1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng, chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh thái bình

99 247 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ mắc có thể từ 20% cho đến trên 90%.Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đã cho thấy suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện đang là một vấn đề phổ biến và nếu không được phát hiện sớm và can

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ THỊ DUNG

THỰC TRẠNG, CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Dinh dưỡng

Mã số: 8720401

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS Phan Hướng Dương

TS Phạm Thị Dung

THÁI BÌNH - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ THỊ DUNG

THỰC TRẠNG, CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Thái Bình - 2019

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn thành viên trong Ban Giám đốc, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, khoa Nội Thần kinh, khoa Dinh dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã nhiệt tình giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm giúp tôi trong thời gian học tập và triển khai nghiên cứu hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn ân tình nhất tới gia đình, người thân, bạn bè của tôi là nguồn động viên lớn giúp tôi hoàn thành luận văn

Thái Bình, ngày 29 tháng 5 năm 2019

Tác giả

Vũ Thị Dung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Vũ Thi Dung, học viên khóa 2017 - 2019 trình độ Cao học, chuyên ngành Dinh dưỡng, của Trường Đại học Y Dược Thái Bình xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của:

TS Phan Hướng Dương

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên

Thái Bình, ngày 29 tháng 5 năm 2019

Tác giả

Vũ Thị Dung

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BMI (Body Mass Index)

CED (Chronic Energy Deficiency)

: Trung học phổ thông : Tình trạng dinh dưỡng : Subjective Global Assessment (Đánh giá tổng thể chủ quan) : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm chung và công cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng 3

1.1.1 Một số khái niệm chung 3

1.1.2 Một số kỹ thuật sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân tại bệnh viện 4

1.1.3 Bệnh tai biến mạch máu não 8

1.2 Tình hình dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện 11

1.3 Chế độ chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân trong bệnh viện 18

CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 24

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.2.3 Các chỉ số, biến số và tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu 27

2.2.4 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 27

2.2.5.Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 30

2.2.6 Phân tích xử lý số liệu khống chế sai số 32

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 32

CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình 34

Trang 7

3.2 Thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình 42

CHƯƠNG 4:BÀN LUẬN 50

4.1 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình 50 4.2 Thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình 62

KẾT LUẬN 71 KHUYẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm về giới tính và nhóm tuổi của bệnh nhân 34

Bảng 3.2 Thông tin về trình độ học vấn và nghề nghiệp của bệnh nhân 34

Bảng 3.3 Thông tin về thói quen ăn uống của bệnh nhân 35

Bảng 3.4 Sự thay đổi cân nặng của bệnh nhân trong 3 tháng qua 36

Bảng 3.5 Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của bệnh nhân theo giới tính và nhóm tuổi 36

Bảng 3.6 Giá trị trung bình BMI của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới tính 37

Bảng 3.7 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bê ̣nh nhân theo giới tính dựa vào BMI 38

Bảng 3.8 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bê ̣nh nhân theo nhóm tuổi dựa vào BMI 38

Bảng 3.9 Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân đánh giá bằng phương pháp MNA phân theo giới 39

Bảng 3.10 Tình trạng dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân đánh giá bằng phương pháp MNA phân theo nhóm tuổi 40

Bảng 3.11 Giá trị trung bình một số chỉ số xét nghiệm hóa sinh 41

Bảng 3.12 Mức độ giảm Albumin huyết thanh của bệnh nhân 41

Bảng 3.13 Tỷ lệ bệnh nhân được kiểm tra các chỉ số nhân trắc 42

Bảng 3.14 Tỷ lệ bệnh nhân được thực hiện các hoạt động đánh giá tình trạng dinh dưỡng 42

Bảng 3.15 Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định, giải thích chế độ ăn 43

Bảng 3.16 Thông tin về giới tính và nhóm tuổi của người chăm sóc bệnh nhân 44

Bảng 3.17 Thông tin về trình độ học vấn của người chăm sóc bệnh nhân 44

Trang 9

Bảng 3.18 Người phụ trách chính việc ăn uốngcủa bệnh nhân tại viện 45 Bảng 3.19 Chế độ ăn thực tế và nguồn cung cấp thông tin về chế độ ăn cho

bệnh nhân 45 Bảng 3.20 Địa điểm cung cấp thức ăn cho bệnh nhân 46 Bảng 3.21 Ý kiến của người nhà bệnh nhân về vấn đề tư vấn dinh dưỡng của

cán bộ y tế 46 Bảng 3.22 Thái độ của người chăm sóc bệnh nhân với sự tư vấn dinh dưỡng

của cán bộ y tế 47 Bảng 3.23 Tỷ lệ bệnh nhân thực hiện theo sự tư vấn dinh dưỡng của cán bộ

y tế 48 Bảng 3.24 Đánh giá của người chăm sóc về khả năng bệnh nhân thực hiện

theo sự tư vấn dinh dưỡng của cán bộ y tế 49

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng với suất ăn được cung cấp 43 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn về việc ăn uống ngoài giờ 47 Biểu đồ 3.3 Đánh giá của người chăm sóc bệnh nhân đối với sự tư vấn dinh

dưỡng của cán bộ y tế 48

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu nãolà một trong các bệnh lý mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng Bệnh gặp phổ biến ở người cao tuổi và là bệnh lý cấp cứu hay gặp nhất của chuyên khoa thần kinh Theo thống kê của Hội Phòng chống tai biến mạch máu não tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc mới tai biến mạch máu não Bệnh có tỷ lệ tử vong, di chứng và gây tàn phế hàng đầu cho người cao tuổi

Hiện nay, Việt Nam đang trong bối cảnh già hóa dân số, các bệnh mạn tính không lây nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng đang gia tăng nhanh chóng và là một trong những gánh nặng cho công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi [12] Theo tiến trình lão hóa, một số các cơ quan và các

mô ở người cao tuổi suy giảm chức năng đáng kể, bộ máy tiêu hóa giảm số lượng các tế bào hấp thu kèm theo giảm nhu động ruột, giảm lượng máu tuần hoàn đến ruột dẫn đến việc hấp thu trở nên khó khăn và chậm chạp hơn [43]

Do đó, nguy cơ suy dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này thường cao hơn hơn so với các nhóm bệnh nhân khác Trong khi đó, suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện là một vấn đề khá phổ biến ở cả các quốc gia đang phát triển và đã phát triển trên thế giới Tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng dao động tùy theo các quốc gia và các loại bệnh lý[41],[50] Tỷ lệ mắc có thể từ 20% cho đến trên 90%.Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đã cho thấy suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện đang là một vấn đề phổ biến và nếu không được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời thì tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tiếp tục suy giảm Đây chính là một trong những yếu tố góp phần gia tăng thêm nhiều nguy cơ cho người bệnh như nhiễm trùng, loét tỳ đè, thời gian nằm viện kéo dài, tăng nguy cơ tử vong, tái nhập viện và giảm chất lượng cuộc sống

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc chăm sóc sinh dưỡng tốt giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, kết quả điều trị, cải thiện chi

Trang 12

phí điều trị, quá tải và nằm ghép trong bệnh viện[56] Đối với bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, ngoài các vấn đề dinh dưỡng thường thấy như ở các nhóm đối tượng khác thì vấn đề khó khăn trong ăn uống đường miệng (do liệt, nuốt khó…) là khá phổ biến gâyảnh hưởng tới việc cung cấp dinh dưỡng cho bệnh nhân[34],[51] Vì vậy, việc thực hiện các can thiệp chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân trong khi nằm viện là rất cần thiết để hỗ trợ quá trình điều trị và hồi phục bệnh tốt hơn

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ năm 2014, khoa Dinhdưỡng của bệnh viện được khôi phục, phát triển hệ thống dinh dưỡng lâm sàng, tiết chế trong bệnh viện, chịu trách nhiệm chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh

và dần hoàn thiện các hoạt động đầy đủ theo Thông tư 08/2011/TT-BYT của

Bộ Y tế Khoa Nội Thần kinh của bệnh viện là một trong những khoa lớn, có lưu lượng bệnh nhân đông Riêngbệnh nhân tai biến mạch máu não mỗi năm

có khoảng gần 1.000 người bệnh nhập điều trị

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng, chăm sóc

dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình” với hai mục tiêu sau:

1 Đánh giátình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tai biến mạch máu nãotại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, năm 2018 - 2019

2 Mô tả thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, năm

2018 - 2019

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm chung và công cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1.1 Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là một trạng thái mất cân bằng (thiếu hoặc thừa) về năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác gây ra những hậu quả bất lợi đến cấu trúc, chức phận cơ thể và gây ra bệnh tật[35]

Hội chuyển hóa và dinh dưỡng lâm sàng Châu Âu (ESPEN) đã đề xuất định nghĩa suy dinh dưỡng cho bệnh nhân như sau: “Suy dinh dưỡng là một tình trạng thiếu cung cấp hay hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làm giảm chức năng

về tinh thần, thể chất và suy giảm kết quả điều trị bệnh”[35]

hệ thống bao gồm các nội dung:

- Tiền sử: dinh dưỡng, chế độ ăn, tiền sử về quá trình điều trị

- Tìm hiểu về khẩu phần dinh dưỡng, thói quen ăn uống

- Đo chỉ số nhân trắc, đánh giá tình trạng dự trữ năng lượng cơ thể

- Thăm khám lâm sàng phát hiện các triệu chứng thiếu dinh dưỡng

- Các chỉ số xét nghiệm về sinh hóa, huyết học, chẩn đoán hình ảnh, thực hiện các đánh giá chức năng

1.1.1.3 Chăm sóc dinh dưỡng

Chăm sóc dinh dưỡng là một nhóm các hoạt động khácnhau nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và chăm sóc dinh dưỡng cần thiết của người bệnh

Trang 14

Quá trình chăm sóc dinh dưỡng bao gồm những bước tuần tự như sau:

- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phân tích số liệu/thông tin để nhận biết các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng

- Chẩn đoán dinh dưỡng được cán bộ dinh dưỡng tiết chế đưa ra để xác định vấn đề dinh dưỡng

- Các can thiệp dinh dưỡng là một loạt các hoạt động và sản phẩm đặc hiệu nhằm giải quyết vấn đề dinh dưỡng cho người bệnh

- Theo dõi và đánh giá kết quả quá trình chăm sóc dinh dưỡng Khi cần phải điều chỉnh mục tiêu và các can thiệp sao cho phù hợp

Trong bệnh viện, kiểm tra tình trạng dinh dưỡng cần được thực hiện nhiều lần trong quá trình bệnh nhân nằm viện vì nguy cơ của vấn đề dinh dưỡng tăng lên khi bệnh nhân nằm viện dài ngày

1.1.2 Một số kỹ thuật sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân tại bệnh viện

1.1.2.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số nhân trắc

Phương pháp nhân trắc học đánh giá các thay đổi về giải phẫu học có liên quan đến thay đổi về tình trạng dinh dưỡng

Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là:

- Đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn

- Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển

- Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng

Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như:

- Không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡngtrong giai đoạn ngắn

- Không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu

+ Cân nặng là thông số được sử dụng thường xuyên nhất trong thực hành lâm sàng Các thay đổi ngắn hạn phản ánh sự cân bằng dịch Các thay

Trang 15

đổi dài hạn phản ánh sự thay đổi toàn bộ trong khối mô nhưng không cung cấp được thông tin về sự thay đổi thành phần cấu tạo các mô Một sự giảm cân không chủ ý trong vòng 3 - 6 tháng qua là một chỉ số có giá trị cho tình trạng thiếu dinh dưỡng với mức độ nhẹ nếu giảm < 5% trọng lượng cơ thể và mức độ nặng nếu giảm từ 10 - 15% Ngay cả trường hợp bệnh nhân có chỉ số BMI bình thường, thậm chí là bệnh nhân béo phì nhưng có giảm cân không chủ ý vẫn có thể bị coi là suy dinh dưỡng

Trong các trường hợp đặc biệt không thể xác định được cân nặng của bệnh nhân, người ta có thể sử dụng công thức ước tính gián tiếp thông qua một

số chỉ số như: Tuổi, giới tính, vòng cánh tay, vòng đùi, vòng bụng, …

+Chiều cao đứng: Có thể đo bằng thước đo chiều cao riêng biệt hoặc loại gắn trên tường

+Chỉ số BMI (Body Max Index): Là số đo gầy hoặc béo, tốt hơn so với cân nặng đơn thuần, đây là cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng đơn giản, nó

là một phần không thể thiếu trong các công cụ sàng lọc dinh dưỡng Chỉ số BMI được tính theo cân nặng (kg) và chiều cao (m) bởi công thức:

Cách tính: BMI = 𝑐â𝑛 𝑛ặ𝑛𝑔

(𝑐ℎ𝑖ề𝑢 𝑐𝑎𝑜 ) 2

1.1.2.2 Phương pháp điều tra tiêu thụ lương thực, thực phẩm

a, Phương pháp hỏi ghi 24 giờ

* Thuận lợi của phương pháp:

- Là một phương pháp được dùng để thu thập thông tin về số lượng lương thực thực phẩm được sử dụng trong 24 giờ qua mà không cần cân đong

- Phương pháp đơn giản, nhanh, rẻ tiền, áp dụng rộng rãi, được thực hiện nhẹ nhàng trên đối tượng nghiên cứu nên đạt hiệu quả hợp tác cao

* Hạn chế của phương pháp:

- Hiện tượng “trung bình hóa khẩu phần” có thể xảy ra ngay do chính điều tra viên điều chỉnh khi phỏng vấn (mang tính chủ quan)

Trang 16

- Đối tượng có thể có thể cung cấp thông tin không chính xác: do quên vô

ý với thực phẩm không được tiêu thụ thường xuyên, nói quá với khẩu phần ít và nói giảm với khẩu phần nhiều; Không thể áp dụng cho người có trí nhớ kém

b, Phương pháp nhớ lại 24 giờ qua nhiều lần

* Thuận lợi của phương pháp:

- Nếu chọn mẫu ngẫu nhiên và đại diện thì có thể cho kết quả đánh giá mức độ tiêu thụ lương thực thực phẩm khá chính xác

- Phương pháp này có kỹ thuật tiến hành tương tự phương pháp hỏi ghi

24 giờ, được các chuyên gia tin dùng

* Hạn chế của phương pháp:

- Mức độ chính xác của phương pháp phụ thuộc số ngày điều tra, các chất dinh dưỡng cần nghiên cứu ở quần thể nào

- Tốn kém nhân lực và thời gian

1.1.2.3 Phương pháp dựa vào các chỉ số hóa sinh

Một số chỉ số hoá sinh sau đây thường được áp dụng:

a, Protein huyết thanh tổng số: Là chỉ tiêu đánh giá tình trạng protein

huyết thanh <6,5 g/dl được coi là protein huyết thanh thấp Chỉ tiêu này không nhạy vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng: Protein khẩu phần; chuyển hóa thay đổi trong các trường hợp chấn thương, căng thẳng tâm lý, nhiễm khuẩn, giảm oxy thở vào; thiếu protein huyết tương do mất protein; giảm tổng hợp protein; có thai; sự thay đổi tính thấm mao mạch; thuốc; luyện tập quá mức

b, Hemoglobin

Một loại protein do globin kết hợp với Hemoglobin có chứa sắt tạo thành Hemoglobin tồn tại trong hồng cầu, theo máu chảy khắp toàn thân, vận chuyển oxy đến các tổ chức và cơ quan, và thải Cacbonđioxit được sản sinh ra qua trao đổi chất ra ngoài cơ thể theo đường hô hấp ở phổi Khi thiếu máu, số lượng hồng cầu và nồng độ Hemoglobin cũng giảm

Trang 17

c, Albumin huyết thanh: Là chỉ tiêu đánh giá nồng độ Albumin huyết

thanh, Albumin <3,5 g/dl được coi là Albumin huyết thanh thấp

Chỉ tiêu này không nhạy để đánh giá sự thay đổi ngắn hạn về tình trạng protein do: Thời gian bán hủy dài từ 14 đến 20 ngày và Albumin huyết thanh đều được bù rất lớn bởi giảm dị hóa Tái phân bố Albumin từ ngoại bào vào nội bào

1.1.2.4 Phương pháp sử dụng công cụ sàng lọc suy dinh dưỡng phổ cập

Công cụ sàng lọc suy dinh dưỡng phổ cập (MUST) được sử dụng cho tất cả các đối tượng bệnh nhân, dựa trên các bằng chứng để xác định đối tượng có nguy cơ dinh dưỡng, cấu thành bởi năm bước:

- Bước 1: Cân và đo chiều cao để tính toán BMI Nếu không thể đo chiều cao và cân nặng có thể thay thế bằng đo vòng cánh tay (MUAC) để ước tính BMI Nếu MUAC < 23,5 cm thì BMI < 20; nếu MUAC > 32 cm thì BMI > 30

- Bước 2: Ghi nhận tỷ lệ giảm cân không mong muốn và cho điểm mức

độ giảm cân

- Bước 3: Tính điểm cho các bệnh cấp tính

- Bước 4: Cộng điểm ba bước đầu để xác định nguy cơ chung

- Bước 5: Xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp

1.1.2.5 Phương pháp SGA

Là phương pháp đánh giá dinh dưỡng chủ quan (Subjective Global Assessment of nutritional status), thường được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện trong vòng 48 giờ

- Bộ công cụ SGA áp dụng cho người dưới 65 tuổi

- SGA là công cụ lâm sàng có độ lặp lại cao, phân loại bệnh nhân không dựa vào sự phối hợp các chỉ số đánh giá mà hoàn toàn dựa vào nhận định chủ quan của nhà lâm sàng, là công cụ đánh giá dinh dưỡng không tốn kém, nhạy, tin cậy và đặc hiệu

Trang 18

- SGA là một kỹ thuật lâm sàng đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào: thay đổi cân nặng, thay đổi khẩu phần ăn, các triệu chứng dạ dày ruột kéo dài trên 2 tuần, thay đổi chức năng vận động, các bệnh mắc phải và ảnh hưởng của stress chuyển hóa, các dấu hiệu lâm sàng dinh dưỡng

- Bệnh nhân được đánh giá phân theo ba loại: dinh dưỡng tốt (9 - 12 điểm), nghi ngờ suy dinh dưỡng (4 - 8 điểm), suy dinh dưỡng nặng (0 - 3 điểm)

1.1.2.6 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu

Nguy cơ dinh dưỡng được đo bằngMNA (Mini Nutritional Assessment)

có liên quan đến tình trạng khuyết tật trong hoạt động cơ bản sinh hoạt hàng ngày ở người lớn tuổi, trong khi tình trạng dinh dưỡng được đo bằng số khối

cơ thể - BMI hoặc chu vi vòng eo thì khôngliên quan Vì vậy, công cụ MNAđược xây dựng nhằm đánh giá nhanh nguy cơ suy dinh dưỡng cho bệnh nhân trên 65 tuổi

Công cụ MNA gồm 2 phần là phần sàng lọc và phần đánh giá Bệnh nhân được coi là có nguy cơ suy dinh dưỡng khi có tổng điểm từ 17 - 23,5 điểm Khi tổng điểm đánh giá dưới 17, bệnh nhân được chẩn đoán là có suy dinh dưỡng

1.1.3 Bệnh tai biến mạch máu não

1.1.3.1 Các khái niệm

a, Định nghĩa

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là các thiếu sót thần kinh với các triệu chứng khu trú hơn là lan toả xảy ra đột ngột do mạch máu não (động mạch, mao mạch và hiếm hơn là tĩnh mạch) bị vỡ hoặc tắc mà không do các chấn thương sọ não[4]

Trang 19

b, Phân loại

TBMMN gồm hai thể chính:

- Nhồi máu não

- Xuất huyết não

c, Các thể tai biến

Nhồi máu não

- Nguyên nhân nhồi máu não: do tắc mạch, co mạch, lấp mạch

- Nhồi máu não gồm:

+ Thiếu máu não biểu hiện bởi cơn thiếu máu não cục bộ và toàn thể + Xuất huyết nội sọ có nguyên nhân đa dạng như tăng huyết áp, vỡ túi phồng động mạch, các bệnh gây chảy máu …Biểu hiện: nhức đầu dữ dội, nôn

và rối loạn ý thức, rối loạn thực vật nặng nề, liệt nửa người nặng, liệt mềm

Xuất huyết não: xảy ra khi máu thoát ra khỏi mạch vỡ vào nhu mô não gọi là xuất huyết nội não, vào khoang dưới nhện gọi là xuất huyết dưới nhện; còn phối hợp hai loại trên gọi là xuất huyết não màng não

1.1.3.2 Tỷ lệ mắc bệnh

Hiện nay trên thế giới tỷ lệ người mắc đột quỵ ngày càng gia tăng.Theo một báo cáo tại Hàn Quốc, mỗi năm có khoảng 105.000 người trải qua một cơn đột quỵ mới hoặc tái phát và hơn 26.000 người tử vong vì đột quỵ.Đột quỵ chiếm khoảng 1/10 các trường hợp tử vong.Tỷ lệ đột quỵ ước tính là khoảng 795.000 ở những người trong độ tuổi ≥ 30 tuổi Tổng chi phí cho chăm sóc đột quỵ là 3.737 tỷ won (3,3 tỷ USD) vào năm 2005[46]

Theo một nghiên cứu ở Mexico được công bố năm 2015 tỷ lệ này là 232,2/100.000 người dân; trong đó tỷ lệ bệnh ở người từ 60 tuổi trở lên là

Trang 20

18,2/1000 người dân Đột quỵ thiếu máu cục bộ là thể hay gặp nhất, với các yếu tố nguy cơ chính là tăng huyết áp và đái tháo đường Tỷ lệ tử vong đã tăng lên trong những năm qua tỷ lệ tử vong ở các trường hợp 30 ngày sau khi đột quỵ tăng gấp đôi sau một năm theo dõi[49]

Nghiên cứu ở Thái Lan năm 2015 cho thấy thể đột quỵ hay gặp nhất là nhồi máu não với tỷ lệ 122 /100.000 người dân, thời gian nằm viện trung bình

là 6,8 ngày, viện phí trung bình 20.740 baht (tương ứng khoảng 691 USD), tỷ

lệ tử vong là 7%[47]

Tại Việt Nam, theo tác giả Lê Thị Hương và các cộng sự tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng sinh thái Việt Nam (Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Nam, Quảng Bình, Bình Thuận, Gia Lai, Bình Dương, Cần Thơ) năm 2013 - 2014 nghiên cứu trên 6167 đối tượng từ 18 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ hiện mắc đột quỵ chung là 1,62% Tỷ lệ này có sự khác nhau giữa 8 tỉnh nhưng nhìn chung tỷ lệ mắc đột quỵ não tại 8 tỉnh nghiên cứu cao hơn các báo cáo trước đây tạiViệt Nam[10]

Tác giả Lê Trần Thắng khi thực hiện nghiên cứu trên các bệnh nhântai biến mạch máu não thể nhồi máu não đã thu được kết quả: tuổi trung bình mắc là 69,1 tuổi; tỷ lệ nam/nữ = 1,65/1, thời gian từ lúc khởi phát bệnh đến khi nhập viện cụ thể: dưới 6 giờ 29,5%, từ 6 giờ đến 3 ngày 51%, từ 3 ngày đến 1 tuần 13%, trên 1 tuần 6,5%; các yếu tố nguy cơ thường gặp: tăng huyết

áp 90%, đái tháo đường 24,5%, bệnh tim mạch 47%, tai biến mạch máu não

cũ 19,6%[24]

Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Việt và các cộng sự tại bệnh viện Quân y 103 trong hai năm 2015 - 2016 trên bệnh nhân đột quỵ cho thấy tuổi mắc trung bình là 67,76 ± 12,35; tỷ lệ nam/nữ = 1,71/1 Yếu tố nguy cơ hay

Trang 21

gặp nhất là tăng huyết áp 72,93%, rối loạn Lipid máu 66,91%, tiền sử đột quỵ

26,95%, tiền sử đái tháo đường 21,35%, rung nhĩ 11,84[37]

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Cường và Nguyễn Thị Tuyết

tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện Đa khoa Thái Bình cho thấy các yếu tố

nguy cơ kèm theo ở bệnh nhân đột quỵ /tăng huyết áp là: tăng mỡ máu chiếm

tỷ lệ cao nhất 53,5%, tăng acid uric máu 24,2%, tiền sử đột quỵ 11,6%, đái

tháo đường 8,4%, rung nhĩ 6,8%.Thời gian điều trị trung bình 14,5 ± 7,8

ngày; Kết quả sau điều trị có di chứng nhẹ là 34,2%, di chứng nặng 42,6%, tử

vong và nặng xin về chiếm tỷ lệ khá cao 23,2%[3]

Năm 2017, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Tuấn ở bệnh nhân trên

60 tuổi tại khoa Thần kinh - bệnh viện Bạch Mai đã cho thấy tuổi càng cao có

nguy cơ mắc nhồi máu não càng cao; tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn nữ (nam/nữ

= 1,32); Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và tăng huyết áp khi vào viện có

tỷ lệ nhồi máu não cao Ở các bệnh nhân có tăng đường huyết khi vào viện thì

nguy cơ nhồi máu não ở nữ gấp 1,483 lần nam[36]

1.2.Tình hình dinh dƣỡng của bệnh nhân trong bệnh viện

Trên thế giới tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện được đánh giá

ở mức cao dao động từ 20 - 90% Tỷ lệ suy dinh dưỡng thường gặp với tỷ lệ

cao ở một số nhóm đối tượng như người cao tuổi, người bệnh ung thư, bệnh

tiêu hóa, bệnh mạn tính nằm viện lâu (suy thận mạn, suy gan, phổi tắc nghẽn

mạn tính ), người bệnh phẫu thuật

Nghiên cứu ở Anh năm 2009 cho thấy có khoảng 60% bệnh nhân từ 65

tuổi trở lên có nguy cơ bị suy dinh dưỡng hoặc tình trạng dinh dưỡng xấu đi

khi điều trị ở bệnh viện[45]

Trang 22

Theo nghiên cứu của Bệnh việntrường Đại học Lille của Pháp cho thấy suy dinh dưỡng ở bệnh nhân đột quỵ là rất phổ biến (tỷ lệ suy dinh dưỡng là 47,9%)[53]

Một nghiên cứu khác ở Tây Ban Nha sử dụng công cụ MNA đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân trên65 tuổisau ba tháng bị đột quỵ cho kết quả có 38,1% trường hợp bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng, 8,2% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, điểm MNA trung bình là 23,13 ±4,47 Nguy cơ suy dinh dưỡng sau đột quỵ rất phổ biến và là nguyên nhân ảnh hưởng tới nhận thức cũng như các hoạt động cơ bản hàng ngày của bệnh nhân, làm giảm chất lượng cuộc sống.Việc thực hiện sàng lọc và phát hiện sớm nguy cơ suy dinh dưỡng là điều cần thiết ở những bệnh nhân bị đột quỵ[58]

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Tor -Vergata ở Rome trên62 bệnh nhân nhập viện vì gãy xương hông và 50 bệnh nhân ngoại trú không bị gãyxương từ 65 tuổi trở lên Kết quả cho thấy khoảng 38% trường hợp bệnh nhân suy giảm khả năng tự chủ độc lập trong hoạt động cơ bản hàng ngày Trong số các đối tượng này, có 10% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng và 65% trường hợp bệnh nhân cónguy cơ suy dinh dưỡng [44]

Một nghiên cứu khác ở Úc trên bệnh nhân lớn hơn 60 tuổi trong một năm từ 2014 đến 2015 cho kết quả có 53,5 % trường hợp bệnh nhân bị suy dinh dưỡng theo công cụ SGA Bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện lâu hơn, tỷ lệ tử vong cao hơn và các bệnh nhân còn sống có chất lượng cuộc sống kém hơn[55]

Theo nghiên cứu của Nitichai khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp SGA trên 195 bệnh nhân ung thư lớn hơn 18 tuổi tại một bệnh viện ởBangkok, Thái Lan cho thấy có39% (75 bệnh nhân) trong số 195 bệnh nhân ung thư được nuôi dưỡng tốt, 27% (53 bệnh nhân) bị suy dinh dưỡng

Trang 23

vừavà 34% (67 bệnh nhân) bị suy dinh dưỡng nặng Điểm sốSGA khác nhau đáng kể giữacác nhóm bệnh nhân được nuôi dưỡng tốt và suy dinh dưỡng (4.2

± 2.4 và 16.3 ± 4.9; p <0,001)[50]

Ở Việt Nam tình hình suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện cũng rất phổ biến, tỷ lệ dao động trong khoảng 40 - 70% tùy vào từng loại bệnh lý và phụ thuộc vào các công cụ đánh giá Thời gian nằm viện kéo dài có liên quan chặt chẽ đến tình trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân Suy dinh dưỡng là tình trạng thường gặp ở người cao tuổi, và có liên quan đến việc nhập viện kéo dài

và tăng tỷ lệ tử vong

Theo nghiên cứu của Dương Thị Phượng và cộng sự về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% theo chỉ số khối cơ thể (BMI), có 51,7% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại SGA, có 29,1% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin Từ những số liệu của nghiên cứu trên có thể thấy tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao[21]

Nghiên cứu của Bùi Xuân Tiến về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường type 2 cho biết 18,1% đối tượngcó nguy cơ suy dinh dưỡng, 2,5% đối tượng suy dinh dưỡng theo phương pháp đánh giá SGA[30]

Một nghiên cứu của Hồ Văn Thăng năm 2014 tại bệnh viện đa khoa Tân

Kỳ, tỉnh Nghệ An cho thấy suy dinh dưỡng bệnh viện tăng tỷ lệ thuận với các bệnh nhân có thời gian nằm viện dài ngày cụ thể kết quả: 12,2% bệnh nhân suy dinh dưỡng theo BMI và sau 7 ngày điều trị tỷ lệ này là 19,9%; hai tỷ lệ này lần lượt theo SGA và MNA là 30,4% - 62,9% và 80,8% - 86,5%[23]

Kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 276 bệnh nhân nhập viện tại khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam năm 2015 cho

Trang 24

thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân đường tiêu hóa mới nhập viện còn cao - tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn BMI (< 18,5) là 26,1% Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng theo SGA là 36,2% [14]

Tác giả Trương Thị Thư và cộng sự khi thực hiện nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước phẫu thuật cắt dạ dày tại bệnh viện Quân y 103 nhận thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trước phẫu thuật dạ dày rất cao: chiếm 44,6% theo chỉ số BMI Đánh giá theo phương pháp SGA, tỷ lệ bệnh nhân có dinh dưỡng kém là 89,3% Giảm cân trước phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao (85%), trong đó tỷ lệ bệnh nhân giảm > 5%cân nặng trong 2 tháng, 6 tháng trước phẫu thuật lần lượt là 31,2% và 62,5%[29]

Tác giả Lê Đình Thanh khi khảo sát tỷ lệ, đặc điểm suy dinh dưỡng- năng lượng ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ nhận thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng

- năng lượng là 27,9%; Tỷ lệ các bệnh nhân có mắc các tiêu chí chẩn đoán suy dinh dưỡng - năng lượng dựa vào tiêu chuẩn của Hội dinh dưỡng Thận học Quốc tế khi có ≥ 3 trong số các biểu hiện: BMI < 23 kg/m2, Albumin < 38 g/l, Prealbumin < 30 mg/dl, Cholesterol < 2,95mmol/l, giảm cân > 5%/3 tháng hoặc > 10%/6 thángcụ thể là: BMI - 68,5%, Albumin - 69,4%, Prealbumin- 68,5%, giảm cân 35,1%, giảm Cholesterol - 4,5%, giảm tế bào lympho - 38,7%, thiếu máu82,9%, giảm Ferritin - 5,4%, giảm Transferrin - 73,9%[27]

Theo tác giả Phạm Thị Dung cùng cộng sự khi nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân suy thận mạn điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số BMI là 35,1%, đánh giá bằng thang điểm SGA chiếm 47,1% (trong đó

có 13,6% suy dinh dưỡng nặng), không có sự khác biệt về suy dinh dưỡng giữa nam và nữ theo các thang phân loại khác nhau[6]

Trang 25

Theo tác giả Trần Thị Yến và cộng sự nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân suy thận mạn - lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo bệnh viện Đại học Y Thái Bình và bệnh viện Đa khoa Tiền Hải bị suy dinh dưỡng chiếm tỷ

lệ cao (theo thang điểm SGA chiếm 64,3%); Có 17,2% bệnh nhân có hàm lượng Albumin huyết thanh giảm và 36,5% bệnh nhân có BMI < 18,5; 39,6% bệnh nhân có sự sụt giảm protein huyết thanh, Tỷ lệ tăng triglycerid chiếm 13,7%[39]

Một nghiên cứu được thực hiện trên người cao tuổi tại viện Lão khoa Trung ương cho thấy BMI trung bình chung là 20,96 ± 2,46, BMI trung bình của cụ ông (21,69 ± 2,03) cao hơn BMI của cụ bà (20,59 ± 2,75) với p < 0,05

Có 15% các cụ thừa cân, 6% cụ béo phì độ I (BMI >25) Có 15% tổng số các

cụ có BMI < 18,5, trong đó cụ bà (23,1 %) cao hơn cụ ông (6,2%) với p < 0,05 Tỷ số vòng bụng/vòng mông trung bình chung là 0,89 ± 0,04; Các cụ bà

có nguy cơ béo bụng là 89,4% cao hơn các cụ ông là 60, 4% (p < 0,05)[19]

Nghiên cứu tại một bệnh viện Đa khoa huyện ở tỉnh Thái Bình cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân đánh giá theo BMI là 21%, trong

đó bệnh nhân khoa Nội là 20,6%, khoa Ngoại là 21,9%; Tỷ lệ thừa cân béo phì ở nữ là 20,6% cao hơn ở nam (tỷ lệ là 14,5%);Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng chung đánh giá theo phương pháp SGA là 51,4% và 0,7%, trong đó bệnh nhân khoa Ngoại có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn khoa Nội Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng chung đánh giá theo phương pháp MNA là 43,2% và 13,5%; Tỷ lệ thiếu máu của bệnh nhân dưới

65 tuổi là 25,7% thấp hơn trên 65 tuổi (34,2%), tỷ lệ thiếu Albumin bệnh nhân dưới 65 tuổi 1,1% thấp hơn bệnh nhân trên 65 tuổi (3,6%)[7]

Trang 26

Nghiên cứu của của Phan Tiến Hoàng tại các khoa lâm sàng hệ Nội bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình cho kết quả tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của bệnh nhân điều trị nội trú là 23,2%, cao nhất là ở khoa Nội Tim mạch (chiếm 32,1%); Tỷ lệ thừa cân, béo phì theo tiêu chí BMI ≥ 23là 20,5% [9]

Một nghiên cứu của Hà Anh Đức công bố năm 2017 về tình hình suy dinh dưỡng của bệnh nhân ở ba bệnh viện (bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk, bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới Quảng Bình và bệnh viện

Đa khoa Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA là 9%, tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng là 40,8% Theo chỉ số BMI, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng là 23,7%, bên cạnh

đó tỷ lệ bệnh nhân thừa cân là 13,2 %, tỷ lệ bệnh nhân béo phì là 6,1%[5]

Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Nội tiết Trung ương năm

2017 – 2018 trên bệnh nhân đái tháo đường type II khi nhập viện của tác giả

Vũ Thị Ngát và cộng sự lại cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì ở nhóm bệnh nhân này chiếm tỷ lệ rất cao, trên 50% (trong đó thừa cân, tiền béo phì và béo phì lần lượt là 27,2%, 23,9% và 2,2%); Chỉ số khối BMI trung bình là 23,3 ± 3,2 kg/m² Vòng bụng trung bình của nữ là 88,2 ± 8,5 cm và nam là 87 ± 9,3 cm

Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông cao là 91,6%[18]

Việt Nam cũng là một trong những nước đang phải đối mặt với xu hướng già hóa dân số, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi trong cộng đồng khá cao[12] Theo nghiên cứu của tác giả Hà Thị Ninh và các cộng sự cho thấy tỷ lệ này ở huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre là 27,3%, tỷ lệ này tăng dần theo tuổi và cao hơn ở nam giới[20]

Bên cạnh đó, người cao tuổi cũng phải đối diện với việc điều trị các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng ngày càng gia tăng

Trang 27

Tác giả Trương Thị Chiêu và Đăng Quang Tâm khi nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân TBMMN giai đoạn cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ nhận thấy rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ 79,72%, ở nhóm nhồi máu não 79,2%; ở nhóm xuất huyết não: 70,2% Bệnh nhân tăng cholesterol chiếm tỷ lệ cao nhất 57,7% trong đó nhồi máu não 60,4%, xuất huyết não 48,6% Bệnh nhân rối loạn lipid máu đồng thời 3 chỉ số chiếm cao nhất 41,22%[2]

Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương trên bệnh nhân cao tuổi nhận thấy 80,3% bệnh nhân có rối loạn lipid Bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa lipid có chu vi vòng bụng, huyết áp trung bình và tỷ lệ gặp biến chứng các mạch máu lớn: bệnh mạch vành, nhồi máu não, xơ vữa mạch cảnh cao hơn so với bệnh nhân không có rối loạn lipid (p < 0,05)[11]

Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Ngân và Hồ Thị Kim Thanh khi khảo sát tình trạng tăng đường huyết phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương nhận thấy nhóm bệnh nhân hay gặp nhất là trên 80 tuổi chiếm 39,8%.Nguyên nhân gây tăng đường huyết hay gặp nhất là tai biến mạch máu não (35,6%) [17]

Tác giả Phạm Văn Trân và các cộng sự khi thực hiện khảo sát trên những bệnh nhân nhồi máu não nhận thấy thiếu dinh dưỡng (thiếu 1 hoặc cả 3 vitamin B12, B6, axit folic) hoặc rối loạn chuyển hóa vitamin B12 sẽ làm tăng nồng độ homocystein huyết tương (> 14 µmol/l)- yếu tố nguy cơ độc lập của đột quỵ nhồi máu não Nồng độ Homocystein có mối tương quan nghịch mức yếu với nồng độ axit folic huyết tương bệnh nhân nhồi máu não[33]

Khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế, tác giả Hoàng Thị Bạch Yến và các cộng sự đã nhận thấy 28,1% bệnh nhân suy dinh dưỡng trong đó khoa Nội

Trang 28

38,1%, khoa Ngoại 36,8%; Haitrong các yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bao gồm: tuổi cao (nhóm tuổi ≥ 60 có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn so với nhóm tuổi còn lại), nơi ở (những bệnh nhân sống ở nông thôn có nguy cơ dinh dưỡng cao gấp 1,6 lần so với bệnh nhân sống ở thành thị)[38]

Đánh giá ảnh hưởng của quá trình nằm viện đến hoạt động hàng ngày của bệnh nhân cao tuổi, tác giả Hồ Kim Thanh cho thấy: tại thời điểm nhập viện có 39% bệnh nhân đã có suy giảm mức hoạt động hàng ngày và tiếp tục giảm dần ở những tuần nằm viện sau đó.Có 53% bệnh nhân giảm thêm các hoạt động hàng ngày trong thời gian nằm viện Những yếu tố liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi mức độ sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân nằm viện là: tuổi trên 80 (OR = 3,30), có 2 người chăm sóc (OR = 11,47)[26]

Chăm sóc sức khỏe toàn dân trong đó có chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện cả về thể chất và tinh thần Ngoài điều trị bằng thuốc, cần kết hợp với chế độ dinh dưỡng hợp lý và phục hồi chức năng, kỹ năng, khả năng độc lập sinh hoạt hàng ngày đểngười cao tuổi có một cuộc sống khỏe mạnh, sống có íchđang ngày càng được xã hội quan tâm

1.3 Chế độ chăm sóc dinh dƣỡng cho bệnh nhân trong bệnh viện

Qua thực tế lâm sàng nhiều nghiên cứu đã chứng minh can thiệp dinh dưỡng trong quá trình điều trị giúp cải thiện tình trạng của bệnh nhân và thúc

đẩy quá trình điều trị

Hiệp hội Dinh dưỡng và Chuyển hóa Lâm sàng Châu Âu (ESPEN) đã đưa ra kế hoạch hành động để chống suy dinh dưỡng và áp dụng trong năm

2004 dự án y tế toàn cầu có tên NutritionDay (nD) và thu được kết quả khoảng 45% bệnh nhân đã giảm cân trong vòng 3 tháng trước khi nhập viện; 54,85%bệnh nhân cho biết ăn kém trong một tuần trước khi nhập viện Thực hiện nghiên cứu tương tự tại Ba Lan trong 7 năm với2.830 bệnh nhân cho

Trang 29

thấy khoảng 45% bệnh nhân đã giảm cân trong vòng 3 tháng trước khi nhập viện; 58,34% cho biết giảm ăn trong một tuần trước nhập viện Nghiên cứu đã thống kê có 60,55% bệnh nhân ăn một nửa lượng thức ăn hoặc không ăn gì trong bữa ăn được phục vụ tại bệnh viện (58,37% trong trường hợp tham khảo nD) Đối với cả Ba Lan và các nước khác tham gia nghiên cứu, tại thời điểm phát hiện suy dinh dưỡng của bệnh nhân, trên một nửa số phòng điều trị của bệnh viện đã không được báo cáo bất kỳ hành động nhằm chống lại hiện tượng này[52]

Theo một nghiên cứu tại hai bệnh viện ở Queensland của Úc trên các bệnh nhân người trưởng thành có nguy cơ bị loét do tỳ đè cho thấy một tỷ lệ đáng kể những bệnh nhân này ăn không đủ tại các bữa ăn chính, làm tăng thêm nguy cơ suy dinh dưỡng và loét Cụ thể tỷ lệ sàng lọc dinh dưỡng quan sát là 59%,trong đó 71% bệnh nhân được cân và 34% được đo chiều cao, 29% bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể thấp hơn và thời gian nằm viện lâu hơn đã được chuyên gia dinh dưỡng tư vấn; Bệnh nhân tiêu thụ trung bình 73% năng lượng và 72% và protein cung cấp; Có khoảng 22% đến 38% bệnh nhân tiêu thụ <50% lượng thực phẩm được cung cấp tại các bữa ăn chính[54]

Một nghiên cứu khác được tiến hành tại một nhà dưỡng lão tư nhân ở Đài Loan dựa trên nhu cầu trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của những người sống trong nhà dưỡng lão, sử dụng phương pháp đánh giá dinh dưỡng MNA diễn ra vào lúc ban đầu và cứ 4 tuần một lần trong thời gian thử nghiệm Kết quả cho thấy can thiệp dựa trên nhu cầu là một chiến lược hiệu quả và phù hợp để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của những người có nguy

cơ bị suy dinh dưỡng Sự can thiệp cải thiện đáng kể trọng lượng cơ thể, BMI, chu vi giữa cánh tay, chu vi bắp chân, và nồng độ Albumin huyết thanh và Cholesterol ở tất cả các khoảng thời gian (tất cả p <0,05) Kết quả cho thấy can thiệp dinh dưỡng dựa trên nhu cầu có thể là một biện pháp thiết thực, hữu

Trang 30

ích để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của những người sống trong nhà dưỡng lão và tiết kiệm chi phí chăm sóc sức khỏe[48]

Đa số các nghiên cứu đề cập tới chế độ chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân trong việnđều nhận thấy dinh dưỡng chưa là một vấn đề thực sự được công nhận, được chú trọng, và được can thiệp thường xuyên cho dù ảnh hưởng của suy dinh dưỡng đến tình trạng của bệnh nhân là rất đáng kể Bệnh nhân ung thư là đối tượng có nguy cơ suy dinh dưỡng đặc biệt cao vì cả bệnh ung thư và phương pháp điều trị đều đe dọa đến tình trạng dinh dưỡng của họ Hiệp hội Dinh dưỡng và Chuyển hóa Lâm sàng Châu Âu (ESPEN) gần đây đã công bố các hướng dẫn dựa trên bằng chứng về chăm sóc dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư Để hỗ trợ thêm cho các hướng dẫn này, một nhóm chuyên gia

về ung thư của ESPEN đã đề xuất Hội thảo về Ung thư và Dinh dưỡng tại Berlin vào ngày 24 và 25 tháng 10 năm 2016 Tại hội thảo các đại biểu đã kiểm tra nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng liên quan đến ung thư, xem xét phương pháp điều trị hiện có để xây dựng lý do và động lực cho các bác sĩ lâm sàng nhằm thực hiện các hành động tạo điều kiện, hỗ trợ dinh dưỡng trong thực tế Nhóm chuyên gia nhấn mạnh 3 bước chính để cập nhật chăm sóc dinh dưỡng cho người mắc bệnh ung thư Một là: sàng lọc tất cả bệnh nhân ung thư về nguy cơ dinh dưỡng sớm trong quá trình chăm sóc, bất

kể chỉ số khối lượng cơ thể và tiền sử cân nặng; Hai là: thực hiện đánh giá liên quan đến dinh dưỡng để bao gồm các biện pháp phòng chống chán ăn, tình trạng dinh dưỡng của cơ thể, triệu chứng viêm, năng lượng tiêu hao cho hoạt động trao đổi chất và nghỉ ngơi; Ba là sử dụng các biện pháp can thiệp dinh dưỡng đa phương thức với các kế hoạch cá nhân: chăm sóc tập trung vào việc tăng lượng dinh dưỡng, kết hợp tăng hoạt động thể chất, giảm viêm và các căng thẳng tâm lý[40]

Trang 31

Đột quỵ là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng nuốt khó cấp tính có thểdẫn đến suy dinh dưỡng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, có khoảng 15% bệnh nhân gặp triệu chứng này sau khi mắc đột quỵ Mức độ nghiêm trọng của nó liên quan đến tuổi tác và các thể bệnh; giải quyết sớm vấn đề này có thể ngăn ngừa các biến chứng như viêm phổi, và suy dinh dưỡng ở bệnh nhân đột quỵ Tại Việt Nam, nghiên cứu rối loạn nuốt ở bệnh nhân nhồi máu não của hai tác giả Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Văn Liệu cho thấy tỷ lệ rối loạn nuốt ở bệnh nhân nhồi máu não điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị là 47,83% Rối loạn nuốt ở nhóm bệnh nhân này liên quan chặt chẽ đến độ nặng của bệnh và ảnh hưởng đến toàn trạng của bệnh nhân

Vì vậy cần áp dụng quá trình sàng lọc rối loạn nuốt để có kế hoạch chăm sóc

và áp dụng hướng dẫn nuôi dưỡng theo phân độ rối loạn nuốt[34]

Việc thực hiện các can thiệp dinh dưỡng chăm sóc cho bệnh nhân trong khi nằm viện là rất cần thiết để hỗ trợ quá trình điều trị và hồi phục của họ Bệnh nhân đã bị suy dinh dưỡng nặng thì việc phục hồi dinh dưỡng rất khó khăn Vì vậy, việc điều trị suy dinh dưỡng cho bệnh nhân nằm viện cần phải được can thiệp sớm ở giai đoạn suy dinh dưỡng nhẹ hoặc khi mới có nguy cơ suy dinh dưỡng

Ở nước ta hiện nay việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện chưa được tiến hành thường xuyên.Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, khoảng 50% bệnh nhân đã có biểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% bệnh nhân được phát hiện có suy dinh dưỡng

Nghiên cứu về thực trạng hiểu biết và thực hành dinh dưỡng của người chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2009 của tác giả Nguyễn Văn Khang và Nguyễn Đỗ Huy cho thấy 90,7% bệnh nhân thấy được sự cần thiết của khoa Dinh dưỡng bệnh viện, nếu có khoa Dinh

Trang 32

dưỡng thì 40,4% lựa chọn thức ăn cho bệnh nhân từ khoa Dinh dưỡng Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn dinh dưỡng trong thời gian nằm viện là rất thấp 26,5%, tỷ lệ mua thức ăn của căng tin bệnh viện đạt 10,9%[13]

Một nghiên cứu năm 2012 trên các điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị của tác giả Dương Thị Bình Minh và các cộng sự cho thấy một tỷ lệ khá cao bệnh nhân đánh giá điều dưỡng không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt, chỉ có13% các điều dưỡng hướng dẫn bệnh nhân chế

độ ăn uống, 5,4% các trường hợp điều dưỡng chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ăn uống[16]

Theo Hồ Văn Thăng năm 2014 cho thấy 58,9% bệnh nhân được hướng dẫn chế độ ăn tại bệnh viện; tỷ lệ bệnh nhân khoa Nội được hướng dẫn cao hơn bệnh nhân khoa Ngoại ; 63,4% bệnh nhân hài lòng với sự hướng dẫn của cán bộ y tế; 74,8% bệnh nhân cho rằng cần thiết phải có phòng tư vấn dinh dưỡng tại bệnh viện, cần thiết phải có khoa Dinh dưỡng là 64,5%[23]

Tác giả Hồ Thị Kim Thanh và Nguyễn Thị Thùy khi tiến hành nghiên cứu thực trạng nuôi dưỡng qua Sonde dạ dày cho người bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương đã nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân nuôi dưỡng qua sonde dạ dày cao (32,63%); độ tuổi trung bình là 79,97% ± 8,587,

có 58,8% bệnh nhân của khoa Hồi sức tích cực, 41,2% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng[25]

Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Luân và cộng sự tại một bệnh viện trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017cho thấy tỷ lệ hài lòng của người bệnh về dịch vụ cung cấp suất ăn là tương đối cao 79%, có liên quan tới các yếu tố: Khoa phòng; Sự tư vấn, hướng dẫn rõ ràng cụ thể về tình trạng dinh dưỡng, chế độ ăn phù hợp; Cung cấp suất ăn đúng giờ, thời gian phù hợp; thực đơn đa dạng, phong phú; Suất ăn cung cấp đủ chất và số lượng phù

Trang 33

hợp; Suất ăn cung cấp đảm bảo vệ sinh sạch sẽ; Mùi vị, hương vị của suất ăn; Thái độ và tác phong nhân viên phục vụ; Chi phí phù hợp (p < 0,05)[15]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Tỉnh và các cộng sự về thực trạng nguồn lực, hoạt động dinh dưỡng tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Thái Bình cho kết quả có 2/12 bệnh viện có khoa dinh dưỡng nhưng chỉ có 1 bệnh viện hoàn thiện đầy đủ cả bếp ăn bệnh viện trực thuộc khoa Dinh dưỡng, 6/12 bệnh viện có tổ dinh dưỡng còn 4/12 bệnh viện chưa thành lập khoa/tổ dinh dưỡng; Có 4/12 bệnh viện đã chỉ định chế độ ăn bệnh lý, 2/12 bệnh viện thực hiện báo suất ăn cho Khoa Dinh dưỡng, 2/12 bệnh viện lập kế hoạch can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân nội trú có suy dinh dưỡng[32]

Thông qua các nghiên cứu trên có thể thấy nhu cầu của người bệnh về chăm sóc dinh dưỡng rất lớn nhưng các dịch vụ chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh viện phát triển không đồng đều tại các vùng miền trên cả nước Việc can thiệp dinh dưỡng và tiết chế thường được xem là công việc của cán bộ và khoa Dinh dưỡng hơn là công việc chung của cả bệnh viện Tại nhiều bệnh viện, công tác dinh dưỡng và tiết chế chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức; hầu hết các dịch vụ này còn khá đơn giản và chưa được quan tâm nhiều

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Nội Thần kinh thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Đây là bệnh viện đa khoa hạng I bao gồm 9 phòng ban,

23 khoa lâm sàng và 8 khoa cận lâm sàng Khoa Dinh dưỡng của bệnh viện được khôi phục năm 2014 và đến năm 2015 đã thực hiện chế độ dinh dưỡng bệnh lý cho bệnh nhân toàn bệnh viện

Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu nằm điều trị tại khoa Nội Thần kinh thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Năm 2017, Khoa Nội Thần kinh với kế hoạch giường bệnh là 80 giường, đã điều trị cho hơn 3.000 bệnh nhân nội trú

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9/2018 đến tháng 6/2019

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

* Các bệnh nhân được chẩn đoán là tai biến mạch máu nãotừ 65 tuổi trở lên nhập viện trong vòng 24 giờ đầu, đang điều trị nội trú tại khoa Nội Thần

kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

+ Là những bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên nhập viện trong 24 giờ đầu đang điều trị tai biến mạch máu não;

+ Đang nằm nội trú tại khoa Nội Thần kinh thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình;

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Những đối tượng bệnh nhân không thực hiện phỏng vấn được:

nghễnh ngãng, lú lẫn

Trang 35

+ Bệnh nhân nặng đang trong giai đoạn cấp cứu, dưới 65 tuổi, bệnh nhân tai biến mạch máu nãonhập khoa Nội Thần kinhtại thời điểm nghiên cứu đang điều trị các bệnh khác

+ Bệnh nhân không đo được chiều cao, cân nặng (bị phù, gù, hôn mê, mất đoạn chi )

+ Bệnh nhân không có đủ các xét nghiệm hóa sinh như Hb, Albumin, Glucose máu

* Người nhà của những bệnh nhân được chọn nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Là những người chăm sóc bệnh nhân thường xuyên

+ Đồng ý tham gia phỏng vấn

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Không phải người nhà, không chăm sóc bệnh nhân thường xuyên + Trường hợp không thể trả lời phỏng vấn chính xác

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện nhằm:

- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu nãotrong 24 giờ đầu nhập viện

- Mô tả thực trạng chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não tại khoa Nội Thần kinh của bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

a, Cỡ mẫu

- Cỡ mẫu đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân

2

2 ) 2 / 1 (

)(

)1(

p

p p Z

Trang 36

Trong đó:

+ n: cỡ mẫu nghiên cứu

+ Z: Độ tin cậy lấy ở ngưỡng  = 0,05 (Z1-α/2 = 1,96)

+ p: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện, ước tính 45%

+ : chọn  = 0,2

- Cỡ mẫu tối thiểu theo tính toán tối thiểu là 118 đối tượng Chọn mẫu

thêm 15% để dự phòng đối tượng thuộc nhóm loại trừ Thực tế, chúng tôi đã tiến hành điều tra được 133 bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn chọn vào trong nghiên cứu

- Phỏng vấn người chăm sóc thường xuyên cho bệnh nhân tại bệnh

viện đồng ý tham gia phỏng vấn Thực tế, chúng tôi đã phỏng vấn được 106 người chăm sóc bệnh nhân đủ tiêu chuẩn

- Sau khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân thì tiến hành phỏng vấn toàn bộ người nhà thường xuyên chăm sóc bệnh nhân đồng ý tham gia phỏng vấn

b, Phương pháp chọn mẫu

- Tiến hành chọn mẫu có chủ đích ở khoa Nội Thần kinh thuộc Bệnh

viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

- Chọn bệnh nhân để mô tả tình trạng dinh dưỡng: Từ khoa nghiên cứu chúng tôi chọn toàn bộ bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên nhập viện từ tháng 12/2018 cho đến khi đủ cỡ mẫu theo yêu cầu theo đúng tiêu chuẩn chọn đối tượng và loại trừ đối tượng

- Chọn người chăm sóc bệnh nhân để phỏng vấn: Tiến hành chọn mẫu

có chủ đích từ khoa nghiên cứu những người trực tiếp, thường xuyên chăm sóc cho bệnh nhân là đối tượng được chọn vào nghiên cứu, sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ của đối tượng

Trang 37

2.2.3 Các chỉ số, biến số và tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân:

- Chỉ số thông tin chung của bệnh nhân: tuổi, giới

- Chỉ số nhân trắc: Chiều cao, cân nặngcủa các bệnh nhân theo khoa, theo tuổi và giới

- Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện điều trị tại khoa được đánh giá theo BMI theo tuổi và giới

- Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện điều trị tại khoa được đánh giá theo MNA theo tuổi và giới

- Các chỉ số hóa sinh: Hemoglobin, Albumin, Glucose

Phỏng vấn người nhà bệnh nhân:

- Đối tượng chăm sóc việc ăn uống cho bệnh nhân

- Đối tượng tư vấn cho bệnh nhân lựa chọn chế độ ăn

- Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn dinh dưỡng

- Nhu cầu của bệnh nhân muốn được tư vấn dinh dưỡng

- Đánh giá của người nhà về tình hình chăm sóc bệnh nhân và các kiến nghị (nếu có)

Nhóm thông tin về tiền sử bệnh và dinh dưỡng

- Tiền sử bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận…

- Thói quen dinh dưỡng

2.2.4 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.2.4.1 Kỹ thuật cân

Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,01 kg) Cân bệnh nhân vào buổi sáng khi chưa ăn uống gì, sau khi đã đi đại tiểu tiện Cân trong vòng 24 giờ đầu khi nhập viện Khi cân bệnh nhân chỉ mặc quần áo gọn nhẹ nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng

Trang 38

Đọc kết quả: Kết quả được đọc theo đơn vị kilogam và ghi tới một chữ

số thập phân

2.2.4.2 Kỹ thuật đo

- Đo chiều cao đứng:

Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ, có độ chính xác tới milimet Đối tượng bỏ giầy, dép, đi chân không và quay lưng vào thước đo Các điểm đầu, vai, gót chân, mông nằm trên một đường thẳng nằm ngang, hai tay buông thõng theo hai bên mình Di chuyển cái chặn chiều cao của thước từ trên xuống đến khi áp sát đến đỉnh đầu, nhìn vào thước và đọc kết quả Chiều cao được ghi theo đơn vị cm và ghi tới một chữ số thập phân

Trường hợp không thể đo được chiều cao đứng có thể dùng phương pháp thay thế như ước lượng thông qua đo chiều dài nằm Thông thường chiều dài nằm thường cao hơn giá trị chiều cao đứng 1% Cách đo chiều dài nằm: đặt bệnh nhân ở tư thế nằm song song với thành giường, bàn chân đặt vuông góc với mặt giường, dùng thước dây không co giãn đo từ đỉnh đầu đến gót chân, kết quả được ghi theo đơn vị cm với một chữ số thập phân sau khi

đã làm phép trừ đi 1% so với số thực tế đo được

- Nghiên cứu hồ sơ bệnh án của bệnh nhân: Khai thác một số thông tin

về các chỉ số xét nghiệm, các chỉ định chăm sóc dinh dưỡng qua hồ sơ bệnh

án của bệnh nhân

2.2.4.3 Các xét nghiệm hóa sinh

- Lấy máu xét nghiệm:

Lấy 5 ml máu tĩnh mạch vào buổi sáng (từ 8-10 giờ), bệnh nhân nhịn ăn

và không uống bất kỳ một loại nước giải khát nào để làm xét nghiệm Hemoglobin và chiết tách huyết tương xét nghiệm Albuminmáu

- Định lượng Hemoglobin: Được thực hiện tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

Trang 39

+ Nguyên lý: Hemoglobin và dẫn xuất của nó bị oxy hoá thành Mehemoglobin với sự có mặt của kali kiềm Ferricyanide Methemoglobin phản ứng với Kalicyanide hình thành nên Cyanmethemoglobin mà độ hấp thụ cao nhất của nó đạt được ở 540 nm Cường độ màu đo được tại bước sóng

540 nm tương ứng với tỷ lệ với nồng độ Hemoglobin

+ Phương pháp:Hemoglobin được xác định bằng phương pháp Cyanmethemoglobin, trên máy tổng phân tích tế bào ngoại vi tự độngXS800i

- Định lượng Albumin: Được thực hiện tại khoa xét nghiệm Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Thái Bình, bằng máy sinh hóa tự động AU680 của hãng Beckman Coulter

+ Nguyên lý: Đo bằng quang phổ kế halogen, Albumin huyết thanh tác dụng với Bromocresol green (BCG) trong môi trường của dung dịch đệm Succinate pH = 4,2 tạo phức hợp màu xanh lục Đậm độ màu tỷ lệ thuận với nồng độ Albumin huyết thanh ở bước sóng 620nm bằng phép đo điểm cuối

- Định lượng Glucose:Được thực hiện tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, cùng với các chỉ số sinh hóa khácbằng máy sinh hóa tự động AU680 của hãng Beckman Coulter

+ Nguyên lý: Glucoseoxidase (GOD) oxy hoá Glucose thành gluconic acid và peroxide hydrogen (H2O2) Peroxide hydrogen tạo thành bị enzyme peroxidase (POD) phân huỷ và giải phóng oxy Oxy giải phóng oxy hoá 4 – aminophenzon (4-AAP) và phenol tạo phức chất quinonimin có màu đỏ hồng.Cường độ màu của phức hợp tạo thành tỷ lệ thuận với nồng độ Glucose trong huyết thanh và được xác định ở bước sóng 505 nm

Trang 40

bắt đầu nghiên cứu, các công cụ và bảng hỏi được điều chỉnh phù hợp với người bệnh, nhưng đảm bảo đúng theo các tiêu chí phân loại của thang phân loại Các điều tra viên được phân công theo nhóm để thu thập số liệu

Bệnh nhân, người nhà bệnh nhân trong nhóm đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích ích lợi của việc tham gia nghiên cứu, yêu cầu

và cách tiến hành nghiên cứu và có quyền tự lựa chọn tham gia không có sự

ép buộc điều kiện liên quan đến điều trị tại bệnh viện

Các điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn các bệnh nhân dựa trên bộ câu hỏi in sẵn và đã được tập huấn

2.2.5.Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong nghiên cứu

Suy dinh dưỡng: < 18,5

Suy dinh dưỡng nhẹ: 17,0 - 18,4

Suy dinh dưỡng trung bình: 16,0 - 16,9

Suy dinh dưỡng nặng: < 16

Phần sàng lọc gồm 6 câu hỏi liên quan đến giảm khẩu phần, giảm cân

Ngày đăng: 30/08/2019, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w