Năm 1903, tiếp nhận thơ Gia Định tam gia thực sự bắt đầu vào khi một nhà thơ cận đại là Lê Quang Chiểu đã công bố 18 bài thơ Nôm sáng tác trong thời gian đi sứ của Trịnh Hoài Đức trích
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ HIÊN
CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG
THƠ ĐI SỨ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ HIÊN
CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG
THƠ ĐI SỨ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ VIỆT HẰNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy,
cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Việt Hằng người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình để hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã lỗ lực cố gắng song do thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận của tôi còn nhiều hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô và các bạn để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Con người cá nhân trong thơ đi sứ của
Gia Định tam gia” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn
Thị Việt Hằng Đây là nghiên cứu của cá nhân tôi và không trùng lặp với kết
quả của các tác giả khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hiên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Gia Định tam gia 5
1.1.1 Lê Quang Định 5
1.1.2 Trịnh Hoài Đức 6
1.1.3 Ngô Nhơn Tĩnh 10
1.2 Tác phẩm thơ đi sứ của Gia Định tam gia 12
1.3 Giới thuyết về con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam 14
CHƯƠNG 2 SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ ĐI SỨ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA 17
2.1 Lê Quang Định 17
2.1.1 Con người cá nhân u sầu nơi đất khách 17
2.1.2 Con người luôn đau đáu về trách nhiệm cá nhân 23
2.2 Trịnh Hoài Đức 27
2.2.1 Con người sâu nặng tình cảm với khát khao được bày tỏ 27
2.2.2 Con người cá nhân với tâm thế nhàn dật và hưởng lạc 33
2.3 Ngô Nhơn Tĩnh 39
2.3.1 Con người tự ý thức về cá tính của bản thân 39
2.3.2 Con người cá nhân u sầu nơi đất khách và chất chứa nhiều tâm sự 43
2.4 Những tương đồng, khác biệt về con người cá nhân trong thơ đi sứ của Gia Định tam gia 47
KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Gia Định tam gia, về con người cá nhân thể hiện trong sáng tác của họ nên
quyết định chọn nhóm tác giả này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Gia Định tam gia là danh hiệu người đời phong cho ba vị quan văn
nổi tiếng vùng đất Gia Định dưới thời vua Gia Long bao gồm Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định Trong tiến trình văn học trung đại, các ông được nhắc đến như đại diện tiêu biểu của Nam Kỳ với nhiều sáng tác thơ có giá trị, đặc biệt là thơ đi sứ là mảng được giới nghiên cứu đánh giá cao trong trình đi sứ văn học trung đại
Thơ đi sứ là loại hình thơ văn bang giao đặc sắc của các vị sứ thần khi làm nhiệm vụ ngoại giao ở ngước ngoài Qua các tác phẩm, thi nhân thường
gửi gắm nỗi niềm tâm tư tình cảm nơi đất khách xa xôi và Gia Định tam gia
cũng không nằm ngoài nội dung đó Được biết đến là nhóm tác giả có nhiều
sáng tác viết trong hành trình đi sứ, việc tìm hiểu thơ của Gia Định tam gia giúp thấy được mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Hoa và đặc biệt là nỗi
niềm thầm kín, sự mạnh dạn trong cách bộc lộ con người cá nhân trong thơ
Hơn nữa, bản thân là một sinh viên sư phạm và sau này công việc sẽ thiên hướng liên quan nhiều đến bộ môn Ngữ văn, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài này sẽ tạo tiền đề tốt cho hướng phát triển văn chương sau này của mình
Với những lí do trên, tôi quyết định chọn “Con người cá nhân trong
thơ đi sứ của Gia Định tam gia” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với mong
Trang 7muốn nâng cao kiến thức bản thân và góp một phần nhỏ hiểu biết của mình
vào hướng tiếp cận thơ Gia Định tam gia
2 Lịch sử vấn đề
Gia Định tam gia trong các công trình nghiên cứu, bài viết khoa học
được nhắc đến như đại diện tiêu biểu của Nam Kỳ với nhiều đóng góp có giá trị, đặc biệt là ở mảng thơ đi sứ
Năm 1903, tiếp nhận thơ Gia Định tam gia thực sự bắt đầu vào khi
một nhà thơ cận đại là Lê Quang Chiểu đã công bố 18 bài thơ Nôm sáng tác trong thời gian đi sứ của Trịnh Hoài Đức trích trong Quốc âm thi hợp tuyển
Ở công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm cũng
có nhắc đến Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh là những
nhà thơ, công thần triều Lê Mạt - Nguyễn Sơ với thông tin sơ giản
Năm 1957, trong Sách Võ Trường Toản, phụ Gia Định tam gia của
Nam Xuân Thọ và Tân Việt xuất bản ở Sài Gòn cũng giới thiệu khái quát về nhóm tác giả này
Năm 1963, trong Việt Nam đại quan của tác giả Lý Văn Hùng xuất bản
ở Sài Gòn đã giới thiệu về tiểu sử hà hành trạng của tác giả Trịnh Hoài Đức
Hay trong sách Gia Định xưa cũng đã dành một phần để giới thiệu về
Gia Định tam gia và trích dẫn một số bài thơ của họ
Sau năm 1975, những công trình nghiên cứu về Gia Định tam gia đã
được xuất hiện nhiều hơn Đặc biệt là những công trình riêng biệt để giới thiệu và nghiên cứu về nhóm tác giả này
Năm 1987 trong công trình Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn xưa của
nhóm tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân, Trần Khuê, Nguyễn Khuê đã giới thiệu 7 bài thơ chữ Hán của Trịnh Hoài Đức ở phần 2 của sách tức phần Thơ văn chữ Hán
Năm 1990, Hồ Sĩ Hiệp và Hoài Anh đã dành nhiều trang viết trong
cuốn Những danh sĩ Miền Nam để nói về tác giả và điểm qua các tác phẩm của Gia Định tam gia
Trang 8Năm 1997 trong công trình Tổng hợp văn học Việt nam đã giới thiệu
về tiểu sử và tác phẩm của Gia Định tam gia
Năm 2004, Từ điển Văn học (Bộ mới) (Đỗ Đức Hiếu, Nguyễn Huệ Chi… chủ biên chủ yếu trình bày về tiểu sử, thân thế, sự nghiệp của Gia
Định tam gia
Năm 2005, với công trình Gia Định tam gia (Hoài Anh biên dịch, chú giải) Đây là một công trình nghiên cứu riêng về Gia Định tam gia nhưng
chủ yếu là giới thiệu về tác giả và tác phẩm
Hay một số các công trình nghiên cứu khác cũng đề cập về Gia Định
tam gia như công trình Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn
(Nguyễn Phong Nam chủ biên), bài viết Văn học Hán Nôm ở Gia Định của tác giả Cao Tự Thanh, Gia Định tam gia trong tiến trình văn học Hán Nôm
Nam bộ của Lê Quang Trường (2009)…
Như trên, ta có thể thấy các nghiên cứu về Gia Định tam gia phần lớn
chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu tiểu sử và nội dung chính trong các sáng tác của
họ Cho nên, mảng thơ đi sứ vẫn chưa được khai thác nhiều và việc nghiên cứu thơ đi sứ ở phương diện con người cá nhân là hướng tiếp nhận đầy hấp
dẫn về Gia Định tam gia
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài chúng tôi hướng đến là hoàn thành khóa luận để
nhìn nhận một cách cụ thể con người cá nhân trong thơ đi sứ của Gia Định
tam gia
Nhiệm vụ đặt ra là thu thập các tài liệu liên quan đến Gia Định tam
gia, trình bày cụ thể về cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả Chọn lọc,
phân tích những bài thơ thể hiện con người cá nhân của các tác giả Từ đó, chỉ ra những nét giống và khác nhau trong sự thể hiện con người cá nhân ở trong các sáng tác của họ
Trang 94 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng đề tài chúng tôi lựa chọn nghiên cứu là thơ đi sứ của Gia
Định tam gia
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là con người cá nhân thể hiện trong các
tập thơ đi sứ: Thập Anh đường thi tập của Ngô Nhơn Tĩnh, Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức và Hoa nguyên thi thảo của Lê Quang Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này chúng tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiểu sử và phương pháp chứng thực lịch sử để tìm hiểu tác phẩm thông qua tiểu sử của tác giả
Phương pháp phân tích ngữ văn để tìm hiểu ý nghĩa của văn bản và nội dung tư tưởng của tác phẩm
Phương pháp trực giác tức dùng trực giác của cá nhân để có những nhìn nhận đánh giá sinh động hơn về hiện tượng đó từ đó nó tránh được những suy lí giáo điều cứng nhắc
6 Cấu trúc khóa luận
Phần mở đầu: Trình bày lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên
cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và bố cục của khóa luận
Phần nội dung: Gồm có 2 chương
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Gia Định tam gia
1.1.1 Lê Quang Định
Lê Quang Định có tự là Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, ông sinh năm 1767 nguyên tổ gốc là người ở làng Tiên Nộn thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên - Huế)
Thuở nhỏ do gia đình nghèo, cha là một viên quan nhỏ nhưng mất sớm, nên ông đã theo anh vào huyện Bình Dương - Gia Định để làm ăn Sau
đó, ông theo học thầy Võ Trường Toản, tại đó ông kết giao bạn bè với Ngô
Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức và cùng nhau lập ra Bình Dương thi xã
Là một người thông minh, hiếu học nên Lê Quang Định được một thầy thuốc là Hoàng Đức Thành gả con gái và tận tình giúp đỡ
Năm 1788, khi Nguyễn Ánh tiến hành đánh chiếm lại được Gia Định (1762 - 1820) và cho mở khoa thi tại Trường Gia Định, ông cùng Trịnh Hoài Đức đã ra ứng thí rồi thi đỗ, được cử giữ chức Hàn lâm viện chế cáo với công việc biên soạn sổ sách, rồi lần lượt đảm nhiệm chức Điền tuấn quan (trông coi việc khai khẩn), Đông cung thị giảng (dạy cho Nguyễn Phúc Cảnh) và Hữu tham tri bộ Binh
Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, Lê Quang Định được bổ làm Thượng thư bộ Binh, ít lâu sau làm Chánh sứ để cùng với Lê Chính Lộ và Nguyễn Gia Cát sang nhà Thanh (Trung Quốc) cầu phong cho nhà vua Thời gian đó Thanh triều đã rất nể phục tài văn chương
và ứng đáp của ông trong lần đi sứ này Sau đó về nước, ông vẫn giữ chức Thượng thư bộ Binh
Năm 1806, ông đảm nhận việc biên soạn Hoàng Việt nhất thống địa
dư chí gồm 10 quyển, là bộ địa chí đầu tiên của nhà Nguyễn
Trang 11Năm 1810, ông bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hộ kiêm phụ trách Khâm thiên Giám (tức đài quan sát thiên văn) Tiếp đó, ông còn lo việc kiểm tra dân số, lập sổ điền địa trong nước
Năm 1913 do sức khỏe có phần suy giảm ông xin về dưỡng bệnh Cùng năm đó, Lê Quang Định mất vì bệnh, hưởng dương 53 tuổi.Về sau, đến thời vua Tự Đức, Lê Quang Định được đưa vào thờ trong Trung Hưng công thần miếu tại kinh đô Huế
Cùng với sự nghự nghiệp quan trường khá hiển hách thì sự nghiệp văn chương của tác của Lê Quang Định tuy không đồ sộ nhưng cũng có thể sánh với các nhà thơ lỗi lạc bấy giờ như Nguyễn Du, Phan Huy Ích… Theo sử sách ghi chép các tác phẩm của Lê Quang Định bao gồm:
Bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí gồm 10 quyển, ghi chép về đường sá, sông núi, thổ sản, phong tục từ Lạng Sơn đến Hà Tiên
Hoa Nguyên thi thảo: Là tập thơ bao gồm 74, trong đó có một số bài
sáng tác ở Việt Nam Tập thơ hầu hết là các bài thơ đề vịnh, cảm hoài và thù tạc được viết trong thời gian nhà thơ đi sứ giao bang
Gia Định tam gia thi tập là tập thơ in chung với Trịnh Hoài Đức và
Ngô Nhơn Tĩnh
1.1.2 Trịnh Hoài Đức
Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) có tên gọi khác là An, tên tự là Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, là một trong ba nhà thơ nổi tiếng của đất Gia Định cùng với Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định
Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức gốc ở làng Phúc Hồ thuộc huyện Trường Lạc tỉnh Phúc Kiến, đời đời làm quan Vào thời gian cuối đời Minh đầu đời Thanh, ông nội của Trịnh Hoài Đức là Trịnh Hội (hiệu Sư Khổng) đã di cư sang Việt Nam và ngụ tại trấn Biên nay là xã Thanh Hòa, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa
Cha của ông là Trịnh Khánh, thuở nhỏ hiếu học, viết đại tự rất giỏi và nổi tiếng là người cao cờ Lúc bấy giờ Trịnh Khánh nhờ đến Phú Xuân nạp bạc, nên được trao chức lục phẩm, cho nhận chức ở kho lúa phủ Tân Bình
Trang 12Bởi vậy, cả nhà Trịnh Hoài Đức theo cha ở phủ Tân Bình Năm 1773 cha ông mất, Hoài Đức mới 10 tuổi nên cùng mẹ và anh chị trở về quê cũ ở Phiên Trấn (thuộc Gia Định, phía bắc Sài Gòn ngày nay)
Năm 1776, Nguyễn Lữ đưa quân vào đánh Gia Định, chiếm thành Sài Gòn và 3 dinh là Trấn Biên, phiên Trấn và Long Hồ làm cho chúa Nguyễn Phúc Thuần phải tháo chạy về Bà Rịa ( Đồng Nai) Một năm sau, Nguyễn Huệ lại đưa quân thuỷ bộ tiến vào đánh Gia Định sau đó tiến quân đến Vĩnh Long và Long xuyên giết chết Nguyễn Phúc Thuần còn Nguyễn Phúc Ánh may mắn thoát chết và bắt đầu tập hợp binh lực để phản công Trong bối cảnh như vậy, năm 1776 Trịnh Hoài Đức rời đến trấn Phiên An, nghe lời khuyên của mẹ ông theo học Xử sĩ Võ Trường Toản
Tại trường của thầy Võ Trường Toản, ông đã gặp và kết làm anh em với Ngô Nhơn Tĩnh cùng dùi mài kinh sử Cũng tại đây ông kết giao với nhiều người như Ngô Tông Châu, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm… Bởi vậy, chính nơi đây đã gắn kết ba số phận ba người họ Trịnh, Ngô, Lê tạo nên danh tiếng vang rộng khắp nước
Bấy giờ, quân Tây Sơn liên tiếp tấn công vào Gia Định và mở rộng địa bàn hoạt động trải dài từ Bình Thuận đến Gia Định, khiến cuộc sống nhân dân gặp khó khăn Bên cạnh đó tình trạng mất mùa đói kém xảy ra, Trịnh Hoài Đức đành học theo Từ Cống đi buôn kiếm sống Năm 1780, lúc này Trịnh Hoài Đức 17 tuổi, ông vào ở rể nhà họ Lê
Năm 1783, ông rời Gia Định sang sống ở thành Nam Vang Năm
1788, lúc này Nguyễn Ánh đã khắc chế được Gia Định, ông cùng với Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu… đã ra ứng cử và được bổ làm chức Hàn lâm viện Chế cáo Năm 1789, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định cùng với 10 người lãnh chức Điền tuấn với nhiệm vụ giám sát việc mở mang vùng tam giác sông Mê Kông và xác định chế độ điền thổ, đồng thời lo trù biện lương hướng cho quân đội Sau đó ông lại chuyển qua bộ Hình, tham dự việc xét nghĩ hình luật văn án và kế nhiệm chức Đông cung thị giảng cho Hoàng Tử cảnh vừa trở về từ nước Pháp Mùa hạ năm 1801, quân Nguyễn chúa thâu phục được kinh đô Phú Xuân, Lê Văn Duyệt và Tống Viết Phúc đốc quân
Trang 13cứu thành Quy Nhơn, Hoài Đức được bổ nhiệm làm Hộ bộ Tham tri, chuyên trách lo binh lương tiếp tế
Năm 1802 ông được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hộ Năm đó nhà Nguyễn cử phái đoàn sang Trung Quốc đầu tiên, Trịnh Hoài Đức làm Chánh
sứ cùng với Ngô Nhơn Tĩnh và Huỳnh Ngọc Uẩn làm phó sứ sang Trung Quốc Đến tháng 8 năm 1803 ông mới trở về Thăng Long và năm 1804 hộ giá vua Gia Long về Phú Xuân Trở về kinh sư ông vẫn đảm nhiệm chức Thượng thư Bộ hộ
Năm 1805, nhận thấy Gia Định là nơi hiểm yếu, Vua cử Chưởng Trung quân là Nguyễn Văn Trương về giữ chức Gia Định lưu trấn và Trịnh Hoài Đức đảm nhiệm giữ chức Hiệp Lưu trấn Năm 1808, triều đình bắt đầu đặt chức Tổng trấn Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định thay cho Nguyễn Văn Trương, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định Khoảng thời gian làm việc tại Gia Định ông đã có nhiều những đóng góp trong việc trị an ở nơi đây
Năm 1812, ông được vua triệu về kinh và phong làm Thượng thư bộ Hình
bộ nhưng ông cố từ nên sau đó ông được cải nhiệm làm Thượng thư Lễ bộ
Tháng 5 năm 1813, nhà vua đi tuần ở Quảng Nam, ông được giao nhiệm vụ giữ kinh thành Cuối năm này, ông được chuyển làm Thượng thư Lại bộ Sau đó ông lại phục chức Hiệp tổng trấn Gia Định để giúp việc cho Tổng trấn thành Gia Định Nguyễn Huỳnh Hữu Đức vào năm 1816, đến năm
1820 lĩnh chức Tống trấn Gia Định thay cho Nguyễn văn Nhân
Năm 1820, ông được vua Minh mệnh triệu về kinh cho lĩnh chức Thượng thư Lại bộ như cũ
Năm 1821, ông được sung chức Phó tổng tài Quốc sử quán tham gia soạn sách tại Quốc sử quán Cùng năm đó ông vinh hạnh được phong Hiệp biện Đại học sĩ và lãnh chức Thượng thư Lại bộ kiêm lĩnh Thượng thư Bình
bộ và ban hàm nhất phẩm Một năm sau (1822), ông làm Chủ khảo trường thi Hội đầu tiên, sung độc quyền ở kỳ thi Cống sĩ trong điện Cẩn Chánh Cuối năm 1822 ông vừa làm Thượng thư Lại Bộ vừa làm Thượng thư Lễ bộ
nên ông cho san khắc xong tập thơ Gia Định tam gia thi
Trang 14Vào những năm cuối của cuộc đời, Trịnh Hoài Đức vẫn được triều đình tín nhiệm và giao giữ nhiều chức vụ quan trọng ở trong triều Minh Mệnh và được triều đình ân sủng
Năm 1823 ông lâm bệnh xin cáo về Nam thăm gia đình 3 tháng, nhưng vua thì có ý không muốn cho ông đi và sai Phạm Đăng Hưng đến ủy lạo, ban nhâm sâm nhưng rồi vua cũng phải đồng ý cho ông về Gia Định Sau ba tháng, ông được triệu hồi về kinh và giữ chức như cũ Thời gian này sức khỏe ông tuy yếu nhưng vua Minh Mệnh vẫn giao cho ông trông coi công việc Thượng bạc
Tháng 3 năm Tân Tỵ (1825), do bệnh nặng ông mất ở Huế, thọ 61 tuổi Vua buồn thương và đã cho bãi triều ba ngày, truy tặng làm Thiếu bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ Thi thể ông được đưa về Gia Định an táng
Cuộc đời Trịnh Hoài Đức mặc dù làm quan đạt nhiều công danh nhưng ông sống rất thanh liêm và giản dị
Trong Gia Định tam gia, Trịnh Hoài Đức là người có văn nghiệp đồ
sộ và phong phú nhất Tiêu biểu là các sáng tác bằng chữ Hán của ông như:
Cấn Trai thi tập: là tập sách in ván gỗ, gồm có 3 phần: Thối thực truy biên tập (Cấn Trai Thoái thực truy biên), Quan quang tập (Cấn Trai Quan
quang tập, Bắc sứ thi tập) và Khả dĩ tập (Cấn Trai Khả dĩ tập) Trong đó Bắc
sứ thi tập: là những bài thơ làm khi đi sứ sang nhà Thanh Và có nhiều tranh
luận cho rằng Trịnh Hoài Đức có hai tập là Cấn Trai thi tập và Bắc sứ thi
tập nhưng thật ra Bắc sứ thi tập chính là tên gọi khác của Quan quang tập và
thuộc Cấn Trai thi tập
Gia Định tam gia thi tập: tức tập thơ sáng tác chung với Trịnh Hoài
Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định
Hay thơ chữ Nôm tiêu biểu là Đi sứ cảm tác với 20 bài thất ngôn bát
cú liên hoàn làm khi tác giả đi sứ
Nhìn chung, thơ Trịnh Hoài Đức thường là thơ thất ngôn bát cú và
thường đề tài thường là trữ tình, hay miêu tả cảnh vật, sinh hoạt của nhân
dân ở những nơi ông ở hoặc đi qua
Trang 15Về tác phẩm Địa dư có Gia Định thành thông chí: Là một quyển địa
chí được biên soạn công phu của Trịnh Hoài Đức, ghi chép về 5 trấn (Phiên
An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên) thuộc Gia Định Bộ gồm
có 6 quyển (quyển 1 - Tinh dã chí, quyển 2 - Sơn xuyên chí, quyển 3 -
Cương vực chí, quyển 4 - Phong tục chí, quyển 5 - Sản vật chí và cuối cùng
là quyển 6 - Thành trì chí) viết về quá trình khai thác tại miền đất Gia Định,
các công việc bang giao với Cao Miên và Xiêm La, khởi nghĩa Tây Sơn bằng chữ Hán cổ và chữ Nôm Tác phẩm đã được dịch giả Pháp là G
Aubaret dịch ra tiếng Pháp và xuất bản ở Paris năm 1863 Bộ sách Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đến nay vẫn được coi là một trong
những tài liệu lịch sử quan trọng nhất cho các nhà tác giả muốn nghiên cứu
sử học và địa lí của miền Nam Việt Nam Đồng thời, ông cũng là một công thần của triều Nguyễn, đã giúp cho vua Gia Long rất nhiều trên phương diện ngoại giao, chính trị và kinh tế
1.1.3 Ngô Nhơn Tĩnh
Ngô Nhơn Tĩnh (Ngô Nhân Tịnh, Ngô Nhân Tĩnh) (?-1813), tự là Nhữ Sơn, hiệu Thập Anh, nguyên tổ phụ là người ở Quảng Đông (Trung Quốc) sang ta cư trú ở đất Gia Định Lúc nhỏ, ông với Trịnh Hoài Đức cùng học trường của Xử sĩ Võ Trường Toản rồi cùng ra giúp nước một lượt với hai bạn đồng học là Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức
Từ năm 1782 - 1784, Tây Sơn đánh liên tiếp ba lần vào Gia Định, Nguyễn Ánh phải tháo chạy khắp nơi Đến năm 1788, sau khi Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định và cho mở phủ Nguyên soái, kết hợp tuyển dụng nhân tài thì Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Lê Tông Châu cùng ra ứng thi và được bổ làm Hàn lâm viện chế cáo Nhưng trong sử chép thì không thấy tên
Ngô Nhơn Tĩnh trong đợt ứng thí này, tuy nhiên theo bài tựa tập Gia Định
tam gia thi của Trịnh Hoài Đức thì cho thấy các ông đều cùng ra ứng thí và
được bổ làm chức Hàn lâm thị học
Năm Mậu Ngọ (1789), Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường dâng sớ xin vua cử người đi sứ Trung Quốc một mặt để dò tin tức vua Lê (Lê Chiêu Thống), mặt khác nói rõ tình hình của Tây Sơn và Ngô Nhơn
Trang 16Tĩnh và Phạm Thận là hai người được chọn Đoàn của ông phụng mệnh mang quốc thư theo thuyền buôn người Thanh sang Quảng Đông để dò hỏi tin tức vua Lê nhưng đi giữa đường thì nghe tin rằng vua Lê đã băng hà liền bèn quay trở về Trên chặng đường gian khổ đó, Ngô Nhơn Tĩnh đã sáng tác nhiều bài thơ cùng một số người bạn Trung Quốc, đồng thời qua đó bày tỏ nỗi niềm kín đáo của cá nhân
Năm Kỷ Mùi (1799), Ngô Nhơn Tĩnh ông được phái sang Lưỡng Quảng - Trung Quốc để bàn việc nạp cống và tạ ơn vua quan triều Thanh đã
hỗ trợ lương thực cho quan quân nhà Nguyễn khi gặp biến loạn vào năm
1798 Năm 1800, tham tri Binh bộ Ngô Nhơn Tĩnh được sai lãnh đem chè tàu, thuốc lá Xiêm, cá khô… chia cho các tướng sĩ ở Thị Dã
Năm Gia Long 1 (1802), Ngô Nhơn Tĩnh được đề làm giáp phó sứ, cùng với Trịnh Hoài Đức và Hoàng Ngọc Uẩn đi sứ nhà Thanh Tuy nhiên, trên đường đi sứ đoàn gặp phải bão nên đến tháng 7 mới tới Hổ Môn quan Đến năm 1804, sứ đoàn về đến Thăng Long và chuẩn bị đón tiếp sứ đoàn Trung Quốc Ngô Nhơn Tĩnh và Trịnh Hoài Đức được nhận lệnh tham dự
Năm Gia Long thứ 6 (1807), Ngô được thăng chức làm Chánh sứ Năm Gia Long thứ 10 (1811), Ngô Nhơn Tĩnh lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An Trong thời gian ông làm quan ông sống cuộc đời thanh liêm, giản
dị, thương yêu quan tâm đến đời sống nhân dân
Năm Quý dậu (1813) Triều đình nhà Nguyễn chiếu cho Tổng trấn thành Gia Định lúc bấy giờ là Lê Văn Duyệt cùng Hiệp Tổng trấn Ngô Nhơn Tĩnh điều hơn 13.0000 người đưa quốc vương Chân Lạp về nước Sau khi xong việc trở về nước thì vấp phải sự vu oan của tiểu nhân cho rằng ông ăn hối lộ nên vua Gia Long trở nên lạnh nhật với ông Mặc dù, sự việc trên không được điều tra vì vua cho rằng chuyện không có chứng cứ nhưng điều
đó vẫn khiến ông buồn bã rồi lâm bệnh và mất tại Gia Định
Sử chép không có ghi về đám tang của ông, có lẽ một phần do thái độ lạnh nhạt của vua đối với Ngô Nhơn Tĩnh Bạn của ông là Trịnh Hoài Đức xin truy tặng nhưng vua không chấp thuận Đến năm 1850, ông được đưa vào thờ tại miếu Trung Hưng công thần
Trang 17Ngô Nhân Tĩnh là người học rộng tài cao lại giỏi văn chương, thích ngâm vịnh Khi đi sứ Trung Quốc, ông được người nơi đó khen có tài văn chương Theo Trịnh Hoài Đức ông sáng tác khá nhiều nhưng phần lớn bị thất lạc Tác phẩm của ông hiện nay còn:
Thập Anh đường văn tập gồm 187 bài kinh nghĩa, lấy đề tài từ Kinh thi
và Kinh thư, được soạn và dùng làm mẫu cho những người đi thi tham khảo
Thập Anh đường thi tập là tập thơ gồm 81 bài thơ chữ Hán, chủ yếu
được Ngô Nhơn Tĩnh sáng tác trong thời gian đi sứ, lúc làm quan và khi xướng họa với bạn bè
Nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định soạn, Ngô Nhân Tịnh nhuận chính Nghệ An phong thổ ký (Nghệ An ký) là bộ sách in chung cùng với Bùi
Dương Lịch
Gia Định tam gia thi tập là tập thơ gồm một số bài thơ, in chung với
thơ của Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định
1.2 Tác phẩm thơ đi sứ của Gia Định tam gia
Thơ đi sứ là khái niệm chung chỉ những sáng tác của các sứ thần viết trên hành trình thực hiện nhiệm vụ bang giao với các nước khác và chủ yếu
là đi sứ Trung Hoa Trên chặng đường đi sứ cảm hứng thơ ca đã được nảy
nở từ những cuộc gặp gỡ giữa sứ thần các nước, cảnh quan thiên nhiên núi sông, những cảm xúc tồn tại trong lòng người xa xứ …
Các tác phẩm thơ đi sứ của Gia Định tam gia phần lớn được sáng tác
trong thời gian đầu Nguyễn là giai đoạn phát triển rực rỡ của thơ đi sứ Việt Nam Nếu so với thời Lê và thời Tây Sơn thì thơ đi sứ giai đoạn đầu Nguyễn
có sự mở rộng về phạm vi phảm ánh, thơ ca có sự tiếp cận gần hơn với con
người và đời sống hiện thực Thơ đi sứ của Gia Định tam gia được chú ý ở
những tác phẩm sau:
Hoa Nguyên thi thảo - Lê Quang Định là tập gồm những tác phẩm
sáng tác chủ yếu trong thời gian đi sứ Trung Quốc từ năm 1802 - 1803 của
Lê Quang Định Mặc dù, Hoa Nguyên Thi Thảo được biết đến và tiến hành khắc in sớm nhưng ban đầu chỉ có một số bài thơ được dịch và giới thiệu với
Trang 18người đọc nên phần ít được quan tâm, sau đó đến thế kỉ XXI trong dịp lễ kỉ niệm 300 năm hình thành và xây dựng phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng
Nai thì tập thơ mới được dịch và in trong cuốn Gia Định tam gia thi Hoa
Nguyên thi thảo gồm 74 bài thơ, phần nhỏ là một số bài thơ (4 bài) sáng tác
ở Việt Nam và khi giã từ và lúc trở về, còn đa phần là vịnh cảnh vật, thù đáp hay cảm hoài trong chuyến đi sứ Trung Quốc (70 bài) đã tạo thành một cuốn nhật kí viết về hành trình của ông tại vùng đất Trung Hoa Trái với sự trĩu năng lo âu thường thấy của con người xa xứ, Lê Quang Định đã thể hiện trong thơ với tâm thế tự tin, kiêu hãnh mang trong mình trọng trách cao Đồng thời, kết hợp với tâm hồn phóng khoáng, ngòi bút tài hoa tinh tế thơ của ông đã khiến các sĩ phu phương Bắc, người dân Nam bộ, cũng như các nhà thơ trong nước như Ngô Lễ Khê, Nguyễn Du thán phục và yêu thích thơ của ông Tập thơ được Lê Lương Thận, Hàn lâm viện chế cáo đề tựa vào năm 1807 và hầu hết các bài đều có kèm lời bình của Ngô Thì Vị và Nguyễn Du
Cấn trai thi tập - Trịnh Hoài Đức: Về hoàn cảnh và thời gian ra đời của Cấn trai thi tập theo tự đề tựa Cấn trai thi tập Trịnh Hoài Đức đã viết: Mùa Đông năm Bính Tý, phụng mệnh tôi cùng quan khâm sai Chưởng Tiền quân Bình Tây tướng quân, tước Đức Quận công là Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn thành Gia Định Khi đó đã làm từ cũ thì hai tập Thoái thực và Quan Quang phần lớn đã bị sâu mọt gặm nát Không nỡ để những tâm tích thuở bình sinh của mình bị mai một; nếu không sớm lo làm lại, thì sau này toàn bộ các tập ấy không biết tìm ở đâu Bèn vội biên tập lại, tập đầu đặt tên là Thoái thực truy biên, tập tiếp lấy tên là Quan Quang và thu thập những bài từ năm Giáp Tí trở về sau, gồm các bài như: ứng chế, đưa tiễn, thăm viếng, tặng đáp cùng những khi rèn học trò, con cháu và bạn bè ngậm vịnh đề xướng, cho đến cuối năm Bính Tí, đặt tên là Khả dĩ tập; rồi đóng lại làm một tập, lấy hiệu của mình đặt tên là Cấn Trai thi tập [Đỗ Thu Thảo dịch, 2, tr.75, 76]
Như vậy Cấn Trai thi tập bao gồm có ba phần: Thoái thực truy biên tập,
Quan quang tập và Khả dĩ tập nội dung của các phần như sau:
Thoái thực truy biên tập là lúc rảnh rỗi việc công thì lui về nhà sắp
xếp thơ lại, bao gồm 127 bài thơ được sáng tác từ năm Nhâm Dần (1782) đến năm Tân Mậu (1801), trong đó cụ thể gồm có: 3 bài viết theo thể Ngũ
Trang 19ngôn tuyệt cú, 15 bài theo thể Ngũ ngôn luận thi, 10 bài theo thể Thất ngôn tuyệt cú, còn lại là 99 bài theo thể Thất ngôn luận
Quan quang tập với ý nghĩ là Quan quốc chi quang (xem xét quang
cảnh đất nước) được ông sáng tác trong khoảng thời gian ông đi sứ Trung Quốc từ năm Nhâm Tuất (1802) đến năm Quý Hợi (1803) bao gồm 152 bài
ở nhiều thể thơ: Ngũ ngôn tuyệt cú có 7 bài, Ngũ ngôn luận thi 12 bài, Lục ngôn tuyệt cú 8 bài, Thất ngôn tuyệt cú 3 bài, Thất ngôn luật 122 bài
Khả dĩ tập có ý nghĩa là bày tỏ nỗi niềm, bắt nguồn từ ý của câu Thi khả dĩ hung, khả dĩ quan, khả sĩ quần, khả dĩ oán là tập hợp những bài thơ
thù tạc, điếu văn, ngâm vịnh… tất cả có 48 bài, trong đó: 1 bài Ngũ ngôn cổ phong, 10 bài Ngũ ngôn tuyệt cú, 37 bài Thất ngôn luật được ông sáng tác trong khoảng thời gian từ năm Giáp Tý (1804) đến năm Bính Tý (1816) theo lời ông nói trong bài tự đề tựa của mình
Như vậy, về thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức ta xác định nó chủ yếu nằm
ở phần Quan quang tập (Bắc sứ thi tập) gồm 153 bài thơ Nhưng do quá trình chỉnh lý tác giả đã tập hợp ba phần là Thoái thực truy biên, Khả dĩ tập
và Quan quang tập vào thành tập lớn và đặt tên là Cấn Trai thi tập Nên
trong phạm vi nghiên cứu các tác phẩm thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức chúng
tôi sẽ tập trung nghiên cứu các sáng tác thuộc phần Quan Quang tập, tức các
tác phẩm mà ông sáng tác trong thời gian đi sứ Trung Quốc
Thập Anh đường thi tập của Ngô Nhơn Tĩnh được in khắc năm 1811 bao
gồm 81 bài thơ bằng chữ Hán chủ yếu viết trong thời gian đi sứ giao bang
Theo bài tựa của Trần Tuấn Viễn thì tác phẩm có 2 phần đều sáng tác thuộc thời gian ông đi sứ Trung Quốc: một phần được ông viết trong thời gian ông được cử đi tung tích vua Lê (1798) và phần còn lại ông viết trong thời gian ông đi sứ vào năm Nhâm Tuất (1802)
1.3 Giới thuyết về con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam
Trong văn học trung đại Việt Nam ta sẽ chú ý đến một vấn đề quan trọng đó là sự thể hiện của con người cá nhân Nó chính là sự phản ánh cái tôi của tác giả, hình tượng của tác giả, sự diễn tả, giãi bày thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả Con người cá nhân bao giờ trỗi dậy và đều
Trang 20tách ra khỏi cái chung, với những mong muốn riêng tư vượt khỏi khuôn khổ của xã hội Tuy không được thể hiên phóng khoáng như con người cá nhân trong văn học hiện đại và còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi tính quy phạm nhưng ta vẫn có thể tìm thấy những tâm hồn nghệ sĩ phá cách, biết rung động, biết yêu những nét đẹp của thiên nhiên và con người; đặc biệt là biết sống bằng những cảm xúc trong sâu thẳm trái tim mình Bởi vậy, mỗi một tác phẩm văn học luôn mang những dấu ấn sáng tạo riêng của cá nhân tác giả, nó giúp người đọc hình dung thấy cá tính trong phong cách sáng tác riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ
Vào những thời kì khác nhau, con người cá nhân có những đặc điểm khác nhau Sự tác động của các yếu tố tư tưởng triết học, thần quyền ở mỗi giai đoạn có tác động nhất định đến nhận thức của mỗi con người cá nhân Trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX ý thức con người thể hiện qua 3 giai đoạn Đặc biệt, giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX con người cá nhân càng đậm nét hơn và điều này đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu chỉ ra Theo Phan Ngọc thì trước hết mọi người thời này đều cảm thấy xã hội đang tan vỡ, mọi giá trị của nó bị đứt tung, không phương cứu vãn nên con người cá nhân phải tự tìm chỗ dựa cho bản thân Ta có thể bắt gặp con
người cá nhân với nỗi lo tuổi trẻ chóng tàn trong Chinh phụ ngâm Hay con
người cá nhân với sự tự ý thức khẳng định vẻ đẹp tài năng của bản thân, con người bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương Qua các tác phẩm, bà là một người phụ nữ cá tính mạnh mẽ, ngang tàng, sẵn sàng bày tỏ suy nghĩ cá nhân dám nói những điều mà đời ít người dám nói trong thơ Hoặc con người cá
nhân với nỗi cô đơn, xót mình mang đầy tâm trang trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du Cho nên văn học trong giai đoạn này có xu hướng li tâm tức là
ý thức thoát li, khác biệt của con người cá nhân so với cái nền ý thức chung
mà xã hội đã quy định Các nhà văn ngoài lúc hướng về quy chuẩn khuôn
vàng thước ngọc vẫn tìm cho mình một con đường sáng để cho cái tôi cá
nhân cá thể lên tiếng Như vậy, sự thể hiện của con người cá nhân đã trở thành khuynh hướng quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam, góp phần cho đời sống văn học thêm đặc sắc và phong phú hơn
Trong dòng chảy đó, vào thời vua Gia Long, Gia Định tam gia đã
khởi xướng khuynh hướng mới với phong cách thơ ca phóng túng hơn nhất
Trang 21là sự bắt đầu trỗi dậy của ý thức cá nhân riêng tư trong chiều sâu tâm hồn của con người được truyền tải qua những trang thơ nhuốm màu tâm trạng
Mỗi người một vẻ mang cá tính khác nhau, đã tạo nên một Gia Định tam gia
tài hoa và trở thành dấu ấn đặc biệt trong văn chương dân tộc
Như vậy, là triều thần nhà Nguyễn, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định
và Ngô Nhơn Tĩnh không chỉ có công trong những việc quan trọng mà triều đình giao phó như đi sứ, lập sổ điền tịch… mà còn là ba văn sĩ lớn thời bấy giờ, đóng góp nhiều công trình, tác phẩm có giá trị cho văn học nước nhà
Văn cương của Gia Định tam gia đến nay còn biết bao xúc động cới người
đời Tiếc rằng, vì nhiều lí do, lâu nay thơ của ba danh nhân nổi tiếng nhất miền Nam ít có dịp đến với bạn đọc
Trang 22CHƯƠNG 2
SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG THƠ ĐI SỨ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA
2.1 Lê Quang Định
2.1.1 Con người cá nhân u sầu nơi đất khách
Đối với nhiều tác giả văn học trung đại, tấm thân lữ thứ, tha hương nơi đất khách luôn là những hoàn cảnh khiến họ cảm thấy cô độc, u sầu nhất
Đi sứ đến những nơi xa lạ, cách quê nhà hàng vạn dặm, sự cách trở về không gian địa lí hẳn khiến tâm trạng của bất kì ai cũng cảm thấy yếu lòng Lê Quang Định cũng vậy, nỗi u sầu nơi đất khách của ông trước hết được thể hiện ở sự cảm thức về không gian và thời gian Bởi không gian, thời gian là hai yếu tố thường xuyên gây ám ảnh đối với ông, và trong thơ không ít lần tác giả đã thể hiện sự ngỡ ngàng trước sự thay đổi của của nó Khoảng thời
gian thường xuyên được tác giả đề cập trong sáng tác của mình là đêm khuya
gắn với những không gian khác nhau
Qua khảo sát hành trạng của Lê Quang Định chúng tôi thấy rằng, trên đường đi sứ bang giao, con đường mà ông đi phần lớn là đường thủy vì vậy
có nhiều đêm ông phải nghỉ lại trên sông Cho nên, thời gian về đêm gắn với không gian sông nước là yếu tố tác động mạnh đến cảm xúc cá nhân cô đơn,
u sầu của tác giả Đó là những đêm cô đơn, lạc lõng trong Mặc Châu giang
dạ bạc (Đậu thuyền trên sông Mặc Châu):
“Thâm nhai tịch mịch hệ chinh bồng, Nhất điểm hàn dăng vạn lại không
Vấn ảnh đê hồi du tử mộng, Trúc đê dao duệ cố nhân phong
Yên ba dạ tĩnh tuần châu nhạn,
Vũ sí thiên cao nhạn tái hồng.”
(Núi sâu vắng vẻ buộc thuyền, Một chấm đèn lạnh mọi âm thanh vắng bặt
Trang 23Bóng mây thấp về mộng du tử, Trúc đê dằng kéo gió cố nhân
Khói sóng đêm lặng nhạn bay theo bãi, Cánh chim hồng trời cao miền biên ải xa xăm.)
Đi thuyền đến thời điểm ban đêm, con thuyền chở nhà thơ buộc phải dừng chân trên sông Mặc Châu Dưới cái nhìn của tác giả, không gian nơi đó
đã được cảm nhận trong sự ảm đạm, u tịch vắng bặt âm thanh Trên nền
khung cảnh rộng lớn ấy, điểm vào đó là một chấm đèn lạnh và cánh chim
hồng trên trời cao phải chăng đó chính là sự ẩn dụ cho cá nhân lạc lõng cô
đơn nơi biên ải xa xôi của tác giả Nhận thức được điều đó, tức nhà thơ đã cảm nhân được sự nhỏ bé của mình trước sự rộng lớn của đất trời nên nỗi
buồn càng sâu đậm hơn Tiêu biểu, trong đêm dừng chân ở bến tầm Tầm
Châu, trên sông Tiêu Dương tác giả đã cho thấy tâm trạng u sầu nơi đất
khách của mình:
“Hàn đăng thiêu bạch nhật,
Sơ vũ tẩy hoàng hôn
Trúc sái Tương phi lệ, Giang lưu Sở khách hồn
Nhàn vân quy cổ động, Tân nguyệt điếu cô thôn
Hồi thủ hương quan dị,
Hô đồng thả mãn tôn.”
(Dạ tửu hứng) (Ngọn đèn lạnh đốt tàn mặt trời, Giọt mưa thưa rửa sạch chiều tối
Lá trúc nhỏ nước mắt Tương phi, Dòng sông trôi hồn khách nước Sở
Trang 24Đám mây lơ lửng về cổ động, Mảnh trăng đầu tháng viếng cô thôn
Quay đầu nhìn nẻo quê hương thấy có vẻ xa lạ, Gọi tiểu đồng hãy rót chén rượu đầy.)
Đêm buông và mưa trút xuống như rửa sạch đi những bụi bặm của ban ngày nhưng sự cô đơn vẫn còn đó, nó giăng mắc tồn tại trong lòng của người lữ khách Bởi ngoảnh mặt lại chỉ thấy xa lạ, thi sĩ nhận ra nơi đây không phải là quê hương thân thuộc của mình khiến đã sầu lại càng sầu thêm, buộc phải tìm đến rượu giải tỏa nỗi niềm
Đặc biệt, khi vào độ lễ tết đến là thời điểm con người trở về sum vầy đoàn tụ với gia đình, nhưng trong đêm bước sang năm mới Lê Quang Định vẫn một mình lạc lõng trên dòng sông Ngô và điều đó đã làm tác giả cảm
thấy chạnh lòng Trong Ngô Châu trừ dạ (Đêm trừ tịch ở Ngô Châu) nhà thơ
đã bày tỏ nỗi niềm đó một cách sâu sắc:
“Chu thứ Ngô giang đống tuyết khai,
Dạ gian hàn áo chính tương thôi
Nghinh tân vận nhã hành trung cú, Tống lạp hương phân tặng hậu mai,
Cố quốc vi quy tu ý cẩm, Minh niên vô sự mạn khuynh bôi.”
(Thuyền đến Ngô giang tuyết đọng rã, Trong đêm rét ấm thay thế nhau
Đón năm mới câu thơ nhã làm trên đường đi, Tiễn đưa ngày cuối năm hương chia sau khi được tặng hoa mai Nước cũ chưa về thẹn mặc áo gấm,
Năm mới vô sự tạm nghiêng chén.)
Hay đêm ở một không gian khác như những Đêm trăng ở am Thiên
Đô hay những đêm lạnh trong Dạ hàn ngẫu tác (Đêm lạnh ngẫu nhiên làm)
nhà thơ cũng mong muốn được trải lòng mình ra với đêm:
Trang 25“Trệ vũ xao băng lãnh chuyển khâm,
Lô yên dục tận ngũ canh tâm
Xuân phong vị tống hương tình áo, Tình tuyết thiên lân lữ mộng thâm.”
(Mưa dầm băng xào xạo lạnh thấm chăn, Khói lò muốn đốt lụi tấm lòng năm canh
Gió xuân ấm để đưa tình quê đến,
Tuyết tạnh riêng thương mộng khách sâu đằm.)
Trong đêm mưa lạnh giá con người thi sĩ càng thấm thía sự cô đơn lạc lõng nơi đất khách Nhà thơ muốn gió xuân có thể mang đến chút tình quê hương ấm áp, mong được trở về quê hương dù chỉ là trong mộng
Như vậy, đêm chính là thời điểm con người cá nhân của tác giả được bộc lộ với những xúc cảm riêng tư nhất khi đối diện với lòng mình Đồng thời, lại được đặt ở những không gian khác nhau càng cho thấy sự đa cảm chất chứa nhiều u sầu trong tâm hồn của tác giả
Sự cảm thức về thời gian của tác giả còn được thể hiện đặc sắc qua
hình ảnh mái tóc Mái tóc chính là biểu tượng được tác giả nhắc đến nhiều lần bởi trong thơ ông nó là hiện thân cho sự biến đổi về thời gian Đó là Mái
tóc bất giác rối như cỏ bồng hay đã điểm sương và bạc trắng trong gương: Sương mấn sầu thôi kính lý doanh (Trong gương đã hiện mái tóc sầu giục
điểm sương); Kính ký ninh giao lưỡng mấn tinh (Đành để trong gương hai
mái tóc bạc) Như vậy, ở phương xa Lê Quang Định luôn cảm thấy chạnh lòng khi thời gian đã phủ trắng mái đầu đã làm mất đi nét nguyên bản của
nó Và chính những xúc cảm về sự biến chuyển mái tóc ấy, cũng chính là nhận thức của ông về sự thay đổi của chính bản thân mình
Bởi vậy sự cảm nhận về thời gian và không gian trong thơ Lê Quang Định cho thấy ông là người có một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế Như vậy con người cá nhân đã trỗi dậy với những xúc cảm riêng khi cảm nhận được cái dài và rộng và biến đổi của thời gian không gian bao la Bởi khi nảy sinh
Trang 26những cảm xúc ấy tức là cá nhân đã ý thức được sự bé nhỏ của bản thân trước sự rộng lớn và biến đổi của vũ trụ
Không chỉ mang nỗi mặc cảm trước không gian và thời gian mà ở nơi đất khách xa xôi nhà thơ còn chất chứa khôn nguôi nỗi nhớ về quê hương, buồn vì chưa được trở về quê hương Nỗi nhớ ấy đã trở thành khắc khoải,
ước muốn tha thiết trong bài Quá Vũ Thắng quan (Qua cửa quan Vũ Thắng):
“Thiều đệ tư quy trình tâm tự tiễn, Dao khan cố quốc kỷ thiên nhai (nha).”
(Chặng đường về xa xôi, lòng như tên bắn,
Xa nhìn nước cũ cách mấy chân trời.) Tác giả giờ đây lòng như tên bắn nhưng nhìn thấy phía trước còn rất
nhiều khó khăn, con đường để trở về với quê cũ vẫn còn cách mấy chân trời khiến ông lại trào dâng nỗi sầu man mác Nhiều lần nhà thơ đã gửi gắm tình
cảm của mình vào thiên nhiên là mây để có thể mang theo chút tình của
mình về với quê hương xứ sở:
“Vân tống hương tâm tài xuất tụ”
(Tín dương tiểu hành) (Mây đưa lòng quê mới ra khỏi núi)
Hay
“Hương tâm mỗi ký bạch vân đoan”
(Đăng Hoàng Hạc lâu tác) (Lòng quê mỗi lần gửi làn mây trắng)
Và gió xuân ấm áp vào đêm lạnh:
“Xuân phong vị tống hương tình áo”
(Dạ hàn ngẫu tác) (Gió xuân ấm để đưa tình quê đến)
Sở dĩ ông lại gửi gắm những nỗi niềm đó cho mây, gió bởi Lê Quang Định lúc này đang ở giữa nơi đất khách không có bạn bè, không có gia đình
Trang 27bên nên chỉ có những hình ảnh thiên nhiên đó mới là nơi thích hợp để ông trải lòng của mình ra Ngay cả dịp tết ông cũng không thể trở về đoàn tụ với gia đình bởi sứ mệnh vua giao vẫn còn đang đè nặng trên vai Trong bài
Khách trung nguyên nhật (Nguyên đán nơi đất khách) ông đã bày tỏ nỗi xót xa
ngậm ngùi: Hồ hải vị tinh ky lữ mộng (Hồ hải chưa tỉnh mộng khách đường
xa) Đã có lúc nỗi cô đơn đó quá lớn ông đã tìm đến rượu để khuây khỏa lòng
mình nơi sứ người trong bài Quá ngũ hiểm than (Qua bãi ngũ hiểm):
“Hồi đầu sạ tỉnh giang hồ mộng,
Cô tửu tương tương nghĩ phẩm đề.”
(Quay đầu lại chợt tỉnh mộng giang hồ, Mua rượu để gợi hứng nghĩ bài thơ.)
Hay trong bài Dạ tửu hứng (Đi thuyền ở trên sông Tiêu Dương tạp
hứng) cũng diễn tả sự cô đơn khi đêm buộc tác giả phải mượn rượu giải tỏa nỗi niềm:
“Hồi thủ hương quan dị,
Hô đồng thả mãn tôn.”
(Quay đầu nhìn nẻo quê hương thấy có vẻ xa lạ, Gọi tiểu đồng hãy rót chén rượu đầy.)
Nhưng ngay cả khi mượn đến rượu thì rượu bất lực, nhạt đi và cũng
không thể làm vơi đi nỗi sầu trong đêm lạnh giá: Ngự hàn vô lực tửu hương
trầm (Chống chọi cái lạnh bất lực hương rượu nhạt đi)
Như vậy cùng một nỗi nhớ quê hương của con người xa xứ nhưng dường như nỗi nhớ của Lê Quang Định lại mang sự khái quát hơn và không
cụ thể như hai người bạn của ông (Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh), điều này sẽ được chúng tôi trình bày ở những phần sau Tác giả nhớ quê hương khi thì uống rượu, khi thì nhờ mây trắng, nhờ gió và cả mộng để trở về với quê hương:
“Giai tiết khủng khiên li biệt huống, Thả bằng khi chẩm mộng trung quy.”
Trang 28(Gặp thời tiết tốt, sợ rằng vương thêm nỗi chia cách, Nên dựa gối nằm để được về trong mơ.)
Có thể nói thơ ca đã trở thành khoảng trời riêng để ông có thể kí thác, cất lên những tâm sự cá nhân với nhịp đập trái tim tha thiết Con người ấy chất chứa trong thơ nỗi nhớ quê hương gia đình da diết khi xa xứ Khiến cho tác phẩm của ông luôn bàng bạc một nỗi u sầu của người lữ thứ nơi đất khách xa xôi
2.1.2 Con người luôn đau đáu về trách nhiệm cá nhân
Trên đường đi sứ mười bốn tháng Lê Quang Định có dịp nhìn nhận lại những giá trị của cuộc đời Vì vậy, những suy tư về cuộc đời được ông truyền tải một cách tinh tế vào trong các sáng tác Trước hết, ông là con người luôn đau đáu trách nhiệm của bầy tôi với vua và đất nước Là người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tư tưởng Nho gia vì thế ông luôn tận trung phò vua giúp nước; ưu tư lo lắng làm tròn trách nhiệm của một bầy tôi Trong tâm thức luôn muốn báo đền ơn vua, Lê Quang Định đã gián tiếp gửi gắm tình cảm của
mình với tấm lòng biết ơn qua bài Lưu biệt Bắc Thành Nguyễn Tổng trấn:
“Sáng quốc chính quan công tỏa dược, Phiếm tra mạc thuyết ngã phong trần.”
(Việc dựng nước, chính nhờ một phần ông mở mang, Chuyện đi sứ, đừng kể rằng tôi xông pha nơi gió bụi.) Đặc biệt, Lê Quang Định khi thấy ly rượu của Ngô Tòng Châu và ngọn lửa của Võ Tánh đã xem nó là biểu tượng về cái chết oanh liệt của bậc trung thần:
“Cổ lai binh hảo thuộc anh hùng, Hứa quốc dung thành nhất điểm trung.”
(Võ Hậu quân hỏa)
(Xưa nay binh lửa thuộc về anh hùng,
Báo đền ơn nước đúc thành một điểm trung.)