BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH NGUYỄN NĂNG ĐỄ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KẾT QUẢ TƯ VẤN CHO NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH BỆ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN NĂNG ĐỄ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KẾT QUẢ TƯ VẤN
CHO NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ DINH DƯỠNG
THÁI BÌNH - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN NĂNG ĐỄ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KẾT QUẢ TƯ VẤN
CHO NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2019
THÁI BÌNH - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này em
đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy, các cô, sự giúp đỡ của bạn bè,
sự động viên to lớn của gia đình và người thân
Lời đầu tiên, em xin trân trọng gửi lời trân thành cảm ơn tới tập thể Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, cùng toàn thể các thầy cô thuộc Khoa Y tế Công cộng, các thầy cô Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm Trường Đại học Y Dược Thái Bình, các bác sỹ, điều dưỡng của Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giảng dậy, giúp đỡ em học tập và thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng bầy tỏ lời cảm ơn sâu sắc và luôn luôn ghi nhớ công
lao của: cô TS Vũ Thanh Bình và thầy PGS.TS Phạm Ngọc Khái,Trường
Đại học Y Dược Thái Bình là những người thầy luôn tận tình hướng dẫn, dìu dắt em vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình học tập, thực hành lâm sàng tại bệnh viện cũng như thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Đặc biệt em muốn gửi lời cảm ơn đến các người bệnh đã hợp tác, tạo điều kiện cho em được phép thăm khám và thu thập những thông tin cần thiết
để nghiên cứu và học tập
Thái Bình, ngày 30 tháng 5 năm 2019
Học viên
Nguyễn Năng Đễ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Thái Bình, ngày 30 tháng 5 năm 2019
Học viên
Nguyễn Năng Đễ
Trang 5THA : Tăng huyết áp
TNLTD : Thiếu năng lượng trường diễn
WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization) WHR : Tỷ số vòng eo/vòng mông (Waist Hip Ratio)
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 3
1.1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ TĂNG HUYẾT ÁP 3
1.1.1 Khái niệm huyết áp 3
1.1.2 Khái niệm tăng huyết áp 3
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp 4
1.2 CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP 7
1.2.1 Vai trò của dinh dưỡng trong tăng huyết áp 7
1.2.2 Các loại thực phẩm tốt cho người bệnh tăng huyết áp 8
1.2.3 Các thực phẩm người bệnh tăng huyết áp không nên dùng 15
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN 18
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giớ i 18
1.3.2 Các nghiên cứ u tại Viê ̣t Nam 21
CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn vào và loại trừ 25
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 27
2.2.2 Phương pháp cho ̣n mẫu và cách tính cỡ mẫu 30
2.2.3 Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 32
2.2.4 Biến số và phương pháp thu thập biến số 38
2.2.5 Phương pháp điều tra nghiên cứu 42
Trang 72.2.6 Phương pháp khống chế sai số trong nghiên cứu 42
2.2.7 Phương pháp sử lý số liệu 42
2.3 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 43
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Tình trạng dinh dưỡng của ngư ời bệnh tăng huyết a ́ p điều tri ̣ ta ̣i khoa nô ̣i tim ma ̣ch, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình 44
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tham gia nghiên cứu 45
3.3 Kết quả tư vấn dinh dưỡng điều trị cho người bệnh tăng huyết áp tại khoa Nội Tim ma ̣ch Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình 52
CHƯƠNG 4:BÀN LUẬN 58
4.1 Đặc điểm chung của người bệnh nghiên cứu 58
4.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh 61
4.3 Kết quả tư vấn dinh dưỡng điều trị cho người bệnh tăng huyết áp điều trị tại khoa Nội Tim ma ̣ch Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình 66
KẾT LUẬN 74
KIẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII năm 2003 30Bảng 2.2 Sơ đồ tóm tắt thiết kế nghiên cứu 31Bảng 2.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành 33Bảng 3.1 Một số thông tin về người bệnh chọn vào nghiên cứu 44Bảng 3.2 Tình trạng huyết áp của người bệnh tại thời điểm nghiên cứu 45Bảng 3.3 Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của người bê ̣nh theo giới
tính và nhóm tuổi 46Bảng 3.4 Giá trị trung bình BMI của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
và giới tính 47Bảng 3.5 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo BMI và mức
độ THA 48Bảng 3.6 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh nghiên cứu theo chẩn đoán
bệnh lúc nhập viện 49Bảng 3.7 Giá trị trung bình một số chỉ số xét nghiệm hóa sinh và huyết học 50Bảng 3.8 Phân tích kết quả xét nghiệm máu ở người bệnh THA 51Bảng 3.9 Kết quả kiểm soát huyết áp của người bệnh trước và sau can thiệp 52Bảng 3.10 Tỷ lệ người bệnh biết biến chứng của tăng huyết áp 53Bảng 3.11 Tỷ lệ người bệnh THA thường xuyên dùng nước uống thảo dược 53Bảng 3.12 Lượng nước người bệnh sử dụng trong ngày trước và sau can thiệp 54Bảng 3.13 Tỷ lệ người bệnh THA sử dụng thường xuyên thực phẩm nhiều
muối 56Bảng 3.14 Tỷ lệ người bệnh THA sử dụng thường xuyên một số thực phẩm
nhiều cholesterol trước và sau can thiệp 56Bảng 3.15 Tỷ lệ người bệnh THA sử dụng thường xuyên một số đồ uống có
hại trước và sau can thiệp 57Bảng 3.16 Tỷ lệ người bệnh thường xuyên sử dụng một số thực phẩm Glucid
tinh chế trước và sau can thiệp 57
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Nghề nghiệp của người bệnh được chọn vào nghiên cứu 44
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các bệnh được chẩn đoán lúc nhập viện 45
Biểu đồ 3.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh THA theo BMI và giới 47
Biểu đồ 3.4 Tình trạng dinh dưỡng của người THA theo BMI và tuổi 48
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người bệnh ăn kiêng 54
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ người bệnh biết lợi ích của việc ăn giảm muối 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nấm Linh chi là một dược liệu quý cho bệnh nhân THA 9Hình 1.2 Hoa Hòe là thảo dược phổ biến cho bệnh nhân THA 10Hình 1.3 Người bệnh THA được nhiều tác gia khuyên dùng trà tâm sen 11Hình 1.4 Các loại nấm tốt cho người bệnh THA đangđược nuôi cấy phổ
biến ở Việt Nam 13Hình 1.5 Chuối tiêu có nhiều kali cho người bệnh THA 15Hình 2.1 Máy đo huyết áp và ống nghe được sử dụng trong nghiên cứu 32Hình 2.2 Cân TANITA được sử dụng trong nghiên cứu 34Hình 2.3 Máy AU 680 của hãng sản xuất Beckman Caulte - Mỹđược sử
dụng trong nghiên cứu 37
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến và ngày càng có chiều hướng gia tăng trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam Trong đó chế độ ăn uống không hợp lý luôn là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến tỷ lệ mắc cũng như những biến chứng của THA Do
đó vấn đề dinh dưỡng điều trị ngày càng được quan tâm cho người bệnh tăng huyết áp
Ở những nước đang phát triển, tỷ lệ tăng huyết áp tăng lên theo quá trình
đô thi ̣ hóa với những thay đổi về lối sống , chế đô ̣ dinh dưỡng và môi trường Theo ước tính của Kearney ở Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (tương đương 972 triệu người, riêng các nước đang phát triển chiếm
639 triệu) và sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh tăng huyết áp trên toàn thế giới khoảng 1,56 tỷ người THA còn nguy hiểm ở chỗ nó thường diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh hoặc để lại gáng nặng tàn tật [66]
Tại Việt Nam, năm 2000 có khoảng 16,3% người lớn bị THA, đến năm
2009 tỷ lệ THA ở người lớn là 25,4% và năm 2016 tỷ lệ người lớn bị THA đang ở mức báo động là 48%, một mức báo động đỏ trong thời điểm hiện tại Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc THA.Kết quả cho thấy, có 52,8% người Việt có huyết áp bình thường (23,2 triệu người), có 47,3% người Việt Nam (20,8 triệu người)
bị tăng huyết áp Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp; có 7,2% (0,9 triệu người)
bị tăng huyết áp không được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát được [50]
Trang 12Trong nhiều năm gần đây, tăng huyết áp đã trở thành một trong những yếu tố nguy cơ gây tàn tật và tử vong hàng đầu trên toàn thế giới Không phải ngoại lệ, Việt Nam với tốc độ già hóa dân số nhanh đang và sẽ còn phải đối mặt với những hậu quả ngày càng nặng nề do tăng huyết áp gây ra Tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống, chế độ dinh dưỡng vốn có kh ả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình mỗi tháng tiếp nhận hàng nghìn người bệnh THA Các người bệnh được tự do lựa chọn khẩu phần ăn tại khoa Dinh dưỡng hoặc tự túc ăn uống, hướng dẫn chế độ ăn cũng chưa được chu đáo đến tất cả người bệnh Do vậy đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh THA tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình là việc làm hết sức quan trọng Trên cơ
sở đó tiến hành can thiệp, đánh giá kết quả, từ đó đưa ra các khuyến nghị lâm
sàng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tình tra ̣ng dinh dưỡng và k ết quả
tư vấn cho người bệnh tăng huyết áp ta ̣i khoa N ội Tim mạch Bê ̣nh viê ̣n
Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019” này với 2 mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại khoa Nội Tim mạch bê ̣nh viê ̣n Đa khoa tỉnh Thái Bình
2 Mô tả kết quả tư vấn dinh dưỡng điều trị cho người bệnh tăng huyết áp tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
1.1.1 Khái niệm huyết áp
Huyết áp là áp lực hay sức ép của máu vào thành động mạch Áp lực này
được tạo ra khi trái tim bóp, đẩy máu vào huyết quản [8], [48]
Tùy theo số lượng máu và sức cản của động mạch mà áp suất cao hoặc thấp Huyết áp được diễn tả bằng hai con số:
- Huyết áp tâm thu (systolic) khi tim bóp vào để đưa máu sang động mạch
- Huyết áp tâm trương (diastolic) khi tim thư giãn giữa hai nhịp đập và máu từ động mạch chạy vào các mao quản để nuôi cơ thể
Huyết áp tính bằng milimét thủy ngân Thí dụ huyết áp đo được là 120/80 mmHg, có nghĩa áp suất tâm thu là 120 mmHg và áp suất tâm trương
là 80 mmHg
Trung bình, người từ 18 tới 50 tuổi có huyết áp dưới 140/90 mmHg Buổi sáng khi mới ngủ dậy, huyết áp thường thường thấp Huyết áp cao hơn vào khoảng 8 giờ và tương đối ổn định trong ngày [9]
1.1.2 Khái niệm tăng huyết áp
Tăng huyết áp là tình trạng gia tăng áp lực máu trong các động mạch của đại tuần hoàn [9], [47]
Ở người trưởng thành bình thường, huyết áp khoảng từ 90/60 mmHg đến dưới 140/90 mmHg
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO - World Health Organization), tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥
90 mmHg Con số này được đưa ra do có sự khác biệt về tỷ lệ đột quỵ, nhóm
Trang 14người có huyết áp ≥ 140/90 mmHg có tỷ lệ đột quỵ cao gấp 1,8 lần nhóm người có huyết áp < 140/90 mmHg
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp
THA hiện là bệnh mãn tính phổ biến nhất trong cộng đồng.Nguyên nhân chưa được biết rõ, tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy yếu tố môi trường (dinh dưỡng, lối sống) kết hợp với yếu tố di truyền là nguyên nhân chính gây ra bệnh này
Chỉ có 5 - 10% là có nguyên nhân là bệnh lý một số cơ quan như thận, và các nguyên nhân khác thường là do bệnh khác: Có thai, sử dụng thuốc ngừa thai, bệnh tuyến giáp bệnh thận mãn tính, hẹp eo động mạch chủ, hội chứng Cushing, bệnh tắc nghẽn đường niệu, u tủy thượng thận, tăng aldosterone nguyên phát, tăng huyết áp do mạch máu thận, khó thở khi ngủ, bệnh tuyến giáp hay cận giáp Ở những trường hợp này, khi bệnh chính được chữa khỏi thì huyết áp thường trở về bình thường [9], [49]
Có 90 - 95% trường hợp còn lại không tìm ra được nguyên nhân (được gọi là tăng huyết áp tiên phát) Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, rõ ràng môi trường có vai trò to lớn, vì ở một số cộng đồng không có vấn đề THA, nhưng nếu cộng đồng đó thay đổi lối sống, cách ăn uống, THA có thể tăng cao với tỉ lệ tới 30% dân chúng Mặc dù nguyên nhân chính chưa được biết đến nhưng người ta cũng nhận ra được một số yếu tố có thể góp phần gây ra tăng huyết áp (yếu tố nguy cơ):
- Di truyền và chủng tộc: Huyết áp thường hay xảy ra cho những người
trong một gia đình [32] Theo thống kê, người châu Phi, châu Á, châu Mỹ La Tinh thường bị tăng huyết áp hơn các sắc dân khác [76]
- Tuổi tác: Tuổi càng cao thì nguy cơ tăng huyết áp cũng lên theo Tuổi
càng cao thì càng dễ bị tăng huyết áp đặc biệt là huyết áp tâm thu, do động mạch trở nên cứng hơn, nguyên nhân là do bệnh xơ cứng động mạch Nam
Trang 15giới thường bị cao huyết áp sớm, nhưng tới 45-50 thì nữ giới cũng bị cao huyết áp nhiều như các ông [36], [43]
- Giới: thường thì nam giới dễ bị cao huyết áp hơn nữ Điều này thay đổi
theo tuổi tác và chủng tộc [18], [43]
- Chế độ ăn mặn: một số người bị nhạy cảm với Natri (muối) do đó
huyết áp của họ sẽ tăng cao nếu dùng muối Giảm lượng muối ăn vào có thể làm hạ huyết áp Các nghiên cứu cho thấy ở người trung niên và cao tuổi, ăn nhiều muối Natri có thể gây THA Theo họ, giới hạn tiêu thụ muối là điều cần
để chữa và phòng ngừa cao huyết áp Điều này được giải thích những người nhạy cảm với muối, một lượng lớn muối khiến cơ thể giữ nhiều nước để cân bằng dung môi chất lỏng Hậu qủa là máu huyết nhiều hơn, mạch máu căng
ra, làm huyết áp tăng lên Tim và thận cũng phải làm việc tăng lên để lưu hành máu phụ trội Với những người này thì giới hạn muối là điều nên làm trước khi trị huyết áp tăng cao [23]
Các nghiên cứu cũng cho thấy ăn nhiều muối chỉ gây tăng huyết áp ở một số người (10-20%) nhưng đây cũng là con số đáng kể Hơn nữa, quá nửa người cao tuổi đều có THA mà không biết Có thể là do dùng nhiều muối trong lúc thiếu thời đã làm suy yếu sự bảo vệ của gene di truyền với bệnh này Nhận xét về cách ăn uống của một số sắc dân trên thế giới cho thấy rằng, nhóm dân nào dùng nhiều muối thì tỷ lệ cao huyết áp gia tăng và ngược lại, khi tiêu thụ ít muối thì ít bệnh [74]
Theo các chuyên viên dinh dưỡng, trung bình mỗi người chỉ nên dùng dưới 2 gam muối mỗi ngày, tương đương với một thìa muối Đó là bao gồm toàn thể số lượng muối cho mọi việc ăn uống, nấu nướng trong một ngày [41]
Đa số thực phẩm làm sẵn như đồ hộp, thực phẩm đông lạnh đều có nhiều muối.Các nhà sản xuất đã cố gắng cắt giảm muối trong thực phẩm chế biến, nhưng phân lượng dùng vẫn còn cao Lý do là khi thêm muối thì món ănsẽ
Trang 16hấp dẫn hơn so với một món ăn nhạt Vì thế, những người cao tuổi thường dùng nhiều muối gấp hai người trẻ để thỏa mãn khẩu vị [42]
Các nghiên cứu cũng cho thấy, một số người, với một sự bất thường nào
đó của genotype (mà hiện nay chưa xác định), khi tiếp xúc với chế độ ăn có lượng Sodium (Na+) cao, lượng potassium (K+) thấp, với những thay đổi trong lối sống như stress, uống rượu, béo phì… dẫn đến tăng huyết áp
Các bất thường về gene có thể liên quan đến việc tổn thương hệ thống kiểm soát thải NaCl hoặc là sự khiếm khuyết của thận trong khả năng thải Na+ [59], [74]
Như vậy, THA được gọi là vô căn (Essential hypertention) nhưng thực ra cũng có nguyên nhân, đó là sự thay đổi chế độ ăn, lối sống ở những người có yếu tố gen nhạy cảm THA Vấn đề thách thức trong thời gian tới là xác định được các đối tượng này, để tác động vào chế độ ăn và lối sống, để bảo vệ họ phòng ngừa việc xuất hiện THA
- Béo phì: Rất nhiều kết quả nghiên cứu chứng minh sự liên hệ nhân quả
giữa béo phì và tăng huyết áp Người béo có nguy cơ bị cao huyết áp hơn người không béo từ hai tới sáu lần và mắc các bệnh của động mạch vành Một nghiên cứu của Deji et al (2013) có tới 62% người bệnh tăng huyết áp là thừa cân hoặc béo phì [52]
Theo một số thống kê cho thấy, khoảng 60% người tăng huyết áp đều béo Lý do là khi thừa cân béo phì thì trái tim phải làm việc liên tục nhiều hơn
để cung cấp đủ máu cho khối lượng tế bào lớn hơn của cơ thể Một lý do nữa
là người béo dễ bị tiểu đường loại II, mà tiểu đường là một trong nhiều nguy
cơ đưa tới cao huyết áp Chất béo trong máu nhiều quá sẽ làm các thành phần khác của máu kết dính với nhau, tim phải tăng sức co bóp để đẩy máu dính cục này vào động mạch và áp suất động mạch tăng theo Nghiên cứu mối liên quan giữa THA với thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ thấy thời gian phát hiện
Trang 17bệnh càng dài thì tỉ lệ THA càng cao (dưới 1 năm: THA = 46,67%; từ 1 đến 3 năm: THA = 51,22%; trên 3 năm: THA chiếm 81,22%) [13]
- Thuốc tránh thai (dùng bằng đường uống): Một số phụ nữ dùng
thuốc tránh thai có thể bị THA
- Một số loại thuốc, như amphetamine (thuốc kích thích), thuốc giảm
cân, thuốc cảm và dị ứng có thể làm tăng huyết áp
- Không tập thể dục: Ngồi nhiều một chỗ có thể gây béo phì và tăng
huyết áp [52]
- Nhiều loại thuốc thông dụng (OTC - over the counter), chẳng hạn như thuốc giảm đau, cũng có thể chứa một lượng lớn Natri
- Rượu: Thống kê cho hay, từ 5 tới 7% người THA đều tiêu thụ nhiều
rượu các loại Chỉ cần 3 oz là đủ để nâng áp suất mạch máu lên 3 mmHg [41]
1.2 CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP
1.2.1 Vai trò của dinh dưỡng trong tăng huyết áp
Người bị tăng huyết áp, ngoài thuốc, việc lựa chọn và duy trì một chế độ
dinh dưỡng hợp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề tuân thủ những nguyên tắc chung như: ăn nhạt, hạn chế mỡ động vật, kiêng các chất kích thích người bệnh nhiều khi
tỏ ra lúng túng khi chọn dùng các đồ ăn thức uống hàng ngày để được một
chế độ dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe
Dinh dưỡng có tác động lên huyết áp động mạch Những thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng lớn, gây THA bao gồm: Natri, kali, calci và magie; các chất béo: mỡ động vật, dầu thực vật; Glucid: đường, tinh bột; rượu, bia, chất kích thích [32]
Theo Hội Tim mạch Việt Nam, chế độ dinh dưỡng hợp lý làm hạn chế tăng huyết áp, duy trì được huyết áp mục tiêu và giúp làm ổn định huyết áp, làm giảm tối đa nguy cơ tim mạch như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…[27]
Trang 18* Nghiên cứu của một số tác giả đã khuyến nghị một khẩu phần ăn cho người bệnh tăng huyết áp nên có như sau [25], [41], [23]:
- Năng lượng: 30-35 Kcalo/cân cân nặng lý tưởng trên ngày Người béo quá mức (BMI >25) và béo phì (BMI >30) cho ít hơn để giảm cân, vì giảm cân là một yếu tố hạ HA rất hiệu quả
- Protid: 15- 18% tổng năng lượng Protein có nguồn gốc động vật chiếm 30-35% tổng lượng Protein
- Lipid: 18- < 25% tổng năng lượng Tỷ lệ Lipid động vật/thực vật không quá 60%
1.2.2 Các loại thực phẩm tốt cho người bệnh tăng huyết áp
Theo Y học cổ truyền, một số nước uống và thức ăn có tác dụng tốt cho người bệnh THA Các loại cây lá có sẵn trong vườn nhà mà dân gian thường
sử dụng làm nước uống hàng ngày và có tác dụng hạ áp bao gồm:
+ Lá vối: theo kinh nghiệm dân gian thường phối hợp lá vối với lá Hoắc hương làm nước uống lợi tiêu,nước chiết của nụ vối là thành phần của nước uống bổ dưỡng trợ tim, làm giảm khả năng nhiễm bệnh Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoit thuộc nhóm flavonol, flavan-3-ol, anthocyanin như quercetin, rutin, myricetin, pelargonin, hỗn hợp catechin của trà có tác dụng làm tăng biên độ co bóp và tăng thể tích phút của tim, thí nghiệm làm hồi phục tim khi
bị ngộ độc bởi CHCl3, quinin, metanol, bình thường lại sự rối loạn nhịp [37]
Trang 19+ Linh chi: Ở các nước Đông Nam Á, (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…) việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng Linh chi đang được công nghiệp hóa với qui mô lớn về phân loại, nuôi trồng chủ động, chế biến
và bào chế dược phẩm, đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất, tác dụng dược lý và phương cách điều trị lâm sàng Giá trị dược lý của Linh chi càng được khẳng định khi Hội nghị Nấm học thế giới thành lập Viện nghiên cứu Linh chi Quốc tế tại New York
Linh chi có nhiều tác dụng khác nhau, đối với bệnh về hệ tim mạch: nấm Linh chi có tác dụng điều hoà, ổn định huyết áp Khi dùng cho người huyết áp cao, nấm Linh chi không làm tăng mà làm giảm bớt, dùng nhiều thì huyết áp ổn định.Đối với những người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp thì nấm Linh chi có tác dụng nâng huyết áp lên gần mức dễ chịu nhờ cải thiện, chuyển hoá dinh dưỡng.Đối với bệnh nhiễm mỡ, xơ mạch, dùng nấm Linh chi có tác dụng giảm cholesterol toàn phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỉ trọng cao trong máu, làm giảm hệ số sinh bệnh Nấm Linh chi làm giảm xu thế kết bờ của tiểu cầu, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải tỏa cơn đau thắt tim [33]
Hình 1.1 Nấm Linh chi là một dược liệu quý cho bệnh nhân THA
Trang 20- Hoa Hòe: Trong hoa hòe có chứa rutin Rutin là một loại vitamin P có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mạch máu Rutin trong hoa hòe giúp
ổn định và hạ huyết áp, phòng ngừa tai biến mạch máu não [29]
+ Theo y học cổ truyền, hoa hòe có vị đắng, tính hàn, có tác dụng lương huyết, chỉ huyết Hoa hòe được sử dụng trong các trường hợp huyết nhiệt, cầm máu, điều trị các bệnh chảy máu cam, ho ra máu, rong kinh, đại tiện ra máu Ngoài ra, hoa hòe còn giúp điều trị cao huyết áp, điều trị sau tai biến mạch máu não [4]
Hình 1.2 Hoa Hòe là thảo dược phổ biến cho bệnh nhân THA
- Tâm Sen: Tâm sen giúp thanh nhiệt và chữa bí tiểu rất tốt Có tác dụng này chính là nhờ công dụng giải nhiệt và an thần của tâm sen Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, tâm sen giúp hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giãn cơ trơn thành mạch và giảm trở lực huyết quản Tâm sen còn phòng chống rối loạn nhịp tim, chống oxy hoá… Thực phẩm này cũng cải thiện thiếu máu cơ tim, cải thiện lưu lượng tuần hoàn động mạch vành Chính vì lẽ đó mà tâm sen có tác dụng rất tốt với ngườibị tăng huyết áp và rối loạn nhịp tim
Trang 21Hình 1.3 Người bệnh THA được nhiều tác gia khuyên dùng trà tâm sen
- Tam thất: Tam thất là hiện nay khá phổ biến đối với mọi người, là một trong những phương thuốc được nhiều người lựa chọn để điều trị bệnh lý an toàn và hiệu quả Tam thất hay nhiều người còn gọi với cái tên khác đó là kim bất hoán, nhân sâm tam thất, điền thất, sâm tam thất, tam thất bắc Tam thất
có rất nhiều công dụng, trong đó có giảm được tình trạng căng thẳng thần kinh, ức chế, đồng thời giảm stress Tam thất giúp hồi phục hệ thần kinh và tăng cường trí nhớ; giảm những triệu chứng như đau nửa đầu, đau đầu do mạch máu não lưu thông kém dẫn đến thiếu máu [4]
- Atiso: Là cây thuộc thảo, cao đến 2m Thân ngắn, thẳng và cứng.Lá to, dài, mọc so le, phiến xẻ thùy sâu, mặt trên xanh, mặt dưới phủ lông trắng.Hoa màu đỏ tím hoặc lơ nhạt.Quả nhẵn bóng, màu nâu sẫm.Ngoài lá, cụm hoa và
rễ đều có thể sử dụng làm thuốc.Trước khi dùng cần sao qua hoặc sao vàng.Atisô có hoạt tính chống oxy hóa, tác dụng bảo vệ gan, tác dụng lợi mật tốt, tác dụng hạ cholesterol và ure huyết Hoa atisô được dùng dưới dạng một món ăn cho những người bệnh tiểu đường, lá và rễ dùng làm thuốc lợi tiểu, thông mật trong các bệnh viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật, viêm thận cấp và mạn tính, hoặc những người có chức năng gan, mật kém Do thuốc có tác
Trang 22dụng nhuận tràng, nên thích hợp cho những người táo bón mạn tính, nhất là những người cao tuổi [4]
Ngoài ra những loại thảo dược nêu trên còn rất nhiều các loại thảo dược
tự nhiên khác có tác dụng hạ huyết áp cũng như giúp người bệnh kiểm soát huyết áp mục tiêu
* Những thực phẩm giàu Kali, Canxi, Magie:
+ Kali và Magie có trong ngũ cốc, khoai củ, đậu đỗ và các loại rau quả [6] + Sữa và các chế phẩm từ sữa là nguốn cung cấp Canxi tốt Nên chọn sữa tách béo, không đường, bổ sung canxi [7]
- Cần tây, cải cúc, rau muống, cà chua: Là loại rau thông dụng, có hương thơm đặc biệt, chứa nhiều acid amin và tinh dầu, có tác dụng làm thanh sáng đầu óc và hạ HA Rau muống: Chứa nhiều canxi, rất có lợi cho việc duy trì áp lực thẩm thấu của thành mạch và HA trong giới hạn bình thường, là thứ rau đặc biệt thích hợp cho những người bị cao HA có kèm theo triệu chứng đau đầu Cà chua: Có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết bình can và hạ
HA Nó là thực phẩm rất giàu vitamin C và P, nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống sẽ có khả năng phòng chống cao HA rất tốt, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt [6]
- Các loại củ, quả như cà tím, cà rốt, hành tây: Là thực phẩm rất giàu vitamin P, giúp cho thành mạch máu được mềm mại, dự phòng tích cực tình trạng rối loạn vi tuần hoàn hay gặp ở những người bị cao HA và các bệnh lý tim mạch khác Cà rốt còn có tác dụng làm mềm thành mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và ổn định HA Hành tây trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng
HA của catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối natritrong cơ thể nên làm giảm HA Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều
Trang 23rutin rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não [6]
- Các loại nấm như nấm hương, nấm rơm, mộc nhĩ: Là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng lại có khả năng phòng chống xơ vữa động mạch
và hạ HA Mộc nhĩ đen hay mộc nhĩ trắng đều là những thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA [6]
Hình 1.4 Các loại nấm tốt cho người bệnh THA đang
được nuôi cấy phổ biến ở Việt Nam
- Tỏi: Có công dụng hạ mỡ máu và hạ HA Kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml giấm ngâm tỏi thì có thể duy trì HA
ổn định ở mức bình thường [5]
- Đậu Hà Lan và đậu xanh: là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA Kinh nghiệm dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống cao HA [6]
- Sữa đậu nành: Là đồ uống lý tưởng cho người bị cao HA, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và hạ HA Mỗi
Trang 24ngày nên dùng 1.000 ml sữa đậu nành pha với 100g đường trắng, chia uống vài lần trong ngày [6]
- Táo, dưa chuột: Là loại thực phẩm chứa nhiều kali có thể kết hợp với lượng natri dư thừa để đào thải ra bên ngoài, giúp cho cơ thể duy trì HA ở mức bình thường
- Lạc (đậu phộng): Kinh nghiệm dân gian Trung Quốc dùng lạc ngâm với giấm ăn sau 5 ngày thì dùng được, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 hạt
- Chuối tiêu: Người bị tăng huyết áp nếu ăn đều mỗi ngày 2 - 3 quả chuối tiêu chín trong vài tuần lễ có thể làm giảm được chỉ số huyết áp khoảng 10% hoặc hơn Trong 100g chuối tiêu chín có 74g nước, 1,5g protit, 0,4g axit hữu cơ, 22,4g gluxit, 0,8g xenluluza, cung cấp được 100 Kcal, vượt xa các loại quả ngọt khác về cung cấp năng lượng Lượng chất gluxit có trong chuối tiêu là rất cao, ở các dạng glucoza (20%), fructoza (15%) và saccharoza (65%) là những loại đường tự nhiên quý của quả chín, dễ tiêu hoá, cơ thể hấp thụ nhanh và cung cấp nhiều năng lượng Đặc biệt là loại gluxit dễ hấp thu để tăng cường dự trữ glycogen trong gan, bảo vệ gan chống lại các yếu tố gây nhiễm độc gan và ngăn cản sự xâm nhiễm mỡ ở gan Chuối tiêu chín còn có nhiều muối khoáng (canxi, photpho, sắt, đặc biệt là kali) và các vitamin (0,12mg caroten, 0,04mg viatmin B1, 0,05mg vitamin B2, 0,7mg vitamin PP, 6mg vitamin C ) là những chất cần thiết cho cơ thể [6], [51]
+ Chuối tiêu là một vị thuốc hạ huyết áp tốt và không có một tác dụng phụ nào Từ lâu các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những thức ăn chứa nhiều kali và ít natri có khả năng làm hạ huyết áp cao, đề phòng được đột quỵ [6]
Trang 25Hình 1.5 Chuối tiêu có nhiều kali cho người bệnh THA
+ Sự tương quan giữa kali và natri có liên quan đến huyết áp và hoạt động của hệ tim mạch Natri là thành phần quan trọng của muối ăn có khả năng giữ nước trong cơ thể gây gánh nặng cho hệ tim mạch, còn kali ngược lại có tác dụng giúp cơ thể đào thải bớt natri [48]
- Rượu vang: Nhiều nghiên cứu gần đây đều cho thấy mỗi ngày dùng
khoảng 100g rượu vang đỏ sẽ có lợi cho hoạt động của hệ tim mạch Quả nho
và rượu nho, đặc biệt là trong vỏ nho và hạt nho có hàm lượng nhiều chất chống oxy hoá có thể giúp làm tăng độ cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu, bảo vệ thành mạch máu để phòng chống các loại bệnh tim mạch
1.2.3 Các thực phẩm người bệnh tăng huyết áp không nên dùng
Tránh ăn mặn: Nhu cầu Na+ ở trẻ em và người lớn 200 mg, trong khi,
thông thường, hàng ngày trung bình mỗi người ăn vào 4.000 – 6.000mg (tương đương 10g-15g muối, lượng Na+ chiếm 40% trong NaCl) tức là cao
hơn nhiều so với nhu cầu [25], [30]
Việc tiêu thụ quá nhiều muối còn dẫn đến một số bất lợi khác đối với sức khỏe như:
+ Giữ nước trong các bệnh suy tim, thận nhiễm mỡ
+ Gây phù chu kỳ, phù trước kỳ kinh, phù vô căn
Trang 26+ Tăng co thắt, kích thích cơn suyễn
+ Liên quan đến ung thư dạ dày
+ Tăng thải Ca++
qua thận, tăng nguy cơ loãng xương
Do vậy việc giảm lượng muối (Na+) ở người tăng huyết áp luôn được khuyến cáo ngay ở giai đoạn đầu điều trị không dùng thuốc [47]
Mục tiêu: Giảm lượng muối tiêu thụ < 5g/ ngày, người bị cao huyết áp chỉ nên ăn dưới 4 g / 24 giờ
+ Hạn chế ăn muối, nêm muối khi chế biến thức ăn
+ Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà…
+ Giảm 1 số thói quen của người Á Đông như chấm muối, chấm nước mắm … khi không thật sự cần
+ Bớt dùng mì chính, bột ngọt, hạt nêm …
+ Hạn chế sử dụng những thức ăn chế biến sẵn như mì ăn liền, giò chả, lạp xưởng, đồ hộp, đồ uống có ga [25]
Tránh thức ăn cay và thức ăn tinh: Thức ăn có vị cay hoặc thức ăn
tinh (bột mỳ, các loại bánh ngọt…) đều làm cho việc đại tiện khó khăn, dẫn đến táo bón Khi đại tiện khó khăn huyết áp sẽ tăng, từ đó có nguy cơ xuất
huyết não [44]
Không ăn phủ tạng động vật: Người bị huyết áp cao không nên ăn các
loại phủ tạng động vật (gan, tim, bầu dục, ruột non…) bởi các thức ăn này rất
giàu cholesterol, làm tăng huyết áp [30]
Hạn chế thức ăn nhiều năng lƣợng: Thức ăn chứa nhiều năng lượng
như đường glucose, đường mía, chocolate… sẽ dẫn đến béo phì Tỷ lệ người béo phì bị cao huyết áp nhiều hơn so với người có huyết áp ở mức ổn định
Do đó, người cao huyết áp nên hạn chế ăn những thức ăn nhiều năng lượng Cẩn thậnchất béo: hạn chế sử dụng thực phẩm chất béo bão hòa,
cholesterol (mỡ động vật, thịt đỏ) Khi ăn nhiều thịt béo thức ăn chiên, xào,
Trang 27rán, thức ăn ngọt, bơ, sửa toàn phần, dầu mỡ… Rất giàu chất béo no và là nguyên nhân chính làm tăng cholesterol và lipid máu.Hạn chế thực phẩm
chứa nhiều Cholesterol như: óc, tim, gan, cật, trứng, da, gia súc, gia cầm Giảm hoặc loại bỏ chất béo no trong thành phần ăn.Nên tốt nhất là chọn
những loại thịt càng nạc càng tốt Hạn chế thịt bò, thịt lợn và thịt cừu, nên chọn cá và thịt gia cầm (cần bỏ da) [23]
Không nên ăn nhiều thịt gà vì thịt gà có dinh dưỡng cao, ăn nhiều sẽ
khiến cho cholesterol và huyết áp tăng cao Do đó, không nên cho rằng thịt gà
là thứ bổ dưỡng cho mọi người bệnh, đặc biệt là người cao huyết áp cần hạn
cao Vì vậy, người bị cao huyết áp nên tránh uống rượu [25], [48]
Tránh uống trà đặc: Huyết áp cao nên tránh uống trà đặc vì trong trà
đặc chứa nhiều chất kiềm, có thể làm cho đại não hưng phấn, tinh thần bất an, mất ngủ, tim đập loạn nhịp và huyết áp tăng cao Trái lại, uống chè xanh lại
có lợi cho việc điều trị bệnh cao huyết áp
Không hút thuốc: Hút thuốc làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp và làm
giảm lượng oxy cần thiết đến các tế bào và các cơ quan đồng thời làm tăng
nguy cơ vữa xơ động mạch
Trong cà phê có chất gọi là caphein, uống nhiều sẽ kích thích tim đập nhanh gây tăng huyết áp [25]
Trang 281.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN
Trong chiến tranh Crimea từ những năm 1854, tác giả Florence Nightingale đã nhận thấy vai trò của dinh dưỡng tốt đối với sự lành vết thương của các binh lính.Tuy nhiên cho tới những thập niên cuối của thế kỷ
20 suy dinh dưỡng ở người bệnh vẫn còn là vấn đề còn tồn tại.Nghiên cứu của McWhirter và Pennington báo cáo chỉ rõ chỉ có 96/200 người bệnh nhập viện
có suy dinh dưỡng được ghi nhận Còn theo Cereda E và cộng sự chỉ có 38,2% người bệnh nhập viện được tính BMI, 13,6% người bệnh nhập viện được hỗ trợ dinh dưỡng và chỉ có 21,6% người bệnh được theo dõi cân nặng thường quy [57]
Tùy theo từng phương pháp đánh giá ngiên cứu, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh nằm viện dao động từ 20- 40%, cá biệt có những nghiên cứu
tỷ này còn hơn 50% [38],[70]
Nghiên cứu của Bauer J năm 2002 đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư cho thấy có 59,0% có vấn đề về dinh dưỡng, 17,0% người bệnh có suy dinh dưỡng nặng Trong nghiên cứu sử dụng bẳng điểm SGA (PA- SGA) để áp dụng đánh giá [61]
Nghiên cứu về các nguy cơ suy dinh dưỡng trên 374 người bệnh phẫu thuật dạ dày bằng phương pháp SGA tại Ấn Độ năm 2009 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 55,0% trong đó suy dinh dưỡng nặng là 19,0% [64]
Tại Anh năn 2017 tác giả John Saunders và cộng sự nghiên cứu và suy dinh dưỡng và dinh dưỡng hỗ trợ ở người bệnh viêm gan mãn tính, tỷ lệ suy dinh dưỡng cửa người bệnh xơ gan mãn tính là 20,0%, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh xơ gan gia đoạn mất bù là 60,0% [71]
Trang 29Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy THA có mối liên quan chặt chẽ với chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt của người bệnh
Nghiên cứu tại Hàn Quốc năm 2001, tỷ lệ tăng huyết áp là 33,7% ở người từ 18-92tuổi,trong đóởnam41,5%sovới nữ24,5%.Nghiêncứucủa Szuba
A năm 2011 trên 3.862 người từ 45 - 64 tuổi tại Ba Lan, tỷ lệ tăng huyết áp là 61,7% Tại Hàn Quốc, cuộc điều tra KNHANES lần thứ năm (2010-2012) trên 17.621 người từ 20 tuổi trở lên, tỷ lệ tăng huyết áp là 25,8% (nam 27,8%,
nữ 23,8%)
Tỷ lệ tăng huyết áp tăng theo tuổi và tỷ lệ tăng huyết áp ở nam cao hơn ở
nữ Tuy nhiên, trong các nghiên cứu với độ tuổi từ 35 trở lên, tỷ lệ tăng huyết
áp ở nữ có xu hướng cao hơn ở nam [68]
Tiêu thụ nhiều chất béo bão hòa và axit béo chuyển hóa có liên quan đến bệnh tim, thay thế bằng các loại dầu thực vật không bão hòa nhằm giảm nguy
cơ bệnh tim mạch vành Theo Tổ chức Y tế thế giới, có sự khác biệt lớn giữa
số lượng chất béo được sử dụng ở các khu vực, thấp nhất ở Đông Nam Á và cao nhất ở Châu Âu
Nghiên cứu Tehran với 12.523 người, 3.462 đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên theo dõi trong vòng 3 năm, chế độ ăn ít béo được chứng minh giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh tăng huyết áp gấp 3,3 lần [53]
Một nghiên cứu đoàn hệ tại Nhật bao gồm 187.453 người tham gia, theo dõi trên 20 năm Trong 6 tháng thử nghiệm can thiệp, những người tham gia tăng lượng ăn trái cây và rau đã giảm trung bình 4 mmHg huyết áp tâm thu khi so sánh với nhóm chứng Những người có lượng tiêu thụ rau quả trái cây trên 4 phần ăn/ngày có nguy cơ tăng huyết áp bằng 0,92 (0,87-0,97) lần cho tổng lượng toàn bộ trái cây và 0,95 (0,86-1,04) lần cho tổng lượng rau so với nhóm ăn ít hơn Tương tự như vậy, so với những người không tăng lượng rau quả, những người có lượng tăng ≥7 bữa/tuần có tỷ lệ tăng huyết áp bằng 0,94
Trang 30(0,90-0,97) lần cho tổng số lượng toàn bộ trái cây và 0,98 (0,94-1,01) lần cho tổng rau Kết quả cho thấy duy trì chế độ ăn thường xuyên rau quả trái cây có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tăng huyết áp [67]
Theo nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu của Jan A Staessen, trong số 3.681 người không có bệnh tim mạch, huyết áp bình thường là 2.096 người và 1.499 người bị tăng huyết áp Kết quả cho thấy tăng 100 mmol thải sodium có liên quan với 1,71mmHg tăng huyết áp tâm thu (p<001), nhưng không có sự thay đổi trong tâm trương Việc bài tiết Na thấp có liên quan với tỷ lệ tử vong bệnh tim mạch cao hơn nhưng không có nghĩa rằng ăn mặn được mặc định là một yếu tố nguy cơ cho hầu hết các nguyên nhân gây tăng huyết áp [62]
Năm 2016, nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 22 năm tại Trung Quốc do Qi
SF và cộng sự thực hiện dựa trên cuộc điều tra quốc gia CHNS Tổng số 118.694 đối tượng Kết quả, chỉ số BMI > 22 chi phối 32% (KTC 95%: 29 - 34%) nguy
cơ quy trách bệnh tăng huyết áp trong dân số Trung Quốc Tỷ lệ mắc mới tăng huyết áp mỗi năm là 4,4% (IR = 4,4; KTC 95%: 4,3 - 4,5), tăng dần theo độ tuổi
và chỉ số BMI (p< 0,001) Nguy cơ tăng huyết áp ở nhóm BMI ≥ 28 gấp 3,13 lần
so với nhóm có BMI < 22 (RR = 3,13; KTC 95%: 2,84 - 3,45) [72]
Thanh thiếu niên là một dân số có những thách thức về lối sống độc đáo, bao gồm không hoạt động thể chất, dinh dưỡng không đầy đủ và béo phì, tất cả đều làm tăng nguy cơ phát triển tăng huyết áp (HTN) Trong nhóm 1.586 sinh viên có giới tính hỗn hợp này, tỷ lệ mắc HTN là 6,2% (95% CI: 4,6 cạn 8,2%)
ở nữ và 14,0% (95% CI: 10,2 con trai như ở con gái (p <0,001) Béo phì được liên kết độc lập với HTN ở cả hai giới Thừa cân là một yếu tố rủi ro đối với HTN Ngoài ra, có một mối tương quan tích cực giữa phân vị SBP/SBP và chỉ
số BMI Z /tình trạng dinh dưỡng (NS) ở cả hai giới Tỷ lệ không hoạt động thể chất cao cũng được quan sát thấy ở thanh thiếu niên được điều tra, đặc biệt là ở các cô gái Mặt khác, nhiều bé trai hơn bé gái bị phát hiện béo phì [56]
Trang 31Năm 1995, Chính phủ Trung Quốc phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới
và Ngân hàng Thế giới tiến hành chương trình tuyên truyền giáo dục và dự phòng bệnh không lây nhiễm giai đoạn 1996 - 2002 tại 7 thành phố lớn nhất của Trung Quốc bao gồm khoảng 90 triệu dân Kết quả giảm tỷ lệ người lớn hút thuốc lá từ 29,0% xuống còn 13,0%; tăng tỷ lệ người dân có thói quen tập luyện thể dục thường xuyên từ 41,0% lên 84,0%; tăng tỷ lệ phát hiện sớm tăng huyết áp thêm 15%; giảm 50% tỷ lệ bị các biến chứng về tim mạch và đột quỵ ở người dân có tăng huyết áp
Khoảng hơn một thập niên trở lại đây đã bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu về dinh dưỡng lâm sàng Năm 2006, Phạm Thu Hương và cộng sự công
bố kết quả nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh nhập viện điều trị tại khoa Nội tiết và Tiêu háo bệnh viện Bạch Mai bằng công cụ SGA Kết quả
tỷ lệ suy dinh dưỡng tại hai khoa lần lượt là 13,3% và 58,0% [20]
Tại bệnh viện Chợ Rẫy theo nghiên cứu của Lưu Ngân Tâm và cộng sự năm 2011, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh nhập viện điều trị là hơn 50,0% theo SGA và 2/3 số người bệnh suy dinh dưỡng nhập viện cần được hỗ trợ dinh dưỡng sớm [35]
Năm 2012, Nguyễn Đỗ Huy, Nguyễn Nhật Minh nghiên cứu về thực trạng của người bệnh nằm viện tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên và bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng bằng phương pháp BMI là rất cao, 18,6% có nguy cơ suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng là 33,4% (theo SGA) Tỷ lệ suy dinh dưỡng tại bệnh viện trung ương Thái Nguyên là 17,9% (theo BMI), có nguy cơ suy dinh dưỡng là 14,1% và
có suy dinh dưỡng là 0,9% (theo SGA) [21]
Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh viên Đa khoa Bắc Giang năm 2013 cho thấy tỷ lệ thiếu dinh dưỡng của người bệnh trong
Trang 32viện khá cao chiếm 27,7% Tỷ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng là 47,0%, điều đặc biệt là tỷ lệ có nguy cơ suy dinh dưỡng tăng lên theo thời gian nằm viện [22]
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương các chỉ số liên quan đến dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ giảm cân trong hai tuần nhập viện trước khi nhập viện của người bệnh suy dinh dưỡng là 66,7% cao hơn nhóm bình thương là 43,5%, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng giảm khẩu phần ăn khi nhập viện ở nhóm suy dinh dưỡng là 59,3% cao hơn nhóm bình thường là 43,5% [24] Nghiên cứu của Cao Thị Mỹ Phượng về tỷ lệ tăng huyết áp và liên quan với một số yếu tố nguy cơ ở người từ 40 tuổi trở lên tại tỉnh Trà Vinh năm
2012 cho kết quả tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên là 31,7% (30,9
- 33,5%) Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ THA ở nam (29,3%) thấp hơn tỷ lệ THA ở nữ (33,5%) Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng tuổi càng cao tỷ lệ THA càng cao Tỷ lệ đối tượng có YTNC THA rất cao, đặc biệt từ 3 YTNC trở lên là 41,6% Trong cộng đồng dân cư này, có mối liên quan rõ rệt giữa THA với YTNC về tuổi, vòng bụng to, thừa cân/béo phì, bệnh đái tháo đường, và gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm [32]
Chế độ ăn nhiều mỡ động vật là nguy cơ trực tiếp của các bệnh tim mạch Nhiều nghiên cứu quan sát và các thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác động của chất béo bão hòa đến tăng huyết áp cho thấy sự tương quan này là không rõ Chế độ ăn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, thu nhập, thói quen ăn uống Chưa có nhiều thông tin về tỷ lệ người dân có thói quen ăn nhiều mỡ động vật và ở những nghiên cứu trước đây ở ViệtNam
Nghiên cứu của Văn Hữu Tài năm 2009, trên đối tượng đồng bào M’Nông, cho tỷ lệ ăn mỡ động vật 22,0% Người ăn mỡ có tỷ lệ tăng huyết áp
là 18,4% cao hơn tỷ lệ tăng huyết áp ở người không ăn mỡ 17,3% [34]
Trang 33Trần Thiện Thuần, 2005 điều tra 1.981 người có độ tuổi 25 - 64 tại TP HCM Tỷ lệ ăn trái cây là 96% và ăn rau là 94% Tuy nhiên tỷ lệ ăn rau, quả hàng ngày thấp chỉ chiếm 2% Và chỉ ăn >5 suất quả mỗi ngày chỉ đạt 25%
Ăn rau quả có thể không làm giảm huyết áp nhưng ngăn ngừa được một số yếu tố nguy cơ cũng có thể ăn rau quả tác động đến cân nặng [39]
Nghiên cứu trên người M’Nông của Văn Hữu Tài cho kết quả là nhóm
ăn mặn có tỉ lệ THA cao gấp 2,6 lần so với nhóm không ăn mặn Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa ăn mặn và tăng huyết áp [34]
Người béo phì thì tỷ lệ THA càng cao, thừa cân béo phì thường đi đôi với tăng Cholesterol máu, dễ bị xơ vữa động mạch làm tăng thêm các biết chứng của THA Qua điều tra của Hoàng Đức Thuận Anh năm 2013 tại huyện Hương Thủy Thừa Thiên Huế có kết quả là người có BMI < 18,5, tỷ lệ THA
là 26,0%, người có 18,5 ≤ BMI < 23 là 33,1%, người có 23 ≤ BMI <25 có tỉ
lệ 54,5%, người có 25≤ BMI < 30 có tỷ lệ cao là 64,3% [1]
Trần Thiện Thuần năm 2005 điều tra 1981 người có độ tuổi 25-64 tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần qua người nhẹ cân, bình thường, thừa cân, béo phì (14%, 17%, 30% và 43%) Điều này cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần theo tỷ lệ thừa cân béo phì [39]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Bảo về thực trạng tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm
Y tế quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng năm 2016 cho kết quả là:
Chỉ có 48,3% người bệnh đạt về tuân thủ điều trị THA, tỷ lệ không tuân thủ điều trị THA là 51,7% Tỉ lệ không tuân thủ thấp hơn ở những người bệnh là nam giới, dưới 60 tuổi, có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, chưa từng bị biến chứng của THA, có bị tác dụng phụ khi sử dụng thuốc điều trị THA và người bệnh chưa có kiến thức tốt về tuân thủ điều trị [2]
Trang 34Để kiểm soát tình hình tăng huyết áp, Bộ Y tế đã ban hành Quyết đi ̣nh số 2559/QĐ-BYTngày 20 tháng 4 năm 2018: Quyết đi ̣nh ban hành kế hoa ̣ch hành động tăng cường thực hiện điều trị , quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường theo nguyên lý y ho ̣c gia đình ta ̣i các tra ̣m y tế xã, phường, thị trấn giai đoa ̣n 2018 - 2020 với mu ̣c tiêu chung là: Đến năm 2019, 100% trạm y tế được đào tạo về dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ) theo nguyên lý y học gia đình Đến năm
2020, ít nhất 70% trạm y tế thực hiện dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý THA theo nguyên lý y học gia đình; ít nhất 40% trạm y tế thực hiện dự phòng, phát hiện sớm, điều trị và quản lý ĐTĐ theo nguyên lý y học gia đình Đến năm 2020, ít nhất 40% người trưởng thành từ 40 tuổi trở
lên được đo huyết áp và đánh giá nguy cơ đái tháo đường
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những người bê ̣nh được chẩn đoán xác đ ịnh mắc bệnh tăng huyết áp theo JNC VII nhập viện điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn vào và loại trừ
* Tiêu chuẩn chọn vào:
- Người bệnh được bác sỹ tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình chẩn đoán là THA không phân biệt chẩn đoán lần đầu hay đã được chẩn đoán trước đó
- Có khả năng giao tiếp và sức khỏe đủ để trả lời bảng câu hỏi phỏng vấn
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh bị rối loạn tâm thần hoặc được đánh giá quá yếu để tham gia
- Người bệnh từ chối tham gia vào nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian 3 tháng, từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019
Trong thời gian 3 tháng thực hiện đề tài nếu có người bệnh THA tái phát nhập viện điều trị nhiều lần thì chỉ ghi nhận vào nghiên cứu các đối tượng đến nhập viện lần đầu
Mỗi người bệnh được thăm khám, tư vấn, theo dõi và đánh giá kết quả tư vấn tại 2 giai đoạn vào ngày thứ nhất (D0) và ngày thứ 7 (D7)
Trang 362.1.4 Địa điểm nghiên cứu
Tại khoa Nô ̣i Tim ma ̣ch bê ̣nh viên Đa khoa tỉnh Thái Bình
* Khoa Nội Tim ma ̣ch bê ̣nh vi ện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ năm 2015 đến ngày 30/11/2018 đã tiếp nhận 50.036 trường hợp người bệnh mắc bệnh lý tim mạch đến khám, chiếm 9,3% tổng số người bệnh đến bệnh viện khám bệnh; có 19.795 lượt người bệnh tim mạch vào điều trị nội trú, chiếm 13,1% người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Do phẫu thuật can thiệp tim mạch là
kỹ thuật khó, nhiều kỹ thuật vượt quá khả năng của các bác sĩ bệnh viện, vì vậy hàng năm số người bệnh phải chuyển tuyến để khám và phẫu thuật ngày càng tăng Trong đó, riêng năm 2016 có 1.792 bệnh nhân chuyển viện có bệnh lý tim mạch.Nhưng với sự chuyển giao kỹ thuật của các bác sĩ Bệnh viện Tim Hà Nội, đến nay sau hơn 2 tháng chuyển giao, các bác sĩ tại khoa đã thực hiện thành công kỹ thuật can thiệp tim mạch ngay tại bệnh viện, giúp hàng nghìn bệnh nhân không phải chuyển lên tuyến trên
Cùng với việc không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn, phát triển
kỹ thuật mũi nhọn Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh luôn tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của người bệnh về phòng, điều trị, chăm sóc bệnh tim mạch Hàng ngày tại các giường bệnh, cán bộ y, bác sỹ điều dưỡng của khoa Nội tim mạch luôn sát sao hướng dẫn người bệnh chế độ ăn uống, trong đó có chế độ ăn hạn chế muối để bảo vệ, phòng và điều trị bệnh
* Khoa Dinh dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình: Do nhu cầu dinh dưỡng điều trị của bệnh nhân đang đặt ra rất cấp thiết, bên cạnh đó là tình hình cung cấp suất ăn cho người bệnh và người nhà người bệnh khi mua tại các cơ sở chế biến thức ăn ngoài và từ nhà mang đến sẽ không đảm bảo về vấn đề dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho người bệnh, người nhà người bệnh và cán bộ bệnh viện
Trang 37Do đó bệnh viện cần đã tái thành lập và triển khai hoạt động Khoa Dinh dưỡng và triển khai công tác dinh dưỡng bệnh viện để nâng cao công tác chăm sóc người bệnh được tốt nhất Khoa có văn phòng khoa và nhà ăn bệnh viện được thiết kế 1 chiều, có đủ nhân lực và thiết bị để chế biến xuất ăn bệnh
lý cho người bệnh Tổ chức nhân lực của Khoa gồm 01 Trưởng Khoa Dinh dưỡng bệnh viện, 01 bác sỹ, 01 điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên, cán bộ
Bộ phận dinh dưỡng tiết chế được bệnh viện giao thầu cho các nhà thầu có đủ
uy tín chất lượng đảm nhiệm và chịu sự giám sát của Khoa dinh dưỡng để đảm bảo yêu cầu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện qua theo dõi dọc trên cùng 1 nhóm bệnh nhân với
2 giai đoạn phù hợp với 2 phương pháp thiết kế nghiên cứu
Giai đoạn 1 là thiết kế nghiên cứu mô tả với điều tra cắt ngang ngay trong ngày đầu người bệnh nhập viện, đồng thời cung cấp dẫn liệu cho nghiên cứu tiếp theo ở giai đoạn 2
Giai đoạn 2 đã áp dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng với biện pháp tư vấn trực tiếp về dinh dưỡng điều trị mà bệnh nhân tăng huyết áp cần tuân thủ ngay từ ngày đầu nhập viện, sau 7 ngày theo dõi dọc đã điều tra cắt ngang đánh giá lại để so sánh trước can thiệp (Trước CT) với sau can thiệp (Sau CT)
* Giai đoạn 1:
+ Mô tả tình trạng dinh dưỡng của người bệnh điều trị nội trú tại khoa:
- Thăm khám dinh dưỡng: Khám da, niêm mạc, tình trạng phù, mô tả tính chất của phù để kết luận nguyên nhân gây phù
- Hỏi về tiền sử gia đình, năm chẩn đoán mắc bệnh, sử dụng thuốc thường xuyên tại nhà, các dấu hiệu như đau đầu, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp
Trang 38trống ngực, cơn đau thắt ngực, có mất ngủ không, nói ngọng, nói thất ngôn, tiểu đêm, tiểu nhiều lần không ?
- Hỏi về tiền sử dinh dưỡng: Người bệnh sử dụng thường xuyên các nhóm thực phẩm như: Glucid tinh chế, thực phẩm chứa nhiều muối, nhiều Cholesterol, các loại nước uống thảo dược, nước uống có hại cho sức khỏe
- Thu thập số liệu cho các biến số lâm sàng, biến số xét nghiệm theo bệnh án của người bệnh: chẩn đoán, triệu chứng, biến chứng, diễn biến của người bệnh, các chỉ số xét nghiệm như công thức máu, sinh hóa, thông số nước tiểu, siêu âm tim, điện tâm đồ để đưa ra chẩn đoán dinh dưỡng
* Giai đoạn 2:
- Tùy thuộc từng người bệnh cụ thể để tư vấn trực tiếp về dinh dưỡng điều trị cho phù hợp với tình trạng tăng huyết áp
- Người bệnh được tư vấn 2 lần vào D0 và D3, sau đó đến ngày thứ 7 (D7)
sẽ đánh giá lại kết quả tư vấn bằng bộ câu hỏi phỏng vấn và khám lâm sàng, xét nghiệm
- Tư vấn về chế độ dinh dưỡng điều trị cho người bệnh bằng tài liệu phát
tay, tư vấn nhóm, tư vấn khi đi thăm khám dinh dưỡng
+ Nội dung tư vấn:
Chế độ ăn trong cho người bệnh THA cần cung cấp đủ năng lượng, các vitamin và khoáng chất, ít natri, giàu kali, giàu chất xơ, giảm lượng acid béo bão hòa và tổng lượng chất béo, hạn chế chất kích thích có tác dụng làm giảm
và ổn định huyết áp
- Chia nhỏ bữa ăn trong ngày Khẩu phần bữa ăn có nhiều rau xanh và quả chín Khẩu phần cacbohdrat trong bữa ăn từ gạo, mỳ, đậu đỗ, quả chín như táo, việt quất và các loại rau xanh khác chiếm khoảng 50% suất ăn
- Chế độ ăn nhạt, ít muối: lượng muối hàng ngày từ 2-4gam (1000- 2000
mg Natri/ngày) Hạn chế muối ăn, giảm mỳ chính với mức < 5gam/ngày; có
Trang 39phù, suy tim cho ít hơn (< 4gam/ngày) Bỏ thức ăn muối mặn như cà, dưa muối, mắm tôm, thức ăn đóng hộp
- Tăng nhiều rau quả để có nhiều kali, trừ khi thiểu niệu
- Chế độ ăn hạn chế chất béo Có thể dùng dầu đậu nành, dầu oliu, dầu
cọ, dầu hướng dương, dầu mè
- Nên ăn thực phẩm cung cấp nhiều Omega-3 và Omega- 6 từ cá hồi, cá thu vài lần/tuần Khuyến khích người bệnh THA bổ sung 250 - 500mg EPA
và DHA/ngày bằng cách ăn cá khoảng 2 lần/tuần
- Sử dụng các thực phẩm giàu acid Folic, Vitamin B12, Vitamin B6, Vitamin D
- Hạn chế các thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh và tinh thần: Bỏ rượu và đồ uống có cồn, café, chè đặc
- Tăng sử dụng thức ăn, thức uống có tác dụng an thần, hạ HA, lợi tiểu:
Lá vông, hạt sen, ngó sen, chè sen vông
- Quản lý cân nặng phù hợp Nếu có béo phì thì nên giảm cân
- Chế độ nghỉ ngơi và luyện tập hợp lý khoảng 30 phút vận động/ngày để làm giảm huyết áp
- Thức ăn nên dùng: cá luộc, canh cá và đậu phụ nhiều bữa/tuần sử dụng
cá và gia cầm thay thế thịt càng thường xuyên càng tốt, dùng dầu thực vật thay mỡ, dùng thêm sữa đậu nành, tôm, cua Dùng các thực phẩm có nhiều kali như cam, chanh, chuối, rau bắp cải, khoai lang, mồng tơi Dùng các thảo dược lợi tiểu, khi HA tăng cao nên ăn nhạt
- Không nên dùng thức ăn giàu Cholesterol (óc, long, tim, gan, bầu dục, lòng đỏ trứng, trứng cá) các đồ nướng, các mỡ pha vào bánh, bơ thực vật, thức ăn nhanh, đồ uống ngọt
Trang 402.2.2 Phương pha ́ p cho ̣n mẫu và cách tính cỡ mẫu
+ Giai đoạn 1:
Đã áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán là THA theo JNC VII được nhập viện điều trị nội trú Tổng số mẫu được chọn là 131 người bệnh
Tất cảnhững người bê ̣nh được chuẩn đoán tăng huyết áp theo phân độ tăng huyết áp của JNC VII không phân biệt tuổi, giới tính Bao gồm tất cả người bệnh
có các biến chứng tim mạch: nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim, các biến chứng về mạch ngoại vi, các biến chứng về mắt, thận, não
Bảng 2.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII năm 2003
- Tiến hành tiếp xúc người bệnh và hỏi về sự đồng thuận tham gia vào nghiên cứu
+ Giai đoạn 2:
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích với tiêu chuẩn chẩn đoán là THA Tổng số có 131 người bệnh được chọn vào nghiên cứu giai đoạn 1 đã đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu trong giai đoạn 2
để can thiệp và không có người bỏ cuộc trong 7 ngày can thiệp