1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGap trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng

180 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ tâm lý chỉ ra rằng thái độ, các quy phạm xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi là các yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết định áp dụng đổi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

ĐÀ NẴNG – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã Số: 62.31.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Đoàn Gia Dũng

2 PGS.TS Bùi Quang Bình

ĐÀ NẴNG – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Đà Nẵng ngày 30 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Lương Tình

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Câu hỏi nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu: 8

7 Những đóng góp mới của luận án 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ 11

1.1 Một số khái niệm liên quan 11

1.1.1 Công nghệ 11

1.1.2 Đổi mới công nghệ 11

1.1.3 VietGAP 13

1.1.4 Nông hộ 14

1.1.5 Nông dân 15

1.1.6 Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP 15

1.1.7 Vai trò của sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP 16

1.2 Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân 17

1.2.1 Thuyết lợi ích kỳ vọng (Expected Utility Theory - EUT) 17

1.2.2 Thuyết hành động hợp lý ( Theory of Reasoned Aciton - TRA) 18

Trang 5

1.2.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) 19

1.2.4 Thuyết khuếch tán đổi mới (Innovation Diffusion theorey - IDT) 21 1.3 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân 23

1.4 Mô hình đề xuất nghiên cứu 35

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40

2.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 40

2.2 Tình hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP của nông hộ tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 42

2.2.1 Tình hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 42

2.2.2 Tình hình áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 47

2.3 Thiết kế nghiên cứu 50

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 75

3.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thông qua phỏng vấn sâu 75

3.1.1 Thống kê mô tả 75

3.1.2 Kết quả nghiên cứu thông qua phỏng vấn sâu 75

3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng qua nghiên cứu định lượng 87

3.2.1 Thống kê mô tả 87

3.2.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 89

3.2.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha 89

3.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 93

Trang 6

3.2.2.3 Kiểm định thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố

khẳng định (CFA) 96

3.2.2.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phương pháp cấu trúc tuyến tính (SEM) 99

3.2.2.5 Phân tích cấu trúc đa nhóm 104

3.2.2.6 Bàn luận kết quả hồi quy 107

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 112

4.1 Một số hàm ý đối với các hộ nông dân 112

4.2 Một số chính sách đối với các cơ quan hữu quan 113

KẾT LUẬN 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN : Association of South East Asian Nations

EUT : Expected Utility Theory

IDT : Innovation Diffusion theorey

SEM : Structural Equation Analysis

VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích sản xuất của các vùng rau an toàn trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng tính đến năm 2016 43

Bảng 2.2 Các vùng đạt yêu cầu và tiêu chí để phát triển rau theo hướng VietGAP tại tỉnh Quảng Nam 44

Bảng 2.3 Tổng hợp khái niệm và cách thức đo lường 68

Bảng 3.1 Cronbach’s Alpha của các khái niệm nghiên cứu 90

Bảng 3.2 Kết quả phân tích EFA các thang đo các khái niệm nghiên cứu 95

Bảng 3.3 Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo 99

Bảng 3.4 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết chính thức 100

Bảng 3.5 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết chính thức (sau khi đã loại biến DM) 102

Bảng 3.6 Kết quả ước lượng bootstrap so với ước lượng ML 103

Bảng 3.7 Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo địa điểm 104

Bảng 3.8 Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo giới tính 105

Bảng 3.9 Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo tuổi 107

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) 19

Hình 1.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) 21

Hình 1.3 Mô hình tuyến tính thể hiện sự khuếch tán 22

Hình 1.4 Mô hình phi tuyến về sự lĩnh hội các sáng kiến trong nông nghiệp 22

Hình 1.5 Mô hình đề xuất nghiên cứu 38

Hình 2.1 Dụng cụ sản xuất của hộ dân ở Hưng Mỹ 41

Hình 2.2 Máy cày của hộ dân ở vùng rau La Hường 42

Hình 2.3: Quy trình nghiên cứu 50

Hình 2.4 Mô hình đề xuất nghiên cứu 51

Hình 2.5: Nhập dữ liệu bên trong (phỏng vấn) vào dự án Nvivo 8.0 57

Hình 2.6: Nhập dữ liệu bên ngoài vào dự án Nvivo 8.0 58

Hình 2.7: Đặt tên cho các nodes 59

Hình 2.8: Truy vấn dữ liệu 60

Hình 3.1: Mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng 87

Hình 3.2 CFA lần 1 97

Hình 3.3 CFA đã móc các phần dư 98

Hình 3.4 Kết quả SEM mô hình lý thuyết 100

Hình 3.5 Kết quả SEM loại bỏ DM 101

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nghiên cứu về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học từ các chuyên ngành khác nhau Khởi đầu cho nghiên cứu về chủ đề này là thuyết lợi ích kỳ vọng được khởi xướng bởi Bernoulli (1738) dựa trên nền tảng so sánh lợi ích và rủi ro của người nông dân khi quyết định áp dụng đổi mới, tiếp đến là các thuyết tiếp cận dưới góc độ tâm lý, hành vi của người nông dân như thuyết khuếch tán đổi mới của Roger (1962), thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) Chưa dừng lại ở góc độ lý thuyết, chuỗi các bằng chứng thực nghiệm sau đó đã chứng minh khả năng ứng dụng các lý thuyết này trong thực tiễn Có những nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ tâm lý chỉ ra rằng thái độ, các quy phạm xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi là các yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ của nông dân (Läpple và Kelley, 2013); (Wauters và cộng sự, 2013) Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thuyết lợi ích kỳ vọng cho rằng nhận thức của người nông dân về lợi ích và rủi ro của đổi mới ảnh hưởng đến việc quyết định áp dụng và các rủi ro về kinh tế đóng vai trò quan trọng (Ghadim và cộng sự, 2005) Tuy nhiên, việc quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp không chỉ chịu tác động từ các yếu tố tâm lý mà cả các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa Bergevoet và cộng sự (2004) cho rằng những mô hình kinh tế là chưa đủ để giải thích được toàn bộ sự phức tạp trong các quyết định của người nông dân, vốn thường bị chi phối bởi cả hai mục tiêu kinh tế và phi kinh tế Chính vì thế, hầu hết các mô hình lý thuyết và thực nghiệm lâu nay có khuynh hướng trình bày lí giải các quyết định áp dụng đổi mới công nghệ qua cách nhìn của riêng một ngành nào đó kể trên (Pannell và cộng

sự, 2006) Vì vậy, việc nghiên cứu để nhằm kiểm chứng các lý thuyết về quyết định

áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân cho một nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam là một chủ đề mang tính cấp thiết

Trang 11

Rau là một thành phần không thể thiếu trong bữa ăn gia đình và rau an toàn đang là một nhu cầu bức thiết hiện nay Để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng năm 2006, ASEAN đã công bố quy trình GAP cho các nước thành viên Quy trình VietGAP được bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành theo quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 là một công nghệ trong nông nghiệp gồm các quy tắc, phương pháp, quy trình thực hành nông nghiệp tốt cho rau, quả Mặc dù, mới được triển khai áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP nhưng ở một số địa phương như Tiền Giang, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Binh Thuận, Thừa Thiên Huế bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao (Hà và Phụng, 2017) Trong đó hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng đã có những động thái đi đầu trong việc triển khai áp dụng quy trình VietGAP, nhiều quyết định đã được phê duyệt, nhiều chương trình hội thảo được tổ chức điển hình như: “Diễn đàn đầu tư Quảng Nam hướng tới tăng trưởng xanh”, được tổ chức tại Hội An tháng 6/2013; Hội Thảo “Tăng trưởng xanh khu vực miền Trung Tây Nguyên: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”, được tổ chức tại Viện khọc xã hội vùng Trung Bộ tháng 11/2014 Trên thực tế mô hình VietGAP đã giúp thay đổi nhận thức của nhiều hộ nông dân về hướng sản xuất sản phẩm sạch, an toàn đảm bảo sức khỏe cho cả người tiêu dùng và người sản xuất như: sản xuất dưa hấu VietGAP tại huyện Phú Ninh, nuôi cá VietGAP tại xã Đại Chánh huyện Đại Lộc và sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Duy Xuyên; Thăng Bình; Hòa Vang và Cẩm Lệ Tuy vậy, sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP những năm gần đây chưa được nhân rộng Bởi nhận thức còn hạn chế của

hộ nông dân về VietGAP; Thiếu nhu cầu thị trường cho sản phẩm rau được chứng nhận VietGAP, hay những rủi ro liên quan đến việc phá vỡ hợp đồng không chính thức giữa người buôn với nông dân (Hoang, 2018); đất sản xuất phân tán, manh mún; thiếu quy hoạch và định hướng của chính quyền địa phương để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh rau VietGAP với quy mô lớn (Thuận, 2010); (Vũ và cộng sự, 2016)

Trang 12

Những nghiên cứu trên đây đã góp phần nâng cao nhận thức của nhà hoạch định, cộng đồng doanh nghiệp, các nông hộ về phát triển rau theo tiêu chuẩn VietGAP Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu tiếp cận từ góc độ động cơ, tâm lý, nhận thức ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP của nông dân Hơn nữa, đa số các nghiên cứu trước đây sử dụng phương pháp định tính và mới chỉ dừng lại ở việc phỏng vấn chuyên gia để xây dựng, đề xuất thang

đo Tác giả tin rằng việc thực hiện nghiên cứu để tìm kiếm các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông dân bằng việc sử dụng bộ số liệu điều tra và ứng dụng các phương pháp ước lượng mới sẽ bổ sung thêm bằng chứng khoa học thực nghiệm về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân

Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng” là thật sự cấp thiết trên cả phương diện lý

thuyết và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học từ nhiều chuyên ngành khác nhau cả mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu Nhìn chung, có thể nhóm các công trình học thuật này theo các hướng sau:

Cách tiếp cận dựa trên thuyết lợi ích kỳ vọng - Expected Utility Theory (EUT) được khởi xướng bởi Bernoulli (1738) cho rằng nông dân so sánh công nghệ mới với công nghệ truyền thống và áp dụng nếu độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ mới cao hơn độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ truyền thống Đại diện cho cách tiếp cận này có các nghiên cứu của Batz và cộng sự (1999), Baidu-Forson (1999), Ghadim và cộng sự (2005) …Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc quyết định áp dụng đổi mới của nông dân dựa trên thuyết EUT chỉ xem xét tác động bởi việc nhận thức tối đa hóa lợi ích kì vọng, mà không xem xét vai trò của các yếu tố động cơ, thái độ,

các tiêu chuẩn của cá nhân người nông dân khi quyết định áp dụng đổi mới

Trang 13

Cách tiếp cận dựa trên các thuyết tâm lí xã như thuyết Hành động hợp lý, hành vi dự định đều cho rằng thái độ, chuẩn mực xã hội, kiểm soát hành vi là các nhân tố quan trọng trong việc lý giải các quyết định của nông dân Một số nghiên cứu điển hình theo trường phái này có: Bergevoet và cộng sự (2004); Läpple, D., và Kelley (2013); Wauters và Mathij (2013); Bijttebier và cộng sự (2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng thuyết hành vi dự định lại không xem xét vai trò của giao tiếp đến từ bạn bè, truyền hình hay cán bộ khuyến nông Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới lại đi sâu tìm hiểu tác động của việc giao tiếp đối với quyết định áp dụng đổi mới của nông dân, như Makokha và cộng sự (1999) đã sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới của Roger xác nhận rằng các đặc tính của người nông dân như: mức độ tham gia và hoạt động trong các dịp tranh luận tập thể, mức độ tham dự tập huấn, giao lưu tại các hội thảo chuyên đề và vai trò của lãnh đạo có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến nhận thức cũng như quyết định tiếp thu sáng kiến của người nông dân Tần suất tiếp xúc giữa người nông dân và bên khuyến nông có ảnh hưởng tích cực đến quyết định áp dụng các giống ngô, giống mỳ mới của nông dân ở vùng Tigray, Ethiopia được tìm thấy bởi Gebremariam (2001) Tuy nhiên, các nghiên cứu áp dụng thuyết khuếch tán đổi mới để xem xét quyết định áp dụng của nông dân lại không đề cập đến yếu tố động

cơ, giá trị, thái độ Khắc phục nhược điểm này, Jackson và cộng sự (2006) đã kết hợp ba lý thuyết khuếch tán đổi mới; thuyết hành động lý luận và thuyết hành vi dự định, tiết lộ rằng động cơ, giá trị và thái độ là những yếu tố cốt lõi trong quá trình đưa ra quyết định của nông dân Tuy nhiên, việc quá chú trọng đến động cơ và giá trị để đánh giá quyết định của nông dân dẫn đến chưa thể chỉ ra được nhận thức về nguy cơ, rủi ro của công nghệ mới giải thích cho quyết định áp dụng của nông dân Cách tiếp cận theo hướng tích hợp các thuyết tâm lý xã hội và thuyết lợi ích kỳ vọng chú trọng đến các các nhân tố: niềm tin; nhận thức về đặc điểm của cải tiến; ý định, thái độ; chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; mục đích và mục tiêu của nông dân; các yếu tố nền bao gồm các đặc điểm nông dân, hộ gia đình, nông trại, bối cảnh canh tác và tiếp nhận thông tin hoặc quá trình học hỏi để giải

Trang 14

thích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ của nông dân Nghiên cứu tiêu biểu cho cách tiếp cận này mới chỉ có Borges và cộng sự (2015)

Tuy vậy, vẫn còn khá ít các nghiên cứu thực nghiệm về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân tại Việt Nam, như Hà Vũ Sơn

và Dương Ngọc Thành (2014); Trần Thanh Sơn (2011); Trương Thị Ngọc Chi và cộng sự (2002) và hầu hết các nghiên cứu trên chỉ quan tâm xem xét đến các yếu tố khách quan như chính sách hỗ trợ của nhà nước, diện tích, trình độ học vấn, thị trường và cơ sở hạ tầng…Trong khi đó đa số các nghiên cứu liên quan đến áp dụng VietGAP như: Hoàng Mạnh Dũng (2010), Nguyễn Thị Hồng Trang (2016) Ngô Thị Thuận (2010), Nguyễn Anh Minh (2018) lại xem VietGAP như một chương trình, một chính sách để chuyển đổi, phát triển nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại mà không phải một công nghệ mới trong nông nghiệp Chính vì vậy, các nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá, phân tích thực trạng từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm phát triển rau củ quả theo hướng VietGAP

Tóm lại, cho đến nay chưa có nghiên cứu học thuật nào đi sâu tiếp cận từ góc

độ động cơ, tâm lý, nhận thức để xem xét quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của người nông dân

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có thể rút ra một số khoảng trống:

Thứ nhất, mặc dù các nghiên cứu trước đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp như: tiếp xúc với cán bộ khuyến nông, thái độ, ảnh hưởng xã hội, kiểm soát hành vi Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa xem xét đến các quan sát như: nhận thức rủi ro về thương hiệu, cũng như nhận thức về sức khỏe của người sản xuất có ảnh hưởng đến quyết định của họ

Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định

áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp cho một địa phương hay một quốc gia đang phát triển như Việt Nam là chưa được thực hiện

Thứ ba, đa số các nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, tuy nhiên, các nghiên cứu định tính chỉ dừng lại ở việc phỏng vấn chuyên gia Vì vậy, luận án này sử dụng phương pháp định tính với bộ công cụ là quan sát

Trang 15

và phỏng vấn sâu người nông dân (với phần mềm hỗ trợ Nvivo 8.0) nhằm điều chỉnh và phát triển các thang đo cho phù hợp với dữ liệu thực tế, đồng thời áp dụng phương pháp định lượng (SEM) để kiểm định giả thuyết có lẽ là chưa từng có ở các nghiên cứu trước đây

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở những nền tảng lý luận về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp, luận án hướng đến việc xác định và giải thích các nhân tố ảnh hưởng dự định lựa chọn kỹ thuật sản xuất của nông dân Việt Nam, cụ thể là ý định

áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng cho các mùa vụ tiếp theo, từ đó đề xuất các hàm ý, chính sách phù hợp đối với các chủ thể liên quan

Mục tiêu cụ thể:

Điều chỉnh và phát triển thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại Quảng Nam và Đà Nẵng

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại Quảng Nam và Đà Nẵng cho các mùa vụ tiếp theo

Đề xuất một số hàm ý với các cơ quan hữu quan và nông hộ

Để đạt được mục tiêu đề ra, nghiên cứu này thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân

Thứ hai, lựa chọn phương pháp nghiên cứu

Thứ ba, đề xuất mô hình nghiên cứu

4 Câu hỏi nghiên cứu

Xác định và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng cho các mùa vụ tiếp theo?

Trang 16

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: luận án “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng” tập trung tìm hiểu động cơ, nhận thức, thái độ của nông dân khi quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau

Khách thể nghiên cứu: là các nông hộ đang sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Việc lựa chọn này là

do hiện nay việc sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP chủ yếu là các nông hộ, mà chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này

Đối tượng khảo sát: người lao động chính trong hộ sản xuất rau VietGAP Phạm vi:

Nội dung: Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP của nông dân chịu tác động bởi cả hai nhóm nhân tố khách quan lẫn chủ quan Tuy nhiên, nghiên cứu này tiếp cận từ góc độ động cơ, nhận thức, tâm lý của người nông dân Chính vì vậy,

mà các yếu tố khách quan không được đề cập trong nghiên cứu này

Không gian: nghiên cứu này chỉ khảo sát tại 6 khu vực sản xuất gồm: Hưng

Mỹ, Lang Châu Bắc, Bàu Tròn tỉnh Quảng Nam; La Hường, Yến Nê, Túy Loan thuộc thành phố Đà Nẵng, đây là những khu vực có số hộ tham gia sản xuất rau VietGAP nhiều nhất và có thể đại diện cho cả 2 địa phương trên Nghiên cứu này chọn 2 địa phương trên vì một số lý do sau: i) thứ nhất, mặc dù Quảng Nam và Đà Nẵng là 2 địa phương khác nhau về mặt hành chính kể từ sau ngày 1/1/1997, nhưng các chính sách về hỗ trợ áp dụng sản xuất rau VietGAP của hai địa phương còn rất hạn chế để tạo ra sự khác nhau về mức độ tham gia VietGAP của nông hộ Hơn nữa, ở đây nghiên cứu tiếp cận từ góc độ tâm lý của người nông dân chịu tác động

từ nhận thức lợi ích, môi trường, quy chuẩn xã hội… Bên cạnh đó, các điều kiện canh tác, thời tiết, phong tục tập quán sản xuất của 2 địa phương này có những nét tương đồng ii) thứ hai, việc lựa chọn 2 địa phương cũng nhằm làm gia tăng kích cỡ mẫu nghiên cứu, từ đó sử dụng các hàm thống kê cho việc kiểm định phân tích, rút

ra hàm ý Ngoài ra, nghiên cứu này sử dụng phương pháp đa nhóm để xem xét sự

Trang 17

khác nhau giữa hai địa phương, giới tính và độ tuổi có thể khắc phục được một số hạn chế khi xem xét 2 địa phương trên

Thời gian: nghiên cứu được tiến hành theo dạng lát cắt ngang (nghiên cứu đồng đại) giai đoạn năm 2016-2017 để tìm hiểu về các hoạt động kinh tế của cộng đồng cư dân trong chu kỳ một năm Do cách tiếp cận theo trường hợp 2 địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng nên kết quả nghiên cứu chỉ có giá trị cho 2 khu vực khảo sát trên mà không có giá trị suy rộng cho toàn bộ nông dân ở Việt Nam Tuy nhiên, việc lựa chọn 2 địa phương trên vẫn có những nét tương đồng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân ở cả nước Vì vậy mà kết quả nghiên cứu này vẫn

có giá trị tham khảo hữu ích về động cơ, giá trị, nhận thức nói chung của nông dân

6 Phương pháp nghiên cứu:

Luận án này kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng Việc quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ nhìn chung là quá trình phức tạp và đa dạng, trong khi đó chưa có nghiên cứu khám phá nào được tiến hành tại Việt Nam nói chung và 2 địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng nói riêng Hơn nữa, các nghiên cứu về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân đã được kiểm nghiệm tại các quốc gia nhưng mức độ phức tạp trong nhận thức, thái độ cũng như các điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia đó cũng rất khác so với Việt Nam nói chung và 2 địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng nói riêng Chính vì thế, việc sử dụng phương pháp định tính là phù hợp cho việc mô

tả, tìm hiểu nhận thức và quyết định của nông dân Trong nghiên cứu này, hai công

cụ được sử dụng để thu thập thông tin chính là 1) quan sát, ở đây nghiên cứu chỉ quan sát để nhận biết về thực trạng, hoàn cảnh, địa bàn nghiên cứu, 2) phỏng vấn sâu, bởi vì, nghiên cứu này tập trung vào tìm hiểu nhận thức, ý định của cá nhân người lao động tham gia sản xuất rau VietGAP Với các loại dữ liệu định tính này, nghiên cứu sử dụng phần mềm Nvivo 8.0 để hỗ trợ trong việc quản lý, tổng hợp và phân tích dữ liệu

Kế tiếp, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm kiểm định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Nghiên

Trang 18

cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thích mẫu là 320 Đối

tượng được điều tra là lao động nông nghiệp chính trong gia đình ở các làng sản

xuất rau VietGAP như Hưng Mỹ, Lang Châu Bắc, Bàu Tròn, La Hường, Yến Nê, Túy Loan Dữ liệu thu thập được làm sạch và tiếp tục thông qua thủ tục: (1) đánh giá độ tin cậy bằng phân hệ số Cronbach’s alpha; (2) phân tích khám phá nhân tố EFA); (3) CFA và (4) SEM

7 Những đóng góp mới của luận án

Sau khi hoàn thiện luận án dự kiến sẽ mang lại những đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cụ thể như sau:

Thứ nhất, luận án sẽ góp phần gia tăng bề dày khoa học về tác động của các nhân tố đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân, khi áp dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính để khai phá dữ liệu bằng việc phỏng vấn sâu các đối tượng là lao động chính trong sản xuất rau VietGAP với phương pháp định lượng (SEM) nhằm kiểm định các giả thuyết được đề xuất Thứ hai, luận án chọn 2 địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng thuộc một nước nông nghiệp đang phát triển để phân tích sẽ góp phần gia tăng bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân đã được đúc kết thành những nền tảng lý thuyết vững chắc

Thứ ba, nhận thức về rủi ro liên quan đến thương hiệu và nhận thức lợi ích

về sức khỏe người sản xuất có tác động đáng kể trong quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP của nông dân

Thứ tư, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho các nhà hoạch định chính sách và các nông hộ có cái nhìn sâu rộng hơn về vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông dân Hơn nữa, kết quả của luận án sẽ là tiền đề để khuyến khích hình thành nên những công trình nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này

8 Nội dung của luận án

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông hộ

Trang 19

Trong chương này luận án trình bày khung lý thuyết giải thích quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân gồm thuyết lợi ích kỳ vọng, hành vi dự định, khuếch tán đổi mới Bên cạnh đó, luận án cũng tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây để xác định các biến số, từ đó xây dựng mô hình thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và

Đà Nẵng là nội dung cuối của chương 1

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Khi nghiên cứu tại cộng đồng, hay khu vực nào cũng cần giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, điều kiện cơ sở hạ tầng của địa bàn nghiên cứu Do vậy, đây chính là nội dung đầu tiên trong chương này Kế tiếp, nghiên cứu phân tích và mô tả bức tranh toàn cảnh về thực trạng sản xuất rau VietGAP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

và thành phố Đà Nẵng Điểm nổi bật của chương này là trình bày chi tiết các bước tiến hành nhằm tìm kiếm bằng chứng cho các mục tiêu đề ra

Chương 3: Kết quả phân tích và thảo luận

Dựa vào mô hình thực nghiệm và dữ liệu thu thập từ 294 nông hộ, nghiên cứu sử dụng công cụ phần mềm spss 16.0 và Amos 16.0 để thực hiện các kiểm định

và ước lượng các hệ số hồi quy Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm này sẽ được tiến hành thảo luận dựa trên nền tảng lý thuyết đã được đúc kết trong chương 1 và đối chiếu với các nghiên cứu trước đây nhằm luận giải một cách thuyết phục các kết quả nghiên cứu đạt được

Trang 20

kế cho hoạt động có sử dụng công cụ sản xuất làm giảm tính không chắc chắn của quan hệ nhân quả để đạt kết quả mong muốn Công nghệ gồm hai phần: phần cứng gồm công cụ trong công nghệ như là vật liệu dụng cụ sản xuất, còn phần mềm là cơ

sở thông tin về công cụ đó Bên cạnh đó, Đinh Phi Hổ (2003) cũng chỉ ra rằng công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho sản xuất

và đời sống Công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Phần cứng là máy móc, nhà xưởng, thiết bị Phần mềm bao gồm 3 thành phần: con người (kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm), thông tin (bí quyết, quy trình, phương pháp) và tổ chức (sắp xếp, điều phối, quản lý)

Ngoài ra, để phân biệt giữa kỹ thuật và công nghệ thì Inglod (2002) xác định như sau: kỹ thuật liên quan kỹ năng, là khả năng chuyên biệt của từng người; công nghệ là tập hợp kiến thức khách quan, tổng quát, cho đến mức độ khả năng áp dụng thực hành, và cũng cần phân biệt chúng với công cụ, là vật dụng dùng để giúp con người tăng khả năng hoạt động trong điều kiện định sẵn

1.1.2 Đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ được định nghĩa như là phương pháp mới, tập quán và công cụ dùng để thực hiện công việc (Sunding và cộng sự, 2001) Trong khi đó, Ngô Đức Cát và Vũ Đình Thắng (2001) tiết lộ rằng đổi mới công nghệ là sự đổi mới

Trang 21

các kỹ thuật có sẵn hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào

và sản lượng, nhờ đó sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn với nhập lượng như cũ hoặc

có thể làm ra sản lượng như cũ nhưng với nhập lượng ít Ngoài ra, đổi mới công nghệ cũng còn được xác định như là một quá trình trong đó, cá nhân hay đơn vị đi

từ kiến thức đầu tiên của công nghệ mới đến hình thành thái độ đối với công nghệ mới, đến quyết định chấp nhân hay bác bỏ, đến áp dụng ý tưởng mới, và đến xác nhận quyết định đó (Roger, 1983)

Đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần gia tăng năng suất, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Đặc biệt trong ngành nông nghiệp, đổi mới công nghệ sẽ giúp sản xuất ra nhiều thực phẩm giàu dinh dưỡng hơn, đa dạng và phong phú hơn, giải quyết những thay đổi trong chế độ dinh dưỡng

và còn cung cấp nguyên liệu thô cho sử dụng phi thực phẩm Ví dụ cuộc cách mạng xanh đóng góp tích cực cho quá trình tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Nó cũng mang đến những lợi ích cho những nông hộ nhỏ, tăng thu nhập nông thôn, giảm giá

lương thực và gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Trong ngành nông nghiệp của

Việt Nam đổi mới công nghệ đã đóng góp trên 35% tăng trưởng của ngành trong thời gian qua trong khi các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng khác như lao động, vốn và quỹ đất có xu hướng giảm đi (Hiền, 2016) Hơn nữa, đổi mới công nghệ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng bảo vệ môi trường sinh thái thông qua việc áp dụng công nghệ sinh học, hóa học để biến đổi các chất thải thành phân bón cho cây trồng Chính vì vậy, ngày nay vấn đề đổi mới công nghệ không chỉ nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tăng trưởng kinh tế mà còn tính đến cả các yếu tố xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực và những lợi ích về sức khỏe Để tiến bộ công nghệ phát huy một cách hiệu quả đối với sản xuất, người sản xuất phải có nhận thức đầy đủ về vai trò, tác dụng của đổi mới công nghệ mang lại Muốn vậy phải nâng cao kiến thức, quy trình công nghệ

Người nông dân không sẵn lòng áp dụng đổi mới công nghệ được Đinh Phi

Hổ (2003) dẫn từ Wharton C (1971) có 6 nguyên nhân chính như sau:

Trang 22

(1) Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới: Mặc dù cán bộ khuyến nông có nỗ lực truyền bá nhưng có một bộ phận nông dân không biết thông tin về

kỹ thuật đó, hoặc nông dân có biết tới kỹ thuật đó thông qua cán bộ khuyến nông nhưng lại không hiểu vì có thể do phương pháp khuyến nông không thích hợp (2) Không có đủ năng lực để thực hiện: mặc dù nông dân đã biết kỹ thuật mới, tuy nhiên để thực hiện kỹ thuật mới đó nó đòi hỏi kiến thức và kỹ năng mới nhưng nông dân lại không có những điều kiện này

(3) Không được chấp nhận về mặt tâm lý, văn hóa và xã hội;

(i) Về mặt tâm lý: nông dân đã quen với phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, cách tính toán không phải là trên giấy mà bằng kinh nghiệm và suy nghĩ riêng của họ

(ii) Về mặt văn hóa – xã hội: Cộng đồng dân cư trên những vùng địa lý khác nhau có tập quán, tôn giáo khác nhau, nếu kỹ thuật mới không phù hợp với tập quán – tôn giáo mà họ có thì họ sẽ không chấp nhận ứng dụng kỹ thuật đó

(4) Không được thích nghi: Kỹ thuật mới chưa được thử nghiệm tại địa phương mà nông dân cư trú Một sự hồ nghi sẽ xuất hiện vì không biết điều kiện tự nhiên ở địa phương có thích hợp không

(5) Không khả thi về kinh tế: Khi kỹ thuật mới áp dụng, thường chi phí sản xuất tăng đồng thời sản lượng cũng tăng Nhưng chắc chắn rằng nông dân sẽ không chấp nhận khả năng sinh lợi thấp hơn so với việc áp dụng cách truyền thống của họ (6) Không sẵn có điều kiện để áp dụng: áp dụng kỹ thuật mới đòi hỏi phải sử dụng một loại giống mới nào đó, hoặc một loại phân nào đó, nhưng các loại này lại không có sẵn trên thị trường của địa phương

1.1.3 VietGAP

GAP (Good Agriculture Practice) là bộ quy tắc thực hành nông nghiệp tốt được khởi xướng bởi các nhà bán lẻ Châu Âu vào năm 1997 nhằm giải quyết mối quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuất sản phẩm nông nghiệp với khách hàng của họ Theo đó, GAP là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa

Trang 23

các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học và hóa chất, đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng ruộng đến khi sử dụng

Các nước thành viên khối ASEAN với cam kết gia tăng chất lượng, giá trị của sản phẩm rau và quả đã thống nhất những quy định chung cho khu vực ASEAN được gọi là ASEANGAP Mục tiêu của ASEANGAP là bảo vệ môi trường, kỹ thuật canh tác, an toàn thực phẩm cho xã hội, hài hòa và phù hợp với các nước thành viên đến năm 2020

VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) là bộ quy tắc thực hành nông nghiệp tốt cho rau, quả an toàn áp dụng cho thị trường Việt Nam, được ban hành theo quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Bộ

trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chúng được xem như công nghệ trong nông nghiệp gồm cả phần cứng như vật tư nông nghiệp, công cụ, nhà xưởng

và phần mềm là quy trình kỹ thuật được áp dụng, tạo ra sản phẩm có năng suất cao

1.1.4 Nông hộ

Khái niệm nông hộ được nhiều nhà khoa học quốc tế và trong nước quan tâm nghiên cứu và chúng được khởi xướng bởi Ellis (1988) “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có

xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” (dẫn theo Lê Đình Thắng) Trong khi đó, tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa về nông

hộ Theo Lê Đình Thắng (1993) “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh

tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” Bên cạnh đó, Đào Thế Tuấn (1997) xác định “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Ngoài

ra, Tạ Tuyết Thái (2016) quan niệm “Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh doanh dựa trên nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển”

Trang 24

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến nông hộ, nhưng nhìn chung nông hộ được xác định là hộ gia đình tại nông thôn tham gia hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp bằng việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của

hộ và tham gia một phần hay hoàn toàn vào sản xuất thị trường

1.1.5 Nông dân

Theo wikipedia nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch

sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

Theo Eric Wolf (1955) nông dân được định nghĩa là những người trồng trọt

ở nông thôn và họ không phải là nông gia (chủ các nông trại) (dẫn theo Bùi Quang Dũng, 2012)

Trong bối cảnh nghiên cứu về hành vi kinh tế của nông dân, nghiên cứu này cũng đồng tình với định nghĩa của Ngô Thị Phương Lan (2011) cho rằng nông dân

là những người kiếm sống chủ yếu bằng hình thức canh tác nông nghiệp, có sự tham gia trực tiếp của lao động gia đình trong quá trình sản xuất, và tham gia một phần hay hoàn toàn vào sản xuất thị trường

1.1.6 Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP

Theo nghiên cứu này Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau đề cập đến những ý định/dự định áp dụng các phương pháp, quy trình, tiêu chuẩn VietGAP của người nông dân trong các mùa vụ tiếp theo Điều này bởi vì người nông dân có thể tiếp tục đầu tư thời gian và vật tư để áp dụng theo quy trình này hoặc quay trở lại với phương pháp, quy trình truyền thống Hơn nữa, các đối tượng nông dân khác nhau thường có thời điểm quyết định áp dụng quy trình VietGAP khác nhau và thường chênh lệch nhau tới 1-2 năm, như các hộ nông dân ở Hưng Mỹ áp dụng tiêu chuẩn VietGAP từ năm 2011, các hộ nông dân ở Lang Châu Bắc, Duy Phước áp dụng từ năm 2012, trong khi đó các hộ ở Bàu Tròn, xã Đại An,

Trang 25

La Hường, quận Cẩm Lệ từ năm 2013 Do đó, việc yêu cầu người nông dân nhớ lại thái độ, niềm tin và các nhân tố khác lúc họ mới tiếp nhận là không khả thi

Theo Ajzen (1991) Ý định hành vi bao gồm các yếu tố động cơ có thể có ảnh

hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân Các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc

nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi

Như vậy, dựa trên phạm vi về mặt nội dung đã được đề cập trong phần trên thì quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau cho biết mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực của người nông dân bỏ ra để áp dụng quy trình VietGAP trong các mùa vụ tiếp theo Quyết định này có thể bị ảnh hưởng bởi hàng loạt các yếu tố bao gồm các yếu tố nhận thức (lợi ích, rủi ro), định mức chủ quan, khả năng kiểm soát hành vi và mức độ giao tiếp chia sẻ thông tin của người nông dân

1.1.7 Vai trò của sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP

Về sức khỏe con người: sản xuất và sử dụng rau an toàn có tác dụng tốt đến

sức khẻo con người, giúp con người hấp thu đầy đủ các Vitamin và dưỡng chất trong rau mà không phải lo lắng về vấn đề ngộ độc thực phẩm hay những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy lượng protid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ Ngoài ra, trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza (Tuyết, 2014) Hơn thế nữa, một vai trò khác của sản xuất rau an toàn là góp phần bảo vệ sức khỏe người sản xuất do giảm thiểu việc tiếp xúc với hóa chất độc hại Các loại rau tươi của nước ta rất phong phú Nhìn chung, rau tươi được chia thành nhiều nhóm: nhóm rau xanh như rau cải, rau muống, rau xà lách, rau cần ; nhóm rễ củ như cà rốt, củ cải,

su hào, củ đậu ; nhóm cho quả như cà chua, cà bát, cà pháo, dưa chuột ; nhóm hành gồm các loại hành, tỏi,.v.v

Về môi trường: thông qua việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo

cho cây rau hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong

Trang 26

sản phẩm, sản xuất rau an toàn đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và thực sự trở nên thân thiện với môi trường góp phần xây dựng một nền sinh thái bền vững

Về kinh tế: với việc áp dụng công nghệ hiện đại vào trong sản xuất rau an

toàn cũng như các loại giống đảm bảo chất lượng nên năng suất dự kiến của VietGAP vượt trội so với phương pháp truyền thống nên trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP kỳ vọng cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng rau theo phương pháp truyền thống

Về hiệu quả xã hội: khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, buộc

người trồng trọt phải am hiểu nhiều kỹ thuật liên quan, trồng rau nói chung hay rau

an toàn VietGAP nói riêng không yêu cầu quá cao cho các yếu tố kỹ thuật và vì thế, mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia sản xuất một cách hiệu quả Điều này góp phần đáng kể trong việc giải quyết nguồn lao động không qua đào tạo bài bản ở nông thôn Mặt khác, do có hiệu quả kinh tế cao, trồng rau an toàn làm tăng thu nhập qua đó góp phần cải thiện cuộc sống cho nông dân

1.2 Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân

1.2.1 Thuyết lợi ích kỳ vọng (Expected Utility Theory - EUT)

Dựa trên thuyết EUT được khởi xướng bởi Bernoulli (1738), Batz và cộng sự (1999) cho rằng nền tảng của thuyết EUT là nông dân so sánh công nghệ cải tiến với công nghệ truyền thống và áp dụng nếu độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ cải tiến cao hơn độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ truyền thống Hơn nữa, khi nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng sự ưa thích chủ quan của người tiêu dùng về đặc điểm của sản phẩm có tác động đến nhu cầu của họ

về sản phẩm đó Trong khi đó, những nghiên cứu về sự ưa thích của người nông dân trong quyết định áp dụng cải tiến lại không nhận được sự quan tâm của các nhà kinh

tế học (Adesina và cộng sự, 1995) Ngoài ra, thuyết này còn bổ sung rằng nhận thức chủ quan của người nông dân về lợi ích và rủi ro của cải tiến ảnh hưởng đến việc quyết định áp dụng cải tiến Trong đó, các rủi ro kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình đưa ra quyết định (Ghadim và Pannel, 1999)

Trang 27

Khi người nông dân nhận thức được những lợi ích về kinh tế cũng như mối quan tâm của họ về thực phẩm an toàn, về môi trường xung quanh sẽ giúp họ nâng cao khả năng áp dụng quy trình VietGAP trong sản xuất Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng người nông dân luôn phải chịu những rui ro tìm ẩn như rủi ro thời tiết, rủi ro sâu bệnh, rủi ro giá cả, rủi ro thương hiệu Cách tiếp cận dựa trên giá trị, động cơ của thuyết lợi ích kỳ vọng đã cung cấp một khuôn khổ để phân tích quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân Tuy nhiên, lý thuyết này chỉ mới xem xét nhận thức tối đa hóa lợi ích kì vọng, mà không xem xét vai trò của các yếu tố tâm lý xã hội cũng như áp lực xã hội

lên người nông dân khi quyết định áp dụng đổi mới Bergevoet và cộng sự (2004)

cho rằng những mô hình kinh tế là chưa đủ để giải thích được toàn bộ sự phức tạp trong các quyết định của người nông dân, vốn thường bị chi phối bởi cả hai mục tiêu kinh tế và phi kinh tế

1.2.2 Thuyết hành động hợp lý ( Theory of Reasoned Aciton - TRA)

TRA được dùng để tìm hiểu sâu xa hơn làm thế nào mà thái độ và niềm tin

có thể liên quan đến ý định trong hành động của mỗi cá nhân (Fishbein & Ajzen, 1975) Thuyết này tương đối có ích trong việc tiên đoán dự định của cá nhân khi muốn tiếp thu hoặc sử dụng một sáng chế mới Giả thiết cho rằng con người là sinh vật thường có tính duy lý và biết tận dụng có hệ thống các nguồn thông tin có sẵn đồng thời xem xét trước hậu quả hành động của mình trước khi quyết định có tham gia vào một hành vi nhất định hay không

TRA đề xuất ý kiến rằng chủ đích của việc thực hiện (hoặc không thực hiện) một hành vi được cho là yếu tố duy nhất và trực tiếp có ảnh hưởng đến hành vi của

cá nhân đó (Akudugu và cộng sự 2012) Đồng thời, chủ đích của cá nhân cũng được quyết định bởi hai yếu tố: nền tảng thái độ đối với hành vi và định mức chủ quan Thái độ đối với hành vi có thể được coi như là một dự báo mang tính chủ quan của

cá thể về tính tích cực hay tiêu cực họ sẽ cảm thấy khi thực hiện các hành vi đó, trong khi định mức chủ quan lại là quan điểm của một người về việc các quy chuẩn

xã hội sẽ ảnh hưởng đến bản thân họ như thế nào khi thực hiện hoặc không thực

Trang 28

hiện hành vi đó (Ajzen và Fishbein, 1975) Hơn nữa, thái độ của cá nhân đối với việc thực hiện hành vi mục tiêu còn được xác định bởi chính niềm tin của họ về hậu quả mà hành vi đó có thể mang lại, cũng như từ việc đánh giá các hậu quả đó Tương tự như vậy, định mức chủ quan của một cá nhân cũng là một sản phẩm phụ

từ niềm tin quy chuẩn và động lực thực hiện của người đó

Hình 1.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA)

Nguồn: Fishbein and Ajzen, 1975

1.2.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB)

TPB là một mô hình được mở rộng dựa trên TRA và chúng giải thích rằng chỉ dùng thái độ thì không đủ để dự đoán hành vi mà còn có các yếu tố quan trọng không kém khác như áp lực xã hội hay độ khó của việc thực hiện hành động đó (Jacksonvà cộng sự 2006), Như có thể thấy trong hình 1.2 'Ý định' vẫn là yếu tố trung tâm của lý thuyết này, ngoài ra còn có sự xuất hiện của yếu tố 'Quan niệm kiểm soát hành vi' Điều này cho phép xem xét mức độ mà một cá nhân tin rằng kết quả của hành vi vẫn có thể được kiểm soát (Burton, 2004) Sự khác biệt này giúp TPB nhận ra rằng không phải tất cả hành vi đều chịu sự kiểm soát của lý trí, mà hành vi có thể trải dài trên nhiều mức độ khác nhau từ kiểm soát hoàn toàn cho đến mất kiểm soát hoàn toàn (Ajzen, 1991)

Theo Beedell và Rehman (2000), thái độ là mức độ tích cực hay tiêu cực mà

cá nhân đánh giá về việc thực hiện hành vi, quy chuẩn chủ quan đề cập tới cảm nhận của cá nhân trước các áp lực xã hội chi phối họ phải hoặc không được thực

Quy chuẩn chủ quan

Ý định hành vi

Hành vi

sử dụng

Trang 29

hiện hành vi nào đó, còn mức kiểm soát hành vi nhận thức là khả năng mà người nông dân tự ước lượng là có thể thực hiện hành vi đó thành công

Trong cả hai mô hình TRA và TPB đều chỉ ra thái độ ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế quyết định áp dụng một công nghệ mới như quy trình VietGAP trong sản xuất rau của nông dân đòi hỏi họ phải có những nhận thức rõ ràng về quy trình này Khi người nông dân có nhận thức tốt về quy trình công nghệ mang lại năng suất cũng như những lợi ích do áp dụng các tiến bộ công nghệ thì người nông dân có khả năng áp dụng nó Tuy nhiên, khi

có nhận thức tốt về quy trình công nghệ chưa hẳn là áp dụng do các điều kiện cũng như sự đồng tình ủng hộ của xã hội thì rất khó có khả năng áp dụng, ví dụ do những tác động không mong muốn mà công nghệ biến đổi gen vẫn chưa được xã hội chấp nhận Nếu một công nghệ được người nông dân chấp nhận và cả xã hội cũng đồng thuận thì khả năng áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp sẽ có khả năng cao Thường khi đứng trước một quyết định nào đó, con người thường tham khảo ý kiến của những người chung quanh, bởi họ muốn chia sẻ giá trị trong gia đình như vợ chồng, con cái, phần nữa họ muốn tìm cách khai thác những chuyên môn và kiến thức từ các tổ chức, cán bộ khuyến nông, các lãnh đạo hợp tác xã, và vai trò trưởng thôn nên xu hướng quyết định sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP của người nông dân cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi những ý kiến đó Nếu nhận thức được các lợi ích và sự đồng thuận của những người chung quanh nhưng khả năng kiểm soát hành

vi đó không cho phép thì cũng không thể áp dụng công nghệ mới

Nhìn chung, TPB đã được áp dụng thành công trong việc giải thích hành vi của nông dân và quan trọng hơn cả là có thể xác định những nhân tố thúc đẩy ảnh hưởng đến quá trình đưa ra quyết định của người nông dân Läpple và Kelley (2013), Lynne và cộng sự (1995), Bergevoet và cộng sự (2004) Wauters và cộng sự (2017), Borges và cộng sự (2014)

Trang 30

Hình 1.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB)

Nguồn: Ajzen, 1991

1.2.4 Thuyết khuếch tán đổi mới (Innovation Diffusion theorey - IDT)

Việc nghiên cứu quá trình áp dụng sáng kiến mới đã được tiến hành trong nhiều năm, và IDT là một trong những mô hình khuếch tán nhất Theo đó, mỗi cá nhân phải bước qua năm giai đoạn để có thể lĩnh hội một phương pháp hoặc hành vi mới Các giai đoạn này gồm: i) thứ nhất, một người tiếp thu được những kiến thức

và chi tiết đầu tiên về cách vận hành của sáng chế mới; ii) thứ hai, giai đoạn thuyết phục là khi một người hình thành thái độ tích cực hay tiêu cực về một sáng kiến sau khi đã tìm hiểu về nó; iii) thứ ba, cá thể sẽ thực hiện các hoạt động dẫn đến quyết định lựa chọn sẽ tiếp thu hay từ chối sáng kiến; iv) thứ tư, thực hiện - cá thể đưa sáng kiến vào áp dụng; v) thứ năm, xác nhận, khi đó cá thể sẽ đánh giá kết quả của quyết định - lĩnh hội đã thực hiện và quan điểm của các cá thể khác để củng cố quyết định của mình Ngoài ra, năm thuộc tính đổi mới cũng được chỉ ra là (1) lợi ích liên quan, (2) khả năng thích ứng, (3) tính dễ tiếp cận, (4) tính dễ thử nghiệm và (5) tính dễ quan sát (Rogers, 2003) Cũng theo Roger (1995), sự khuếch tán được định nghĩa là “quá trình một cải tiến được phát tán qua những kênh nhất định trong một khoảng thời gian giữa những cá thể trong một hệ thống xã hội” Chi tiết hơn, Sonka và Nelson (2000) giải thích rằng sự khuếch tán khác với sự tiếp nhận ở chỗ

sự khuếch tán là một quá trình các thành tựu công nghệ được lan truyền trong giới tiêu dùng trong khi sự tiếp nhận là quyết định bên trong của từng cá nhân

Trang 31

Trong lĩnh vực nông nghiệp Rogers (2003) đưa ra một mô hình của quá trình khuếch tán như sau:

Hình 1.3 Mô hình tuyến tính thể hiện sự khuếch tán

Nguồn: Everett M Rogers (2003)

Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ Feder và Umali (1993), Fliegel (1993) đã minh họa một phương pháp phù hợp hơn cho sự lĩnh hội các sáng kiến nông nghiệp, lập luận rằng cách tiếp cận tuyến tính có xu hướng hạn chế quá trình khuếch tán thành một quá trình lên kế hoạch hợp lý dựa trên sự phát triển của các tổ chức như cơ quan chính phủ, thay vì xem người nông dân như là một cá thể bị động chịu phản ứng bởi các tác động ngẫu nhiên và có sự tham gia của xã hội và giao tiếp

Hình 1.4 Mô hình phi tuyến về sự lĩnh hội các sáng kiến trong nông nghiệp

Nguồn: Jackson và cộng sự (2006)

Trong đó, giao tiếp là một trong những nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến quyết định áp dụng đổi mới cải tiến của nông dân và nó là một trong những chủ đề xuất hiện liên tục trong mô tả của Rogers (1995) bởi vì đặc điểm của giao tiếp là tạo dựng và chia sẽ thông tin với nhau để hiểu biết được nhau Trong nghiên cứu này, việc áp dụng quy trình VietGAP chịu tác động bởi tần suất tiếp xúc giữa nông dân, cán bộ khuyến nông và thông qua phương tiện nghe nhìn như tivi, đài phát thanh

Mức độ tham gia xã hội:

- Là thành viên trong các tổ chức nông nghiệp

- Mức độ tham gia các tổ chức cộng đồng

Giao tiếp:

- Tiếp xúc thường xuyên

- Tiếp xúc với sách báo

- Tiếp xúc với phát thanh

Nông dân quyết định tiếp thu

Trang 32

1.3 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân

Quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp đã được các nhà khoa học ở nhiều chuyên ngành quan tâm nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, vấn đề này thực sự nổi lên trong những năm gần đây Mặc dù có rất nhiều tài liệu xung quanh vấn đề này, NCS chỉ chú trọng đến các bài báo, luận

án, công trình mang tính khoa học cao có liên quan trực tiếp về mặc nội dung, phương pháp và cách tiếp cận Tựu chung lại có các hướng tiếp cận như sau:

Hướng thứ nhất dựa hoàn toàn trên các mô hình kinh tế mà thuyết EUT

đóng vai trò trung tâm, nền tảng của thuyết EUT là nông dân sẽ so sánh công nghệ cải tiến với công nghệ truyền thống và sẽ áp dụng nếu độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ cải tiến cao hơn độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ truyền thống (Batz

và cộng sự, 1999)

Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu về nhu cầu của người tiêu dùng đã chỉ ra

sự ưa thích chủ quan của người tiêu dùng về đặc điểm của sản phẩm có tác động đến nhu cầu của họ về sản phẩm đó Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự ưa thích của người nông dân trong quyết định áp dụng kỹ thuật mới lại không nhận được sự quan tâm của các nhà kinh tế học Do đó, để kiểm tra giả thuyết nhận thức của người nông dân về các đặc điểm của kỹ thuật có tác động ý nghĩa đến quyết định áp dụng kỹ thuật Adesina và cộng sự (1995) sử dụng các mô hình Tobit để quan tâm đến các trường hợp kỹ thuật hiện đại trong việc canh tác cây lúa miến và going lúa mới ở Burkina Faso và Guinea Kết quả nghiên cứu cho thấy giả thuyết trên của nhóm tác giả là đúng và nghiên cứu này cũng mở ra định hướng cho các nghiên cứu trong tương lai đó là mở rộng tập hợp biến cần nghiên cứu từ các nhân tố kinh tế -

xã hội, nhân khẩu học, thể chế đến nhận thức chủ quan của người nông dân về đặc điểm của những kỹ thuật nông nghiệp mới Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chưa đề cập đến những lợi ích thu nhập, sản lượng, môi trường mà việc áp dụng công nghệ mới mang lại, cũng như chưa chỉ ra những nhận thức về mặt môi trường cũng như

Trang 33

nhận thức về rủi ro của kỹ thuật mới có tác động đến quyết định áp dụng kỹ thuật của nông dân

Cũng đi sâu tìm hiểu về các rủi ro của kỹ thuật tác động đến quyết định áp dụng các công nghệ tại quận Meru, Kenya Batz và cộng sự (1999) thực hiện cuộc khảo sát với 112 nông dân một cách ngẫu nhiên bằng phương pháp cho điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự phức tạp, rủi ro tương đối của kỹ thuật có tác động

ý nghĩa đến việc quyết định sử dụng và hiệu ứng lan tỏa đối với tốc độ áp dụng công nghệ Nông dân tại Meru có trình độ học vấn thấp và đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đó là lý do khiến họ lưỡng lự trong việc quyết định áp dụng công nghệ mới Từ kết quả này, nhóm tác giả đề xuất rằng những nhà nghiên cứu khoa học và khuyến nông nên phát triển những công nghệ giảm thiểu rủi ro Mặc dù đã đề cập đến những nhận thức về rủi ro của kỹ thuật tác động đến việc quyết định áp dụng công nghệ mới, nhưng nhóm nghiên cứu chưa đề cập đến các rủi ro về thị trường như giá cả, thương hiệu hay các rủi ro thời tiết

Wubeneh (2006) sử dụng mô hình Tobit để ước lượng với kích thước mẫu là

90 đã chỉ ra được rằng việc tiếp cận với thông tin, loại đất, và nhận thức của người nông dân về các đặc điểm của công nghệ và rủi ro do mưa gây ra là những nhân tố

có liên quan đến việc quyết định sử dụng giống cây lúa miến (loại kê sống ở các vùng có khí hậu ấm) của người nông dân tại Tigray, Ethiopia Mặc dù đã đề cập đến rủi ro do thời tiết, thiên tai, sâu bệnh ảnh hưởng đến quyết định áp dụng giống cây bobo, nhưng nghiên cứu chưa đề cập đến rủi ro về kinh tế, đây có thể coi là rủi ro quan trọng tác động đến quyết định áp dụng của nông dân Hơn nữa, nghiên cứu cũng chưa chỉ ra những lợi ích mà việc quyết định sử dụng giống cây lúa miến mang lại Theo Ghadim và cộng sự (2005) hai yếu tố liên quan đến rủi ro có tác động mạnh nhất đến quyết định áp dụng là sự không ưa thích rủi ro và rủi ro tương đối của cải tiến Sự không ưa thích rủi ro có xu hướng ngăn cản việc áp dụng và quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn khi mức độ rủi ro tương đối và quy mô tăng lên Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2014) sử dụng phân tích hồi quy đa biến với

dữ liệu thu thập từ 503 nông hộ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Khám phá

Trang 34

mới cho thấy hầu hết các nông hộ sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng bởi rủi

ro thị trường đến hiệu quả sản xuất Trong đó, rủi ro về giá cả đầu ra của nông sản luôn là mối lo ngại hàng đầu của nông hộ Từ phân tích này, nhóm nghiên cứu đưa

ra các đề xuất i) với ngành nông nghiệp cần quan tâm đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo đầu bờ giúp nông dân trao đổi kinh nghiệm, nâng cao khả năng tự vệ trước những rủi ro thị trường luôn tiềm ẩn; ii) với người nông dân thì cần chủ động trong việc cập nhật thông tin thị trường về tình hình nguồn cung, giá cả của các yếu tố đầu vào, tình hình tiêu thụ

và giá bán để có kế hoạch sản xuất thích hợp Tuy nhiên, những rủi ro về thương hiệu cũng như các rủi ro về thời tiết và sâu bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ chưa được xem xét đến

Nhận thức việc áp dụng thực hành nông nghiệp hữu cơ sẽ cải thiện thu nhập

và việc người nông dân thường xuyên tiếp cận với cán bộ khuyến nông có tác động không nhỏ đến quyết định áp dụng thực hành nông nghiệp hữu cơ của nông hộ ở Bangladesh đó là kết quả của Sarker và cộng sự (2009) thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy Probit với bộ dữ liệu được thu thập từ 195 nông dân

Gần đây, Dill và cộng sự (2015) đã xem việc quyết định áp dụng phương thức quản lý kinh tế trong chăn nuôi bò ở Brazil được giả định là một cách để tối đa hóa các tiện ích dự kiến, nghĩa là phân bổ các nguồn lực hiệu quả hơn trong các hệ thống sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận và cuối cùng là giảm thiểu rủi ro dự kiến Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, những nông dân sở hữu diện tích đất rộng và đa dạng hoạt động sản xuất thì ít có xu hướng quyết định áp dụng các quy tắc quản lý kinh

tế này Trong khi đó, việc tiếp cận với internet, tham gia vào các tổ chức nông dân, tiếp nhận hỗ trợ về mặt kỹ thuật có ý nghĩa đến xác suất sử dụng các quy tắc quản lý

kỹ thuật trong chăn nuôi bò Tuy nhiên, các nhân tố như trao đổi thông tin với bạn

bè, những người nông dân chung quanh có tác động đến quyết định áp dụng các phương thức quản lý kinh tế kỹ thuật chăn nuôi bò thì chưa được quan tâm

Trang 35

Nhìn chung, các nghiên cứu về việc quyết định áp dụng đổi mới cải tiến của nông dân dựa trên thuyết EUT chỉ bị tác động bởi việc nhận thức tối đa hóa lợi ích

kì vọng, mà không xem xét vai trò của các yếu tố tâm lý xã hội cũng như áp lực xã

hội lên người nông dân khi quyết định áp dụng cải tiến

Hướng thứ hai dựa trên các thuyết tâm lí xã hội trong đó, các yếu tố nhận

thức, thái độ, chuẩn mực xã hội, kiểm soát hành vi giải thích hành vi quyết định áp dụng đổi mới của nông dân như thuyết TRA, TPB và IDT Điển hình trong hướng tiếp cận này có các tác giả: Bergevoet và cộng sự (2004); Läpple và Kelley (2013); Wauters và Mathij (2013); Bijttebier và cộng sự (2014): Rezaei (2018)

Bergevoet và cộng sự (2004) cho rằng những mô hình kinh tế là chưa đủ để giải thích được toàn bộ sự phức tạp trong các quyết định của người nông dân, vốn thường bị chi phối bởi cả hai mục tiêu kinh tế và phi kinh tế Hơn thế nữa, những người nông dân có nhận thức về môi trường, thể hiện một mối quan tâm nhiều hơn đến môi trường thì có quyết định áp dụng phương pháp canh tác hữu cơ Ngoài ra, công trình này còn đề cập đến tác động đáng kể của định mức chủ quan là bằng chứng mạnh mẽ về sự tồn tại của rào cản xã hội Cuối cùng, kết luận được đưa ra là các chính sách ưu đãi về hỗ trợ tài chính chưa đủ để mở rộng cơ cấu của nông nghiệp hữu cơ do còn tồn tại rào cản xã hội và kỹ thuật Tuy nhiên, một khi những trở ngại này đã được khắc phục, thì việc thúc đẩy kinh tế sẽ trở nên quan trọng hơn Läpple và Kelley (2013) đã tiến hành xem xét việc quyết định áp dụng phương pháp canh tác hữu cơ và đã nhận thấy rằng cần phải tính đến niềm tin của nông dân khi tiến hành giải thích quyết định của họ Điều này cũng tương tự như các kết luận của Lynne và cộng sự (1995)

Wauters và Mathij (2013) đánh giá các nhân tố tâm lý – xã hội ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các quy trình bảo tồn của người nông dân dựa trên thuyết hành vi dự định Nhóm tác giả tiến hành khảo sát định tính (với kích thước mẫu là 24) và khảo sát định lượng (với kích thước mẫu là 138) Kết quả ước lượng cho thấy những người không thực hiện hành động một cách hợp lý dựa trên quan điểm của

họ về những kết quả tiềm năng của việc áp dụng các phương pháp bảo tồn Bên

Trang 36

cạnh đó, đa số những người nông dân đều chịu những tác động xã hội từ các tổ chức

mà không liên quan đến việc thúc đẩy thực hiện các phương pháp bảo tồn Từ đó, nhóm tác giả đề xuất rằng các chính sách cần phải nhắm vào những vấn đề rộng lớn hơn và bao gồm vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương

Kiên định với thuyết hành vi dự định, Wauters và cộng sự (2014) xem xét quyết định áp dụng các quy trình bảo vệ đa dạng sinh học của người công dân dưới khía cạnh tâm lý học Kết quả nghiên cứu có được từ cuộc khảo sát với kích thức mẫu là 106 và phương pháp phân tích nhân tố, cấu trúc tuyến tính đã gợi ý rằng thái

độ, các phạm trù xã hội và sự kiểm soát các hành vi nhận thức tác động gián tiếp đến việc quyết định áp dụng quy trình bảo vệ đa dạng sinh học thông qua các phạm trù đạo đức và tự nhận thức Vì vậy, để thúc đẩy người dân áp dụng quy trình, chính phủ cần thực hiện những thay đổi có liên quan đến các phạm trù xã hội và ý thức của cộng đồng nông dân

Có cùng kết luận của Wauters và cộng sự (2014), Läpple và Kelley (2013) Borges và cộng sự (2014) sử dụng thuyết hành vi dự định để xác định các nhân tố tác động đến việc sử dụng đồng cỏ tự nhiên cải tiến Với dữ liệu khảo sát được thu thập thông qua phỏng vấn 214 hộ chăn nuôi tại Brazil, kết quả cho thấy rằng quyết định của người nông dân chịu ảnh hưởng theo cả hai hướng trực tiếp và gián tiếp bởi thái độ, định mức chủ quan, và mức kiểm soát hành vi nhận thức Ngoài ra, bảy nhân tố điều khiển định mức chủ quan được xác định gồm có: gia đình, bạn bè, nông hộ láng giềng, người bán gia súc, công nhân làm việc ở nơi mua vật tư, các trung tâm khuyến nông và chính quyền Những cá thể quan trọng này có thể hoạt động như các kênh phổ biến thông tin về mô hình, đặc biệt là những người gắn bó với nông dân, chẳng hạn như gia đình Ba yếu tố chính của mức kiểm soát hành vi nhận thức gồm: có đủ kiến thức, đủ kỹ năng, và tính khả dụng việc có hỗ trợ kỹ thuật Sự có mặt của những yếu tố này sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụng và sử dụng đồng cỏ tự nhiên cải tiến

Bijttebier và cộng sự (2014) xác định và so sánh các rào cản và yếu tố tác động đối với việc quyết định áp dụng các phương pháp bảo tồn đất ở 8 quốc gia

Trang 37

Châu âu Các cuộc phỏng vấn định tính bán cấu trúc được thực hiện nhằm xác định những rào cản và yếu tố tác động có thể có và dựa trên những kết quả này một cuộc khảo sát định lượng với quy mô lớn hơn được thực hiện 25 loại nông trại chính và tất cả các cuộc khảo sát ở mỗi địa phương đều mang tính đặc trung về đất, khí hậu, quy định và các vấn đề kinh tế - xã hội Kết quả cho thấy rằng nhận thức của người nông dân về nhược điểm của các phương pháp bảo vệ đất (tạo điều kiện cho cỏ dại sinh trưởng, sản lượng thấp), sự thiếu hụt các loại máy móc cần thiết và thói quen

sự dụng máy cày trên đồng ruộng là những rào cản đối với việc áp dụng các phương pháp bảo tồn đất Kết quả cho biết thêm những góc nhìn có giá trị về công tác khuyến nông

Một bài viết gần đây nhất của Rezaei và cộng sự (2018) áp dụng mô hình TPB mở rộng được đề xuất với mục đích dự đoán quyết định của nông dân tham gia vào thực hành an toàn thực phẩm trong nông trại ở Iran Dữ liệu được tiến hành thu thập ở bốn quận khác nhau của tỉnh Alborz nằm ở phía bắc Iran, với tổng số 230 quan sát được chọn ngẫu nhiên từ các quận này Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) đã chỉ ra rằng ba thành phần của mô hình TPB ban đầu gồm: thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và các chuẩn mực xã hội có ý nghĩa thống kê với quyết định tham gia của nông dân trong thực hành an toàn thực phẩm trong nông trại (giải thích 41%) Hơn nữa, kết quả còn cho thấy hai thành phần mở rộng cho mô hình TPB là chuẩn mực đạo đức và kiến thức đã góp phần gia tăng đáng kể mức độ giải thích quyết định của nông dân (đã tăng lên 16,4%) Trên cơ sở phát hiện trên, nghiên cứu đề xuất cần phải xem xét một số biện pháp can thiệp hiệu quả như các vấn đề sau: cung cấp quy mô lớn chương trình đào tạo và nhận thức cộng đồng cho nông dân, đặc biệt với sự giúp đỡ của các phương tiện thông tin đại chúng như radio và truyền hình; tiến hành các cuộc họp và các khóa học mở rộng giáo dục liên quan đến an toàn thực phẩm và khuyến khích nông dân tham gia các khóa học này; và phù hợp hoạch định chính sách trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, đặc biệt

hỗ trợ nông dân để thực hiện các hoạt động liên quan đến GAP Mặc dù nghiên cứu này đã bổ sung thêm các thành phần giải thích về quyết định của nông dân tham gia

Trang 38

vào các hoạt động thực hành an toàn thực phẩm trong nông trại, tuy nhiên, việc đề xuất thêm 2 nhân tố (chuẩn mực đạo đức và kiến thức) chỉ thông qua việc tổng hợp, phân tích từ các bài viết học thuật đi trước mà chưa chưa có những điều tra phỏng vấn từ nông hộ để nhằm điều chỉnh và phát triển thang đo cho phù hợp với địa bàn khảo sát, bên cạnh đó còn thiếu vắng các quan sát về nhận thức sức khỏe và nhận thức các rủi ro liên quan đến thương hiệu của sản phẩm nông nghiệp là một trong những khoảng trống cần có cho các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này

Nhìn chung, các nghiên cứu đều đồng thuận rằng thuyết TPB hay TPB mở rộng chứng minh được tính hữu ích trong việc lý giải các quyết định của nông dân thông qua việc xác định các nhân tố chủ chốt Tuy nhiên, thuyết TPB lại không xem xét vai trò của thông tin đến từ bạn bè, truyền thông hay cán bộ khuyến nông

Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới lại đi sâu tìm hiểu tác động của việc giao tiếp đối với quyết định áp dụng đổi mới của nông dân Cụ thể như Makokha và cộng sự (1999) đã sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới của Roger (1995) xác nhận rằng các đặc tính của người nông dân như: mức độ tham gia và hoạt động trong các dịp tranh luận tập thể, mức độ tham dự tập huấn, giao lưu tại các hội thảo chuyên đề và vai trò của lãnh đạo có ảnh hưởng không đáng kể đến nhận thức cũng như quyết định tiếp thu sáng kiến của người nông dân Tần suất tiếp xúc giữa người nông dân và bên khuyến nông có ảnh hưởng tích cực đến quyết định áp dụng các giống ngô, giống mỳ mới của nông dân ở vùng Tigray, Ethiopia

Công trình của Tutkun và cộng sự (2006) kết hợp thuyết hành vi dự dịnh và thuyết khuếch tán đổi mới để giải thích hành vi của người nông dân ở Thụy Sĩ Kết quả đạt được tính khả thi cao khi 7 trong 8 mối quan hệ được thử nghiệm trong mô hình kết hợp được kiểm tra có chỉ số p < 0.001 và yếu tố giao tiếp trong mô hình khuếch tán đổi mới cũng đã giải thích được 76% trong sự biến đổi trong hành vi tiếp nhận

Tuy nhiên, các công trình trên đều quan tâm đến các yếu tố kinh tế - xã hội

mà không đề cập đến yếu tố động cơ, giá trị, thái độ Khắc phục nhược điểm này,

Jackson và cộng sự (2006) đã kết hợp ba lý thuyết khuếch tán đổi mới; thuyết hành

Trang 39

động lý luận và thuyết hành vi dự định, tiết lộ động cơ, giá trị và thái độ là những yếu tố cốt lõi trong quá trình đưa ra quyết định của nông dân Ngoài ra, có thể kết hợp các điểm mạnh của mỗi lý thuyết hành vi nêu trên để thiết lập khung lí thuyết phù hợp và đáng tin cậy mới cũng được đề xuất Tuy nhiên, việc chú trọng đến động cơ và giá trị để đánh giá quyết định của nông dân mà chưa chỉ ra được nhận thức về nguy cơ, rủi ro của cải tiến giải thích cho quyết định áp dụng của nông dân

Hướng thứ ba dựa vào sự tích hợp của thuyết lợi ích kỳ vọng và thuyết tâm

lý xã hội để nghiên cứu các quyết định áp dụng đổi mới công nghệ của nông dân Đây cũng là hướng mà luận án tiếp cận để giải quyết vấn đề đặt ra Tuy nhiên, cho đến nay, mới chỉ có Borges và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp định tính bằng cách tổng hợp các bài báo có nội dung về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp Kết quả đi sâu tìm hiểu đã phân loại được các biến và theo các nhóm sau: niềm tin; nhận thức về đặc điểm của cải tiến; ý định, thái độ; chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; mục đích và mục tiêu của nông dân; các yếu tố nền bao gồm các đặc điểm nông dân, hộ gia đình, nông trại, bối cảnh canh tác và tiếp nhận thông tin hoặc quá trình học Tuy nhiên, công trình này lại không

đề cập đến vai trò của việc lan truyền, phổ biến thông tin, mà theo Roger (1995) việc phổ biến thông tin là giai đoạn đầu tiên của quá trình áp dụng đổi mới và hơn nữa mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng phương pháp định tính để tổng hợp đề xuất mô hình, khung lý thuyết cho việc quyết định áp dụng đổi mới của nông hộ Vì vậy, cũng cần có thêm nhiều bằng chứng thực nghiệm kết hợp cả định tính bằng cách điều tra phỏng vấn sâu và định lượng để khẳng định và bổ sung mô hình lý thuyết trên

Ngoài ba hướng nghiên cứu trên, còn có một số bài viết tập trung vào các

đặc điểm kinh tế - xã hội như trình độ học vấn, tuổi tác, quy mô trang trại, sở hữu đất đai, tiếp cận tín dụng… để nghiên cứu quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân Ví dụ như: Doss và Morris (2000), Weir và John Knight (2000); Fadare và cộng sự (2013)

Trang 40

Doss và Morris (2000) đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ ngô lai ở Ghana, cho thấy có tác dụng không đáng kể của giới trong việc quyết

định áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ

Giáo dục được cho sẽ giúp các hộ nông dân tăng cường khả năng tiếp cận

các nguồn thông tin Từ đó sẽ tạo cho họ thái độ tích cực đối với việc quyết định áp

dụng các sáng kiến trong nông nghiệp Cụ thể, Fadare và cộng sự (2013) sử dụng

mô hình Probit với kích thước mẫu là 5000 hộ trên 6 vùng nông nghiệp tại Nigeria

đã chỉ ra rằng trình độ học vấn của người nông dân có tác động tích cực đến việc thực hiện (quyết định áp dụng) các quy trình trồng ngô tiên tiến Tiếp cận sâu hơn

về vai trò của giáo dục đối với việc quyết định áp dụng các sáng kiến nông nghiệp, Weir và Knight (2000) chỉ ra rằng tác động của giáo dục có ý nghĩa tích cực, tuy nhiên những nông dân được giáo dục tại gia đình ít có xu hướng tiếp nhận và thực

hiện các sáng kiến nông nghiệp hơn so với các nông dân được đào tạo chính quy

Với hướng nghiên cứu này, nghiên cứu sinh cũng đồng tình với nhận định của Abadi-Ghadim và Pannel (1999), khi cho rằng các nhân tố xã hội và nhân khẩu như tuổi tác và kinh nghiệm, giới tính, trình độ học vấn ảnh hưởng đến quyết định

áp dụng cải tiến bằng cách gây ảnh hưởng lên nhận thức chủ quan, hay thái độ của nông dân Tuy nhiên chúng được dự đoán có ảnh hưởng gián tiếp lên nhận thức và niềm tin của nông dân

Trong khi đó đa số các nghiên cứu trong nước đều xem VietGAP như một chương trình, một chính sách để chuyển đổi, phát triển nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại (Hoàng, 2018) Chẳng hạn như Hoàng Mạnh Dũng (2010), Nguyễn Thị Hồng Trang (2016) Ngô Thị Thuận (2010), Nguyễn Anh Minh (2018) Chính vì vậy mà các kết quả này chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá, phân tích thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển VietGAP

Hoàng Mạnh Dũng (2010) đưa ra 5 lý do đề thiết lập mô hình phát triển nông nghiệp Việt nam thông qua áp dụng tiêu chuẩn GAP trong bối cảnh hiện nay đó là thứ nhất, để đối phó với biến đổi khí hậu; thứ hai, sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế; thứ ba, dân số gia tăng cùng với thu hẹp diện tích nông nghiệp; thứ tư, yêu

Ngày đăng: 30/08/2019, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phương Anh (2017), Đưa rau an toàn đến người tiêu dùng: Gian nan trong quản lý, truy cập tại https://www.baomoi.com/dua-rau-an-toan-den-nguoi-tieu-dung-gian-nan-trong-quan-ly/c/23369824.epi ngày 20 tháng 7 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa rau an toàn đến người tiêu dùng: Gian nan trong quản lý
Tác giả: Phương Anh
Năm: 2017
3. Ngô Đức Cát và Vũ Đình Thắng (2001), Phân tích sản xuất và tiêu dùng nông sản. Giáo trình Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sản xuất và tiêu dùng nông sản. Giáo trình Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Ngô Đức Cát và Vũ Đình Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2001
6. Bùi Quang Dũng (2012), "Từ khái niệm nông dân tới xã hội tiểu nông ở Việt Nam: Dẫn vào một nghiên cứu về phát triển nông thôn", Tạp chí Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ khái niệm nông dân tới xã hội tiểu nông ở Việt Nam: Dẫn vào một nghiên cứu về phát triển nông thôn
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2012
7. Hoàng Mạnh Dũng (2010), Thiết lập mơ hình phát triển sản xuất nông nghiệp tại việt nam thông qua áp dụng tiêu chuẩn GAP, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập mơ hình phát triển sản xuất nông nghiệp tại việt nam thông qua áp dụng tiêu chuẩn GAP
Tác giả: Hoàng Mạnh Dũng
Năm: 2010
8. Nguyễn Khánh Duy (2009), Bài giảng thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với phần mền AMOS, Tài liệu lưu hành nội bộ, Trường Đại học kinh tế Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với phần mền AMOS
Tác giả: Nguyễn Khánh Duy
Năm: 2009
9. Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Văn Hùng (2016), Các yếu tố tác động đến việc tham gia VietGap của hộ trồng thanh long: Nghiên cứu tại huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến việc tham gia VietGap của hộ trồng thanh long: Nghiên cứu tại huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2016
10. Trần Thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Phụng (2017), Hiệu quả kinh tế sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGap ở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận – Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm nghiệp, số 4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGap ở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Phụng
Năm: 2017
11. Trung Hiền (2016), Đổi mới công nghệ đóng góp 35% tăng trưởng ngành nông nghiệp, truy cập ngày 7-7-2016, tại trang web https://www.vietnamplus.vn/doi-moi-cong-nghe-dong-gop-35-tang-truong-nganh-nong-nghiep/390350.vnp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công nghệ đóng góp 35% tăng trưởng ngành nông nghiệp
Tác giả: Trung Hiền
Năm: 2016
12. Lê Hoa (2017), Xây dựng thương hiệu vùng rau an toàn của Đà Nẵng, trên website http://danang.gov.vn/ chinh-quyen/chitiet?id=6992&amp;_c=3 cập nhật ngày 16 tháng 6 năm 2017. truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thương hiệu vùng rau an toàn của Đà Nẵng
Tác giả: Lê Hoa
Năm: 2017
13. Công Hoàng và Nguyên Mạnh, 2017, Tăng cường kết nối rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, https://nongnghiep.vn/tang-cuong-ket-noi-tieu-thu-rat-tren-dia-ban-ha-noi-post200712.html truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường kết nối rau an toàn trên địa bàn Hà Nội
14. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế học nông nghiệp bền vững, Nxb Phương Đông, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học nông nghiệp bền vững
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2003
15. Ngô Thị Phương Lan (2011), Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở đồng bằng Sông Cửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm, Luận án Tiến sĩ lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở đồng bằng Sông Cửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm
Tác giả: Ngô Thị Phương Lan
Năm: 2011
16. Nguyễn Anh Minh (2018) Phát triển sản xuất rau theo hướng thực hành nông nghiệp tốt tại tỉnh Hòa Bình, luận án tiến sĩ, Học Viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất rau theo hướng thực hành nông nghiệp tốt tại tỉnh Hòa Bình
17. Nguyễn Quốc Nghi và Lê Thị Diệu Hiền (2014), Rủi ro thị trường trong sản xuất nông nghiệp của nông hộ ở đồng bằng song Cửu Long, Tạp chí Khoa học, Trường đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro thị trường trong sản xuất nông nghiệp của nông hộ ở đồng bằng song Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Quốc Nghi và Lê Thị Diệu Hiền
Năm: 2014
18. Quỳnh Nga (2016), Đổi mới công nghệ giúp Việt Nam thuộc top 3 các nước xuất khẩu gạo thế giới, trên trang website http://baocongthuong.com.vn/doi-moi-cong-nghe-giup-viet-nam-thuoc-top-3-cac-nuoc-xuat-khau-gao-the-gioi.html truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2016), Đổi mới công nghệ giúp Việt Nam thuộc top 3 các nước xuất khẩu gạo thế giới
Tác giả: Quỳnh Nga
Năm: 2016
19. Đoàn Ngọc Phả (2014 ) Ảnh hưởng của các chương trình khuyến nông chuyển giao ứn dụng kỹ thuật nông nghiệp đối với thu nhập của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2014 ) Ảnh hưởng của các chương trình khuyến nông chuyển giao ứn dụng kỹ thuật nông nghiệp đối với thu nhập của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long
20. Trần Thanh Sơn (2011), "Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông dân ở tỉnh An Giang", Tạp chí Khoa học, Trường đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông dân ở tỉnh An Giang
Tác giả: Trần Thanh Sơn
Năm: 2011
21. Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014), Các yêu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của hộ nông dân ở tỉnh Hậu Giang, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yêu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của hộ nông dân ở tỉnh Hậu Giang
Tác giả: Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành
Năm: 2014
22. Đào Quyết Thắng (2018), Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP - Phân tích trường hợp tỉnh Ninh Thuận, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP - Phân tích trường hợp tỉnh Ninh Thuận
Tác giả: Đào Quyết Thắng
Năm: 2018
23. Lê Đình Thắng (1993), Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w