi, trẻ ăn bổ sung với chế độ ăn không đảm bảo đủ năng lượng, protein Ăn quá kiêng khem trong thời gian trẻ

bị bệnh, nhất là khi bị ỉa chảy Nguyên nhân sâu xa là do bà mẹ thiếu kiến thức và hạn chế về thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Nghiên cứu của Lê Thị Hợp, Hà Huy Khôi thấy khi thiếu ăn tạm thời cơ thể tăng trưởng chậm lại nhưng tình trạng đó có thể được phục hồi khi ăn đầy đủ Tuy nhiên trong trường hợp dinh dưỡng không hợp lý kéo dài có thể cản trở quá trình phục hồi

đó Vì thế cần quan tâm đặc biệt đến dinh dưỡng trẻ em Theo WHO, UNICEF, khác biệt về sự phát triển của trẻ em đến năm tuổi có nhiều ảnh hưởng bởi dinh dưỡng, cách nuôi dưỡng, môi trường và chăm sóc sức khỏe hơn so với yếu tố di truyền hoặc dân tộc [64]

- Nhiễm trùng

Từ lâu, người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em, đặc biệt là tiêu chảy, nhiễm giun, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ Nhiều tác giả đã mô tả mối tác động qua lại giữa nhiễm trùng và SDD như một vòng xoắn bệnh lý Khi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, với sức đề kháng còn yếu, trẻ em dễ bị SDD do nhiễm trùng làm mất các chất dinh dưỡng và tác động gián tiếp làm trẻ em chán ăn [29], [30], [63]

Trang 15

Mặt khác, trẻ SDD có hệ thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc bệnh nhiễm trùng và hậu quả SDD ngày một nặng thêm SDD làm tăng khả năng nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu chảy và kéo dài thời gian tiêu chảy ở trẻ em Nghiên cứu của Dipti A D and Byrd-Williams C và cộng sự năm 2017 cho thấy SDD trẻ em liên quan đến 1 triệu ca viêm phổi, 8 trăm nghìn ca tiêu chảy hàng năm

ở các nước đang phát triển Tình hình nhiễm giun cũng là vấn đề sức khỏe cộng đồng nổi cộm với khoảng 2 tỷ người bị nhiễm các loại giun truyền qua đất (giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim), trong đó trẻ em dưới 5 tuổi chiếm từ 10-20% theo nghiên cứu của Leal K.K và cộng sự năm 2015 Nhiễm giun truyền qua đất là nhiễm trùng mạn tính ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần, thiếu máu thiếu sắt và giảm đáp ứng miễn dịch ở trẻ em bị nhiễm bệnh [42], [50]

Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun chung dao động rất lớn từ 17,0-97,0%, tùy theo lứa tuổi và vùng sinh thái, trong đó tỷ lệ nhiễm giun ở phụ nữ và trẻ

em vùng cư dân nông nghiệp rất cao Nghiên cứu của Phạm Trung Kiên, Hoàng Tân Dân ở trẻ em 3-60 tháng tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng, Hà Nam năm 1994 thấy tỷ lệ trẻ nhiễm giun chung 93,4%; nhiễm giun đũa 85,3%

và giun tóc 69,5% Điều tra của Đinh Đạo ở huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam năm 2014 thấy tỷ lệ trẻ nhiễm giun chung 31,6%; nhiễm giun đũa 24,6%; giun móc 6,5% và giun tóc 6,2% [8]

- Các nguyên nhân khác

Trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, hẹp phì đại môn vị, tim bẩm sinh, Langdon down, SDD bào thai, đẻ non Theo số liệu thống kê của WHO, nhiều nước ở khu vực châu Phi và châu Á có tỷ lệ sơ sinh thấp cân rất cao như: Mauritania 34,0%, Yemen 32%, Pakistan 32,0%, India 28,0%, Niger 27,0%, Haiti 25,0%, Comoros 25,0% Tại Việt Nam, tỷ lệ sơ sinh thấp cân năm 2012 là 7%, cao hơn khu vực Đông Nam Á (6%), nhưng thấp hơn nhiều

so với tỷ lệ chung của thế giới (15%) [32], [64]

Trang 16

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hồng và cộng sự, Phạm Thị Tâm đều thấy ở nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt có cân nặng sơ sinh cao hơn

có ý nghĩa so với nhóm trẻ SDD [13], [24]

 Các yếu tố liên quan suy dinh dƣỡng trẻ em

Nhờ các nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng, người ta đã tìm ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng SDDTE ở các nước đang phát triển, trong

đó có nước ta Đó là các yếu tố về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạng sức khỏe bệnh tật mẹ khi mang thai); yếu tố về hành vi, lối sống mà ở đây chủ yếu liên quan trực tiếp đến hành vi nuôi con của các bà mẹ như cho trẻ bú mẹ; ăn bổ sung; chăm sóc trẻ chưa đúng cách do rào cản của các tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường kiêng khem như kiêng nước, kiêng ăn lúc trẻ bị sởi; cúng bái khi trẻ ốm Các yếu tố liên quan khác như: điều kiện kinh tế xã hội thấp, đầu tư cho y tế còn hạn chế; dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh; sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, năng lực hoạt động của các cấp, các ngành; chất lượng dịch vụ y tế kém hiệu quả [32]

+ Nuôi con bằng sữa mẹ

UNICEF coi nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp hàng đầu bảo vệ sức khoẻ trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ Theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, đứa trẻ cần được bú mẹ trong vòng giờ đầu sau sinh

và giúp làm giảm nguy cơ SDD [12], [29]

Thống kê năm 2012 của WHO thấy có sự khác nhau rõ rệt giữa các nước về tỷ lệ trẻ bú mẹ trong vòng giờ đầu sau sinh: Cuba 70,0%, Mozambique 63,1%, Việt Nam 57,8%, Bangladesh 35,6%, Lào 29,8%, Yemen 29,6% Trong 6 tháng đầu, trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ

mà không cần thêm thức ăn nào khác Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu theo WHO, có sự khác biệt rất lớn ở nhiều nước trên thế giới như Rwanda 88%, Srilanka 76%, Peru 73,0%, Bolivia 60,0%; nhưng Nam Phi 7,0%, Thái Lan 5,0%, Bỉ 1,0% và ở Việt Nam là 19,6% [64]

Trang 17

Với trẻ dưới 12 tháng tuổi, sữa mẹ là thức ăn quí giá nhất mà không một thức ăn nhân tạo nào có thể so sánh được Nhiều nghiên cứu chỉ rõ tỉ lệ SDD và mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm trẻ mẹ bị thiếu sữa mẹ Nhiều nghiên cứu có nhận định là ở vùng nông thôn tình hình nuôi con bằng sữa mẹ luôn có xu hướng tích cực hơn so với ở thành thị, nhất là vùng nông thôn ở các nước đang phát triển Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên, nên bú kéo dài từ 18 đến 24 tháng tuổi và không nên quá 24 tháng Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi theo UNICEF

có sự khác biệt giữa các nước rất rõ: Nepal 95,0%, Benin 92,0%, Bangladesh 91,0%, Ethiopia 88,0%, Myanmar 67,0%, nhưng Jordan chỉ 11,0%, Bosnia 6,0% [64] Việt Nam có đến 93% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ Tỷ lệ bà mẹ Việt Nam cho con bú từ 18-24 tháng rất cao trong những năm gần đây cho thấy công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cùng với thực tiễn về lợi ích của sữa mẹ đã thay đổi căn bản thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở nhiều vùng miền trên cả nước [23], [33]

+ Nuôi con ăn bổ sung

Thời gian bắt đầu ăn bổ sung theo khuyến cáo chung là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi Trong một bữa ăn bổ sung hợp lý cho trẻ, cần có sự phối hợp đầy

đủ giữa 4 nhóm thực phẩm theo một tỷ lệ cân đối: Protein/Lipit/Gluxit

=1/1/4-5 cùng rau, củ, quả và tập cho trẻ thích nghi dần với từng loại thức ăn mới theo nguyên tắc từ ít đến nhiều; từ lỏng đến đặc Chất lượng bữa ăn có vai trò rất quan trọng đối với phát triển thể chất trẻ em [2], [23]

Nghiên cứu của WHO cho thấy những đứa trẻ bắt đầu ăn bổ sung thêm sữa hộp ngay trong tuần đầu, có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 3 lần và nguy

cơ nhập viện cao gấp 5 lần so với trẻ chỉ bú sữa mẹ; đối với trẻ cai sữa trong tuần đầu sau đẻ có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 5 lần và nguy cơ phải vào viện do tiêu chảy cao gấp 12 lần so với trẻ bình thường [64]

Trang 18

Nguyễn Thị Thanh Thuấn và cộng sự thấy trẻ ăn bổ sung không hợp lý

có nguy cơ SDD tăng 2,7- 4 lần Chu Trọng Trang nghiên cứu thấy có đến 69,3% trẻ ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi bị SDD và 61,5 % trẻ SDD do ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày Nhiều nghiên cứu khác đều khẳng định hậu quả của ăn bổ sung sớm đến tình trạng SDD, bệnh tật trẻ em Bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm là hiện trạng chung của nước ta [25], [27]

+ Cách chăm sóc trẻ

Nếu như việc cung cấp chất dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trong việc phát triển thể chất trẻ em, thì cách chăm sóc trẻ quyết định sự phát triển tinh thần và góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo phát triển thể chất trẻ

em toàn diện Trẻ em cần được chăm sóc chu đáo về vệ sinh; tiêm chủng mở rộng; theo dõi tăng trưởng; tình thương yêu; học hành và được chăm sóc dinh dưỡng đúng khi ốm như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp [35]

1.1.3 Hậu quả của suy dinh dưỡng do thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin

Mặc dù tất cả trẻ em đều có khả năng phát triển như nhau cho đến 5 tuổi, tình trạng thấp còi thường không được phát hiện do trẻ có chiều cao thấp được xem như bình thường và do những hậu quả nghiêm trọng của SDD thấp còi không được phổ biến rộng rãi Các hậu quả do SDD, đặc biệt là SDD thấp còi mang lại đó là: hậu quả về y tế và hậu quả về kinh tế, giáo dục

a Hậu quả về y tế

- Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, SDD làm giảm khả năng miễn dịch và tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng Những người trưởng thành từng bị thấp còi khi còn nhỏ thường có xu hướng mắc các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim và béo phì

- Trẻ dưới năm tuổi được sinh ra bởi các bà mẹ thuộc nhóm chiều cao thấp(dưới 145 cm) có nguy cơ tử vong cao, khoảng 40%

- Phụ nữ bị thấp còi thường có xu hướng sinh con nhỏ và nhẹ cân do đó tạo ra vòng luẩn quẩn của TTDD kém và đói nghèo Một đứa trẻ sinh ra bị

Trang 19

nhẹ cân thường cũng thấp hơn khi trưởng thành so với trẻ sinh ra không bị nhẹ cân

SDD gây ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe không chỉ ở hiện tại mà còn tác động đến cả các thế hệ sau này Các nguy cơ về sức khỏe gắn liền với tình trạng thấp còi bắt đầu từ khi lọt lòng và kéo dài trong suốt cuộc đời của trẻ và thường di truyền sang thế hệ tiếp theo Trong “Báo cáo dinh dưỡng là trọng tâm của sự phát triển”, có trích dẫn: “Con của các bà mẹ

bị SDD thấp còi hoặc nhẹ cân thường có xu hướng bị thấp còi hoặc nhẹ cân Bằng cách này, SDD được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một sự

kế thừa không mong muốn”

Trẻ bị chậm phát triển trong tử cung khi sinh ra sẽ có nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng như chậm phát triển trí tuệ và thần kinh và luôn trong tình trạng thiếu hụt chiều cao cho đến khi trưởng thành

SDD ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của bà mẹ và người trưởng thành Chậm tăng trưởng ở giai đoạn đầu đời không chỉ liên quan đến chiều cao thấp khi trưởng thành mà còn gây ra một số rối loạn chuyển hóa và các bệnh mạn tính ở người trưởng thành [35]

b Hậu quả về kinh tế - xã hội

SDD còn ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế-xã hội của cả một quốc gia Ngân hàng thế giới ước tính rằng: mất 1% chiều cao người trưởng thành do còi cọc ở trẻ em đồng nghĩa với việc giảm 1,4% năng suất kinh tế Còi cọc có thể làm giảm tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia lên đến 3%

SDD gây nhiều thiệt hại về kinh tế, kìm hãm sự phát triển của xã hội bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến giống nòi Ở những vùng có tỉ lệ SDD cao thường là các vùng có nền kinh tế chậm phát triển Ngân hàng thế giới đã ước tính SDD thấp còi ở nước ta làm giảm 5% GDP mỗi năm

Trang 20

c Suy dinh dưỡng hạn chế khả năng học tập và lao động

SDD có liên quan chặt chẽ với khả năng học hỏi và đóng góp xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân Trình độ học vấn thấp và khả năng phát triển nhận thức hạn chế Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên mắc các bệnh nhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà còn gây tổn thương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm quá trình phát triển nhận thức suy giảm nhận thức lâu dài Kết quả của nhóm nghiên cứu SDD bà

mẹ trẻ em cho thấy: SDD xảy ra trong 2 năm đầu đời có liên quan đến giảm

số năm đến trường (giảm đi 0,9 năm), chậm đi học và tăng nguy cơ bị đúp (16%) Nghiên cứu từ các nước đang phát triển khác cũng cho thấy: SDD xảy

ra trong khoảng 12 - 36 tháng tuổi thường đi kèm với khả năng nhận thức kém hơn cũng như thành tích học tập thấp hơn ở tuổi thiếu niên [35]

1.2 Tình hình SDD ở trẻ em hiện nay và một số yếu tố liên quan

tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn dao động trong mức 40,0%; trong khi đó châu Á có những chuyển biến mạnh mẽ, giảm đáng kể tỷ lệ SDD thấp còi từ 49,0% năm 1990 xuống còn 28,0% trong năm 2010 [38], [58] Tuy nhiên, ở đa số các nước đang phát triển, thấp còi vẫn còn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiện nay Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14 quốc gia trong đó nhiều quốc gia như Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar,

Trang 21

Banglades, Campuchia, Camarun, Etiopia có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi) Đến năm 2012 tỷ

lệ thấp còi chung toàn thế giới khoảng 25,0%; trong đó 56,0% ở Châu Á, 36,0% ở châu Phi [43], [45], [47], [51]

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới công bố tháng 5/2012 cho thấy trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân Theo báo cáo về tình hình an ninh lương thực thế giới năm 2016, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có giảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao Do đó, tình trạng này sẽ khó có khả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ giảm một nửa

tỷ lệ SDD tại các nước đang phát triển từ 20,0% vào năm 1990-1992 xuống còn 10,0% vào năm 2015 [64]

Trong khi 98,0% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang phát triển và chiếm đến 16,0% dân số thế giới thì tại từng khu vực cho thấy châu Á

là nơi tập trung chủ yếu của tình trạng SDD, đã tạo nên gánh nặng lớn về kinh

tế khi cải thiện tình trạng SDD tại khu vực này cũng như cản trở việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ thứ nhất [56]

Tại khu vực Đông Nam Á, tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi cũng tương tự: tỉ lệ SDD thấp còi năm 1990 là 58,6% giảm xuống 33,9% vào năm 2014; SDD nhẹ cân giảm từ 46,9% năm 1990 xuống 24,8% vào năm

2014 Báo cáo của WHO cho thấy, đến năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệu trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23,0% tổng số trẻ dưới 5 tuổi Nhiều bằng chứng cho thấy mặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn cao, nhưng tỉ lệ phân bố không đều ở các khu vực trên thế giới SDD thấp còi có mức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân Ở các nước đang phát triển, trẻ ở nông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần so với trẻ ở thành phố Chiều hướng giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng tương tự như với SDD nhẹ cân Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển là 26,8%

Trang 22

(2014), toàn thế giới là 22,5% (2013) Dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới tiếp tục giảm Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% năm 2000 xuống khoảng 16,3% năm 2020 Ở Châu Phi mức độ giảm ít hơn rất nhiều, từ 34,9% xuống còn 31,1% trong khoảng 20 năm tới [40], [48], [60], [61]

1.2.2 Tình hình SDD ở trẻ em tại Việt nam

Theo thống kê của Liên Hợp Quốc 80,0% trẻ bị SDD thấp còi trên thế giới tập trung ở 14 nước, trong đó có Việt Nam Hiện nay, tình trạng SDD tại Việt Nam phổ biến ở khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số [33]

Năm 2010, theo tổng điều tra dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi), trong đó SDD vừa (độ I) là 15,4%, SDD nặng (độ II) là 1,8% và SDD rất nặng (độ III)

là 0,3% 20/63 tỉnh, thành có mức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới) Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (SDD thể thấp còi) năm 2010 toàn quốc là 29,3%, trong đó xét theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới có đến 31 tỉnh tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất cao) Mức giảm trung bình SDD thấp còi trong 15 năm qua (1995-2010) là 1,3%/năm Tỷ lệ SDD thể gầy còm (cân/cao) là 7,1% Ước tính đến năm 2010, nước ta còn gần 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp còi và khoảng 520 ngàn trẻ

em SDD gày còm Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi 5,6% (ở thành phố 6,5%

và ở nông thôn 4,2%) Tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng So với năm

2000, tỷ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [31]

Năm 2014, điều tra trên toàn quốc trong khuôn khổ hoạt động giám sát dinh dưỡng hằng năm Số liệu điều tra thường được thu thập do Trung tâm Y

tế Dự phòng tỉnh tiến hành dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Viện Dinh dưỡng cho thấy Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 24,9%, nhẹ cân là 14,5% và

Trang 23

gày còm là 6,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 5,5% Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân ở trẻ trai cao hơn so với trẻ gái Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, không có sự khác biệt nào về tình trạng thấp còi, nhưng có một chút khác biệt

về tình trạng nhẹ cân và gầy còm [34]

Tỷ lệ thấp còi, nhẹ cân và gầy còm khác biệt tuỳ thuộc tỉnh thành điều tra Ở Đà Nẵng, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 14%, nhẹ cân là 3,9% và gày còm là 4%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 11%

Ở Hà Nội tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 15%, nhẹ cân là 6,1% và gày còm là 5,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 4,6% Ở Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 7,1%, nhẹ cân là 4,9% và gày còm là 2,6%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì

là 12,9% Tuy nhiên ở một số tỉnh thành lại cao hơn hẳn như ở Hà Giang, tỷ

lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 35,2%, nhẹ cân là 23,1% và gày còm

là 9,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 2,8% Ở Ninh Thuận

tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 27,3%, nhẹ cân là 18,9% và gày còm là 6,6%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 3,5% Ở Đắk Nông tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 33,3%, nhẹ cân là 22,1% và gày còm là 7,1%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 2% [34]

Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam đến năm

2014 cho thấy: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng Tại Đồng bằng sông Hồng tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 20,3%, nhẹ cân là 10,2% và gày còm là 5,2%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 4,7%.Vùng núi và cao nguyên phía Bắc tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 30,7%, nhẹ cân là 19,8% và gày còm là 8,2%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 3,9% Bắc miền Trung và ven biển miền Trung tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 28,1%, nhẹ cân là 17% và gày còm là 6,7%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo

Trang 24

phì là 4,7% Vùng Tây Nguyên tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 34,9%, nhẹ cân là 22,6% và gày còm là 7,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 3,5% Đông Nam Bộ tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 18,3%, nhẹ cân là 8,4% và gày còm là 5,4%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 10,5% Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 24%, nhẹ cân là 13% và gày còm là 6,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 5,6% [34]

SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở nông thôn (13,8%) cao hơn vùng thành thị (7,1%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (21,8%) cao hơn vùng thành thị (12,1%), tỷ lệ SDD gày còm của trẻ em ở vùng nông thôn (6,6%) cao hơn vùng thành thị (5,0%) [34]

Kết quả của tác giả Nguyễn Thanh Hà khi nghiên cứu về tình trạng đa

vi chất của trẻ từ 6-36 tháng tuổi SDD thấp còi tại huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh cho thấy, thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm trên trẻ SDD thấp còi đều ở mức nặng theo phân loại của WHO Trẻ bị SDD thấp còi có tỷ lệ thiếu

đa vi chất khá cao Có 37,6% số trẻ SDD thấp còi thiếu 1 loại vi chất, 23,5% trẻ thiếu 2 vi chất kết hợp và 8,2% tổng số trẻ SDD thấp còi thiếu kết hợp cả 3 loại vi chất [10]

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương trên nhóm đối tượng tại huyện Yên Thủy nhằm mục đích đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và tìm hiểu các yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi Kết quả cho thấy trong 400 trẻ tham gia nghiên cứu: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân, gầy còm lần lượt

là 52,2%; 23,5% và 6,9% [15] Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Dũng khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương kết quả: 710 trẻ < 36 tháng tuổi SDD thể nhẹ cân 42,7%, thể thấp còi 61,5%, thể gầy còm 5,6% [6] Lương Thị Thu Hà nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 2

Trang 25

xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ em trong nghiên cứu ở mức rất cao: Thể nhẹ cân (W/A) là 35,4%, thể thấp còi (H/W) là 41,5%, thể gầy còm (W/H) là 8,4% SDD mức độ nhẹ là chủ yếu gặp ở thể nhẹ cân, thấp còi: SDD độ I thể nhẹ cân là 29,6%, thể thấp còi là 27,5% Độ tuổi có tỷ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 13 - 48 tháng tuổi Ở thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD trẻ gái cao hơn trẻ trai, ở trẻ em người dân tộc thiểu số cao hơn trẻ em người kinh [9]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hồng, Lưu Thị Mỹ Thục về

tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi trung ương cho thấy suy dinh dưỡng ở nhóm tuổi 13-26 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất Có 130 trẻ bị suy dinh dưỡng trong 1000 trẻ nhập viện, thời gian điều trị kéo dài ở nhóm trẻ SDD vừa và nặng [13] Nghiên cứu của tác giả Chu Thị Phương Mai, Lương Tuấn Dũng và một số tác giả khác cũng cho các kết quả tương tự [7], [18], [26], [28]

1.2.3 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Thái Bình và huyện Tiền Hải

Thái Bình là tỉnh thuộc vùng đồng bằng, có nền kinh tế văn hóa đang ngày càng phát triển, vấn đề chăm sóc cho cộng đồng nói chung và trẻ em nói riêng ngày càng được quan tâm Đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng, đặc điểm khẩu phần của trẻ em dưới 5 tuổi được triển khai trên địa bàn tỉnh, góp phần giảm đáng kể tỉ lệ SDD của trẻ em trong tỉnh

Nghiên cứu của tác giả Ninh Thị Nhung tại 2 trường mầm non thuộc 2 xã/phường của Thành phố Thái Bình năm 2011 cho thấy: tỉ lệ SDD là 14,0% trong đó SDD độ I chiếm 94,3%, còn lại 5,7%, SDD độ II, không có SDD độ III SDD cao nhất ở nhóm tuổi 25 đến 36 tháng chiếm 16,5% Tỉ lệ còi cọc là 19,8%, tăng dần theo các nhóm tuổi Tỉ lệ gầy mòn là 7,4%, tỉ lệ thừa cân, béo phì là 2,6% Năng lượng khẩu phần không đạt so với nhu cầu đề nghị ở tất cả các nhóm tuổi ở cả 2 khu vực, tỉ lệ trẻ đạt nhu cầu về năng lượng chỉ có

Trang 26

15,6% Có trên 90% số trẻ đạt nhu cầu đề nghị về protid trong đó khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn [22]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thịnh tại xã Vũ Phúc Thành phố Thái Bình năm 2013 cho thấy: Tỉ lệ SDD cân nặng theo tuổi là 13,9% trong đó chủ yếu là SDD độ I chiếm 11,2%, còn 0,3% trẻ SDD độ III SDD thể nhẹ cân thấp nhất ở nhóm tuổi dưới 12 tháng Tỉ lệ còi cọc là 23,1%, tỉ lệ còi cọc có

xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi Tỉ lệ gầy mòn là 6,9%, ở trẻ nam là 7,4% lại cao hơn trẻ nữ là 6,5%, không có sự khác biệt về tỉ lệ SDD các thể theo giới Tỉ lệ thừa cân béo phì là 3,2%, ở trẻ nữ là 4% cao hơn trẻ nam là 2,5%, tập trung ở nhóm tuổi 49 - 60 tháng tuổi

Nghiên cứu gần đây của Trần Quang Trung năm 2014 về thực trạng SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình cho thấy; tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi phổ biến nhất là tỉ lệ mắc thể thấp còi (26,9%) rồi đến thể nhẹ cân (11,1%) và thấp nhất là thể gầy còm (4,5%), tỉ lệ SDD tăng lên theo tuổi, tăng nhanh từ nhóm 13 - 24 tháng và tỉ lệ cao nhất từ các nhóm trẻ trên 24 tháng [28]

Nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Cương khi khảo sát thực trạng suy dinh dưỡng và thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin, đặc điểm khẩu phần ở trẻ thấp còi từ 25 đến 48 tháng tuổi tại 3 xã, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tỉ lệ trẻ em thấp còi 25 - 48 tháng tuổi là 25,8%, trong đó trẻ thấp còi độ 1 chiếm 92,9%, độ 2 chiếm 7,1% Số trẻ mắc ít nhất một thể SDD chiếm 36,2% tiếp theo là thấp còi đơn thuần (17%), thể phối hợp (12,9%), thể nhẹ cân đơn thuần (3,3%), thừa cân béo phì (2,8%), thấp nhất là thể gầy còm đơn thuần (2%) Nồng độ kẽm huyết thanh, hemoglobin, albumin ở trẻ 25 - 48 tháng tuổi thấp còi là 10,1 ± 1,2 µmoL/L, 111,3 ± 9,2 g/L, 32,3 ± 3,1 g/L [4]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Chính khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng và hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm ở trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, cho thấy tỷ lệ SDD thấp

Trang 27

còi của trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi còn cao (26,2%), SDD thể nhẹ cân là 12,7%, SDD gầy còm là 4,2% và chỉ có 3% trẻ bị thừa cân, béo phì Trẻ nam

và nhóm trẻ 48 - <60 tháng tuổi có nguy cơ SDD cao hơn trẻ nữ và nhóm

36-47 tháng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tỷ lệ thiếu máu của trẻ cũng rất cao, tới 23,9% [5]

Theo báo cáo thống kê của VDD về tỉ lệ SDD thấp còi của tỉnh Thái Bình qua các năm 2000 - 2005 - 2010 - 2015 cho thấy: mức giảm lần lượt là; 34,2% - 27,9% - 26,7% - 25% Như vậy trong vòng 15 năm qua, mức giảm tỉ

lệ SDD thấp còi chậm chỉ đạt 9,2% tính trung bình mỗi năm giảm được 0,61% [34]

1.3 Các giải pháp can thiệp cải thiện tình trạng suy dinh dƣỡng ở trẻ em

1.3.1 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe

Truyền thông giáo dục dinh dưỡng là một trong những thành tố của chiến lược dinh dưỡng ở tất cả các quốc gia Mục tiêu của giáo dục dinh dưỡng nhằm cung cấp kiến thức, thay đổi hành vi, đưa ra một thực hành đúng, khoa học thay cho một thực hành sai lầm đang tồn tại Trong giáo dục phòng chống thiếu dinh dưỡng cho trẻ thì bà mẹ hoặc phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có vai trò đặc biệt quan trọng nhưng cũng cần mở rộng đến các nhóm đối tượng khác có ảnh hưởng lớn đến các đối tượng có nguy cơ

Giáo dục kiến thức dinh dưỡng và vệ sinh phòng bệnh trong nhà trẻ mẫu giáo và các bà mẹ sẽ có tác dụng rất lớn đến thực hành về ăn uống và thực hành phòng tránh bệnh tật đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm, do đó có tác dụng phòng tránh các bệnh về dinh dưỡng, nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh do điều kiện sinh hoạt và học tập [29], [30]

Kiểm tra giám sát thường xuyên các hoạt động thực hành vệ sinh và dinh dưỡng cũng sẽ giúp cho người nuôi dạy trẻ (cô giáo và người nuôi trẻ) làm đúng hơn tốt hơn và hiệu quả hơn trong việc nâng cao thể lực và giảm tỷ

lệ SDD và bệnh nhiễm trùng

Trang 28

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trong những yếu tố quan trọng liên quan với tình trạng SDD ở trẻ là kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà

mẹ, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục dinh dưỡng Khi bà mẹ thiếu kiến thức dẫn đến cho trẻ ăn bổ sung thiếu về chất lượng cũng như số lượng Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bệnh không thích hợp, ép trẻ ăn quá mức không cho trẻ ăn theo đáp ứng đều có thể làm cho trẻ SDD hoặc chán ăn kéo dài và dẫn đến SDD Điều này là cơ sở cho các khuyến nghị thiết kế các chương trình can thiệp phù hợp tại từng địa phương để tăng kiến thức, thực hành và thay đổi hành vi của bà mẹ Trong những năm qua một số can thiệp giáo dục dinh dưỡng đã được tiến hành tại một số địa phương, được đánh giá

có hiệu quả [19] Các chương trình này có thể chỉ là giáo dục dinh dưỡng, hoặc giáo dục dinh dưỡng kết hợp với cấp vốn nhỏ, tạo nguồn thực phẩm sẵn

có hoặc phát triển kinh tế hộ gia đình Thậm chí gần đây một nghiên cứu truyền thông cho người cha có nhóm đối chứng thực hiện tại Chí Linh, Hải Dương cho thấy giáo dục dinh dưỡng cho người cha trong vòng một năm bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp đã tăng kiến thức của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn so với nhóm chứng

1.3.2 Biện pháp can thiệp y tế tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em

Khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng, bệnh do thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng, cũng chính là giúp trẻ em phòng tránh được các biến chứng của bệnh, nâng cao tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và từ đó có tác dụng phòng chống các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh mạn tính không lây khác Bổ sung vi chất dinh dưỡng như: sắt, kẽm, vitamin A… giúp phục hồi dinh dưỡng và chống các bệnh nhiễm khuẩn Kết quả nghiên cứu bổ sung vi chất cho trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi của Gia Bình, Bắc Ninh cho thấy số ngày mắc bệnh trung bình, số lần mắc bệnh,

tỷ lệ mắc tiêu chảy trên 2 lần trong 6 tháng và tỷ lệ tiêu chảy kéo dài trên 3 ngày thấp hơn so với nhóm chứng

Trang 29

Các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng nếu không được khám điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ Một số nghiên cứu cho thấy thấy tác động tích luỹ của nhiễm khuẩn đường hô hấp kèm theo sốt đến nguy

cơ SDD thấp còi tương tự như tác động của tiêu chảy

Người ta đã thấy rằng khi trẻ tăng trưởng chậm trong khi mắc tiêu chảy và tăng nhanh hơn bình thường sau khi hồi phục (tăng trưởng bù) tuy nhiên mức độ tăng trưởng bù tuỳ thuộc vào độ tuổi và tình trạng dinh dưỡng ban đầu của trẻ, tác nhân gây bệnh cụ thể, khoảng thời gian nhiễm khuẩn và khoảng thời gian giữa các lần nhiễm khuẩn Trẻ không bị thấp còi tại thời điểm mắc bệnh thường đuổi kịp cân nặng trong vòng khoảng 3 tháng và đuổi kịp chiều cao trong vòng khoảng 6 tháng sau khi nhiễm khuẩn so với trẻ không bị mắc bệnh

1.3.3 Các giải pháp bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm

Hiện nay, đã có những giải pháp hiệu quả và giá thành hợp lý để khắc phục sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng, trong đó giải pháp bổ sung chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một giải pháp có hiệu quả và bền vững nhất Chương trình tăng cường vi chất vào những loại thực phẩm chủ yếu thành công sẽ đến được với mọi người, bao gồm cả những người nghèo, phụ nữ có thai, trẻ nhỏ và cả các đối tượng khác, mà các dịch vụ xã hội không thể bao phủ toàn bộ được Bên cạnh đó các nhóm đối tượng nguy cơ khác như những người có tuổi, bị bệnh tật và những người có khẩu phần ăn không cân đối cũng có thể tiếp cận được với các loại thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng

Bổ sung vi chất chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một can thiệp vào vấn đề dinh dưỡng đặc hiệu và đã biết rất rõ ràng về cơ chế sinh bệnh học của nó Như vậy, bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm thừa nhận chế

độ ăn hiện tại bị thiếu một số chất dinh dưỡng nhất định Việc tăng cường này sẽ làm cải thiện thiếu vi chất dinh dưỡng Ngân hàng thế giới đã tính toán mỗi đô la chi phí cho chương trình đều thu được lãi xuất rất nhiều qua

Trang 30

việc tăng tuổi thọ và giảm khả năng tàn phế Bổ sung thực phẩm cho lãi xuất

là 1,4 USD, giáo dục dinh dưỡng 32,3 USD, bổ sung viên nang vitamin A cho trẻ dưới 5 tuổi là 50 USD và tăng cường vi chất dinh dưỡng là 81,1 USD Như vậy tăng cường vi chất dinh dưỡng cho lãi suất cao nhất trong tất cả các loại đầu tư có thể tiến hành được Thực phẩm sử dụng để tăng cường vi chất dinh dưỡng bao gồm các “thực phẩm chính" như nước, muối, bột, dầu, mỡ và đường; các “thực phẩm cơ bản” như trứng, nước mắm, xì dầu, chè, các sản phẩm sữa, mì sợi, bánh mì, bánh bích qui, thức ăn cho trẻ em và các “thực phẩm gia giảm” như đồ uống, gia vị, kẹo

Các nghiên cứu bổ sung sắt vào thực phẩm cho thấy, việc bổ sung đã góp phần tăng vi chất dinh dưỡng vào khẩu phần ăn của trẻ em hàng ngày, đặc biệt là khi nhu cầu của trẻ cao và những trẻ mà chế độ ăn có chất lượng thấp đó có hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ Ở các nước đang phát triển bổ sung đa vi chất đặc biệt là sắt, kẽm giúp tăng trưởng, giảm nguy

cơ tử vong và các bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ như tiêu chảy, viêm phổi Hiện nay, người ta đã có nhiều hiểu biết về kỹ thuật tăng cường rõ ràng nên chiến lược này có khả năng thực thi Tăng cường vi chất vào thực phẩm được chấp nhận về mặt xã hội, không làm thay đổi tập quán ăn uống, không thay đổi tính chất của thực phẩm, đến tay người tiêu dùng nhanh chóng và có thể quản lý được về mặt pháp luật, có thể giám sát được dễ dàng, là một giải pháp an toàn và là một can thiệp có giá thành thấp nhất

1.4 Các nghiên cứu cải thiện tình trạng dinh dƣỡng và khẩu phần của trẻ

Trong những thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng

kể trong việc phòng chống suy dinh dưỡng Các nghiên cứu hiệu quả các sản phẩm dinh dưỡng cũng như bổ sung vi chất dinh dưỡng đã được chứng minh Tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn ở mức trung bình và có vùng vẫn ở mức cao so với thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới Theo kết quả điều tra giám sát dinh dưỡng năm 2014, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân

Trang 31

nặng/tuổi thấp) và tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi thấp) tương ứng là 14,5%; 24,9% Kết quả điều tra về vitamin A toàn quốc năm 2009-2010 cho thấy: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu máu dinh dưỡng (TMDD) là 29,2%, ở phụ nữ là có thai là 36,5% và ở phụ nữ tuổi sinh đẻ chung là 28,8% (Điều tra năm 2008) Thiếu vitamin A ở nước ta chủ yếu là thể tiền lâm sàng với tỷ lệ còn cao (14,2% ở trẻ em và vào khoảng 35% ở bà

mẹ đang cho con bú) (Điều tra năm 2008) Tỷ lệ bao phủ viên nang vitamin A trong nhóm đối tượng trẻ em được uống là 79,5% Tỷ lệ bà mẹ sau khi sinh con được uống vitamin A là 51,4% [31]

Dự án phòng chống suy dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2006-2010 đã được triển khai trên toàn quốc với nhiều can thiệp khác nhau bao gồm truyền thông giáo dục dinh dưỡng, phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng như vitamin A cho trẻ em từ 6-36 tháng tuổi, cung cấp viên sắt và viên đa vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai Thử nghiệm gói can thiệp toàn diện (tẩy giun, và sử dụng viên đa vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ tiền mang thai) đã được triển khai thí điểm tại một số huyện, phục hồi trẻ SDD ở một số ít vùng khó khăn, theo dõi tăng trưởng trẻ em, mở một số phòng tư vấn dinh dưỡng tại các cơ sở y tế tại 21 tỉnh Các chương trình hợp tác quốc tế cũng được đẩy mạnh trong các lĩnh vực nâng cao năng lực hoạt động cho cán bộ dinh dưỡng

ở các cấp và hỗ trợ cho chương trình cung cấp vitamin A Một số nghiên cứu đánh giá đã chứng minh được hiệu quả của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng đối với tình trạng dinh dưỡng của trẻ và KT-TH thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ tại các địa phương [31]

Tác giả Trần Thị Lan đã triển khai tẩy giun và bổ sung đa vi chất cho trẻ SDD thấp còi, cho thấy tẩy giun đơn thuần chưa có hiệu quả tăng cân nặng, tăng chiều cao và giảm tỷ lệ SDD ở trẻ Biện pháp bổ sung đa vi chất đã có tác dụng tăng cân nặng, chiều cao, giảm tỷ lệ thấp còi Và can thiệp cho trẻ dưới 24 tháng có tác dụng và hiệu quả tốt hơn so với trẻ trên

24 tháng tuổi [16]

Trang 32

Nghiên cứu can thiệp của tác giả Nguyễn Anh Vũ thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng trên đối tượng trẻ suy dinh dưỡng thấp còi để đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp bổ sung dinh dưỡng bằng sử dụng thực phẩm sẵn có tại địa phương cho các đối tượng trẻ 12-23 tháng tuổi đến việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ thấp còi thuộc 4 xã nghiên cứu huyện Tiên Lữ, Hải Dương cho thấy: trẻ ở nhóm can thiệp có kết quả tăng cân nặng, chiều cao, cải thiện các chỉ số Z-Score tốt hơn so với nhóm chứng Có sự cải thiện về tỷ lệ suy dinh dưỡng ở cả 3 thể: Nhóm can thiệp có mức giảm tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi, gày còm tương ứng là 20%, 55,4% và 4,7% sau

12 tháng can thiệp so với nhóm chứng là 7,7%; 34,9% và 5,1% Chỉ số hiệu quả của nhóm can thiệp cao hơn nhóm chứng: 76,6% so với 41,6% (SDD thể nhẹ cân); 55,4% so với 36,9% (SDD thể thấp còi); 75,8% so với 67,4% (SDD thể gầy còm); Hiệu quả can thiệp tương ứng là 35,0%; 18,5% và 8,4%

Có sự cải thiện hàm lượng Hb trung bình và tỷ lệ thiếu máu ở cả 2 nhóm sau can thiệp Có sự cải thiện hàm lượng độ retinol huyết thanh và tỷ lệ thiếu vitamin A của trẻ sau can thiệp [36]

Phạm Hoàng Hưng đã triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả truyền thông tích cực đến đa dạng hóa bữa ăn và TTDD bà mẹ trẻ em tại 2 xã huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, với thiết kế can thiệp cộng đồng, so sánh trước sau, có nhóm đối chứng Đối tượng là bà mẹ có con từ 6-24 tháng, bà

mẹ tuổi sinh đẻ 20-35, trẻ em 6-24 tháng Can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng được thực hiện trong 18 tháng với các hình thức phát tờ rơi, poster phòng chống thiếu máu, in những thông điệp chính về các biện pháp phòng chống thiếu máu, tập huấn cho CBYT, CTV dinh dưỡng và cán bộ hội phụ nữ, tổ chức hội thi tìm hiểu kiến thức tại các trường học khối phổ thông, hội thi vườn cây rau xanh do hội nông dân, hội phục nữ và CTV dinh dưỡng đảm nhiệm Kết quả nghiên cứu cho thấy KT-TH của bà mẹ tăng, tần suất tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật giàu sắt tăng lên có ý

Trang 33

nghĩa tại xã can thiệp Chỉ số đa dạng hóa nhóm và loại thực phẩm tăng, nồng độ Hb của trẻ tăng, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm [14]

Nguyễn Minh Tuấn đánh giá hiệu quả can thiệp tại Thái Nguyên Xã can thiệp được thử nghiệm các giải pháp huy động cộng đồng chăm sóc dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Sán Chay như đào tạo nâng cao năng lực CTV dinh dưỡng người Sán Chay, truyền thông dinh dưỡng có sự tham gia của cộng đồng và hướng dẫn thực hành chế biến bữa ăn bổ sung luân phiên tại hộ gia đình bằng thực phẩm sẵn có ở địa phương Kết quả cho thấy kiến thức của bà mẹ cải thiện rõ rệt Tỷ lệ SDD đã giảm ở cả 3 thể, giảm đáng kể

là SDD thể nhẹ cân, từ 41,6% xuống 32,1% và SDD độ II giảm từ 6,9% xuống 2,6%; khẩu phần của trẻ tăng về khối lượng và tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng trong khẩu phần cân đối

Các can thiệp tuyên truyền vào nhóm đối tượng đích là cán bộ y tế (CBYT), nhân viên tiếp cận cộng đồng được tiến hành ở một số nước cho thấy đã có hiệu quả thay đổi thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ Tại Tanzania, nghiên cứu can thiệp tập huấn cho CBYT tại tuyến y tế cơ sở về kỹ năng tư vấn cho thấy tăng tỷ lệ phát triển của trẻ trong nhóm can thiệp, với tác dụng lớn nhất quan sát thấy ở trẻ lứa tuổi từ 12 tháng trở lên Tại châu Phi nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của đào tạo cho nữ hộ sinh và y tá chăm sóc hậu sản định hướng quá trình tư vấn hỗ trợ các bà mẹ về việc cho con bú Kết quả cho thấy chương trình đào tạo liên quan với giảm số lượng trẻ sơ sinh sử dụng sản phẩm thay thế sữa mẹ trong 1 tuần đầu sau sinh và trì hoãn việc giới thiệu các sản phẩm thay thế sữa mẹ sau khi xuất viện [54], [59]

Tại Iraq, nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các tình nguyện viên cộng đồng trong việc thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại một khu vực có

tỷ lệ SDD cao Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu trong nhóm can thiệp cao hơn trong nhóm chứng 57,7% [44]

Trang 34

Nghiên cứu ở Nigeria, tình nguyện viên nữ tư vấn cho các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ qua thăm hộ gia đình Kết quả, tư vấn là một chiến lược hữu ích cho việc thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu [48] Tại Nam Phi chương trình cải thiện dinh dưỡng ở trẻ em do các bà sơ được đào tạo để tiến hành thăm hộ gia đình trong một năm, hỗ trợ bà mẹ giải quyết vấn đề về dinh dưỡng Kết quả sau 3 tháng, trẻ em trong điều kiện can thiệp

có nhiều khả năng phục hồi thể trạng (đạt tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi) hơn trẻ em trong nhóm chứng Hoạt động cộng tác viên (CTV) dinh dưỡng, được đào tạo bời các chuyên gia dinh dưỡng đồng thời với trợ giúp lương thực cũng có hiệu quả qua các nghiên cứu ở Nam Phi và Úc [59]

Các chương trình giáo dục sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng cho người nuôi dưỡng trẻ và cộng đồng đã được chứng minh có hiệu quả Bhutta và cộng sự đã thu thập các nghiên cứu can thiệp thử nghiệm có đối chứng từ các nguồn số liệu, các thư viện lưu trữ liên quan Kết quả phân tích cho thấy các chiến lược khuyến khích bú sữa mẹ có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tử vong của trẻ, nhưng ảnh hưởng đến tỷ lệ SDD thấp còi không nhiều Trong cộng đồng

có đầy đủ thức ăn, giáo dục về ăn bổ sung cho bà mẹ sẽ làm tăng chiều cao theo tuổi của trẻ với z-score là 0,25 (95% CI: 0,01-0,49) trong khi cung cấp thực phẩm bổ sung (có giáo dục hoặc không giáo dục bà mẹ) ở cộng đồng không có đủ thức ăn làm tăng chiều cao theo tuổi của trẻ với z-core 0,41 (95% CI: 0,05-0,76) [47]

Nghiên cứu của Pradhan P M and Dhital R đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ nhỏ dưới 36 tháng tuổi, với thiết kế đánh giá trước và sau can thiệp có nhóm đối chứng Các hoạt động can thiệp được thực hiện trong vòng 2 năm bao gồm vận động CBYT và cộng tác viên dinh dưỡng cung cấp dịch vụ, theo dõi sự tăng trưởng của trẻ và tư vấn cho bà mẹ có con nhỏ, khuyến khích thai phụ và bảo mẫu tìm kiếm dịch vụ y tế dự phòng như chăm sóc trước và sau khi sinh,

Trang 35

tiêm chủng, tẩy giun và bổ sung vi chất Kết quả can thiệp vận động cộng đồng và bà mẹ đã làm thay đổi đáng kể chiều hướng SDD ở trẻ so với quần thể tham chiếu Tỉ lệ chênh lệch SD của trẻ nhẹ cân ở các làng sau khi can thiệp là 0,83 (95% CI: 0,68-1,00) Tuy nhiên thông qua việc tổng hợp phân tích các can thiệp người ta thấy rằng, chỉ theo dõi cân nặng hay sự phát triển của trẻ đơn thuần sẽ không có hiệu quả trong việc làm giảm SDD ở trẻ [57]

Các nghiên cứu hiệu quả của các sản phẩm dinh dưỡng nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em đã được tiến hành: kết quả nghiên cứu sử dụng gói đa vi chất bổ sung cho trẻ thấp còi 6-36 tháng với liều kẽm và sắt đáp ứng 86% - 87% nhu cầu đề nghị đã cải thiện tình trạng dinh dưỡng (chiều cao, cân nặng), nồng độ hemoglobin, kẽm huyết thanh sau 6 tháng can thiệp Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của gói đa vi chất (có đạm đậu tương) lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi cho thấy: các chỉ số nhân trắc của trẻ sử dụng gói đa vi chất cao hơn so với nhóm chứng Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của gói đa vi chất giàu Lyzin cũng đã cải thiện các chỉ

số nhân trắc, nồng độ hemoglobin cũng như các chỉ số sinh hóa khác (kẽm và vitamin A huyết thanh)

Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng về vai trò của lợi khuẩn trong sữa chua men sống Probi cho thấy: trẻ uống sữa probi thường xuyên có lợi khuẩn

đã làm giảm tần xuất mắc bệnh tiêu hóa và hô hấp của trẻ Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự đã chứng minh được hiệu quả của gói đa vi chất và acid amin đã cải thiện nồng độ Hemoglobin, nồng độ kẽm huyết thanh

và tình trạng dự trữ sắt của cơ thể của trẻ thấp còi [19]

Bên cạnh những nghiên cứu tập trung vào đối tượng suy dinh dưỡng thấp còi thì việc cải thiện chỉ số cân nặng so với chiều cao cũng cần được quan tâm Chỉ số cân nặng theo chiều cao là chỉ số được sử dụng đánh giá tình trạng dinh dưỡng cấp tính của trẻ Khi trẻ giảm khẩu phần ăn (biếng ăn), rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp… thì chỉ số này sẽ giảm Nếu

Trang 36

tình trạng biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, nhiềm khuẩn kéo dài hoặc lập lại với tần xuất liên tục sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng mạn tính (chiều cao theo tuổi <-2Z-score: thấp còi)

Nghiên cứu gần đây của tác giả Phan Bích Nga và cộng sự khi bổ sung

đa vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng bào thai đã cho thấy hiệu quả trong sự tăng lên về cân nặng của trẻ (chênh lệch 300 gram so với nhóm chứng), và có sự khác biệt cao hơn ở nhóm can thiệp về chênh lệch trước và sau can thiệp của các chỉ số Zscore của WAZ và HAZ Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ suy dinh dưỡng bào thai cũng cho thấy các hiệu quả tốt trong cải thiện tình trạng hemoglobin, hàm lượng kẽm huyết thanh, retinol huyết thanh và giảm tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin A huyết thanh ở nhóm can thiệp sau 4 tháng bổ sung đa vi chất [21]

Nghiên cứu của Cao Thu Hương về sử dụng bột giàu năng lượng - đa vi chất phòng chống thiếu dinh dưỡng trẻ em 5 - 8 tháng tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên cho thấy: có hiệu quả rõ rệt tới tỷ lệ thiếu kẽm và thiếu vitamin

A, chỉ số zcore ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng Nghiên cứu của Lê Thị Hải năm 2012 về đánh giá hiệu quả của bột dinh dưỡng có bổ sung ĐVC cho trẻ từ 6-24 tháng tại hai xã huyện Kim Bôi, Hòa Bình cho kết quả rất tốt về cải thiện tình trạng thiếu máu của trẻ, giảm từ 42,1% xuống 10,5%, tỷ lệ SDD giảm từ 29,8% xuống 12,8% sau 3 tháng can thiệp

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện tại 3 trường mầm non của 3 xã Tây Tiến, Tây Lương và Tây phong của huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình là huyện: giáp huyện Kiến Xương về phía Tây; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ; phía Bắc giáp huyện Thái Thụy, ranh giới là sông Trà Lý; phía Nam giáp tỉnh Nam Định, ranh giới là sông Hồng Huyện Tiền Hải nằm giữa hai cửa biển Trà Lý và Ba Lạt của sông Hồng Huyện Tiền Hải có diện tích 226 km2, dân số 237.222 người (11/2015) huyện gồm 01 thị trấn Tiền Hải và 34 xã

100% các trạm y tế xã, thị trấn của huyện Tiền Hải đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020.Tổng số 35/35 trạm y tế xã, thị trấn

đã được trang bị máy vi tính và nối mạng Internet Đội ngũ cán bộ y tế xã, thị trấn đã đủ về số lượng, trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, sắp xếp đầy đủ theo các chức danh thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

Nhà trẻ của các xã trong huyện Tiền Hải được thành lập thành một trường riêng tập trung trong cả xã gồm nhiều lớp theo từng độ tuổi có cơ sở vật chất tương đối tốt và thu hút hầu hết các trẻ em trong độ tuổi đến học, đồng thời các trường đều tổ chức ăn bán trú cho trẻ

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Những trẻ từ 30 đến 48 tháng tuổi đã được bổ sung pediasure trong thời gian 6 tháng

- Bà mẹ của những trẻ đủ tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu

- Ban Giám hiệu và các cô nuôi dạy trẻ tại trường mầm non chọn vào nghiên cứu

Trang 38

- Cán bộ Y tế xã và các cộng tác viên Y tế tại xã có 3 trường mầm non chọn vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

- Những trẻ đã được bổ sung pediasure nhưng không tham gia đánh giá

kết quả sau 6 tháng bổ sung

- Những bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Từ 1/1/2017 đến 31/12/2017: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu và áp dụng các biện pháp can thiệp, đánh giá kết quả các biện pháp

- Từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018: sử lý số liệu viết báo cáo tổng và bảo vệ luận văn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp cộng đồng trong thời gian 12 tháng có so sánh trước sau cho những trẻ em từ 30 đến 48 tháng tuổi sau ngừng bổ sung pediasure

Trong thời gian 12 tháng trẻ ngừng sử dụng sản phẩm pediasure các bà

mẹ của trẻ được tư vấn trực tiếp về kiến thức, thực hành thay đổi khẩu phần cho trẻ dựa trên các khẩu phần ăn thực tế của trẻ nhằm:

Xác định tình trạng dinh dưỡng và một số vi chất của trẻ từ 30 đến dưới 60 tháng tuổi tại thời điểm ngừng bổ sung sản phẩm pediasure và sau 12 tháng tại điạ bàn nghiên cứu

Mô tả kết quả tư vấn dinh dưỡng cải thiện khẩu phần của trẻ từ 30 đến dưới

60 tháng tuổi trong thời gian 12 tháng ngừng bổ sung pediasure

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:

- Trẻ em: 121 trẻ từ 30 đến 48 tháng tuổi đã được bổ sung pediasure trong 6 tháng

- Bà mẹ: Chọn toàn bộ bà mẹ của 121 trẻ

Trang 39

- Cán bộ Y tế: toàn bộ cán bộ y tế xã và cộng tác viên của 3 xã có 3 trường mầm non

2.2.3 Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Lựa chọn đối tượng: Ngay sau khi xác định được các đối

tượng nghiên cứu, chúng tôi đã cử cộng tác viên đến từng hộ gia đình để trao đổi trực tiếp với mẹ (bố) của trẻ và mời tham gia nghiên cứu Nếu mẹ (bố) của trẻ đồng ý tham gia điều tra viên sẽ lập danh sách và gửi giấy mời về thời gian khám, tư vấn, lấy mẫu xét nghiệm, kết quả xét nghiệm tới gia đình có trẻ thuộc diện nghiên cứu

Bước 2: đánh giá trước can thiệp: Khám lâm sàng, cân đo nhân trắc,

xét nghiệm cho trẻ và phỏng vấn bà mẹ về khẩu phần của trẻ trong 24 giờ cũng như kiến thức chăm sóc dinh dưỡng phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trước khi áp dụng biện pháp can thiệp, được tổ chức ngay tại từng trường mầm non Các cộng tác viên phối hợp với các bà mẹ trực tiếp dẫn trẻ đến khám và quản lý chặt chẽ số lượng trẻ em

Bước 3: Tiến hành can thiệp

1 Họp với Ban Giám Hiệu và các cô giáo của 3 trường mầm non

- Họp với ban Giám Hiệu của 3 trường mầm non để thống nhất nội

dung triển khai

- Tập huấn các cô nuôi dạy trẻ của 3 trường mầm non về cách lựa chọn và chế biến thức ăn cho trẻ từ các thực phẩm và hải sản sẵn có của địa phương

- Xây dựng khẩu phần mẫu để các cô nuôi tham khảo thực hiện

2 Truyền thông tư vấn dinh dưỡng cho các bà mẹ

- Tổ chức họp các bà mẹ tại trường mầm non trẻ học để nói chuyện trực

tiếp về kiến thức, thực hành dinh dưỡng cho trẻ dựa trên các khẩu phần ăn thực tế của trẻ (1 tháng/lần)

Trang 40

- Xây dựng các khẩu phần mẫu chuyển đến các bà mẹ khuyến cáo các

bà mẹ thực hiện Tập trung truyền thông về cách lựa chọn và chế biến thức ăn cho trẻ từ các thực phẩm và hải sản sẵn có của địa phương

- Xây dựng ô dinh dưỡng, mô hình vườn ao chuồng với một số cây con giàu chất dinh dưỡng, ao cá nếu có, chăn nuôi gà ngan vịt tại các hộ gia đình làm

mô hình truyền thông và đưa vào cải thiện bữa ăn cho trẻ em nhất là các thực phẩm giàu các vi chất dinh dưỡng giúp cho trẻ phục hồi SDD thể thấp còi (Phụ lục hình ảnh góc và tranh truyền thông)

- Xây dựng các tin/bài tuyên truyền trên hệ thống loa phát thanh tại các thôn/xóm

- Cung cấp tài liệu, tờ rơi về hướng dẫn đảm bảo an ninh lương thực, đa dạng hóa sản phẩm tại hộ gia đình

- Khuyến khích sản xuất và sử dụng thực phẩm sẵn có tại hộ gia đình đưa vào bữa ăn của trẻ…

3 Cộng tác viên dinh dƣỡng:

Phân công mỗi cộng tác viên phụ trách 5 bà mẹ Mỗi cộng tác viên đến từng hộ gia đình để trao đổi trực tiếp với mẹ của trẻ và giải đáp các thắc mắc của bà mẹ

Bước 4: đánh giá sau can thiệp: Sau 12 tháng tổ chức đánh giá lại

TTDD, các xét nghiệm sinh hóa và điều tra khẩu phần của trẻ, kiến thức dinh dưỡng của bà mẹ

2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

- Đặc điểm khẩu phần ăn của trẻ trước và sau tư vấn theo nhóm tuổi, giới

- Tỷ lệ trẻ đạt nhu cầu về năng lượng, các chất sinh năng lượng theo tuổi, giới trước và sau tư vấn

- Tỷ lệ trẻ đạt nhu cầu về vitamin và chất khoáng theo tuổi, giới trước

và sau tư vấn

Ngày đăng: 30/08/2019, 23:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w