1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng thiếu máu, đặc điểm khẩu phần và hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần tỉnh thái bình năm 2018

119 138 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VŨ THẾ LỘC THỰC TRẠNG THIẾU MÁU, ĐẶC ĐIỂM KHẨU PHẦN VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018 LUẬN VĂN THẠC SĨ DIN

Trang 1

VŨ THẾ LỘC

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU, ĐẶC ĐIỂM KHẨU PHẦN

VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC DINH DƯỠNG

CHO NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Thái Bình - 2019

Trang 2

VŨ THẾ LỘC

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU, ĐẶC ĐIỂM KHẨU PHẦN

VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC DINH DƯỠNG

CHO NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu, Khoa Y tếCông cộng, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Phòng Quản lý Khoa học,

Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn Thực phẩm - Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết sâu sắc tới thầy, cô PGS.TS Vũ Phong Túc vàTS Phạm Thị Dung đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, động viên, khích lệ,

dành nhiều thời gian trao đổi cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn thành viên trong Ban Giám đốc, Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ, Điều dưỡng trưởng bệnh viện, tập thể cán bộ khoa Nam, khoa Nữ và khoa Nghiện Chất tại Bệnh viện Tâm Thần tỉnh Thái Bình

đã nhiệt tình giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm giúp tôi trong thời gian học tập

và triển khai nghiên cứu hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn ân tình nhất tới gia đình, người thân,

bạn bè của tôi là nguồn động viên lớn giúp tôi hoàn thành luận văn

Thái Bình, ngày … tháng… Năm 2019

Tác giả

Vũ Thế Lộc

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi thực hiện tại

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình Các số liệu, kết quả trong luận văn là

trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Bình, ngày… tháng … năm 2019

Tác giả

Vũ Thế Lộc

Trang 5

BMI (Body Mass Index) : Chỉ số khối cơ thể

Trang 6

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm chung 3

1.1.1 Khái niệm bệnh tâm thần 3

1.1.2 Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng 3

1.1.3 Khái niệm tình trạng dinh dưỡng, đánh giá TTDD 5

1.2 Vai trò của dinh dưỡng và đặc điểm khẩu phần của người Việt Nam 9

1.2.1 Vai trò của dinh dưỡng 9

1.2.2 Đặc điểm khẩu phần người Việt Nam 13

1.3 Tỉ lệ mắc tâm thần và đặc điểm dinh dưỡng bệnh tâm thần 17

1.3.1 Tỉ lệ mắc tâm thần 17

1.3.2 Đặc điểm chăm sóc dinh dưỡng ở người bệnh tâm thần 18

1.4 Hoạt động chăm sóc người bệnh 19

1.4.1 Trên thế giới 19

1.4.2 Tại Việt Nam 23

CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 28

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 28

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 29

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

Trang 7

2.2.3 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 32

2.2.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và chỉ tiêu đánh giá 34

2.2.5 Trình tự tiến hành nghiên cứu 36

2.2.6 Sai số và cách khắc phục 37

2.2.7 Xử lý số liệu 37

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Tình trạng thiếu máu, đặc điểm khẩu phần của người bệnh điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình 39

3.2 Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình 49

CHƯƠNG 4:BÀN LUẬN 63

4.1 Tỉ lệ thiếu máu và đặc điểm khẩu phần của người bệnh 63

4.2 Mô tả hoạt động chăm sóc dinh dưỡng người bệnh 75

KẾT LUẬN 89

KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.2 Chiều cao, cân nặng trung bình theo nhóm tuổi và giới tính 40

Bảng 3.3 Giá trị BMI trung bình theo nhóm tuổi và giới tính 40

Bảng 3.4 Phân loại tình trạng dinh dưỡng người bệnh theo chỉ số BMI ở từng nhóm tuổi 41

Bảng 3.5 Mức độ thiếu năng lượng trường diễn theo nhóm tuổi và giới tính 42 Bảng 3.6 Giá trị trung bình chỉ số Hemoglobin 43

Bảng 3.7 Mức độ thiếu máu theo nhóm tuổi và giới tính 45

Bảng 3.8 Tính cân đối giữa các chất sinh năng lượng trong khẩu phần của người bệnh 45

Bảng 3.9 Giá trị năng lượng khẩu phần theo giới tính và nhóm tuổi của người bệnh 46

Bảng 3.10 Giá trị protein và lipid khẩu phần của người bệnh 46

Bảng 3.11 Tỉ lệ người bệnh đạt về nhu cầu năng lượng do protein và lipid cung cấp theo tình trạng dinh dưỡng 47

Bảng 3.12 Hàm lượng một số chất khoáng, vitamin trong khẩu phần 48

Bảng 3.13 Một số thông tin chung về cán bộ y tế 49

Bảng 3.14 Thông tin về thâm niên công tác của cán bộ y tế 49

Bảng 3.15 Hoạt động CSDD bệnh viê ̣n theo Thông tư 08/2011/BYT 50

Bảng 3.16 Tỉ lệ CBYT đồng ý với vai trò của CSDD người bệnh 53

Bảng 3.17 Ý kiến của CBYT về việc áp dụng quy định CSDD người bệnh cho mọi trường hợp nhập viện 53

Bảng 3.18 Ý kiến của CBYT cho rằng vai trò của CBYT trong CSDD là rất quan trọng 54

Trang 9

Bảng 3.20 Các nội dung CBYT thực hiện trong quá trình CSNB 56

Bảng 3.21 Thời điểm tư vấn chế độ ăn cho người bệnh, người chăm sóc bệnh nhân 57

Bảng 3.22 Số lần được tập huấn về CSDD của cán bộ y tế 61

Bảng 3.23 Kiến thức của CBYT về các văn bản liên quan đến CSDD 61

Bảng 3.24 Tỉ lệ CBYT tham gia phối hợp công tác CSDD bệnh viện 62

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng người bệnh theo chỉ số BMI chia theo giới tính 41

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ người bệnh có thiếu máu theo giới tính 44

Biểu đồ 3.3 Ý kiến của CBYT về việc cần biết được NCDD người bệnh 52

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ cán bộ y tế tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh 55

Biểu đồ 3.5 Nội dung cán bộ y tế tư vấn cho người bệnh khi ra viện 58

Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ % CBYT ghi chép nội dung CSDD người bệnh 59

Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ CBYT tham gia tập huấn về CSDD tại bệnh viện 60

Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ cán bộ y tế có nhu cầu được tập huấn về CSDD 62

DANH MỤC HỘP Hộp 3.1 Ý kiến của cán bộ quản lý về hoạt động dinh dưỡng bệnh viện 50

Hộp 3.2 Ý kiến của cán bộ quản lý về thực trạng kinh tế người bệnh 51

Hộp 3.3 Khó khăn trong công tác CSDD cho người bệnh 51

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, các bệnh lý về tâm thần ngày càng có xu hướng gia tăng nhanh trong cộng đồng, ước tính tỉ lệ người bị rối loạn tâm thần ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 15% dân số (tương đương 13 triệu người) Về lâu dài, các bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần không chỉ gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn khiến thể trạng của người bệnh ngày càng suy giảm

Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh đóng góp vai trò quan trọng cho quá trình phục hồi và ổn định tình trạng bệnh.Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nhận thấyngười bệnh tâm thần có mức độ tiêu thụ một số loại Vitamin

ở mức thấp có ý nghĩa thống kê[52] Các chất dinh dưỡng như kẽm, axit folic, vitamin C và tryptophan, omega-3 và N-acetyl cysteine (NAC), … có tác dụng trong hỗ trợ điều trị bệnh[73],[62] Một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý không chỉ làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng bệnh viện mà còn thúc đẩy hỗ trợ nhanh chóng quá trình ổn định tình trạng bệnh và giảm triệu chứng ở người bệnh tâm thần[69]

Đa số những người bệnhcó điều kiện kinh thế khó khăn, không có người nhà chăm sóc do đó có thể gặp những trường hợp người bệnh bị thiếu

ăn hoặc bỏ bữa Ở người bệnh tâm thần thường gặp tình trạng chán ăn hoặc ăn quá mức bình thường Tình trạng chán ăn của người bệnh có thể là do bệnh lý hoặc do thuốc điều trị gây ra Ngược lại có nhữngngười bệnhgặp tình trạng ăn quá mức do rối loạn hành vi ăn uống dẫn đến ăn quá nhanh, nhai không kỹ, một số trường hợp người bệnh bị tử vong do bị nghẹn, hoặc do bị sặc thức ăn vào đường thở.Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh phụ thuộc vào chế độ

ăn và chế độ dùng thuốc, các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng sử dụng một số loại thuốc trong điều trị người bệnh tâm thần gây ra tình trạng tăng cân ởngười bệnh[50],[67]

Trang 11

Hiện nay, đã có nhiều tiến bộ về phương pháp điều trị và chăm sóc người bệnh nhưng vấn đề dinh dưỡng tiết chế vẫn chưa được quan tâm đầy đủ trong các cơ sở điều trị Mặc dù Bộ Y tế đã có Thông tư 08/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện [3]

Tại tỉnh Thái Bình, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình là là đơn vị đã thực hiện công tác điều trị và chăm sóc toàn diện cho người bệnh mắc các bệnh lý tâm thần nhiều năm Công tác dinh dưỡng tiết chế là một yêu cầu bắt buộc và đãnhận được sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện.Khoa Dinh dưỡngđược thành lập từ tháng 5 năm 2018 nên mới thực hiện được một số nội dung hoạt động trong chăm sóc dinh dưỡng theo Thông tư 08/2011/TT-BYT của Bộ Y tế Do vậy, để đánh giá thực trạng thiếu máu, tình trạng dinh dưỡng của người bệnh và tìm hiểu công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh tại bệnh viện chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng thiếu máu, đặc điểm khẩu phần và hoạt động chăm sóc

dinh dưỡng cho người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình năm 2018”

Với 2 mục tiêu sau:

1 Xác định tỉ lệ thiếu máu, đặc điểm khẩu phần của người bệnh tâm thầntừ 18-59 tuổi điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình năm 2018

2 Mô tả hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh tâm thần từ 18-59 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình năm 2018

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm bệnh tâm thần

Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể…làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch cho nên người bệnh tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng, bệnh tâm thần là loại bệnh rất phổ biến, công nghiệp ngày càng phát triển, sự tập trung dân cư vào các thành phố ngày càng đông, cuộc sống ngày càng căng thẳng thì bệnh ngày càng tăng Có những bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần) quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều[1]

1.1.2 Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng

Hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn mức bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyên nhân gì Thiếu máu, được định nghĩa khi nồng độ Hemoglobin (Hb) trong máu thấp Thiếu máu do mất máu hoặc suy giảm hình thành Hb Một số vitamin như B12, acid folic và riboflavin ảnh hưởng đến sự hình thành của

Hb nhưng yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất là thiếu sắt và sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng thường hay xảy ra không những ở các nước đã phát triển mà còn xảy ra ở các nước đang phát triển Thiếu sắt thường đáp ứng nhanh khi bổ sung và tăng cường sắt nên đánh giá tình trạng sắt rất quan trọng trong đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

Trang 13

Tình trạng thiếu máu chủ yếu đến từ các nguyên nhân đơn lẻ hay phối hợp.Các nguyên nhân gây thiếu máu có thể do khẩu phần ăn thiếu sắt, Folate, B2, B12, thiếu đồng, kẽm, phytat, tanin, thiếu vitamin C, thiếu protein, chán

ăn do bệnh tật Do tăng nhu cầu các chất dinh dưỡng ở đối tượng trẻ nhỏ, tuổi dậy thì,phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ Các bệnh về máu như tan huyết, bệnh thalassemia…do nhiễm trùnggây tình trạng mất máu (nhiễm ký sinhtrùng, sốt rét), lao,HIV/AIDS, do giảm hấp thu sắt, giảm sắt từ nguồn dự trữ, giảm tổng hợp hồng cầu, giảm retinol huyết thanh

Trong khẩu phần ăn của người Việt Nam hàm lượng sắt cung cấp thường vào khoảng 8-10mg/ngày, trong đó nguồn sắt không hem chiếm tới 85-88%tổng số sắt được cung cấp hàng ngày Vitamin C là chất tăng hấp thu sắtcũng chỉ cung cấp được khoảng 54% nhu cầu khuyến nghị.Ngoài ra, nhu cầu sắt còn phụ thuộc vào chất lượng của khẩu phần

ăn

Thiếu máu được coi là một chỉ số quan trọng của thiếu dinh dưỡng Ởcác nước đang phát triển, tỉ lệ thiếu máu của phụ nữ nói chung là 42%, phụnữ mang thai là 52% [78] Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinhdưỡng hay gặp nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo ước tính gầnđây nhất của Tổ chức Y tế Thế giới, trong số hơn 1,6 tỷ người trên toàn cầu bịthiếu máu thì có tới 50% là thiếu máu do thiếu sắt

Báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2009-2010 cho thấy tỉ lệ thiếu máu

ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 28,8%, phụ nữ mang thai là 36,5%, cao nhất là vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên lên tới gần 60% Nguyên nhân chính của thiếu máu phụ nữ Việt Nam cũng là do thiếu sắt, chiếm từ 22-86,3% ở một số vùng nông thôn và miền núi [41] Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Phương Hoa (2013) cho thấy tỉ lệ thiếu máu của phụ nữ 20-35 tuổi tại địa bàn nghiên cứu là 16,2%, ở trong khoảng thiếu máu có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng

Trang 14

mức nhẹ theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới Trong số 105 phụ nữ thiếu máu, phần lớn là thiếu máu nhẹ (90/105), chỉ có 15 phụ nữ (2,3%) là thiếu máu vừa chiếm tỉ lệ thấp và không có trường hợp nào thiếu máu nặng [11]

1.1.3Khái niệm tình trạng dinh dưỡng, đánh giá TTDD

1.1.3.1Tình trạng dinh dưỡng(TTDD)

Y học hiện đại định nghĩa Tình trạng dinh dưỡng(TTDD) là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu sinh hóa và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Suy dinh dưỡng là trạng thái mất cân bằng(thiếu hoặc thừa) về năng lượng và các chất dinh dưỡng khác gây ra những hậu quả bất lợi về cấu trúc, chức phận cơ thể và gây ra bệnh tật Hội chuyển hóa và dinh dưỡng lâm sàng châu âu (ESPEN) đề xuất định nghĩa suy dinh dưỡng là một tình trạng thiếu cung cấp hay hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể(giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làm giảm chức năng về tinh thần, thể chất và suy giảm kết quả điều trị bệnh[27]

Đối với những người bệnh điều trị tại bệnh viện nguyên nhân gây suy dinh dưỡng trong bệnh viện gồm nhóm các nguyên nhân cá nhân và nhóm các nguyên nhân tổ chức.Các nguyên nhân trong nhóm cá nhân là các nguyên nhân do bệnh lý hoặc điều trị gây nên bao gồm tăng quá trình đáp ứng viêm,

dị hóa làm gia tăng nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, biếng ăn, rối loạn vị giác, rối loạn tiêu hóa, hấp thu, thất thoát chất dinh dưỡng, các khó khăn khi nuốt và ăn, tác dụng phụ của thuốc và các phương pháp điều trị, các yếu tố tâm lý, kinh tế, xã hội và một số rào cản về mặt thể chất ở người bệnh.Các nguyên nhân trong nhóm tổ chức bao gồm: nhận thức vai trò, tầm quan trọng và lợi ích của công tác dinh dưỡng trong bệnh viện của lãnh đạo

và khoa lâm sàng, hỗ trợ dinh dưỡng (xây dựng phác đồ và hướng dẫn thực

Trang 15

hành dinh dưỡng tại bệnh viện, công tác sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng, can thiệp dinh dưỡng, nguồn lực công tác về dinh dưỡng) và hệ thống

cung cấp suất ăn cho người bệnh trong bệnh viện[58]

Có nhiều khái niệm về thừa cân và béo phì, “Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khỏe” Do vậy khi đánh giá “béo phì” thì không chỉ tính đến cân nặng mà phải quan tâm đến tỉ lệ mỡ của cơ thể[18]

1.1.3.2Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng thường được sử

dụng là:

- Nhân trắc học

- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống

- Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các

triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng

- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các

chất bài tiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng

- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do

thiếu hụt dinh dưỡng

- Điều tra tỉ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìm

hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng

- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và

Trang 16

Có mục đích xác định đo lường các biến đổi về kích thước và cấu trúc

cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Số đo nhân trắc được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng để theo dõi thay đổi về tình trạng dinh dưỡng

và tình trạng mất khối cơ Trong thực hành trên lâm sàng, các số đo thường

được sử dụng là: Trọng lượng cơ thể (bao gồm cả tỉ lệ thay đổi trọng lượng),

chiều cao (liên quantới trọng lượng cơ thể dùng để xác định khối mỡ), khối

mỡ (vòng eo, BMI, bề dầy lớp mỡ dưới da), khối cơ (vòng cánh tay), thành

phần cơ thể, lượngnước

Chỉ số BMI: Là số đo gầy hoặc béo, tốt hơn so với cân nặng đơn

thuần.Nó là cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng đơn giản, nó là một phần không thể thiếu trong các công cụ sàng lọc dinh dưỡng Người càng có chỉ số BMI cao, càng có nguy cơ mắc bệnh như đái đường, tim mạch, nhuyễn xương, một số bệnh ung thư Ngược lại, người có BMI càng thấp, càng có nguy cơ loãng xương và nguy cơ của các biến chứng liên quan tới thiếu dinh dưỡng Sử dụng chỉ số khối cơ thể BMI (cân nặng/chiều cao bình phương) (kg/m2) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.Sử dụng chỉ số khối cơ thể BMI (cân nặng/chiều cao bình phương)

1.1.3.2.2Phương pháp điều tra tiêu thụ lương thực, thực phẩm

a)Phương pháp hỏi ghi 24 giờ: Là một phương pháp được dùng để

thu thập những thông tin về số lượng thực phẩm đã được sử dụng 24 giờ qua

mà không phải cân đong Đây là một phương pháp rất thông dụng, rất có giá trị khi áp dụng cho số đông đối tượng.Cách thực hiện đơn giản, nhẹ nhàng đối với đối tượng nghiên cứu do đó thường có sự hợp tác cao.Ưu điểm là làm nhanh, rẻ tiền và có thể áp dụng rộng rãi, ngay cả với những đối tượng trình

độ văn hóa thấp hoặc mù chữ

Hạn chế của phương pháp là hiện tượng "trung bình hóa khẩu phần" có thể xảy ra do ngay chính bản thân điều tra viên điều chỉnh khi phỏng vấn Đối

Trang 17

tượng được hỏi có thể có xu hướng nói quá lên với khẩu phần “nghèo" hoặc nói giảm đi với khẩu phần “giầu" Cũng có thể đối tượng quên một cách không cố ý với những thực phẩm được tiêu thụ không thường xuyên

b)Phương pháp hỏi ghi nhiều lần 24 giờcó thể được tiến hành trong

nhiều ngày liên tục 3-7 ngày hoặc được nhắc lại trong các mùa khác nhau trong năm để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng.Số ngày điều tra đòi hỏi để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng phụ thuộc vào mức độ chính xác cần đạt được, chất dinh dưỡng cần quan tâm nghiên cứu và vòng

quay thực phẩm ở quần thể nào

1.1.3.2.3 Phương pháp hóa sinh

Một số chỉ số hoá sinh sau đây thường được áp dụng:

a/ Protein huyết thanh tổng số: Là chỉ tiêu đánh giá tình trạngProtein

huyết thanh <6,5 g/dl được coi là Protein huyết thanh thấp Chỉ tiêu này không nhậy vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng: Protein khẩuphần; chuyển hóa thay đổi trong các trường hợp chấn thương, strees, nhiễmkhuẩn, giảm oxy thở vào; thiếu Protein huyết tương do mất Protein; giảm tổnghợp Protein; có thai; sự thay đổi tính thấm mao mạch; thuốc (thuốc tránhthai ); luyện tập quá mức

b/ Albumin huyết thanh: Là chỉ tiêu đánh giá nồng độ Albumin

huyếtthanh, Albumin <3,5 g/dl được coi là Albumin huyết thanh thấp

ra qua trao đổi chất ra ngoài cơ thể theo đường hô hấp ở phổi Khithiếu máu,

số lượng hồng cầu và nồng độ Hemoglobin cũng giảm.Nếu trong chế độ ăn thiếu nguyên tố sắt, hoặc việc hấp thu tận dụngnguyên tố sắt kém, thì sẽ dẫn

Trang 18

đến thiếu máu do thiếu sắt, lúc này nồng độHemoglobin giảm đi.Vì thế, nên thông qua xét nghiệm nồng độ Hemoglobin để đánh giá xem cóbị thiếu máu

do sắt hay không

1.1.3.2.4 Đánh giá toàn diện (phương pháp SGA)

SGA là công cụ duy nhấtđược Hiệp hội dinh dưỡng đường miệng và đường tĩnh mạch của Mỹ khuyếncáo sử dụng SGA thường được sử dụng để đánh giá TTDD của người bệnh lúc nhập viện trong vòng 48 giờ SGA là công cụ đánh giá “nhẹ nhàng”không tốn kém, nhậy, tin cậy và đặc hiệu SGA được sử dụng rộng rãi trongnhiều bệnh, nhiều loại hình chăm sóc y tế, kể cả bệnh nhi Được áp dụng cho người dưới 65 tuổi[70]

1.1.3.2.5 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu (MNA)

Công cụ “đánh giá dinh dưỡng bỏ túi” (MNA) được xây dựng nhằmđánh giá nhanh và hiệu quả để sàng lọc suy dinh dưỡng ở người già Nhượcđiểm của MNA là không có những câu hỏi liên quan tới các hội chứng ảnhhưởng của ung thư do vậy ít có giá trị trong lão khoa Phương pháp áp dụngcho người bệnh trên 65 tuổi, tương tự như SGA tính điểm để xác định người bệnhnguy cơ suy dinh dưỡng: Với thang điểm từ 17 đến 23,5 điểm là nguy cơ suy dinhdưỡng; dưới 17 điểm là suy dinh dưỡng[70]

1.2 Vai trò của dinh dưỡng và đặc điểm khẩu phần của người Việt Nam

1.2.1 Vai trò của dinh dưỡng

Các nhà khoa học quan niệm vai trò mọi thức ăn đều giống nhau, đồng thời họ cũng cho rằng ăn uống cần thiết để duy trì sức khỏe và là phương tiện

để chữa bệnh Hypocrat(460-377 TCN) đã đánh giá cao vai trò của ăn uống đối với sức khỏe và bệnh tật Theo ông, tùy theo tuổi tác, thời tiết, công việc

mà nên ăn nhiều hay ăn ít, ăn một lúc hay nhiều lần, nhấn mạnh vai trò của ăn uống trong điều trị

Trang 19

Tại Việt Nam ngay từ thời xưa ông cha ta đã biết tới vai trò của chế độ

ăn uống và cho rằng ăn uống là một trong những phương pháp để chữa bệnh, giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ, để nhằm mục đích điều trị cũng như dự phòng bệnh, đối với nhiều bệnh chỉ cần có chế độ ăn thích hợp và một đời sống có tổ chức hợp lý đã khỏi Trong tác phẩm nổi tiếng nhất “Nam dược thần hiệu” của Đại danh y Tuệ Tĩnh, có 586 vị thuốc nam, 3873 phương thuốc điều trị

184 loại, chứng bệnh Trong đó, gần một nửa các vị thuốc(246 loại) là thức ăn

và gần 50 loại có thể dùng làm đồ uống Tuệ Tĩnh còn đặt nền móng cho việc trị bệnh bằng ăn uống Ông đã chia thức ăn ra làm hai loại hàn, nhiệt và tổng kết rằng “Thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn” Danh y Hải Thượng Lãn Ông –

Lê Hữu Trác (1720-1790) đã xác định rất rõ tầm quan trọng của ăn với thuốc Theo ông,“có thuốc mà không có ăn thì cũng đi đến chỗ chết”[26]

Người ta đã biết chế độ ăn này hay chế độ ăn khác có thể không chỉ làm tăng sức chống đỡ của cơ thể đối với những bệnh khác nhau mà còn có tác động ngược lại nghĩa là làm giảm sức chống đỡ cửa cơ thể Chuyển chế độ ăn này sang chế độ ăn khác gây ra sự xáo trộn cơ thể trong đó có khả năng phản ứng của cơ thể Chế độ ăn biểu hiện tác động của mình không chỉ tới toàn bộ

cơ thể mà còn tới tất cả các quá trình vận chuyển trong cơ thể đang ở tình trạng bệnh lý hay kích thích gây bệnh

* Dinh dưỡng đối với người bệnh tâm thần

Vào năm 2013 hai tác giả Rechenberg, K and D Humphries qua một nghiên cứu về can thiệp dinh dưỡng tại Mỹ đã khẳng định rằng dinh dưỡng đã được chứng minh là có vai trò trong việc ngăn ngừa rối loạn sức khỏe tâm thần thông qua sự tham gia vào quá trình tổng hợp và điều hòa chất dẫn truyền thần kinh, tính lưu động màng thần kinh, dẻo dai và chức năng não liên quan đến nguyên nhân trầm cảm và lo lắng [71]

Trang 20

Cũng theo một nghiên cứu ở Úc xuất bản năm 2018 tác giả Teasdale, S.B và cộng sự cho rằng sức khỏe thể chất kém cũng được ghi nhận rõ ràng ở những người mắc bệnh tâm thần và là yếu tố đóng góp lớn nhất vào tỉ lệ tử vong Các nghiên cứu can thiệp chế độ ăn uống cho thấy kết quả sức khỏe tâm thần và thể chất được cải thiện Tác giả cũng đưa ra kết luận rằng dinh dưỡng tiết chế cung cấp cơ hội để cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của những người bệnh tâm thần [77] Kết luận này cùng quan điểm với nghiên cứu của tác giả Parletta N công bố năm 2013 nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ bữa

ăn Địa Trung Hải tới người bệnh tâm thần [68]

Tại Nhật Bản, nghiên cứu của Ono, S và cộng sự năm 2018 phân tích sau một cuộc khảo sát toàn quốc cho thấy sự khác biệt về mức HDL-cholesterol ở người bệnh nội trú thừa cân của Nhật Bản bị tâm thần phân liệt

do sử dụng thuốc chống loạn thần khác nhau Kết luận rằng ở những người bệnh điều trị bệnh tâm thần tình trạng dinh dưỡng của người bệnh còn phụ thuộc vào loại thuốc người bệnh dùng [67] Trước đó vào năm 2013 tác giả Daumit, G.L và cộng sự cũng đã kết luận trong một nghiên cứu của mình là nhiều loại thuốc hướng tâm thần gây tăng cân, một phần thông qua sự thèm ăn tăng lên và kết quả là lượng calo hấp thụ tăng lên Tác giả cũng cho rằng can thiệp lối sống để thay đổi chế độ ăn uống và hoạt động nên có vai trò trung tâm trong việc ngăn chặn dịch bệnh béo phì và các điều kiện liên quan đến béo phì trong nhóm này [50]

Gần đây, một nghiên cứu tại Úc của Firth, J và cộng sự xuất bản năm

2018 về ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng bổ trợ trong rối loạn tâm thần đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của các phương pháp điều trị dinh dưỡng, bao gồm bổ sung vitamin hoặc các chất chống oxy hóa đã cải thiện đáng kể về sức khỏe thần kinh vùng đồi thị và glutathione não Chất chống oxy hóa n-acetyl

Trang 21

cysteine và vitamin C cải thiện tình trạng oxy hóa trong FEP làm giảm các triệu chứng bệnh tâm thần [51]

Tại Tây Ban Nha, tác giả Molendijk, M công bố nghiên cứu năm 2018

về chất lượng chế độ ăn uống và nguy cơ trầm cảm cho thấy chất lượng cao hơn của chế độ ăn uống có liên quan đến nguy cơ thấp hơn khi khởi phát triệu chứng trầm cảm [63] Nghiên cứu của Saghafian, F và cộng sự trên nam giới

và nữ giới Iran cho thấy tiêu thụ rau quả cao cũng có liên quan với nguy cơ trầm cảm và lo âu thấp hơn ở phụ nữ và nam giới Ngoài ra, lượng ăn nhiều trái cây và rau quả có liên quan đến tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm thấp hơn và rối loạn tâm lý ở phụ nữ và nam giới [72] Các nghiên cứu của nước ngoài khác cũng khẳng định chất lượng thức ăn cao có thể góp phần bảo tồn sức khỏe tổng thể trong quá trình lão hóa, một phần nhờ phòng ngừa bệnh béo phì và một phần thông qua các cơ chế khác [45] và ủng hộ việc công nhận chế độ ăn uống và dinh dưỡng là yếu tố quyết định của cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần [74]

Nhận ra vai trò quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe người nhân dân Đảng và nhà nước đã khuyến khích đẩy mạnh công tác dinh dưỡng nhân dân và dinh dưỡng bệnh viện Từ giai đoạn 1993- 2013 Bộ Y tế ra một loạt các văn bản hướng dẫn về dinh dưỡng bệnh viện[2, 3] Gần đây nhất vào năm

2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt chiến lược quốc gia, bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030[35] Theo đó, các bệnh viện phải thành lập khoa Dinh dưỡng

để tổ chức thực hiện chế độ ăn bệnh lý, khám tư vấn và điều trị bằng chế độ dinh dưỡng cho người bệnh Giáo dục truyền thông về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho người bệnh và các đối tượng khác Kiểm tra chất lượng dinh dưỡng, tiết chế và an toàn thực phẩm đối với đơn vị chế biến và cung cấp suất

ăn, dịch vụ ăn, uống trong bệnh viện

Trang 22

1.2.2 Đặc điểm khẩu phần người Việt Nam

Tại Việt Nam, trong những năm qua các hoạt động dinh dưỡng đã được chú trọng và các vấn đề sức khỏe có liên quan tới ăn uống ngày càng được nhìn nhận một cách rộng rãi Xu hướng về chất lượng khẩu phần ăn đã có sự thay đổi rõ rệt, trước đây năng lượng chủ yếu là do glucid cung cấp, khẩu phần ăn thiếu nghiêm trọng về protein, hiện nay nhu cầu protein khẩu phần đạt tỉ lệ cao và tỉ lệ các chất sinh năng lượng khẩu phần ăn đã gần đạt mức nhu cầu khuyến nghị

Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã tiến hành các cuộc tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc lần thứ nhất được tiến hành vào giai đoạn 1981-1985, lần thứ 2 là giai đoạn 1987-1989 và lần thứ 3 là tổng điều tra dinh dưỡng năm

2000 Kết quả cho thấy năm 1985 tỉ lệ P:L:G là 11,2 : 6,2 :82,6, năm 2010 P :

L : G là 15,9 : 17,8 : 66,3, khẩu phần ăn đã được cải thiện rõ rệt về cơ cấu chất dinh dưỡng Khẩu phần ăn của nhân dân ta vẫn còn thiếu về năng lượng

so với nhu cầu khuyến nghị được đưa ra năm 2007 Sau 10 năm Viện Dinh dưỡng Quốc gia mở cuộc tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc trong giai đoạn 2009-2010 cho thấy khẩu phần ăn được cải thiện rõ rệt mức năng lượng bình quân đầu người là 1925,4 Kcal/người/ngày Tỉ lệ giữa các chất P : L : G là 15,9 : 17,8 : 66,3 so với nhu cầu khuyến nghị năm 2016 thì P : L :G là 12 : 18 : 70 ta thấy khẩu phần ăn của nhân dân ta ngày càng được nâng cao cả về chất lượng với số lượng như lượng đạm tăng lên đáng kể, lượng chất béo tương đối ổn định nhưng vẫn còn thiếu về năng lượng so so với nhu cầu khuyến nghị Cuộc tổng điều tra đã cho thấy khẩu phần thực tế của nhân dân Việt Nam đã có cải thiện rõ rệt, cụ thể là mức tiêu thụ lương thực thực phẩm có xu hướng giảm đi đối với nhóm lương thực: Gạo, khoai củ và tăng lên đối với một số nhóm thực phẩm: Thức ăn động vật, dầu mỡ, đậu/hạt, quả chín… Tuy vậy, còn nhiều sự khác biệt về tiêu thụ lương thực thực phẩm giữa các vùng

Trang 23

sinh thái, giữa các mức chi tiêu Sự biến đổi tích cực này phần nào đã đáp ứng được nhu cầu tối thiểu trong ngày của người Việt Nam so với nhu cầu khuyến cáo hiện nay, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu hụt về tính cân đối, về giá trị các thành phần vi chất… Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội thì đảm bảo giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn là vô cùng quan trọng cho con người để có một nền tảng sức khỏe vững chắc để phát huy hết tiềm năng trong lao động thể lực cũng như trí óc

Từ sau đổi mới, nền kinh tế của Việt Nam phát triển mạnh, bên cạnh đó chế độ ăn của người Việt Nam cũng thay đổi theo hướng tích cực Tác giả Phạm Thị Thanh Nhàn, Phạm Duy Tường nghiên cứu sự biến đổi khẩu phần

ăn hộ gia đình sau 6 năm (1999-2005) tại 6 xã huyện Đông Anh, Hà Nội Kết quả cho thấy sau 6 năm, mức tiêu thụ gạo giảm 85 gam, thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt tăng gấp 1,5 lần, trứng sữa tăng 3 lần, dầu mỡ tăng 2 lần, quả chín và đường ngọt tăng 20 lần, lượng cá, thủy sản không thay đổi, lượng rau xanh có xu hướng giảm Về giá trị dinh dưỡng và tính cân đối khẩu phần:

Tỉ lệ các chất sinh năng lượng rất cân đối, sau 6 năm năng lượng protein đóng góp 14% và lipid đóng góp 24% [24]

Nghiên cứu về khẩu phần ăn của người bệnh của Phạm Thu Hương, Nguyễn Thị Lâm và cộng sự cho thấy tình trạng dinh dưỡng của người bệnh nhập viện khoa Tiêu hóa và Nội tiết tại Bệnh viện Bạch Mai khẩu phần ăn của người bệnh khoa Nội tiết là 1606 kcal, với năng lượng từ protein là 18%, lipid

là 22%, từ glucid là 60% Năng lượng của người bệnh khoa Tiêu hóa là 1100 kcal Như vậy, thiếu dinh dưỡng và thừa cân xuất hiện ở người bệnh nhập viện Khẩu phần ăn của người bệnh nhập viện ở khoa Tiêu hóa còn thấp[14]

Nghiên cứu của Vũ Thu Hiền, Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2008-2009

về xác định khẩu phần muối NaCl trong gia vị của người trưởng thành tại Hà Nội, Thừa Thiên Huếvà Thành phố Hồ Chí Minh Bằng phương pháp nghiên

Trang 24

cứu cắt ngang mô tả đã được triển khai trong năm 2008 - 2009 Tổng số 1518 người từ 20 tuổi trở lên đã tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy khẩu phần muối trung bình ở đối tượng nghiên cứu là 11,7 ± 5,5 g/ngày, không có sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị Khẩu phần muối trung bình ở nam (12,7 g/ngày) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ (10,5 g/ngày), p< 0,05 Khẩu phần này cao nhất ở Thừa Thiên Huế (12,3 g/ngày), sau đó đến thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (tương ứng là 11,1 và 10,7 g/ngày) Kết luận: Khẩu phần muối của người trưởng thành tại các địa điểm nghiên cứu đều cao hơn gấp 2 lần so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới Cần có những nghiên cứu can thiệp trong những năm tới để giảm khẩu phần muối, góp phần

dự phòng tăng huyết áp cho cộng đồng[10]

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hòa năm 2012 về tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng của sinh viên Nam Định cho kết quả chiều cao trung bình ở nam 166,7±5,5cm, nữ 156,0±5,0cm Cân nặng trung bình của nam 56,1±7,4cm, nữ 47,1±4,8cm Cả chiều cao và cân nặng của nam giới đều cao hơn nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Tỉ lệ sinh viên bị thiếu năng lượng trường diễn là 28,6%, trong đó tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nữ là 32,7% cao hơn nam giới (20,7%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01 Tỉ lệ sinh viên có tỉ trọng mỡ cao là 2,6% trong đó nam là 4,5%, nữ là 1,6%[12]

Nghiên cứu về đặc điểm khẩu phần và tình trạng nhân trắc của sinh viên Y hệ chính quy Trường Đại học Y Thái Bình 2012 của tác giả Ninh Thị Nhung và cộng sự cho thấy mức năng lượng của sinh viên đạt 2.333,6 Kcal/ngày tỉ lệ năng lượng do P: L: G đối với nam sinh viên là 18:23:60, nữ là 19:23:60 Trong đó có 42,5% sinh viên đạt nhu cầu về năng lượng, 98,1% đạt nhu cầu về proteinvà 62,3% đạt nhu cầu về lipid, 47,2% đạt nhu cầu về glucid

Trang 25

Nghiên cứu mô tả đặc điểm khẩu phần ăn, đánh giá mức đáp ứng năng lượng, các chất dinh dưỡng so với nhu cầu khuyến nghị của Trần Thúy Nga, Hoàng Văn Phương năm 2013 cho 204 nữ vị thành niên 10-19 tuổi của 5 xã, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình được phỏng vấn tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm và khẩu phần ăn Tỉ lệ tiêu thụ lương thực thực phẩm như: Thịt, cá, trứng, đậu đỗ, rau lá xanh thẫm 4-6 lần/tuần dao động từ 43,1% tới 68,6% Có tới 42,6% đối tượng không dùng sữa trong tháng qua Lượng quả chín được tiêu thụ tăng dần theo tuổi đạt 144,7 ± 221,7 g/người/ngày ở nhóm 17-19 tuổi Tỉsố Canxi/Phospho là 0,63; tỉ số Protein động vật/Protein tổng số là 24,2% Mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị với vitamin D là 18-28%, với canxi là 37-43%, với sắt là 31-37%, kẽm là 46- 56% Lượng vitamin D, canxi, sắt, kẽm từ khẩu phần còn thấp[23]

Gần đây, nghiên cứu của tác giả Ninh Thị Nhung và Phạm Thị Dung tại Bệnh viện Phong Da liễu Văn Môn cho thấy mức tiêu thụ lương thực, thực phẩm chủ yếu của người bệnh phong chủ yếu là gạo và rau Nhóm người bệnh phong tàn tật nhẹ của bệnh viện Văn Môn tiêu thụ gạo là 311,8g/ngày cao hơn nhóm người bệnh phong tàn tật nặng là 293,3g/ngày Năng lượng khẩu phần ở Bệnh viện Quỳnh Lập là 1693±227,3kcal/người/ngày cao hơn Bệnh viện Văn Môn là 1387±191,2kcal/người/ngày[28] Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Phương Hoa về tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu và hiệu quả bổ sung sắt hàng tuần ở phụ nữ 20-35 tuổi tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cho thấy năng lượng khẩu phần chung của phụ nữ tại 6 xã là 1954,2 kcal, đạt 85% nhu cầu khuyến nghị là 2300 kcal.Tỉ lệ 3 chất sinh nhiệt P: L: G là 13,2:13,8:73,0 chưa cân đối Năng lượng do protein cung cấp đạt 94,3%, còn thiếu 5,7% Năng lượng do lipid cung cấp khá thấp, chỉ đạt 68,9% so với nhu cầu Ngược lại, năng lượng do glucid cung cấp còn cao, đáp ứng 110,6% so với nhu cầu khuyến nghị.Tỉ lệ Protein động vật chiếm 30,1% trong tổng số protein ăn vào,

Trang 26

thấp hơn kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000 là 33,5%.Lượng sắt tiêu thụ đạt 13mg/người/ngày, chỉ đáp ứng được 33,2% nhu cầu.Mức vitamin

C trong khẩu phần đạt 46,5mg/người/ngày, chỉ đáp ứng được 65% nhu cầu khuyến nghị[11]

1.3 Tỉ lệ mắc tâm thần và đặc điểm dinh dưỡng bệnh tâm thần

1.3.1 Tỉ lệ mắc tâm thần

Rối loạn tâm thần chiếm khoảng 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ riêng bệnh trầm cảm dự kiến sẽ là tác nhân lớn nhất vào năm 2030 Hậu quả kinh tế là rất lớn, với các rối loạn tâm thần dự kiến sẽ tiêu tốn gần một phần

ba trong số 47 nghìn tỉ đô la Mỹ ngân sách dự kiến dành cho các bệnh không lây nhiễm vào năm 2030 Trong khi đó, gánh nặng đối với những người mắc chứng rối loạn tâm thần là không thể đo lường được Các rối loạn tâm thần này thường là suốt đời và trải qua nhiều thế hệ Những tác động của bệnh lý tâm thần cũng ảnh hưởng đến những người xung quanh như gia đình, bạn bè,

xã hội Một ví dụ nổi bật về ảnh hưởng đối với các thành viên trong gia đình

là mối liên quan giữa các triệu chứng trầm cảm của mẹ và thiếu cân và thấp còi ở trẻ em được báo cáo ở nhiều quốc gia [64],[57] Chi phí dành cho điều trị và ảnh hưởng tới nền kinh tế của rối loạn tâm thần được ước tính vào khoảng 2,5 nghìn tỷ USD vào năm 2010 Đến năm 2030, con số đó được dự đoán sẽ tăng 240%, lên 6 nghìn tỷ đô la Trong năm 2010, 54% gánh nặng đó

là ở các nước thu nhập thấp và trung bình (LMIC); đến năm 2030, tỉ lệ này dự kiến đạt 58% Phần lớn (khoảng hai phần ba) chi phí này là những chi phí gián tiếp liên quan đến việc mất năng suất và thu nhập do khuyết tật hoặc tử vong Một số nghiên cứu gần đây ở các nước có thu nhập cao đã phát hiện ra rằng các chi phí liên quan đến rối loạn tâm thần chiếm từ 2,3 đến 4,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) [61]

Trang 27

Ở Việt Nam, kết quả của cuộc tổng điều tra quốc gia năm 1999-2000 cho thấy tỉ lệ mắc 10 bệnh tâm thần thường gặp (gồm tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do rượu, ma túy) chiếm khoảng 15% dân số (tương đương với khoảng 13,5 triệu người) mắc bệnh.Theo thống kê của Bộ Y tế vào năm 2017, tại Việt Nam có khoảng 15% dân số mắc các rối loạn tâm thần phổ biến liên quan tới stress, 3 triệu người bị rối loạn tâm thần nặng Còn thông báo tại Viện Sức khỏe Tâm thần cho thấy có 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỉ lệ trầm cảm chiếm 25%.Sức khỏe tâm thần đang là những thách thức lớn đối với chăm sóc sức khỏe nhân dân Chính vì vậy, vào năm 2015 Đảng, Nhà nước đã kịp thời phê duyệt chiến lược quốc gia

về sức khỏe tâm thần [35]

1.3.2 Đặc điểm chăm sóc dinh dưỡng ở người bệnh tâm thần

Đối với những người bệnh trong trạng thái khởi phát bệnh hoặc bệnh ở giai đọa cấp tính có thể xuất hiện tình trạng chán ăn, quên ăn hoặc bỏ bữa Việc chăm sóc dinh dưỡng người bệnh trong giai đoạn này rất khó khăn do tình trạng bệnh gây nên cùng với việc sử dụng các loại thuốc trong điều trị bệnh Ở một số bệnh nhân lại gặp tình trạng ăn quá mức, ăn không kiểm soát,

ăn những thứ không dùng làm thức ăn do đó ảnh hưởng xấu tình trạng dinh dưỡng người bệnh, có thể gặp tình trạng ngộ độc Việc ăn uống bất thường dẫn đến không đủ các chất dinh dưỡng này có thể gây nên các tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu, các bệnh lý phối hợp khác

Đối với những bệnh nhân được chăm sóc tại bệnh viện, khi người bệnh điều trị vào giai đoạn ổn định tình trạng chán ăn hoặc ăn quá mức vẫn có thể diễn ra Bên cạnh đó, việc sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh lý tâm thần có thể gây ra tác dụng phụ như táo bón, mất ngủ, lên cân, ói mửa, tăng hoặc giảm

Trang 28

nướt bọt trong miệng, buồn ngủ hoặc chóng mặt Do đó, chăm sóc dinh dưỡng ở đối tượng người bệnh tâm thần gặp nhiều khó khăn

1.4 Hoạt động chăm sóc người bệnh

1.4.1 Trên thế giới

*Dinh dưỡng đối với người bệnh

Các nghiên cứu ở nước ngoài kết luận rằng tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh viện dao động từ 20 đến 50% và chế độ ăn uống của bệnh viện có thể là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tình trạng dinh dưỡng kém ở người bệnh Các tác giả cũng chỉ ra tỉ lệ suy dinh dưỡng tại các khoa lâm sàng là khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của từng khoa và khuyến nghị cần có các biện pháp riêng cho từng khoa[48]

Tại Mỹ, năm 2000 tác giả Braunschweig, C., S Gomez và P.M Sheean nghiên cứu tác động của tình trạng dinh dưỡng đối với các kết quả điều trị ở người bệnh người lớn nằm viện hơn 7 ngày đưa ra kết luận ở người bệnh suy dinh dưỡng khi nằm viện có mức viện phí cao hơn đáng kể Tỉ lệ biến chứng

là cao hơn đáng kể cho những người bệnh không được chăm sóc dinh dưỡng dinh dưỡng, bất kể tình trạng dinh dưỡng của người bệnh khi mới nhập viện

so với nhóm tham chiếu[47]

Nghiên cứu đa quốc gia năm 2008 của tác giả Sorensen, J và cộng sự thực hiện sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng (NRS-2002) và đánh giá mối liên quan giữa nguy cơ dinh dưỡng và kết cục lâm sàng được thực hiện tại 26 bệnh viện (phẫu thuật, nội khoa, ung thư, chăm sóc đặc biệt, tiêu hóa và lão khoa) ở

Áo, Cộng hòa Séc, Ai Cập, Đức, Hungary, Lebanon, Libya, Ba Lan, Romania, Slovakia, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ Kết quả là 32,6% được định nghĩa là có nguy cơ suy dinh dưỡng bởi NRS - 2000 Người bệnh “nguy cơ cao” có nhiều biến chứng hơn, tỉ lệ tử vong cao hơn và thời gian lưu trú dài hơn người bệnh không có nguy cơ bị suy dinh dưỡng[75] Suy dinh dưỡng ở

Trang 29

người bệnh nhập viện dẫn đến một tình trạng lâm sàng trầm trọng hơn, dẫn đến thời gian nằm viện lâu hơn, tăng tỉ lệ tử vong và chi phí chăm sóc sức khỏe Do vậy, cần sử dụng kỹ thuật sàng lọc dinh dưỡng khi nhập viện để có

Tại Đức, năm 2014 tác giả Lainscak, M và cộng sự qua nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và tử vong của người bệnh điều trị nội trú đã chỉ ra rằng

tỉ lệ tử vong cao hơn ở những người bệnh ăn uống không đủ chất và tình trạng dinh dưỡng của bênh nhân kém[59]

Tại Hàn Quốc, tác giả Kang, M.C và cộng sự đã nghiên cứu cắt ngang

đa trung tâm tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh nhập viện công bố năm 2018 kết luận rằng tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh nhập viện là 22,0% Tỉ lệ suy dinh dưỡng cao thường gặp ở các người bệnh cao tuổi, các bệnh ung thư và bệnh về phổi Người bệnh suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện dài hơn và tỉ

lệ sống thấp hơn so với các người bệnh có tình trạng dinh dưỡng tốt[53]

* Chi phí

Tác giả Khalatbari-Soltani, S và P Marques-Vidal trong bài đánh giá

về chi phí kinh tế suy dinh dưỡng bệnh viện ở châu Âu trên tạp chí ESPEN

Trang 30

năm 2015 đã kết luận suy dinh dưỡng của người bệnh làm tăng thời gian nằm viện từ 2,4 đến 7,2 ngày Suy dinh dưỡng dẫn đến tăng chi phí điều trị từ 1,640 Euro đến 5,829 Euro Ở cấp độ quốc gia, chi phí suy dinh dưỡng dao động trong khoảng 32,8 triệu Euro đến 1,2 tỷ Euro Được biểu thị bằng phần trăm chi tiêu y tế quốc gia, các giá trị dao động trong khoảng từ 2,1% đến 10%[54]

Theo Alvarez Hernandez, J và cộng sự nghiên cứu tỉ lệ và chi phí suy dinh dưỡng ở người bệnh bị mắc chứng khó nuốt tại Tây Ban Nha công bố năm 2015 cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng được ghi nhận ở 23,7% người bệnh theo NRS-2002 Phân tích đa biến cho thấy tuổi tác, giới tính, sự hiện diện của bệnh ác tính, đái tháo đường, bệnh khó nuốt là những yếu tố chính liên quan đến sự xuất hiện của suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng có liên quan đến

sự gia tăng thời gian nằm viện, nhất là ở những người bệnh nhập viện có tình trạng dinh dưỡng tốt nhưng bị suy dinh dưỡng khi xuất viện (15,2 so với 8,0 ngày), với chi phí bổ sung là 5.829 euro/người bệnh Ở các bệnh viện Tây Ban Nha, gần một trong bốn người bệnh bị suy dinh dưỡng Tình trạng này liên quan đến thời gian nằm viện và tăng chi phí liên quan, đặc biệt là ở những người bệnh bị suy dinh dưỡng trong thời gian nằm viện[44]

Nghiên cứu tại một bệnh viện ở Thái Lan về gánh nặng tài chính của suy dinh dưỡng ở những người bệnh nhi khoa nằm viện dưới năm tuổi của tác giả Kittisakmontri,K và O.Sukhosa cho thấy tỉ lệ người bệnh chỉ có suy dinh dưỡng thể thấp còi là 24,8% và suy dinh dưỡng thể gầy còm là 10,5%, 15,2% người bệnh mắc phải suy dinh dưỡng thể thấp còi và gầy còm cùng lúc Người bệnh gầy còm hoặc thấp còi có chi phí cho điều trị, chăm sóc và thiết

bị y tế cao hơn đáng kể Tổng chi phí ở những người bệnh vừa bị còi cọc vừa

bị gầy còm là cao nhất Ngoài gánh nặng tài chính, những người bệnh suy

Trang 31

dinh dưỡng phải điều trị lâu hơn trong bệnh viện và thời gian nằm viện cũng tương quan tỉ lệ thuận với mức tổng chi phí[56]

Tại Tây Ban Nha, tác giả Leon-Sanz, M và cộng sự năm 2015 nghiên cứu về chi phí điều trị liên quan đến suy dinh dưỡng bệnh viện đã chỉ ra rằng thời gian nằm viện trung bình cho người bệnh có nguy cơ mắc suy dinh dưỡng dài hơn đáng kể (11,5 ± 7,5 so với 8,5 ± 5,8 ngày) so với nhóm đối chứng Chi phí của người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng nhập viện cao hơn đáng kể so với những người không có nguy cơ bị suy dinh dưỡng(8,590 ± 6,127 euro so với 7,085 ± 5625 euro) Việc ngoại suy các kết quả nghiên cứu đối với Hệ thống Y tế Quốc gia cho thấy chi phí dành cho điều trị suy dinh dưỡng bệnh viện ở Tây Ban Nha ít nhất là 1,143 tỷ Euro mỗi năm[60]

Barker, L.A., B.S Gout và T.C Crowe nghiên cứu sự tác động của suy dinh dưỡng bệnh viện tại Úc vào năm 2011 cho thấy suy dinh dưỡng là một tình trạng suy nhược rất phổ biến ở bệnh viện, tỉ lệ suy dinh dưỡng khoảng 40% Suy dinh dưỡng có liên quan đến nhiều kết cục bất lợi bao gồm suy giảm sức khỏe của hệ thống miễn dịch, giảm thời gian chữa lành vết thương

bị tổn thương, làm tăng thời gian nằm viện, chi phí điều trị cao hơn và tỉ lệ tử vong gia tăng Đồng thời khuyến cáo rằng sàng lọc dinh dưỡng bắt buộc phải được áp dụng rộng rãi phù hợp với các hướng dẫn thực hành tốt nhất được công bố nhằm mục tiêu can thiệp hiệu quả và giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh viện[46] Các nghiên cứu khác nhau đã nhiều lần chỉ ra rằng suy dinh dưỡng lâm sàng có ý nghĩa nghiêm trọng cho việc phục hồi từ bệnh tật, chấn thương và phẫu thuật và thường liên quan đến tăng bệnh suất và tử vong cả trong các bệnh cấp tính và mãn tính Thời gian nằm viện lâu hơn đáng kể ở những người bệnh suy dinh dưỡng và chi phí điều trị cao hơn được báo cáo trong các người bệnh suy dinh dưỡng[65]

Trang 32

1.4.2 Tại Việt Nam

Theo kết quả tổng điều tra toàn quốc của Viện Dinh dưỡng năm

2009-2010 Tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nam là 15,8% và ở nữ là 18,5% Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ cao hơn nam giới một cách có ý nghĩa thống kê Tính chung cả nam và nữ thì tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 17,2% Có thể nhận thấy tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn của năm 2010 hạ thấp khá đều ở tất cả các nhóm tuổi[13]

Theo một nghiên cứu của tác giả Phạm Thu Hương và cộng sự năm

2006 trên 308 người bệnh khoa Nội tiết và khoa Tiêu hoá Bệnh viện Bạch Mai nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng trong các người bệnh nhập viện Các người bệnh được đo các chỉ số nhân trắc và khẩu phần ăn của người bệnh được đánhgiá bằng phương pháp hỏi ghi 24 giờ Người bệnh được đánh giá bằng phương pháp đánh giá dinh dưỡng toàn diện (SGA) và phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (MNA) Kết quả cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng thiếu năng lượng trường diễn (BMI <18,5) là 25,2%, tính riêng ở người bệnh khoa Tiêu hoá (28,9%) cao hơn so với khoa Nội tiết (21,7%), tỉ lệ thừa cân(BMI>23) là 19,9%, ở người bệnh khoa Nội tiết và Tiêu hoá tương ứng là 24,8% và 14,8% Tỉ lệ SDD của người bệnh dưới 65 tuổi(bằng công cụ SGA) là13,4% (khoa Nội tiết), 58,5% (khoa Tiêu hóa) và tỉ lệ SDD của người bệnh trên hoặc bằng 65 tuổi (bằng công cụ MNA) là 31,6% (khoa Nội tiết), 68,4% (khoa Tiêu hóa)[14]

Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Thúy và cộng sự qua khảo sát tình trạng dinh dưỡng người bệnh ung thư vùng đầu cổ năm 2010 cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng tính theo BMI, SGA, PGSGA và Albumin máu lần lượt là 16,8%, 14,6%, 8,9%, 5%[36] Tỉ lệ suy dinh dưỡng cao hơn ở nhóm người bệnh có bệnh tiến xa tại chỗ không phẫu thuật tận gốc được là 50%, người bệnh ung thư hốc miệng là 30,8% và hạ hầu thanh quản là 28,6% Cùng năm,

Trang 33

tác giả Nguyễn Thị Cẩm Nhung và Phạm Duy Tường nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi bệnh viện lão khoa trung ương cho thấy: BMI của người bệnh trung bình chung là 20,96 ± 2,46, BMI trung bình của các cụ ông (21,69± 2,03) cao hơn BMI của cụ bà (20,59 ± 2,75) Có 15% các cụ thừa cân, 6% cụ béo phì độ I (BMI > 25) Có đến 15% tổng số các cụ có BMI < 18,5, trong đó cụ bà (23,1%) cao hơn cụ ông (6,2%)[25]

Nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Đỗ Huy và Lê Đức Thuận năm

2009 cũng chỉ ra rằng dinh dưỡng sớm làm giảm 50% số người bệnh có biến chứng, giảm thời gian dùng kháng sinh toàn thân 6 ngày Nuôi dưỡng sớm đường ruột làm giảm tỉ lệ tử vong trên người bệnh đến 40%

Nguyễn Đỗ Huy and Doãn Thị Tường Vi qua một nghiên cứu so sánh chỉ số dinh dưỡng giữa các nhóm theo chỉ số BMI của người bệnh tại bệnh viện 198 vào năm 2012 cho thấy các chỉ số liên quan tới nguy cơ dinh dưỡng khác của nhóm người bệnh suy dinh dưỡng đều cao hơn so với nhóm người bệnh dinh dưỡng tốt và nhóm thừa cân béo phì Tỉ lệ giảm cân > 5% trong 6 tháng của người bệnh suy dinh dưỡng là 16,1%, cao hơn gấp 2 lần so với tỉ lệ này ở người bệnh dinh dưỡng tốt (7,4%) Có tới 37,5% người bệnh ở nhóm suy dinh dưỡng phải nằm tại giường Với nhóm người bệnh dinh dưỡng tốt, tỉ

lệ này chỉ là 15,4% và nhóm thừa cân béo phì là 11,6% Các dấu hiệu thực thể

về giảm mỡ dưới da, giảm cơ ở nhóm thiếu dinh dưỡng là 22,6% và 6,5% đều cao hơn nhóm dinh dưỡng tốt(8,9% và 4,1%) và nhóm thừa cân béo phì (2,7%

và 0,9%)[17]

Theo tác giả Trịnh Hồng Sơn trong một đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước mổ ung thư dạ dày đăng trên tạp chí Y học thực hành năm 2013, cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh ung thư dạ dày là 32% đánh giá theo BMI trong đó SDD nặng là 8%, trung bình 6%,nhẹ là 18% Tỉ lệ SDD của người bệnh ung thư dạ dày là 48% theo phương pháp

Trang 34

đánh giá tổng thể (SGA) trong đó SDD nhẹ và vừa là 44%, nặng 4% Tỉ lệ SDD theo nồng độ Albumin huyết thanh là 8,4% trong đó nặng 2,1%, trung bình 2,1%, nhẹ 4,2%[31] Cũng trong năm này một nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình tác giả Phan Tiến Hoàng kết luận tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn của người bệnh điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng hệ nội là 23,2% và tỉ lệ thừa cân béo phì theo WHO

áp dụng cho người châu á (BMI> 23) là 20,5% Xác định được một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu năng lượng trường diễn như trình độ học vấn, kinh tế gia đình, địa bàn nơi cư trú[31]

Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đang điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tiền Hải năm 2014 của tác giả Tô Thị Hải cho thấy tỉ lệ người bệnh SDD ở khoa Nội là 20,6%, ở khoa Ngoại là 21,9%, tỉ lệ thừa cân béo phì của khoa Nội là 26,6% cao hơn khoa Ngoại là 16,7% Tỉ lệ CED ở nam là 31,3%, cao hơn ở nữ có tỉ lệ là 20% Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở

nữ là 20,6%, cao hơn ở nam có tỉ lệ là 14,5%[9] Cùng năm đó tại Bệnh viện

Đa khoa huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An tác giả Hồ Văn Thăng tiến hành nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các hoạt động chăm sóc người bệnh điều trị tại các khoa lâm sàng cho thấy tỉ lệ người bệnh ở khoa nội thiếu năng lượng trường diễn là 16,5%, tỉ lệ này ở khoa ngoại chỉ là 7,6% Tỉ lệ người bệnhthiếu năng lượng trường diễn chung của bệnh viện là 12,2% Sau 7 ngày điều trị tỉ lệ người bệnhthiếu năng lượng trường diễn là 19,9% Trong đó, tại khoa nội tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 22,8%, còn tại khoa ngoại là 16,8%[32]

Tác giả Dương Thị Phượng và cộng sự nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư tại bệnh viện đại học Y Hà Nội vào năm 2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng là 20% và thừa cân, béo phì

là 7,5% phân loại theo chỉ số khối cơ thể (BMI) Có 29,1% đối tượng nghiên

Trang 35

cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin Có 51,7% người bệnh ung thư

có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại PG - SGA Tỉ lệ thiếu máu là 59,2% (đặc biệt là nữ giới chiếm 70,5%) Tỉ lệ bị giảm cân trong 6 tháng qua

và một tháng qua lần lượt là 75% và 50%[30]

Theo một bài báo của tác giả Nguyễn Đỗ Huy trên tạp chí Tạp chí Dinh dưỡng & Thực phẩm năm 2018 dẫn chứng số liệu của Viện Dinh dưỡng cho thấy khoảng 50% người bệnh đã có biểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% người bệnh được phát hiện có suy dinh dưỡng[16]

Hiện nay chưa có nhiều các nghiên cứu của Việt Nam về kiến thức, thái

độ của cán bộ y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện Các nghiên cứu chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu, khảo sát tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trong bệnh viện nói chung và người bệnh một số bệnh đặc thù như COPD, suy thận mạn, đặt thông dạ dày, và một số bệnh mạn tính không lây như: Đái tháo đường, tim mạch, cao huyết áp [5],[42]

Một nghiên cứukhảo sát tình trạng dinh dưỡng người bệnh nội trú tại bệnh viện Nhi đồng 2- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, tác giả Trần Kim Cúc đã cho thấy sự đánh giá cao của thân nhân bệnh nhi về vai trò của dinh dưỡng trong điều trị 84,4% số người được hỏi coi dinh dưỡng và thuốc quan trọng như nhau, 8,1% đánh giá dinh dưỡng và 7% đánh giá thuốc cao hơn Đáng chú ý, con của những cha mẹ coi trọng dinh dưỡng hơn thì sụt cân trong thời gian điều trị ít hơn Ở các khoa tách mẹ (hồi sức và sơ sinh) 100% người bệnh được chỉ định chế độ ăn hàng ngày chỉ có 64% bác sĩ hỏi và hướng dẫn thân nhân người bệnh về chế độ ăn uống của trẻ khi bị bệnh[4]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Út và cộng sự khảo sát sự hài lòng của người bệnh nội trú về tình hình cung cấp thức ăn của khoa Dinh dưỡng tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2008 cho thấy có tới 88,3% người bệnhăn

Trang 36

suất ăn dinh dưỡng hài lòng về nhân viên Có 99,8% người bệnh ăn suất ăn dinh dưỡng hài lòng về thời gian Như vậy,người bệnh ăn suất ăn dinh dưỡng hài lòng về sự cung cấp thức ăn của khoa Dinh dưỡng bệnh viện[40]

Nghiên cứu về thực trạng hiểu biết và thực hành dinh dưỡng của người chăm sóc người bệnh trong Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2009 của tác giả Nguyễn Văn Khang và Nguyễn Đỗ Huy cho thấy 90,7% người bệnh thấy được sự cần thiết của khoa Dinh dưỡng bệnh viện, nếu có khoa Dinh dưỡng thì 40,4% lựa chọn thức ăn cho người bệnh từ khoa Dinh dưỡng Tuy nhiên tỉ lệ người bệnh được tư vấn dinh dưỡng trong thời gian nằm viện là rất thấp 26,5%, tỉ lệ mua thức ăn của căng tin bệnh viện đạt 10,9%[20]

Một nghiên cứu năm 2012 trên các điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị của tác giả Dương Thị Bình Minh và các cộng sự cho thấy một tỉ lệ khá cao người bệnh đánh giá điều dưỡng không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt: Hướng dẫn người bệnh chế độ ăn uống (13%), chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ăn uống (5,4%) [22]

Nghiên cứu về thực trạng chăm sóc dinh dưỡng của người bệnh tác giả

Hồ Văn Thăng tại Bệnh viện Đa khoa Tân Kỳ, Nghệ An năm 2014 cho thấy 58,9% người bệnh được hướng dẫn chế độ ăn tại bệnh viện Tỉ lệ người bệnh khoa Nội được hướng dẫn cao hơn người bệnh khoa Ngoại; 63,4% người bệnh hài lòng với sự hướng dẫn của cán bộ y tế; 74,8% người bệnh cho rằng cần thiết phải có phòng tư vấn dinh dưỡng tại bệnh viện, cần thiết phải có khoa Dinh dưỡng là 64,5% [32]

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình

Địa chỉ: Tổ 24,Đường Trần Lãm, Phường Trần Lãm, TP.Thái Bình, Tỉnh Thái Bình

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình là bệnh viện chuyên khoa hạng 2 của tuyến tỉnh.Bệnh viện có 11 khối nhà trên tổng diện tích 2,2 ha, quy mô

300 giường bệnh, 13 khoa phòng Đến nay, bệnh viện đã có 94 cán bộ viên chức Trong số 23 bác sĩ đang công tác tại bệnh viện, 02 người có trình độ thạc sĩ, 10 bác sĩ chuyên khoa I, 11 bác sĩ đang học chuyên khoa I Số cán bộ điều dưỡng, dược sĩ cũng tăng mạnh cả chất và lượng Trong đó, có 12/36 điều dưỡng có trình độ đại học, 2/6 dược sĩ đại học Hiện nay, bệnh viện đã trang bị cơ bản đầy đủ thiết bị máy móc chuyên khoa như máy điện não đồ, lưu huyết não, máy siêu âm tổng quát ổ bụng, máy siêu âm doppler màu mạch máu não, máy sinh hóa tự động Đồng thời đã thực hiện được hầu hết các kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng tiên lượng và điều trị bệnh

Những năm gần đây, mỗi năm Bệnh viện Tâm thần Thái Bình khám cho gần 20.000 lượt người, điều trị nội trú cho gần 3.000 người bệnh Ngày điều trị nội trú trung bình của người bệnh từ 40 - 50 ngày/lượt, nay giảm còn 24,3 ngày, góp phần giúp người bệnh, gia đình người bệnh tiết kiệm đáng kể kinh phí, công sức và thời gian Thực hiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng hàng năm, bệnh viện tổ chức khám, phát hiện, đưa người bệnh tâm thần xã hội ở 100% xã, phường, thị trấn vào quản lý, điều trị với tổng số 7.285 người bệnh

Trang 38

Công tác dinh dưỡng bệnh viện đang được lãnh đạo bệnh viện quan tâm, khoa Dinh dưỡngđược thành lập vào tháng 5/2018với nhân lực khoa gồm có 14 người Hiện tại chưa bổ nhiệm Trưởng khoa 01 phó Trưởng khoa được đào tạo chuyên ngành về khoa học thực phẩm,01 bác sĩ mới tốt nghiệp,01 kỹ thuật viên xét nghiệm an toàn thực phẩm, 11 người nhân viên nhà bếp và phục vụ Mỗi bữa khoa Dinh dưỡngcung cấp khoảng 300 suất ăn cho nhân viên cán bộ y tế và người bệnh Ngoài các suất ăn từ nhà ăn bệnh viện còn có các suất ăn từ thiện của các tổ chức từ thiện cung cấp, các suất ăn này được khoa Dinh dưỡng quản lý và phân phối tới các người bệnh Các người bệnh nội trú được cung cấp suất ăn ngay tại phòng điều trị mỗi ngày 3 bữa và do khoa Dinh dưỡngquản lý Kinh phí từ các bữa ăn được chi trả từ nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ một phần, các nhà hảo tâm, các tổ chức từ thiện

và người bệnh chi trả

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 09 năm 2018 đến tháng 03 năm 2019

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên:

- Người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện từ 18 đến 59 tuổi

- Người chăm sóc người bệnh (để lấy thông tin khẩu phần ăn 24h của người bệnh)

- Cán bộ quản lý phòng điều dưỡng (phụ trách chính công tác dinh dưỡng bệnh viện), trưởng phó các khoa lâm sàng, các bác sĩ, điều dưỡng khoa Nam, khoa Nữ, khoa Nghiện chất, khoa Dinh dưỡng

- Hồ sơ bệnh án người bệnh điều trị nội trú

Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ:

* Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm khẩu phần của người bệnh

- Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh: Người bệnhđiều trị nội trú tại bệnh

Trang 39

viện tuổi từ 18 đến 59 Người bệnh được người bảo hộ đồng ý cho phép thực hiện nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: Loại trừ các người bệnh cấp cứu, người bệnh có biến chứng nặng không có khả năng tham gia Người bệnh dưới 18 tuổi và trên 59 tuổi Người bệnh hoặc người bảo hộ người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu

* Nghiên cứu thực trạng chăm sóc dinh dưỡng

- Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng viên, những người trực tiếp tham gia công tác điều trị, chăm sóc cho người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Bình

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Trưởng phòng điều dưỡng, cán bộ quản lý khoa Nam, khoa Nữ, khoa Nghiện chất, khoa Dinh dưỡng Các bác sĩ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên đang trực tiếp làm nhiệm vụ điều trị, chăm sóc, tiếp đón người bệnh tại khoa trong khoảng thời gian nghiên cứu Đồng ý tham gia nghiên cứu trên tinh thần tự nguyện sau khi đã được nhóm nghiên cứu thông báo cụ thể mục đích và nội dung nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng không trực tiếp làm nhiệm vụ chăm sóc, hướng dẫn, tiếp đón người bệnh trong khoảng thời gian nghiên cứu, không tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang nhằm:

- Xác định tỉ lệ thiếu máu tại thờ i điểm người bệnhnhâ ̣p viê ̣n và đặc điểm khẩu phần của người bệnhđiều trị nội trú tại bệnh viện

- Mô tả hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh tại bệnh viện

Trang 40

n là tổng số bê ̣nh nhân cần đánh giá tình tra ̣ng dinh dưỡng

Với độ tin cậy 95%, ta có Z(1–α/2) = 1,96

p là tỉ lê ̣ thiếu máu ở bê ̣nh nhân hệ nội theo nghiên cứu trước đó của tác giả Tô Thị Hải năm 2014 là 20,6 %[9]

d là sai số cho phép, lấy d=0,06

Ta tính được n = 181 người Trên thực tế lấy được 194 bê ̣nh nhân

* Cơ ̃ mẫu điều tra khẩu phần:

e: Sai số cho phép (chọn là 100 Kcal)

Ta tính được cỡ mẫu điều tra khẩu phần tối thiểu theo công thức là 80 khẩu phần Trên thực tế lấy thêm 20% dự phòng mẫu tối thiểunghiên cứu đã điều tra khẩu phần của 94 đối tượng trong tổng số 194 đối tượng đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Ngày đăng: 30/08/2019, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w