1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG, NỢ PHẢI TRẢ TIỀM TÀNG VÀ TÀI SẢN TIỀM TÀNG

28 1,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các khoản dự phòng, Nợ phải trả tiềm tàng và Tài sản tiềm tàng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 378 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đơn vị lập các báo các cáo tài chính trên cơ sở kế toán dồn tích cần áp dụng chuẩn mực này đối với việc hạch toán các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trả tiềm tàng, và các tài sản tiềm

Trang 1

IPSAS 19 – CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG, NỢ PHẢI TRẢ

TIỀM TÀNG VÀ TÀI SẢN TIỀM TÀNG

Lời nói đầu

Chuẩn mực kế toán công quốc tế này được soạn thảo chủ yếu từ Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) số 37 (đã được sửa đổi năm 1998) “Bất động sản đầu tư” do Uỷ ban chuẩn mực kế toán Quốc Tế (IASC) ban hành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF) được thành lập năm 2001 để thay thế IASC Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) do IASC phát hành vẫn còn hiệu lực cho đến khi nó được sửa đổi hoặc hủy bỏ Các đoạn trích từ IAS 37 được saochép lại trong lần xuất bản này của Ủy ban lĩnh vực công thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế với sự cho phép của IASB

Cuốn sách về IASs được IASB xuất bản bằng tiếng Anh và các bản copy có thể nhận được trực tiếp từ Bộ phận xuất bản của IASB theo địa chỉ: tầng 7, 166 Fleet Street, London EC4A 2DY, Anh quốc

Địa chỉ email: publication@iasb.orgTrang website: http://www.iasb.orgIASs, các bản thảo và những công bố khác của IASC và IASB là bản quyền của IASCF

“IAS”, “IASB”, “IASC”, “IASCF” và “Chuẩn mực kế toán quốc tế” là những nhãn hiệu của IASCF và không được sử dụng nếu không được sự nhất trí của IASCF

Tháng 10 năm 2002

Trang 2

IPSAS 19 – CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG, NỢ PHẢI TRẢ TIỀM

TÀNG VÀ TÀI SẢN TIỀM TÀNG

NỘI DUNG

ĐoạnMục đích

Phạm vi 1-17 Phúc lợi xã hội 7-11 Những ngoại trừ khác ra khỏi phạm vi của chuẩn mực 12-17Các khái niệm 18-21 Các khoản dự phòng và các khoản nợ phải trả 19 Mối quan hệ giữa các khoản dự phòng và nợ phải trả tiềm tàng 20-21Ghi nhận 22-43Các khoản dự phòng 22-34Nghĩa vụ hiện tại 23-24

Sự kiện quá khứ 25-30

Sự giảm sút lợi ích kinh tế có thể xảy ra 31-32Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ 33-34

Nợ phải trả tiềm tàng 35-38Tài sản tiềm tàng 39-43Xác định giá trị 44-62Ước tính tốt nhất 44-49Rủi ro và các yếu tố không chắc chắn 50-52Giá trị hiện tại 53-57Các sự kiện tương lai 58-60Thanh lý tài sản dự tính 61-62Các khoản bồi hoàn 63-68Những thay đổi trong các khoản dự phòng 69-70

Trang 3

Sử dụng các khoản dự phòng 71-72

Áp dụng các nguyên tắc ghi nhận và xác định giá trị 73-96Các khoản thâm hụt thuần hoạt động trong tương lai 73-75Các hợp đồng có rủi ro lớn 76-80Tái cơ cấu 81-96Bán hoặc chuyển đổi hoạt động 90-92Các điều khoản tái cơ cấu 93-96Giải trình 97-109Điều khoản chuyển đổi 110-111Ngày hiệu lực 112-113Phụ lục A - Bảng: Các khoản dự phòng, nợ phải trả tiềm tàng,

tài sản tiềm tàng và các khoản bồi hoàn

Trang 4

Những chuẩn mực viết bằng kiểu chữ in đậm, phải được đọc trong ngữ cảnh của các đoạn dẫn giải viết bằng chữ thường trong Chuẩn mực này, và trong ngữ cảnh của

“Lời tựa cho chuẩn mực kế toán công quốc tế” Các chuẩn mực kế toán công quốc tế không áp dụng cho những khoản mục không trọng yếu.

Mục đích

Mục đích của chuẩn mực này là xác định các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trảtiềm tàng và các tài sản tiềm tàng; xác định các tình huống cần ghi nhận các khoản dựphòng, đưa ra cách tính toán và trình bày các khoản dự phòng Chuẩn mực này cũngquy định một số thông tin liên quan đến các khoản nợ phải trả tiềm tàng và tài sản tiềmtàng phải được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính để giúp cho người sửdụng hiểu được về bản chất, thời gian xác định, và số tiền của các khoản mục đó

Phạm vi

1 Đơn vị lập các báo các cáo tài chính trên cơ sở kế toán dồn tích cần áp dụng

chuẩn mực này đối với việc hạch toán các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trả tiềm tàng, và các tài sản tiềm tàng, ngoại trừ:

(a) Các khoản dự phòng và các khoản nợ phải trả tiềm tàng phát sinh từ các khoản phúc lợi xã hội do một đơn vị cung cấp, mà đơn vị đó không nhận lại trực tiếp từ bên nhận hàng hoá dịch vụ khoản tiền tương ứng với giá trị của hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp;

(b) Các khoản mục phát sinh do sử dụng các công cụ tài chính và được ghi

sổ theo giá trị hợp lý;

(c) Các khoản mục phát sinh từ các hợp đồng thực hiện, không kể các hợp đồng có rủi ro lớn;

(d) Các khoản mục phát sinh trong các đơn vị bảo hiểm, từ các hợp đồng

với người có hợp đồng bảo hiểm;

(e) Các khoản mục được quy định tại các Chuẩn mực kế toán công quốc

2 Chuẩn mực này áp dụng cho tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, trừ các

Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước.

3 Đơn vị kinh doanh bằng vốn Nhà nước (GBEs) phải tuân theo các Chuẩn mực kếtoán quốc tế do Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành Bản hướng dẫn số

1 của Uỷ ban khu vực công - “Việc báo cáo Tài chính của GBEs”- quy định rằngcác Chuẩn mực kế toán quốc tế phù hợp cho tất cả các doanh nghiệp, bất kểdoanh nghiệp đó thuộc khu vực tư nhân hay khu vực công Do đó, Bản hướngdẫn số 1 đưa ra kiến nghị: các báo cáo tài chính do GBEs trình bày, phải tuân thủtheo các Chuẩn mực kế toán quốc tế trên mọi khía cạnh trọng yếu

Trang 5

4 Chuẩn mực này được áp dụng cho các công cụ tài chính (bao gồm cả điều khoảnbảo lãnh) không được phản ánh theo giá trị hợp lý

5 Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản dự phòng, nợ phải trả tiềm tàng và tài sảntiềm tàng của các tổ chức bảo hiểm, trừ các khoản mục phát sinh từ các hợpđồng với những người mua bảo hiểm

6 Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản dự phòng đối với hoạt động tái cơ cấu đơn

vị (kể cả trường hợp ngừng hoạt động) Nếu việc tái cơ cấu phù hợp các địnhnghĩa về ngừng hoạt động thì phải trình bày bổ sung trong thuyết minh báo cáotài chính theo quy định trong IAS 35, “Ngừng hoạt động”1

Phúc lợi xã hội

7 Để phục vụ cho chuẩn mực này, “Phúc lợi xã hội” được hiểu là các loại hàng hoá,dịch vụ mà Chính phủ cung cấp để đạt được các mục tiêu chính sách xã hội Cáckhoản phúc lợi này có thể bao gồm:

(a) Việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, vận tải và các dịch vụ xãhội khác cho cộng đồng Trong nhiều trường hợp, những người thụ hưởngcác dịch vụ này được miễn phí; và

(b) Việc chi trả các khoản phúc lợi cho cho các gia đình, người già, ngườikhuyết tật, người thất nghiệp, cựu chiến binh, và các đối tượng khác Nghĩa

là, chính quyền các cấp cần cấp các khoản hỗ trợ về tài chính cho các nhómngười và các cá nhân trong cộng đồng giúp họ có thể tiếp cận được cácdịch vụ để thoả mãn các nhu cầu nhất định, hoặc để bổ sung cho thu nhậpcủa họ

8 Trong nhiều trường hợp, nghĩa vụ cung cấp các khoản trợ cấp xã hội là hệ quả củaviệc Chính phủ cam kết đảm trách một số hoạt động nhất định một cách liên tục

và trong một thời gian dài nhằm mục đích cung cấp cho cộng đồng các hàng hoá

và dịch vụ nhất định Nguồn cung cấp, tính chất và nhu cầu của các hàng hoá vàdịch vụ để có thể đáp ứng được các nghĩa vụ chính sách phúc lợi thường phụthuộc vào hàng loạt các điều kiện về xã hội, dân cư và rất khó dự đoán Cáckhoản phúc lợi này, nói chung, được phân thành các loại: “bảo trợ xã hội”, “giáo

1 Uỷ ban chưa đi sâu vào vấn đề ngừng hoạt động, đây là nội dung chính của CMKTQT số 35-“Ngừng hoạt động” Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 35, thuật ngữ “ngừng hoạt động” sử dụng trong chuẩn mực này nói đến:

a) Doanh nghiệp phải thực hiện kế hoạch:

(i) Thanh lý trọn vẹn về cơ bản, ví dụ như bán cấu phần trong một giao dịch đơn nhất, hoặc chia tách, phân phối quyền sở hữu cấu phần của chủ sở hữu;

(ii) Thanh lý từng phần, ví dụ như bằng cách bán từng phần tài sản và xử lý riêng các khoản phải trả của cấu phần đó; hoặc

Trang 6

dục”, “y tế”, theo bản khuôn mẫu thống kê tài chính Chính phủ của Quỹ tiền tệquốc tế và thông thường cần phải có một quy định đánh giá thống kê phí bảohiểm để xác định được giá trị của bất kỳ một khoản phải trả nào phát sinh có liênquan đến các khoản phúc lợi đó.

9 Đối với một khoản dự phòng và một khoản mục tiềm tàng phát sinh từ một khoảnphúc lợi xã hội mà bị loại trừ ra khỏi phạm vi của chuẩn mực này, đơn vị thuộckhu vực công đã cung cấp khoản phúc lợi sẽ không nhận lại được trực tiếp từngười nhận khoản phúc lợi đó khoản lợi ích kinh tế tương ứng với giá trị củahàng hoá dịch vụ mà họ cung cấp Việc loại trừ này bao gồm trường hợp có mộtkhoản phí được tính khi chi trả khoản phúc lợi nhưng không có mối liên quantrực tiếp nào giữ khoản phí đó và khoản phúc lợi nhận được Việc loại trừ nhữngkhoản dự phòng và nợ phải trả tiềm tàng nói trên ra khỏi phạm vi của chuẩn mựcnày phản ảnh quan điểm của Uỷ ban, rằng cả việc xác định các yếu tố cấu thànhnên sự kiện ràng buộc trách nhiệm và việc tính toán khoản phải trả đều phảiđược xem xét thêm trước khi công bố các chuẩn mực đã được đề xuất Ví dụ: Uỷban biết rằng có các quan điểm khác nhau về việc phát sinh sự kiện ràng buộctrách nhiệm khi một cá nhân thoả mãn đầy đủ các tiêu chuẩn để được nhậnkhoản phúc lợi Tương tự như vậy, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về việcgiá trị của một khoản phải trả có tương ứng với giá trị ước tính của các khoảnphúc lợi kỳ vọng ở kỳ hiện tại hay là giá trị hiện tại xác định trên cơ dồn tích

10 Khi quyết định ghi nhận một khoản dự phòng cho một nghĩa vụ nào đó, đơn vị cầntrình bày cơ sở ghi nhận các khoản dự phòng và cơ sở tính toán mà đơn vị ápdụng Đơn vị đó cũng phải lập các bản trình bày khác do chuẩn mực này quyđịnh có liên quan đến khác khoản dự phòng IPSAS 1 “Trình bày báo cáo tàichính”, đưa ra các hướng dẫn về việc giải quyết các vấn đề mà các Chuẩn mực

kế toán công quốc tế khác không đề cập cụ thể IPSAS 1 cũng quy định các yêucầu khác liên quan đến việc lựa chọn và trình bày các chính sách kế toán

11 Trong một vài trường hợp, các khoản phúc lợi xã hội có thể làm phát sinh cáckhoản nợ phải trả mà các khoản nợ đó:

(a) Có sự chắc chắn về mặt giá trị; và

(b) Thời điểm thực hiện nghĩa vụ là chắc chắn

Do vậy, các khoản này không thoả mãn định nghĩa về một khoản dự phòng trongchuẩn mực này Khi các khoản phải trả cho phúc lợi xã hội như vậy tồn tại,chúng cần được ghi nhận nếu chúng thoả mãn các tiêu chuẩn ghi nhận là mộtkhoản nợ phải trả (liên quan đến đoạn số 19) Một ví dụ có thể kể đến là khoảntrích trước tại thời điểm cuối kỳ cho khoản trợ cấp tuổi già và khuyết tật đã đượcduyệt chi, phù hợp với các điều khoản của hợp đồng hoặc quy định pháp luật

Những ngoại trừ khác ra khỏi phạm vi của chuẩn mực

12 Chuẩn mực này không áp dụng cho các hợp đồng thông thường trừ khi đó là cáchợp đồng có rủi ro lớn Các hợp đồng cung cấp các khoản phúc lợi xã hội màđơn vị cung cấp sẽ không nhận được khoản tiền tương ứng với giá trị hàng hoá

và dịch vụ mà họ đã cung cấp trực tiếp cho người nhận khoản phúc lợi khôngthuộc phạm vi của chuẩn mực này

Trang 7

13 Khi có Chuẩn mực kế toán công quốc tế khác quy định từng dạng cụ thể của cáckhoản dự phòng, nợ phải trả tiềm tàng và tài sản tiềm tàng, thì đơn vị sẽ áp dụngcác chuẩn mực đó thay cho chuẩn mực này Ví dụ, các loại dự phòng cụ thể đãđược quy định ở các chuẩn mực kế toán khác như:

(a) Hợp đồng xây dựng (Xem IPSAS 11 “Hợp đồng xây dựng”); và

(b) Thuê tài sản (Xem IPSAS 13 “Thuê tài sản”) Tuy nhiên IPSAS 13 không

đề cập đến các hợp đồng thuê hoạt động mà nó trở thành hợp đồng có rủi

ro lớn, Chuẩn mực này áp dụng trong trường hợp trên

14 Chuẩn mực này không áp dụng đối với các khoản dự phòng về các khoản thuế thunhập và các khoản tương đương thuế thu nhập (Hướng dẫn kế toán thuế thunhập được quy định ở IAS 12 “Thuế thu nhập”) Chuẩn mực này không áp dụngđối với các khoản trợ cấp cho người lao động (Hướng dẫn kế toán các khoản trợcấp cho người lao động được quy định trong IAS 19 “Trợ cấp cho người laođộng”)

15 Một vài khoản được ghi nhận như những khoản dự phòng có thể liên quan đếnviệc ghi nhận doanh thu Ví dụ: một đơn vị thực hiện bảo lãnh để thu lại mộtkhoản phí bảo lãnh Chuẩn mực này không đi sâu vào việc ghi nhận doanh thu.IPSAS 9 “Doanh thu từ các giao dịch trao đổi” xác định rõ các tình huống ghinhận doanh thu từ các giao dịch ngoại hối và cung cấp các hướng dẫn thực hành

về việc áp dụng các tiêu chuẩn ghi nhận Chuẩn mực này không thay đổi các quyđịnh của IPSAS 9

16 Chuẩn mực này định nghĩa các khoản dự phòng là các khoản nợ phải trả chưa chắcchắn về giá trị và thời gian Ở một vài quốc gia, thuật ngữ “dự phòng” đượcdùng để chỉ các khoản mục như khấu hao, tổn thất tài sản, và các khoản nợ khóđòi: những khoản mục này là những khoản điều chỉnh lại giá trị ghi sổ còn lạicủa các tài sản, và không được đề cập trong chuẩn mực này

17 Các Chuẩn mực kế toán công quốc tế khác quy định việc ghi nhận các khoản chitiêu vào khoản mục tài sản hay khoản mục chi phí Chuẩn mực này không đi sâuvào các vấn đề đó Chuẩn mực này không cấm hay đòi hỏi việc phải ghi nhận sựvốn hoá của các khoản chi phí đã được ghi nhận khi trích lập các khoản dựphòng

Các khái niệm

18 Các thuật ngữ được sử dụng trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ phát sinh từ các hoạt động của một đơn vị mà: (a) Khuôn mẫu được thiết lập từ các thông lệ trong quá khứ khi thông qua các chính sách đã ban hành hoặc hồ sơ, tài liệu hiện tại có liên quan để chứng minh cho các đối tác khác biết rằng đơn vị sẽ chấp nhận và thực hiện những nghĩa vụ cụ thể; và

(b) Sự kỳ vọng có giá trị pháp lý mà đơn vị đã tạo ra đối với các bên cam

kết chịu trách nhiệm thành toán.

Trang 8

Tài sản tiềm tàng là một tài sản có khả năng phát sinh từ các sự kiện xảy ra trong quá khứ, và sự tồn tại của tài sản này chỉ được xác nhận bởi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà đơn vị không kiểm soát được.

Nghĩa vụ pháp lý là nghĩa vụ phát sinh từ:

(a) Một hợp đồng (thông qua các điều khoản rõ ràng và ngầm ẩn của nó)

(b) Các quy định pháp luật; hoặc

(c) Các hoạt động khác theo luật.

Nợ phải trả là các nghĩa vụ hiện tại của một đơn vị, phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ mà việc thanh toán nghĩa vụ này sẽ làm giảm sút các nguồn lợi kinh tế của đơn vị

Sự kiện rằng buộc trách nhiệm là sự kiện tạo nên nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ ngầm định mà đơn vị không có giải pháp thực tế nào khác là thực hiện nghĩa vụ đó.

Hợp đồng có rủi ro lớn là hợp đồng giao dịch về hàng hoá, dịch vụ mà trong

đó các khoản chi phí bắt buộc để thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng, vượt quá lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ được kỳ vọng sẽ thu hồi từ hợp đồng này.

Dự phòng là khoản nợ phải trả chưa chắc chắn về giá trị và thời gian thanh toán.

Tái cơ cấu là chương trình do ban giám đốc lập kế hoạch, kiểm soát, và có những thay dổi quan trọng về:

(a) Phạm vi các hoạt động của đơn vị; hoặc

(b) Các thức thực hiện các hoạt động đó.

Trang 9

Các khoản dự phòng và các khoản nợ phải trả

19 Các khoản dự phòng có thể phân biệt với các khoản nợ phải trả khác như là phảitrả người cung cấp hoặc các khoản trích trước do có sự không chắc chắn về giátrị hoặc thời gian của số tiền được sử dụng để thanh toán cho nghĩa vụ nợ đó.Ngược lại:

(a) Khoản phải trả là các khoản nợ phải trả cho hàng hoá và dịch vụ đã đượccung cấp,đã lập hoá đơn hoặc chính thức chấp nhận thanh toán với nhàcung cấp (bao gồm cả các khoản tiền liên quan đến phúc lợi xã hội khi đã

có những thoả thuận chính thức về số tiền phải trả); và

(b) Các khoản trích trước là các khoản nợ phải trả cho các hàng hoá, dịch vụ

đã nhận nhưng chưa được thanh toán, chưa lập hoá đơn hay chính thứcchấp nhận thanh toán với người cung cấp, bao gồm cả các khoản phải trảcho công nhân viên (ví dụ như khoản liên quan đến khoản trích trước tiềnlương nghỉ phép) Đôi khi việc ước tính thời gian và giá trị của các khoảndồn tích là cần thiết và tính thiếu chắc chắn của các khoản này thì ít hơn rấtnhiều so với các khoản dự phòng

Các khoản trích trước thường được trình bày như một phần của khoản phải trả,trái lại các khoản dự phòng được trình bày riêng biệt

Mối quan hệ giữa các khoản dự phòng và nợ phải trả tiềm tàng

20 Nói chung, tất cả các khoản dự phòng đều là nợ tiềm tàng bởi vì chúng khôngđược xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc thời gian Tuy nhiên, trongphạm vi chuẩn mực này, thuật ngữ “tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợphải trả và những tài sản không được ghi nhận vì sự tồn tại của chúng chỉ đượcxác nhận bởi việc xảy ra hay không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện khôngchắc chắn trong tương lai nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị Hơn nữa, thuậtngữ “nợ tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ không thoả mãn điều kiện

để ghi nhận là một khoản nợ phải trả thông thường

21 Chuẩn mực này phân biệt rõ các khoản dự phòng với các khoản nợ tiềm tàng nhưsau:

(a) Các khoản dự phòng được ghi nhận như các khoản nợ phải trả (giả địnhrằng có thể đưa ra một ước tính đáng tin cậy) vì nó là các nghĩa vụ nợ hiệntại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa

vụ về khoản nợ phải trả đó; và

(b) Các khoản nợ tiềm tàng không đựoc ghi nhận là các khoản nợ phải trảthông thường vì:

(i) Chúng là các nghĩa vụ có thể có của đơn vị vì vẫn chưa xác nhận được

là liệu đơn vị có một nghĩa vụ nợ hiện tại dẫn đến sự giảm sút về lợiích kinh tế và tiềm năng dịch vụ hay không; và

(ii) Các nghĩa vụ hiện tại không thoả mãn các điều kiện ghi nhận trongchuẩn mực này (vì không chắc chắn rằng có sự giảm sút về lợi ích kinh

tế hoặc tiềm năng dịch vụ khi thanh toán khoản nợ hoặc không lậpđược ước tính đủ tin cậy về giá trị của khoản nghĩa vụ đó)

Trang 10

Ghi nhận

Các khoản dự phòng

22 Một khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi thoã mãn các điều kiện sau:

(a) Đơn vị có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ ngầm định) do kết quả của các sự kiện qúa khứ;

(b) Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ có thể xảy

ra do việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ; và

(c) Đưa ra được ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.

Nếu những điều kiện này không được đáp ứng, không có điều khoản nào được ghi nhận.

Nghĩa vụ hiện tại

23 Rất ít trường hợp không rõ là liệu đơn vị có một nghĩa vụ nợ hiện tại hay

không Trong những trường hợp như vậy, một sự kiện quá khứ được xem là phát sinh ra nghĩa vụ nợ hiện tại nếu, khi xem xét tất cả các chứng cứ đã

có, thấy rằng có nhiều khả năng hơn không là một nghĩa vụ nợ hiện tại đã tồn tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm

24 Trong hầu hết các trường hợp đều có thể xác định rõ được liệu một sự kiện quákhứ có phát sinh một nghĩa vụ nợ hiện tại hay không Một số trường hợp khác,ví

dụ như trong một vụ xét xử, có thể có những tranh luận về việc liệu các sự kiện

cụ thể đã xảy ra hay chưa và liệu các sự kiện đó có dẫn đến một nghĩa vụ nợhiện tại hay không Trong những trường hợp như thế, đơn vị phải xác định xemliệu có tồn tại nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hay khôngthông qua việc xem xét tất cả các chứng cứ sẵn có, bao gồm cả ý kiến của cácchuyên gia Chứng cứ đưa ra xem xét phải tính đến bất cứ một dấu hiệu bổ sungnào của các sự kiện xảy ra ngay sau khi kết thúc kỳ kế toán năm Dựa trên cơ sởcủa các dấu hiệu đó:

(a) Khi có nhiều khả năng hơn không là có một nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngàykết thúc kỳ kế toán năm, thì đơn vị phải ghi nhận một khoản dự phòng (nếuthoả mãn các điều kiện ghi nhận); và

(b) Khi có nhiều khả năng rằng không có một nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngày kếtthúc kỳ kế toán năm, thì đơn vị phải trình bày một khoản nợ phải trả tiềmtàng, trừ khi khả năng giảm sút các lợi ích kinh tế và tiềm năng dịch vụ làrất khó có thể xảy ra (xem đoạn số 100)

Sự kiện quá khứ

25 Một sự kiện đã xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ nợ hiện tại được gọi là một sự kiệnràng buộc trách nhiệm Một sự kiện trở thành sự kiện ràng buộc trách nhiệm, nếuđơn vị không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây rabởi sự kiện đó Điều này chỉ xảy ra khi:

(a) Việc thanh toán nghĩa vụ nợ này phải được thực hiện theo quy định phápluật; hoặc

Trang 11

(b) Trong trường hợp của nghĩa vụ ngầm định, sự kiện này (có thể là một hoạtđộng của đơn vị) tạo ra niềm tin cho các bên khác rằng đơn vị sẽ thanhtoán nghĩa vụ nợ đó

26 Báo cáo tài chính chỉ liên quan đến tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm kếtthúc kỳ báo cáo chứ không phải tình hình tài chính có thể trong tương lai Vìvậy, không được ghi nhận bất kỳ một khoản dự phòng nào cho các khoản chi phícần thiết cho hoạt động trong tương lai Các khoản nợ phải trả được ghi nhậntrong Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị là những khoản nợ phải trả đã tồntại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm

27 Chỉ có những nghĩa vụ nợ phát sinh từ các sự kiện quá khứ tồn tại một cách độclập với các hoạt động trong tương lai của đơn vị mới được ghi nhận là các khoản

dự phòng, ví dụ tiền phạt hoặc chi phí xử lý thiệt hại do vi phạm pháp luật vềmôi trường, đều làm giảm sút các lợi ích kinh tế và tiềm năng dịch vụ bất kể cáchoạt động trong tương lai của đơn vị Tương tự như vậy, một đơn vị thuộc khuvực công phải ghi nhận khoản dự phòng cho các chi phí khôi phục môi trường,

dỡ bỏ các công trình quốc phòng hoặc các nhà máy diện nguyên tử thuộc sở hữucủa Chính phủ (IPSAS 17- “Bất động sản, nhà xưởng và thiết bị” quy định cáckhoản mục này, bao gồm cả các chi phí tháo dỡ máy móc, khôi phục mặt bằng.Các chi phí này cũng được tính vào giá của tài sản) Ngược lại, theo các quyđịnh pháp luật, áp lực từ phía cử tri, hay yêu cầu của việc thể hiện khả năng lãnhđạo cộng đồng, trong tương lai, một đơn vị có thể phải chi trả các khoản chi phíhoạt động theo một cách thức nhất định Ví dụ như một đơn vị thuộc khu vựccông quyết định áp đặt việc kiểm soát khí thải của một số phương tiện đi lại nhấtđịnh của mình hoặc một cơ quan nghiên cứu của Chính phủ quyết định lắp đặtcác thiết bị chiết xuất để bảo vệ người lao động khỏi những chất khí độc từ cácchất hoá học nhât định Do các đơn vị này có thể tránh khỏi các khoản chi tiêutrong tương lai bằng các hành động trong tương lai, ví dụ như thay đổi phươngthức hoạt động, cho nên họ không có các nghĩa vụ nợ hiện tại cho các khoản chitiêu trong tương lai và khoản dự phòng không được ghi nhận

28 Một nghĩa vụ nợ thường liên quan đến một bên đối tác có quyền lợi đối với nghĩa

vụ nợ đó Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải xác định rõ bên có quyền lợi đốivới nghĩa vụ nợ đó- thực tế nghĩa vụ nợ này có thể là đối với cộng đồng nóichung Một nghĩa vụ nợ luôn gắn với các cam kết với bên đối tác khác Mộtquyết định của Ban lãnh đạo, ban điều hành hoặc đơn vị kiểm soát không làmphát sinh nghĩa vụ nợ ngầm định tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm trừ khi quyếtđịnh này đã được thông báo trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm cho những đốitượng sẽ được hưởng quyền lợi một cách cụ thể và đầy đủ để tạo ra niềm tinrằng đơn vị sẽ thực hiện các nghĩa vụ đó

29 Một sự kiện không nhất thiết phát sinh nghĩa vụ nợ ngay lập tức mà có thể sẽ phátsinh sau này do những thay đổi về một luật hoặc một đạo luật (ví dụ, một báocáo tài chính công đủ cụ thể) do hoạt động của đơn vị dẫn đến nghĩa vụ nợ ngầmđịnh Ví dụ: Khi xảy ra thiệt hại về môi trường có thể sẽ không phát sinh ranghĩa vụ nợ để giải quyết các hậu quả gây ra Tuy nhiên, nguyên nhân gây rathiệt hại sẽ trở thành một sự kiện ràng buộc trách nhiệm khi có một quy định mớiyêu cầu các thiệt hại hiện tại phải được khắc phục hoặc khi cơ quan Chính phủ

Trang 12

quản lý hoặc đơn vị công khai thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc xử lýcác thiệt hại đó

30 Khi các điều khoản của một đạo luật mới chưa được phê chuẩn, một nghĩa vụ nợchỉ phát sinh khi đạo luật đó sẽ chắc chắn được ban hành như bản dự thảo Theochuẩn mực này, nghĩa vụ nợ như vậy được coi là nghĩa vụ pháp lý Tuy nhiên sựkhác nhau trong các tình huống xoay quanh việc ban hành một văn bản luậtthường dẫn tới việc không thể xác định một sự kiện đơn lẻ mà sự kiện này có thểkhiến việc ban hành các văn bản luật trở nên hầu như chắc chắn Trong nhiềutrường hợp, không thể xét đoán được liệu một đạo luật mới có chắc chắn đượcban hành như bản dự thảo hay không và bất kỳ một quyết định nào về sự tồn tạimột nghĩa vụ nợ cũng phải đợi sự ban hành của đạo luật đó

Sự giảm sút lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ có thể xảy ra

31 Một khoản nợ chỉ được ghi nhận khi có một nghĩa vụ nợ hiện tại và có khả nănggiảm sút lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ để thanh toán nghĩa vụ nợ đó.Theo quy định của chuẩn mực này, sự giảm sút lợi ích hoặc một sự kiện khácđược xem là có khả năng xảy ra nếu như sự kiện này có nhiều khả năng xảy rahơn là không xảy ra nghĩa là xác suất rằng sự kiện này sẽ xảy ra là lớn hơn xácsuất rằng sự kiện này sẽ không xảy ra Khi không có khả năng rằng có một nghĩa

vụ nợ hiện tại, thì đơn vị phải thuyết minh một khoản nợ phải trả tiềm tàng, trừkhi khả năng giảm sút về lợi ích kinh tế là khó có thể xảy ra (xem đoạn 100)

32 Khi có nhiều nghĩa vụ nợ tương tự nhau (ví dụ như, nghĩa vụ của Chính phủ phảibồi thường cho những người đã nhận phải nguồn máu nhiễm bệnh từ bệnh việncủa Nhà nước), thì khả năng giảm sút lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng diịch vụ doviệc thanh toán nghĩa vụ nợ được xác định thông qua việc xem xét toàn bộ nhómnghĩa vụ nói chung Mặc dù việc giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán từngnghĩa vụ nợ là rất nhỏ, nhưng hoàn toàn có thể làm giảm sút lợi ích kinh tế doviệc thanh toán toàn bộ nhóm nghĩa vụ đó Trường hợp này cần ghi nhận mộtkhoản dự phòng nếu thoả mãn các điều kiện ghi nhận khác

Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ

33 Việc sử dụng các ước tính là một phần quan trọng của việc lập báo cáo tài chính vàkhông làm mất đi độ tin cậy của báo cáo tài chính Điều này đặc biệt đúng vớicác khoản mục dự phòng vì xét về tính chất các khoản dự phòng chứa đựng yếu

tố không chắc chắn nhiều hơn các khoản mục khác trong Bảng cân đối kế toán.Ngoại trừ trường hợp rất đặc biệt, còn lại thì một đơn vị có thể xác định mộtkhoảng của những kết quả có thể xảy ra và theo đó có thể ước tính nghĩa vụ nợ

đủ tin cậy để ghi nhận một khoản dự phòng

34 Trong các trường hợp đặc biệt không thể lập được một ước tính tin cậy, nghĩa vụ

nợ hiện tại không thể được ghi nhận, mà phải được trình bày như một khoản nợphải trả tiềm tàng (xem đoạn số 100)

Nợ phải trả tiềm tàng

35 Đơn vị không được ghi nhận một khoản nợ phải trả tiềm tàng.

Trang 13

36 Khoản nợ phải trả tiềm tàng phải được trình bày theo quy định tại đoạn 100, trừkhi khả năng xảy ra giảm sút lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ là rất ít.

37 Khi đơn vị chịu nghĩa vụ pháp lý chung hoặc riêng rẽ đối với một khoản nợ, thìphần nghĩa vụ dự tính thuộc về các chủ thể khác được xem như một khoản nợphải trả tiềm tàng Ví dụ: trong trường hợp khoản nợ liên doanh, phần nghĩa vụ

nợ do các bên tham gia liên doanh khác chịu sẽ được coi là một khoản nợ phảitrả tiềm tàng Đơn vị phải ghi nhận khoản dự phòng cho phần nghĩa vụ có thểxảy ra làm giảm sút lợi ích kinh tế, trừ khi không đưa ra được cách ước tính đángtin cậy

38 Các khoản nợ phải trả tiềm tàng thường xảy ra không theo dự tính ban đầu Do đóchúng phải được đánh giá thường xuyên để xác định xem liệu có sự giảm sút lợiích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ hay không Nếu có khả năng có sự giảm sútlợi ích kinh tế trong tương lai hoặc tiềm năng dịch vụ của một khoản mục trướcđây được coi là một khoản nợ phải trả tiềm tàng, thì một khoản dự phòng cầnđược ghi nhận vào báo cáo tài chính của kỳ kế toán phát sinh sự thay đổi khảnăng giảm sút lợi ích kinh tế ngoại trừ trường hợp không thể đưa ra được ướctính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ phải trả đó Ví dụ như, một đơn vị chính quyềnđịa phương vi phạm luật môi trường nhưng vẫn chưa rõ là đơn vị đó có gây hại

gì cho môi trường hay không Rồi sau đó, đơn vị thấy rõ ràng rằng nó có gây hại

và có trách nhiệm khắc phục thiệt hại, đơn vị cần ghi nhận khoản dự phòng vì sựgiảm sút lợi ích ích kinh tế lúc này là có khả năng hơn không

Tài sản tiềm tàng

39 Đơn vị không được ghi nhận tài sản tiềm tàng.

40 Tài sản tiềm tàng thường phát sinh từ các sự kiện không có trong kế hoạch hoặcchưa được dự tính nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị, dẫn đến khả năng tănglợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ cho đơn vị Ví dụ: một khoản bồi thườngđang tiến hành theo các thủ tục pháp lý mà kết quả chưa chắc chắn

41 Đơn vị không được ghi nhận tài sản tiềm tàng trên báo cáo tài chính vì điều này cóthể dẫn đến việc ghi nhận khoản thu nhập có thể không bao giờ thu được Tuynhiên, khi có khoản thu nhập gần như chắc chắn thì tài sản liên quan đến nókhông còn là tài sản tiềm tàng và được ghi nhận vào báo cáo tài chính là hợp lý

42 Tài sản tiềm tàng được trình bày trong báo cáo tài chính theo quy định trong đoạn

105 khi có khả năng tăng lợi ích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ

43 Tài sản tiềm tàng phải được đánh giá thường xuyên để đảm bảo là đã được phảnánh một cách hợp lý trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính Nếu việc tăng lợiích kinh tế hoặc tiềm năng dịch vụ trở nên gần như chắc chắn, và giá trị của tàisản có thể xác định được một cách tin cậy thì tài sản và khoản thu nhập liên quanphải được ghi nhận vào báo cáo tài chính của kỳ kế toán có sự thay đổi đó (xemđoạn số 105)

Xác định giá trị

Trang 14

Ước tính tốt nhất

44 Giá trị được ghi nhận như một khoản dự phòng phải là giá trị ước tính hợp lý

nhất về khoản tiền sẽ phải chi để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm.

45 Giá trị ước tính hợp lý nhất về khoản chi phí để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại làgiá trị mà đơn vị sẽ phải thanh toán nghĩa vụ nợ hoặc chuyển nhượng cho bênthứ ba tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm Thường là không thể bỏ ra chi phí rấtcao để thanh toán hoặc chuyển nhượng nghĩa vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toánnăm Tuy nhiên, ước tính về số tiền mà đơn vị phải trả để thanh toán hoặcchuyển nhượng nghĩa vụ nợ sẽ đưa ra được giá trị ước tính đáng tin cậy nhất vềchi phí sẽ phải dùng để thanh toán nghĩa vụ hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toánnăm

46 Ước tính về kết quả và ảnh hưởng tài chính đều được xác định thông qua đánh giácủa Ban lãnh đạo đơn vị, được bổ sung thông qua kinh nghiệm từ các hoạt độngtương tự và trong một số trường hợp là các bản báo cáo của các chuyên gia độclập Các căn cứ có thể dựa trên bao gồm cả các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc

kỳ kế toán năm

Ví dụ:

Cơ quan ý tế của Chính phủ cung cấp cho tất các các bệnh viện và trung tâm y tế

cả của Nhà nước và tư nhân, các máy quét chuẩn đoán bằng siêu âm trên cơ sởthu hồi toàn bộ chi phí Các thiết bị này được bảo hành, các trung tâm y tế vàbệnh viện sẽ không phải trả chi phí sửa chữa cho bất kỳ một hỏng hóc nào xảy ratrong vòng 6 tháng sau khi mua Nếu tất cả các thiết bị bán ra chỉ bị hỏng các lỗinhỏ, thì sẽ cần khoản chi phí sửa chữa là 1 triệu đơn vị tiền tệ Nếu tất cả cácthiết bị bán ra bị hỏng các lỗi lớn, thì cần khoản chi phí sửa chữa là 4 triệu đơn

vị tiền tệ Theo như các kinh nghiệm trước đó và các dự đoán tương lai của cơquan này, thì trong năm tới, 75% số thiết bị sẽ không bị hỏng, 20% số thiết bị bịhỏng lỗi nhỏ, 5% số thiết bị bị hỏng lỗi lớn Ứng với đoạn số 32, cơ quan sẽđánh giá tổng thể khả năng phát sinh các dòng tiền ra để thực hiện nghĩa vụ bảohành

Giá trị ước tính của khoản chi phí sửa chữa là:

(75%.0) + (20%.1triệu) + (5%.4triệu) = 400.000

47 Có nhiều phương pháp đánh giá để ghi nhận giá trị các khoản mục không chắcchắn của số tiền được ghi nhận là một khoản dự phòng được xử lý bằng nhiềuphương pháp tuỳ theo từng trường hợp cụ thể Khi các khoản dự phòng cần đượcxác định bao gồm một tổng thể lớn có nhiều khoản mục, thì nghĩa vụ nợ sẽ đượcước tính theo số trung bình của tất cả các kết quả có thể thu được với các xácsuất có thể xảy ra Tên của phương pháp ước tính thống kê này là phương phápgiá trị ước tính Do đó, khoản dự phòng sẽ khác nhau phụ thuộc vào xác suấtphát sinh khoản tổn thất đã ước tính là bao nhiêu, ví dụ: 60% hay 90% Nếu cáckết quả ước tính đều tương đương nhau và liên tục trong một khoảng nhất định

và mỗi điểm ở trong khoảng đó đều có khả năng xảy ra như nhau thì sẽ chọnđiểm ở giữa trong khoảng đó

Ngày đăng: 09/09/2013, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w