Vì vậy, nghiên cứu về cảm thức sử thi trong nền văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 là mong muốn của nhiều nhà nghiên cứu và thật sự cần thiết để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơ
Trang 1CỦA CHU LAI SAU 1986
(KHẢO SÁT QUA VÒNG TRÒN BỘI BẠC
VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2CỦA CHU LAI SAU 1986
(KHẢO SÁT QUA VÒNG TRÒN BỘI BẠC
VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS Thành Đức Bảo Thắng
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành bởi quá trình hướng dẫn tận tình của TS Thành Đức Bảo Thắng Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc cũng như sự biết ơn chân thành nhất tới Thầy - người luôn giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin cảm ơn cácThầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã truyền giảng những tri thức hữu ích về văn học và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, với
sự giúp đỡ và hỗ trợ của TS Thành Đức Bảo Thắng Toàn bộ nội dung nghiên cứu và kết quả củakhóa luận là hoàn toàn trung thực
Mọi sao chép không hợp lệ hay gian lận, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của khóa luận 6
8 Bố cục của khóa luận 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái quát chung về khuynh hướng sử thi và cảm thức sử thi 7
1.1.1 Khái niệm khuynh hướng sử thi 7
1.1.2 Khuynh hướng sử thi trong văn học giai đoạn 1945 đến nay 8
1.1.3 Khái niệm cảm thức sử thi 9
1.2 Chu Lai với tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng 10
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn học 10
1.2.1.1 Cuộc đời 10
1.2.1.2 Sự nghiệp văn học 12
1.2.2 Đôi nét về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng 14
1.2.2.1 Tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc 14
1.2.2.2 Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng 14
Tiểu kết chương 1 16
Chương 2: BIỂU HIỆN CẢM THỨC SỬ THI TRONG SÁNG TÁC CỦA CHU LAI SAU 1986 QUA VÒNG TRÒN BỘI BẠC VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG 17
2.1 Cảm thức sử thi biểu hiện qua đề tài và hình tượng người lính trong chiến tranh 17
Trang 62.1.1 Cảm thức sử thi được biểu hiện qua đề tài người lính trong chiến tranh 17
2.1.1.1 Hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh 18
2.1.1.2 Chiến tranh với những chiến thắng vẻ vang 21
2.1.2 Cảm thức sử thi biểu hiện qua hình tượng người lính trong chiến tranh 22
2.2 Cảm thức sử thi biểu hiện qua đề tài và hình tượng người lính thời hậu chiến 27
2.2.1 Cảm thức sử thi biểu hiện đề tài người lính thời hậu chiến 27
2.2.2 Cảm thức sử thi biểu hiện hình tượng người lính thời hậu chiến 29
2.2.2.1 Người lính vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống 29
2.2.2.2 Người lính thành công trong bối cảnh xã hội mới 37
2.3 Cảm thức sử thi biểu hiện qua hình thức nghệ thuật 38
2.3.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống 38
2.3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 41
2.3.3 Giọng điệu 43
Tiểu kết chương 2 45
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7hình thành PGS TS Nguyễn Đăng Điệp đã nhận định trong Báo cáo Đề dẫn:
“Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, sự nghiệp đổi mới đã tạo nên những luồng cảm hứng mới, niềm say mê mới Nhìn một cách tổng thể, nhận thức của nhà văn về bản chất sáng tạo nghệ thuật được nâng cao hơn, ý thức cầm bút sâu sắc hơn, những tìm tòi đổi mới về phương thức thể hiện được khuyến khích Theo đó, văn học thời kì Đổi mới là một thực thể đa dạng, phong phú, thấm đầy tinh thần nhân văn hiện đại” [2]
Phương châm“đổi mới tư duy”, “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng
sự thật, nói rõ sự thật” trong nội dung đổi mới mà Đảng nêu ra (tại Đại hội VI của Đảng) như một luồng gió mới thức tỉnh, khích lệ các nhà văn thay đổiđể phù hợp với bối cảnh xã hội Đặc biệt, mảng đề tài chiến tranh đã có những bước đột phá ấn tượng Các nhà văn đã nhanh chóng đón nhận luồng không khí mới của thời đại, qua lăng kính chủ quan, dưới những cách đánh giá đa chiều và phương thức thể hiện độc đáo, họ đã tái hiện lại hiện thực chiến tranh vô cùng đa dạng, phong phú và chân thực Có thể thấy rằng, một hướng tiếp cận mới về hiện thực chiến tranh đã được mở ra tạo nên một sự cách tân trong văn học Trong xu hướng đổi mới mạnh mẽ ấy, chiến tranh được nhìn trên nhiều phương diện, đi sâu vào bản chất bên trong, số phận cá nhân được quan tâm nhiều hơn, những góc khuất của chiến tranh được hé mở, hiện thực được tái hiện theo yêu cầu của cuộc sống thời bình Cũng chính trong xu thế
đó, một câu hỏi đặt ra: cảm thức sử thi của nền văn học trước đây có còn tồn tại trong mỗi sáng tác? Trong thực tế đời sống văn học, khát vọng khẳng định
vẻ đẹp của cộng đồng, vẻ đẹp của dân tộc anh hùng qua hình ảnh những
Trang 82
người anh hùng, đại diện cho lí tưởng cao cả vẫn là khát vọng xuyên suốt nền văn học Việt Nam Song, nó phải được thể hiện trong hoàn cảnh mới với những cái nhìn mới, chân thực và sinh động hơn Vì vậy, nghiên cứu về cảm thức sử thi trong nền văn học Việt Nam từ sau đổi mới 1986 là mong muốn của nhiều nhà nghiên cứu và thật sự cần thiết để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về văn học ở mảng đề tài chiến tranh
Chu Lai là một nhà văn tiêu biểu trong thế hệ các nhà văn khai bút ở đề tài chiến tranh Ông là một người lính và đồng thời là một nhà văn dành trọn ngòi bút của mình cho những người lính Cũng giống như các nhà văn khác cùng thời, hòa nhập vào dòng chảy chung của xu hướng cách tân sau 1986, nhưng Chu Lai đã chọn cho mình một hướng đi riêng Trong những tác phẩm của mình, Chu Lai không chỉ cho độc giả thấy được những quan điểm mới của mình về chiến tranh mà qua đó, người đọc còn cảm nhận được chất sử thi như một mạch sữa ngầm xuyên suốt, nuôi dưỡng những “đứa con tinh thần” của ông Đặc biệt, cảm thức sử thi ấy thể hiện rất rõ ở hai tiểu thuyết được Chu Lai
viết sau năm 1986 là Vòng tròn bội bạc (1987) và Ăn mày dĩ vãng (1991)
Tìm hiểu về cảm thức sử thi trong sáng tác tiêu biểu của Chu Lai sau
1986, một mặt người viết sẽ có sự am hiểu sâu sắc hơn về văn học ở mảng đề tài này Mặt khác, người viết sẽ rèn luyện được ý thức tự lập và kĩ năng xử lí tri thức trong bước đầu tập làm khoa học Đây thật sự là một công việc cần thiết đối với một giáo viên tương lai nói riêng và một người bén duyên với văn học nói chung
Với các lí do như trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Cảm thức sử thi
trong sáng tác của Chu Lai sau 1986 (Khảo sát qua Vòng tròn bội bạc và
Trang 93
những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ Có lẽ vậy mà những sác tác của Chu Lai luôn có một sức hấp dẫn riêng đối với độc giả, đúng như Nguyễn Minh Châu đã từng chia sẻ: “Bao giờ những cây bút đã từng lăn lộn trong chiến tranh sẽ đem lên trang giấy những điều sở đắc nhất, những bài học đường đời chỉ riêng anh mới khám phá thấy trong hoàn cảnh chiến tranh và có thể làm bài học cho nhiều hoàn cảnh khác?” [1] Chu Lai có
bốn tiểu thuyết đạt giải cao, đó là: Ăn mày dĩ vãng (Giải A, Giải thưởng Hội
đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang, Hội Nhà văn,
năm 1993, Giải B, Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng, năm 1994), Phố (Giải B, Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội, năm 1993), Ba lần và
một lần (Giải B, Bộ quốc phòng, năm 1996 - 2000), Mưa đỏ (Giải thưởng Hội
Nhà văn Việt Nam, năm 2016) Bởi vậy, các sáng tác của nhà văn nói chung, đặc biệt là tiểu thuyết hậu chiến nói riêng luôn có một sức hút kì diệu với độc giả, được các nhà phê bình và nghiên cứu chú ý
Bên cạnh những bài báo, những công trình khảo sát về con người, về cuộc đời và về sự nghiệp văn học của Chu Lai còn có một số lượng không nhỏ những bài nghiên cứu, phê bình về nhà văn Các bài nghiên cứu, phê bình tựu trung lại ở những vấn đề như sự gắn bó của nhà văn với đề tài chiến tranh
và người lính Hồng Diệu khẳng định rằng: “Chu Lai là một nhà văn thủy chung với đề tài chiến tranh…” [13-tr.6] Không chỉ vậy, những vấn đề về việc làm thế nào để tiểu thuyết thời hậu chiến của Chu Lai vẫn “ăn khách”, vẫn tạo được sự hứng thú với độc giả thời mở cửa khi viết về những điều đã
“cũ” cũng được đề cập đến Nguyễn Thị Thanh đã nhận xét: “Chu Lai là một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên nói về bản chất của chiến tranh khác với quan niệm truyền thống” [16] Ngoài ra, còn có những bài viết, bài đánh giá và những công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả khác nhau về
những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn, trong đó có hai tiểu thuyết Vòng tròn
bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng đã có khá nhiều nhận xét, đánh giá từ các nhà văn, nhà thơ và nhà nghiên cứu khác nhau Trong bài viết Trao đổi về tiểu
thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai trên tạp chí Văn học Quân đội có nhiều ý
kiến nhận xét như sau: Cao Tiến Lê cho rằng tên tác phẩm rất ăn nhập với chủ
Trang 104
đề “hãy đừng lãng quên quá khứ, đừng xử tệ với những người đã hi sinh trong
quá khứ” [13-tr.6] Hồng Diệu nhận xét rằng Ăn mày dĩ vãng “có cốt truyện li
kì, hấp dẫn” [13-tr.6] Lê Thanh Nghị đánh giá: “Nhân vật của Chu Lai quyết không phải là những viên gạch nung ra từ một lò” Nhà phê bình Thiếu Mai nhận định: “Thấy rõ một vốn sống dồi dào, phong phú của tác giả trong cuốn
sách mới này” [13-tr.6] Tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc cũng có một số nhận
định khác nhau Bùi Việt Thắng đã cho rằng: “Đó là những con người trở về sau chiến tranh bị mất thăng bằng, khó tìm được sự yên ổn trong tâm hồn Họ sống trong cảm giác không bình yên…” [17- tr.104]
Sau một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu những đánh giá, nhận xét của các nhà phê bình cũng như của nhà văn, nhà thơ chúng tôi nhận thấy rằng:
Trước tiên, các bài phê bình, báo cáo, các công trình khoa học phần lớn
tập trung khai thác hai tác phẩm Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng ở các
khía cạnh như: thế giới nhân vật, thế giới nghệ thuật, đặc điểm ngôn ngữ nhân vật,… Tuy nhiên, còn ít tác giả bàn về khuynh hướng sử thi, hay cảm thức sử thi - một dòng chảy vẫn còn nóng hổi trong sáng tác của Chu Lai sau đổi mới
1986 vẫn là một hướng nghiên cứu mới và chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào khai thác và tìm hiểu
Thứ hai, những thành quả khảo sát, nghiên cứu, những đánh giá, nhận xét đi trước chính là nguồn tài liệu hữu ích đối với tác giả khóa luận Trên cơ
sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và các nhà khoa học đã tìm hiểu, trong giới hạn cho phép nhất định, chúng tôi sẽ tập trung đi sâu vào tìm hiểu một cách có hệ thống những biểu hiện cảm thức sử
thi trong sáng tác của Chu Lai sau 1986 qua hai tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc
và Ăn mày dĩ vãng
3 Mục đích nghiên cứu
- Có sự hiểu biết kĩ lưỡng và đầy đủ về cảm thức sử thi trong hai tiểu
thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai nói riêng và
trong tác phẩm văn học nói chung
- Làm rõ được những biểu hiện của cảm thức sử thi qua các yếu tố: đề
tài, hình tượng nhân vật và đặc sắc nghệ thuật trong Vòng tròn bội bạc và Ăn
mày dĩ vãng
Trang 115
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu chung về khuynh hướng sử thi, cảm thức sử thi, về tác giả
Chu Lai cùng hai sáng tác Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
- Bám sát các vấn đề căn bản trên, khóa luận đi sâu nghiên cứu biểu hiện
cảm thức sử thi trong sáng tác của Chu Lai sau 1986 qua hai tiểu thuyết Vòng
tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cảm thức sử thi trong hai tiểu thuyết Vòng
tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận sử dụng tư liệu chính trong hai tiểu
thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng Trong quá trình nghiên cứu, khi
cần thiết chúng tôi sẽ so sánh đối chiếu với một số tác phẩm của nhà văn Chu Lai và những sáng tác cùng đề tài của các tác giả khác được viết trước và sau năm 1975
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
6.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu, vì khi tìm hiểu về cảm thức sử thi trong sáng tác của Chu Lai sau 1986 cần đặt trong chuỗi tiểu thuyết của Chu Lai nói riêng cũng như trong những sáng tác viết về đề tài chiến tranh trước và sau Đổi mới của các nhà văn khác nói chung nhằm phát hiện được nét riêng, nét độc đáo và biểu hiện của cảm
thức sử thi trong hai tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đi sâu vào phân tích
những biểu hiện của cảm thức sử thi trong hai tác phẩm Vòng tròn bội bạc và
Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, qua đó khái quát, tổng hợp để đưa ra kết luận
chung nhất
Trang 126
6.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách tái hiện lại hiện thực chiến tranh và hình tượng người lính trong của Chu Lai với các tác giả, các nhà văn khác ở cùng đề tài Qua đó, giúp người viết làm sáng
rõ hơn đề tài nghiên cứu cũng như có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nội dung nghiên cứu của khóa luận
7 Đóng góp của khóa luận
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Cảm thức sử thi trong sáng tác của
Chu Lai sau 1986 (Khảo sát qua Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng)”
chúng tôi nhằm phát hiện sự giao hòa và tiếp nối giữa cái cũ và cái mới, giữa cảm thức sử thi của văn học giai đoạn trước và cảm hứng thế sự của văn học giai đoạn sau, đặc biệt là sau đổi mới trong sáng tác của nhà văn Chu Lai Qua
đó, giúp chúng ta có những hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về văn học ở mảng đề tài chiến tranh sau 1986 Đồng thời, khóa luận cũng nhằm khẳng định những nét độc đáo trong phong cách cũng như những đóng góp của nhà văn Chu Lai cho tiểu thuyết thời kì hậu chiến
8 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm hai chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Biểu hiện cảm thức sử thi trong sáng tác của Chu Lai sau
1986 qua Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
Trang 137
NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái quát chung về khuynh hướng sử thi và cảm thức sử thi
1.1.1 Khái niệm khuynh hướng sử thi
Văn học 1945 - 1975 là giai đoạn khuynh hướng sử thi đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ, có thể gọi là đỉnh cao của sự phát triển Tuy nhiên khuynh hướng sử thi không được sinh thành hay “thai nghén” trong giai đoạn này mà được bắt nguồn từ một thể loại của Văn học Dân gian, đó là thể loại Sử thi
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Sử thi là tác phẩm tự sự dài xuất hiện
rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử” [5-tr.285] Thể loại sử thi ra đời từ rất sớm, nó phản ánh những sự kiện lớn lao liên quan đến lịch sử hình thành, xây dựng và bảo vệ cộng đồng Qua đó, những tác phẩm sử thi đã miêu tả và tái hiện lại bức tranh rộng lớn về cuộc sống xã hội một cách đa dạng và phong phú của một bộ tộc, cộng đồng, dân tộc hay cả một thời đại cùng với những vận động và chuyển biến của lịch sử Các nhân vật chính của sử thi thường là những người anh hùng kết tinh, đại diện cho vẻ đẹp lí tưởng của cộng đồng, đó chính là sức mạnh của trí tuệ (người anh hùng văn hóa) và sức mạnh của thể chất (người anh hùng chiến trận) Họ đều là những hình tượng mang vẻ đẹp hoàn mĩ, hoàn thiện từ phẩm chất, tài năng cho đến ngoại hình, hành động, từ suy nghĩ cho đến sức mạnh
Cùng với dòng chảy của thời gian, cuộc sống xã hội của con người có
sự thay đổi và văn học cũng có sự vận động, phát triển không ngừng Khi số phận của mỗi cá nhân có sự độc lập tương đối với số phận của cộng đồng thì cũng là lúc thể loại sử thi ít được sử dụng nhưng chất sử thi vẫn còn tồn tại Đặc biệt, mỗi khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm thì chất sử thi lại dâng lên
và phát triển thành khuynh hướng sử thi Điều này lí giải nguyên nhân vì sao khuynh hướng sử thi phát triển nở rộ trong giai đoạn văn học Cách mạng
1945 - 1975
Trang 148
Khuynh hướng sử thi trong văn học được biểu hiện ở ba phương diện:
đề tài - chủ đề, hình tượng nhân vật và ngôn ngữ - giọng điệu Về đề tài - chủ
đề, văn học theo khuynh hướng sử thi hướng đến cái chung, đến sự nghiệp giải phóng dân tộc “Những chủ đề bao trùm trong nền văn học là những vấn
đề về vận mệnh của cộng đồng; hiện thực mà văn học phản ánh là hiện thực lịch sử dân tộc” [12-tr.21] Về hình tượng nhân vật, văn học xây dựng những hình tượng nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng chung, đại diện cho ý chí và phẩm chất của cộng đồng Họ là những con người mang tầm vóc lớn lao của đất nước, chiều sâu của lịch sử, tiêu biểu cho ý chí chiến đấu kiên cường, cho sức sống bất diệt, cho lí tưởng và lẽ sống của thời đại Về ngôn ngữ - giọng điệu, giọng điệu mang tính sử thi là giọng ngợi ca, hào hùng Nếu đề cập đến cái đau thương, mất mát, hi sinh thì cũng phải là giọng bi hùng, bi tráng chứ không bi lụy “Văn học theo khuynh hướng sử thi cũng tất yếu tìm đến những phương thức nghệ thuật phù hợp với nội dung sử thi, đồng thời cũng tạo nên giọng điệu đặc trưng là giọng ngợi ca, trang trọng” [12-tr.22]
1.1.2 Khuynh hướng sử thi trong văn học giai đoạn 1945 đến nay
Trong giai đoạn 1945 - 1975, khuynh hướng sử thi phát triển nở rộ và mạnh mẽ nhất, nó trở thành khuynh hướng chủ đạo bao trùm nền văn học Khuynh hướng sử thi phát triển rực rỡ ở nhiều thể loại như thơ, truyện ngắn
và kí - những thể loại ngọn nhẹ về dung lượng, dễ dàng tiếp cận hiện thực và ghi chép một cách nhanh chóng, kịp thời những sự kiện nóng bỏng, phù hợp với điều kiện chiến tranh Trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, khuynh hướng sử thi lại càng phát triển mạnh mẽ hơn, cùng với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết đã đánh dấu nhiều thành tựu của tiểu thuyết chiến tranh
Sau 1975, cùng với dư âm của cuộc kháng chiến chống Mĩ, văn xuôi chủ yếu vẫn “trượt theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc) Đề tài về chiến tranh
và người lính vẫn là mối quan tâm, khai thác hàng đầu của các nhà văn Mặc
dù có những manh nha đổi mới nhưng nhìn chung, khuynh hướng sử thi của giai đoạn văn học trước vẫn còn tồn tại và được thể hiện rõ trong các tác phẩm văn học Càng về sau thì nhu cầu đổi mới trong văn học càng rõ rệt và bước vào một chặng đường mới, cảm hứng thế sự dần chiếm ưu thế trên văn đàn Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài
Trang 159
này mới có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn, ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường” [11] Tiêu biểu cho xu hướng đổi mới đó phải nhắc đến là Nguyễn Minh Châu - “người mở đường tinh anh
và tài năng nhất” (Nguyên Ngọc) Đến đây thì khuynh hướng sử thi đã chính thức nhường chỗ cho cảm hứng thế sự: “sẽ đến lúc con người trèo lên sự kiện
để đòi quyền sống” [1]
Từ năm 1986 trở đi, văn học có sự đổi mới toàn diện và mạnh mẽ Đề tài viết về chiến tranh đã có những bước cách tân đột phá ấn tượng Hiện thực chiến tranh được khai thác ở những góc độ nhạy cảm, táo bạo Trong những sáng tác thuộc cảm hứng này, khuynh hướng sử thi vẫn còn tồn tại nhưng không thật sự rõ rệt Bên cạnh đó, trong bối cảnh đổi mới bùng nổ ấy, vẫn có một số ít tác giả thủy chung với cảm hứng sử thi Tuy nhiên, diện mạo văn xuôi của giai đoạn này là do cảm hứng mới quyết định
Nhìn chung, trong những sáng tác văn học đổi mới sau này, dù nổi lên trên bề mặt câu chữ hay ở tầng sóng ngầm ý nghĩa thì cảm thức sử thi vẫn luôn tồn tại Chu Lai là một trong những nhà văn dung hòa được cả những cách tân tiến bộ của thời đại và cái cổ điển của quá khứ trong những tác phẩm của mình
1.1.3 Khái niệm cảm thức sử thi
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cảm thức là điều nhận thức được bằng cảm quan hay nhận thức cảm giác” Theo đó, cảm thức sử thi là cảm thức bắt nguồn từ bên trong tâm hồn, sâu trong tiềm thức của mỗi con người Đó là tình yêu đất nước, niềm tự hào về sức mạnh của dân tộc Cảm thức sử thi có trong khuynh hướng sử thi song không hoàn toàn là một Khuynh hướng sử thi có động lực từ bên ngoài, chịu sự tác động và chi phối của bối cảnh lịch sử
- xã hội nên phát triển mạnh trong văn học giai đoạn 1945 - 1975 Cảm thức
sử thi được hình thành từ truyền thống và là nguồn mạch được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác Khi gặp được hoàn cảnh thích hợp thì nó “bùng lên”, phát triển mạnh mẽ thành khuynh hướng, trào lưu, chi phối mạnh mẽ xu hướng vận động của giai đoạn văn học
Trang 1610
Cụ thể, trong những tác phẩm văn chương thời kì đổi mới được viết theo cảm hứng thế sự vẫn chứa đựng những nét đặc trưng của cảm thức sử thi, bởi cảm thức ấy luôn có bên trong ý thức của nhà văn Đặc biệt ở đề tài chiến tranh - mảng đề tài có sự cách tân mạnh mẽ và sâu sắc thì cảm thức sử thi cũng được thể hiện đa dạng, chân thực và sinh động hơn Dù chiến tranh được nhìn nhận dưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau thì với các nhà văn đây vẫn là cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Họ tự hào về vẻ đẹp phẩm chất và
ý chí, về truyền thống vẻ vang của con người Việt Nam Hiện thực chiến tranh có thể được tái hiện tàn khốc, đau thương nhưng vẫn luôn có sự hào hùng của những chiến thắng đáng ngợi ca Hình tượng nhân vật, tiêu biểu là hình tượng người lính dù ở trong bối cảnh nào cũng có sai lầm, hèn nhát, ích
kỉ, có những dục vọng đời thường, có khổ đau dằn vặt, nhưng bên cạnh đó, ở
họ vẫn tồn tại những phẩm chất tốt đẹp như dũng cảm, kiên cường, cùng tinh thần sẵn sàng chiến đấu Giọng điệu chủ đạo là “bi ca” nhưng xen vào đó là giọng “anh hùng ca” tráng lệ về một quá khứ hào hùng của dân tộc Tất cả đã tạo nên một cảm thức sử thi tồn tại trong những sáng tác của nền văn học thời
kì đổi mới
1.2 Chu Lai với tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn học
1.2.1.1 Cuộc đời
Chu Lai tên đầy đủ là Chu Văn Lai, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1946 Quê gốc ở thôn Tam Nông, xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên (nay là huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng Yên) Tuy nhiên, gia đình ông đã chuyển lên Hà Nội sinh sống
từ lâu Vì vậy, trong ông dung hòa giữa cái ngọt ngào, giản dị của vùng quê thanh bình với cái cốt cách lịch lãm của mảnh đất hà thành
Thân sinh của ông là Học Phi - nhà cách mạng kiêm kịch gia nổi tiếng Chu Lai từng nhớ lại: nhà chật, nằm ngủ trong ngậm giường vẫn nghe cha đàm đạo văn chương với bạn văn nghệ sĩ như Thế Lữ, Đào Mộng Long Thế
là “Những ngôn ngữ nghệ thuật ấy nhập vào anh em tôi từ tấm bé” Sinh ra trong gia đình có cha làm văn chương nghệ thuật nên Chu Lai đã sớm được tiếp xúc với văn học Đó là một trong những tiền đề để ông có thể trở thành một cây bút có sức vóc sau này
Trang 1711
Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Chu Lai vào học đại học Hết năm thứ nhất, ông nhập ngũ khi cả nước đang mịt mù trong khói lửa, súng đạn của cuộc chiến tranh Ban đầu, ông làm diễn viên của đoàn kịch Tổng cục Chính trị nhưng sau đó đã chuyển sang đơn vị đặc công chiến đấu hoạt động ở vùng ven sông Sài Gòn Bởi ông nhận ra mình thật vô duyên biết bao khi hàng ngày son phấn trên sàn diễn trong khi đó có biết bao nhiêu con người đang dũng cảm chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước Đóng quân cách thành phố 15km
mà phải đến mười năm sau ông mới được vào thành phố ngày giải phóng Nhà văn tính ra, mỗi năm đồng đội của ông đi được 1,5 km, những để đi được mỗi cây số rưỡi ấy thì phải để lại xác của hàng ngàn đồng đội Hoàn cảnh chiến đấu âm thầm mà đầy ác liệt, gian khổ, nguy hiểm đã trở thành một vốn sống vô cùng quý giá của người chiến sĩ trẻ Chu Lai và đặc biệt là cho sự nghiệp văn chương của ông sau này Những năm tháng chiến trường, những
kỉ niệm thành máu thịt, thành ruột gan mà ông đã từng trải giờ đây quay lại hóa thân, chắt lọc vào từng trang văn Chu Lai từng tâm sự: “Chiến tranh chưa bao giờ thôi ám ảnh tôi”, “Chiến tranh chưa bao giờ là ngày hội Tôi may mắn trở về đến nỗi tôi cảm giác thấy có tội với bạn bè”
Trở lại với cuộc sống thời bình, Chu Lai là một nhà văn rất gần gũi với độc giả Ông thường xuất hiện trên truyền hình với tư cách là khách mời, trên báo chí, trong những cuộc phỏng vấn,… cũng có khi, Chu Lai dành cả giờ đồng hồ để “chat” với các khán giả, độc giả yêu mến mình, trả lời mọi ý kiến, thắc mắc bằng phong cách nói chuyện rất hóm hỉnh, có duyên và sâu sắc Bởi vậy, mặc dù là nhà văn chuyên viết về chiến tranh và người lính nhưng những sáng tác của ông được biết đến và được yêu mến không chỉ ở những người già, người trung tuổi mà ngay ở cả những người trẻ tuổi
Chu Lai cũng là một con người nhạy bén Ông sống đầy đủ bằng chính nghề viết văn của mình Sách của ông được in nhiều và rất “ăn khách” dù các tác phẩm của ông viết về một đề tài đã cũ của quá khứ, một mảnh đất đã được rất nhiều những nhà văn khác “cày xới”, khai thác Để tránh nhàm chán cho bạn đọc, Chu Lai đã mở rộng không gian chiến trận với rất nhiều diễn biến, tình tiết khác nhau Nhà văn tự bạch: “Tôi biết rằng, nếu cứ viết mãi về vùng ven sông Sài Gòn, về miền Đông Nam Bộ, nơi tôi đã từng chiến đấu, thì chắc
Trang 1812
chắn sẽ nhàm chán Nhưng tôi đã mở rộng đề tài ra các vùng chiến địa khác
Tôi mở rộng lên Tây Nguyên với tiểu thuyết Khúc bi tráng cuối cùng, và với
Mưa đỏ, tôi mở rộng tiếp ra chiến trường Quảng Trị” [8] Bên cạnh đó, trong
những “đứa con tinh thần” của mình, Chu Lai cũng có lúc xa rời chiến sự để trở về với thế sự
Đối với sự nghiệp văn học, Chu Lai là một nhà văn rất tâm huyết, nghiêm túc Ông tâm sự: “Người cầm bút sáng tác miệt mài ngày này sang ngày khác Đấy là thành tích, thành công chứ không phải là những gì hào nhoáng, lộng ngôn, lập ngôn, lập danh” [18-tr.10] Một nhà văn chân chính cần phải: “Văn đàn là nơi thể nghiệm, là nơi các nhà văn dồn tâm tư, uẩn khúc, báo động cho cuộc đời biết thiện, ác, đối kháng thế nào Anh phải đặt được ý tưởng tranh luận, nhưng phải là ý tưởng nhân văn chứ không phải bệnh hoạn” [15-tr.7] Bên cạnh đó, ông còn bộc lộ quan niệm của mình về mốii quan hệ giữa văn học với bạn đọc: “Cứ viết đi Chỉ có một hiện thực duy nhất là tung được những nắm đấm thẩm mĩ vào lòng người đọc khiến cho họ vui buồn tột cùng và sau đó tin yêu vào cuộc đời hơn” [6-tr.39] Đối với Chu Lai, nghề văn là nghề “tự ăn óc mình”, “viết văn là nghề khổ nhất trong đời” nhưng bản thân ông lại không thể thoát ra khỏi nó Ông gắn bó sâu nặng với cây bút, với những trang sách và với cả những năm tháng chiến đấu Chu Lai viết văn như một sự giải tỏa cho bản thân và cho quá khứ: “Những năm tháng cắm mặt vào màn hình máy tính, dường như đã cho tôi sống lại những năm tháng tuổi trẻ đầy hứng khởi với chiến trường của mình ngày xưa.” [8]
Có thể nói, điều đáng quý nhất cuộc đời của Chu Lai là những năm tháng binh nghiệp Nó góp phần quan trọng tạo nên một nhà văn Chu Lai như chúng ta thấy ngày hôm nay, cùng với hàng loạt tác phẩm văn học dành riêng cho những người lính mang những nét độc đáo và chân thực nhất từ một con người từng trải
1.2.1.2 Sự nghiệp văn học
Cho đến nay, Chu Lai là một trong những nhà văn mặc áo lính đã có những thành công xuất sắc trong việc khai thác ngòi bút của mình ở đề tàichiến tranh và người lính Với Chu Lai, ông viết văn như để trả một món
Trang 1913
nợ với chiến trường, nhưng dường như càng viết món nợ ấy lại càng nặng thêm: “Với món nợ chiến trường, riêng nhà văn chưa bao giờ cảm thấy nó được vơi bớt, mà chỉ càng dày thêm, đầy thêm Còn bao cuộc đời, bao số phận của những con người đã qua chiến đấu, đến nay trở về, lại tiếp tục oằn mình trong cuộc chiến đấu mới để mưu sinh Đó là cảm giác, viết xong càng thấy nặng nợ!” [4]
Trong hơn bốn mươi năm cầm bút cùng với sức sáng tạo không ngừng, Chu Lai đã xây dựng được cho mình một sự nghiệp văn học tương đối lớn trong đó có rất nhiều tác phẩm giá trị ở nhiều thể loại khác nhau, đặc biệt là ở mảng tiểu thuyết Có thể kể đến những đóng góp của Chu Lai qua những tác phẩm tiêu biểu ở các lĩnh vực như sau:
Tiểu thuyết: thể loại mà Chu Lai thành công nhất, gồm các sáng tác:
Nắng đồng bằng (1978), Đêm tháng hai (1979), Gió không thổi từ biển
(1984), Sông xa (1986), Vòng tròn bội bạc (1987), Bãi bờ hoang lạnh (1990),
Ăn mày dĩ vãng (1991), Phố (1993), Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Người im lặng (2005), Chỉ còn một lần (2006), Hùng Karo (2010), Mưa đỏ (2016),… Trong đó, có bốn cuốn
tiểu thuyết đạt giải cao như: Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Phố và Mưa
đỏ Có hai cuốn tiểu thuyết được chuyển thể thành phim là: Ăn mày dĩ vãng
(chuyển thể thành phim Người đi tìm dĩ vãng) và Phố (chuyển thể thành phim
Người Hà Nội)
Truyện ngắn: Người im lặng (1976), Đôi ngả thời gian (1979), Phố nhà
binh (1992),… Các truyện ngắn của ông được tập hợp và in trong cuốn Truyện ngắn Chu Lai (2003)
Kịch: Hà Nội đêm trở gió, Người mẹ tự cháy, Hà Nội 12 ngày đêm,… Ngoài ra, Chu Lai còn viết ký sự Nhà lao Cây dừa (1992) và tập truyện viết cho thiếu nhi Út Teng (1983)
Những sáng tác của Chu Lai đã có những đóng góp không nhỏ cho văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học ở mảng đề tài chiến tranh nói riêng Ông đã viết, đang viết, sẽ viết Sự sung mãn của ông ở mảng đề tài này khiến cho người ta nghĩ rằng dường như Chu Lai sinh ra để viết về chiến
Trang 2014
tranh với bản chất đích thực của nó Năm 2007, Chu Lai được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
1.2.2 Đôi nét về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
1.2.2.1 Tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc
Tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc được Chu Lai viết năm 1987 với đề tài
người lính thời hậu chiến Nhân vật chính là Phạm Hoài Linh - một người lính vừa từ chiến trường miền Nam trở về, sau khi quân Mĩ thua trận và chiến tranh kết thúc Trở về với cuộc sống thời bình, Linh làm phóng viên cho một tòa soạn Tuy nhiên, anh không thể nào thích nghi lại với cuộc sống, dần trở lên lạc lõng, cô đơn trong chính gia đình và xã hội đổi mới Không những thế,
bi kịch là khi anh quyết tâm đấu tranh muốn dẹp bỏ cái xấu, cái ác trong xã hội mới thì bất ngờ phát hiện người mà mình đang đối đầu chính là bạn chiến đấu của mình năm xưa - Huấn Với bản lĩnh can trường của người lính và sự giúp đỡ của Khâm - bạn cùng tòa soạn, Linh quyết đối đầu với thế lực đen tối Nhưng đến cuối, anh đã bỏ cuộc và bỏ đi mất tích khi nhưng người bạn của anh đã làm gần trọn vẹn những điều anh còn dang dở
Xoay quanh cuốn tiểu thuyết này đã có một số nhận định và nhận xét như sau: Bùi Việt Thắng đã nhận xét: “Viết về chiến tranh còn có ý nghĩa là
viết về hậu quả của nó, Vòng tròn bội bạc của Chu Lai xoáy vào vết thương
chiến tranh trong lòng người và cách thức của con người chữa trị vết thương
đó” [17] Mai Hương thì cho rằng: “Từ cuốn tiểu thuyết đầu tay Nắng đồng
bằng đến tiểu thuyết Sông xa và nhiều tập truyện ngắn sau đó, Chu Lai tiếp
tục khám phá những bí ẩn chiến tranh và người lính Tất cả đều được viết với
cảm hứng ngợi ca và bút pháp dung dị, chân thật Tiểu thuyết Vòng tròn bội
bạc đánh dấu một giai đoạn mới bút pháp của Chu Lai từ cách tiếp cận, lí giải
hiện thực đến nghệ thuật biểu hiện của tiểu thuyết” [7]
Vòng tròn bội bạc vẫn là tác phẩm có khá ít đánh giá và nhận định từ
các nhà nghiên cứu, tuy nhiên đây vẫn là cuốn tiểu thuyết khá tiêu biểu trong sáng tác của Chu Lai về đề tài người lính thời hậu chiến
1.2.2.2 Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng
Ăn mày dĩ vãng được viết vào năm 1991, đây là một trong những cuốn
tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn trong sáng tác của Chu Lai Cuốn tiểu
Trang 2115
thuyết đã đạt giải A viết về đề tài lực lượng vũ trang, Hội Nhà văn, năm 1992
và giải B, Bộ quốc phòng, năm 1994
Ăn mày dĩ vãng xoay quanh nhân vật chính là cựu chiến binh Hai
Hùng - một chiến sĩ giải phóng vùng ven đô Sài Gòn đã trở về với đời thường Câu chuyện bắt đầu khi Hai Hùng tình cờ gặp lại Ba Sương - người yêu đã chết của Hai Hùng trong chiến tranh giờ hiện hữu giữa hiện tại với một cái tên hoàn toàn mới Tư Lan và ở một cương vị mới là Giám đốc Sở lâm nghiệp nức tiếng ở miền Tây Điều này đã khiến cho Hai Hùng quyết định làm một cuộc hành trình tìm về quá khứ để truy tìm câu trả lời vì Tư Lan một mực chối bỏ thân phận của mình Hành trình này đã làm sống lại một thời quá khứ hào hùng trong chiến đấu của ông, đồng thời ông cũng tìm về những đồng đội chiến đấu năm xưa và quan trọng nhất là tìm được sự thật Tư Lan chính là Ba Sương ngày nào Trong cùng một thời điểm, kẻ ăn mày quá khứ (Hai Hùng) và kẻ chạy trốn quá khứ (Ba Sương) cùng song hành ngược chiều
và nhận ra nhau, mọi bí ẩn được hóa giải Cuối cùng, Ba Sương không chết trong chiến tranh mà chết đúng vào khoảng khắc khi hai người nhận ra nhau, tìm được nhau ở hiện tại - trong thời bình Tình yêu giữa họ vẫn vẹn nguyên nhưng hai người lại không thể ở bên cạnh nhau được nữa
Ăn mày dĩ vãng thể hiện một cách nhìn nhận khách quan về chiến tranh,
đề cao quá khứ, khẳng định chân lí “hiểu quá khứ sâu sắc ngần nào thì đỡ phải trả giá cho hiện tại ngần ấy” [14] Bên cạnh đó là đặc sắc về nghệ thuật, Nam Hà nhận định: “Phương pháp đan xen quá khứ và hiện tại trong 16 chương của tiểu thuyết, các chương về hiện tại và chương về quá khứ xen kẽ trong đó có những sợi dây vô hình nối kết với nhau liền lạc, là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm Nhân vật tiếp tục nhìn lại những gì đã qua một cách trung thực, dũng cảm để nắm chắc các quy luật; tìm tòi các mối liên
hệ sâu xa, phức tạp giữa quá khứ và hiện tại; đem lại cho hiện tại những điều mới mẻ, tốt đẹp; cổ vũ và thúc đẩy hiện tại tiến lên phía trước” [3]
Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng đã giúp cho tên tuổi của Chu Lai ngày càng
được khẳng định trên văn đàn nói riêng và đối với độc giả nói chung Kết thúc tác phẩm là một câu văn khiến cho người đọc không khỏi trăn trở, ngậm ngùi:
“Cuộc chiến tranh vừa qua có thể là trò đùa nhưng sự mất mát lại là có thật
Trang 2216
Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn tuồng nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch cả” [10-tr.399]
Nhìn chung, hai tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai có nhiều những cách tân theo hướng đổi mới của văn học sau 1986 Tuy nhiên, trong mỗi tác phẩm vẫn luôn tồn tại cảm thức sử thi được bắt nguồn từ sự trải nghiệm của một nhà văn từng khoác áo lính, từng chiến đấu dũng cảm để có được nền hòa bình như ngày hôm nay Tìm hiểu cảm thức sử
thi trong hai tác phẩm Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng chúng ta sẽ thấy
được nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Chu Lai; đồng thời, nó cũng lí giải nguyên do vì sao Chu Lai lại thành công đến vậy trong mảng tiểu thuyết chiến tranh thời hậu chiến
Tiểu kết chương 1
Bước sang thời kì Đổi mới, văn học Việt Nam hiện đại đã có những bước đột phá về tư tưởng trong nội dung phản ánh hiện thực, đáp ứng được nhu cầu của xã hội đương thời Đề tài viết về cuộc chiến tranh giành độc lập, thống nhất đất nước vẫn tiếp tục được các nhà văn khai thác, song không phải với cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi mà thay vào đó là cảm hứng thế sự, đời tư, với nhiều khuất lấp, mặt trái của chiến tranh Đây là quy luật vận động tất yếu của văn học nhưng người đọc vẫn nhận thấy trong sáng tác của một số nhà văn, đặc biệt là nhà văn quân đội (Chu Lai, Khuất QuangThụy…) màu sắc rõ nét của khuynh hướng sử thi đan xen cùng khuynh hướng thế sự, đời tư Cảm thức sử thi vẫn luôn là nguồn mạch vận động trong tâm thức, tiềm thức và thể hiện mạnh mẽ khi hướng ngòi bút của mình về chiến tranh về người lính Cảm thức sử thi trong sáng tác của họ cũng đã tạo nên những đặc điểm độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật, mở ra cái nhìn hiện thực phong phú, đa chiều về cuộc chiến tranh, về người lính cách mạng
Trang 2317
Chương 2: BIỂU HIỆN CẢM THỨC SỬ THI TRONG SÁNG TÁC CỦA CHU LAI SAU 1986
QUA VÒNG TRÒN BỘI BẠC VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG
2.1 Cảm thức sử thi biểu hiện qua đề tài và hình tượng người lính trong chiến tranh
2.1.1 Cảm thức sử thi được biểu hiện qua đề tài người lính trong chiến tranh
Cảm thức sử thi thể hiện niềm tự hào đối với những truyền thống, những giá trị tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Một trong những điều tự hào nhất của đất nước chính là ba mươi năm kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ toàn vẹn bờ cõi, chủ quyền quốc gia, viết nên những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc Cụ thể, đó là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mĩ (1954 -1975) Bên cạnh đó, cuộc kháng chiến ấy còn thể hiện được những phẩm chất, đức tính tốt đẹp đáng ngợi ca và tự hào của con người Việt Nam Vì vậy, một trong những đề tài nổi bật của cảm thức
sử thi đó chính là đề tài viết về chiến tranh cách mạng và những người lính
Trong những tác phẩm được viết trong thời kì chiến tranh như Dấu
chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Rừng xà nu của Nguyễn Trung
Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi,… chúng ta thấy một
không gian chiến trận mang đậm chất sử thi Không khí của cuộc kháng chiến
vô cùng ác liệt, gian lao, có đau thương, hi sinh mất mát nhưng âm hưởng chung vẫn là cảm xúc tự hào Đau thương là thế, chết chóc là thế nhưng những đoàn quân vẫn nối đuôi nhau vượt Trường Sơn đi cứu nước Họ ra đi
mà trong lòng phơi phới, chan chứa niềm tin vào tương lai, cùng tình yêu quê hương đất nước và tinh thần chiến đấu mạnh mẽ Hiện thực chiến tranh hiện lên với đầy đủ những gam màu sáng tối, nhưng gam màu sáng là chủ đạo Đó
là những thắng trận vẻ vang, là những chiến công của những chiến sĩ tài ba, quả cảm Sau 1975, đặc biệt là sau Đổi mới 1986, chiến tranh vẫn là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn khai thác, nhưng mảnh đất ấy đã đau thương hơn, mất mát nhiều hơn, dường như không tìm thấy cảm thức sử thi, tự hào trong đó
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã đem lại một cái nhìn mới về hiện thực
chiến tranh Chiến tranh là nỗi buồn, là chết chóc, là sự tổn hại của nhân tính,
Trang 2418
là những vết thương chiến tranh mãi mãi không lành, là những sai lầm và sự
tự thú, sám hối, Chiến tranh chính là “nỗi thống khổ đau đớn” của dân tộc
Nhưng Chu Lai thì lại khác Trải qua những năm tháng đau thương, tàn khốc của chiến tranh, từng cầm súng chiến đấu, từng niếm trải những nỗi đau trận mạc, từng chứng kiến sự hi sinh của đồng đội làm cho văn ông thêm mạnh mẽ, “chính sự khốc liệt đó tạo ra một thứ mùi rất Chu Lai đấy!” Bởi vậy, không gian chiến trận trong tác phẩm có đau thương, hi sinh nhưng vẫn
có sự tự hào, trong bi thương vẫn có anh hùng ca tráng lệ Đó chính là biểu hiện của cảm thức sử thi trong sáng tác của Chu Lai, đặc biệt ở hai cuốn tiểu
thuyết Vòng tròn bội bạc và Ăn mày dĩ vãng
2.1.1.1 Hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh
Chu Lai - nhà văn từng khoác áo lính, từng chiến đấu mười năm ở vùng ven đô Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt của dân tộc, bởi vậy
mà hiện thực gian khổ, khốc liệt của cuộc chiến ấy vẫn luôn được in bóng trong những “đứa con tinh thần” của ông Nhà văn đã tái hiện chiến tranh đúng như những gì mà ông đã trải qua Và chiến tranh trước tiên là phải khốc liệt, phải có đau thương, mất mát
Đến với hai cuốn tiểu thuyết trên, độc giả sẽ thấy được sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại Quá khứ chính là những năm tháng khốc liệt nhưng anh dũng của cuộc kháng chiến chống Mĩ, còn hiện tại chính là cuộc sống đời thường của những người lính trở về sau chiến tranh với những bỡ ngỡ, long
đong trong cơ chế thị trường Đặc biệt, trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng, trải
dọc theo suốt 16 chương của cuốn tiểu thuyết là sự đan xen của hiện tại và quá khứ Chặng đường nhân vật Hai Hùngđi tìm sự thật về cái chếtcủa người con gái với cái tên tên Ba Sương đã mở ra cho người đọc thấy được hiện thực của cuộc chiến ác liệt tại vùng ven đô Sài Gòn: “Địa bàn nơi ta đang ở là một vạt rừng mỏng, bên này sông Sài Gòn, bên kia lộ 13, luôn luôn có bốn sắc lính bất cứ lúc nào cũng có thể nổ súng vào giữa đầu mình: Mỹ, chủ lực, bảo
an, dân vệ” [10-tr.74]
Chiến tranh là khốc liệt, gian khổ, hiểm nguy, là cái chết luôn kề cổ, là
sự tổn thất, hi sinh sau mỗi trận chiến Mở đầu chính là trận đột nhập ấp chiến
Trang 2519
lược của đơn vị Hai Hùng: “Ấy là vào một đêm đột ấp chiến lược đầu tiên khi đơn vị anh vừa chân ướt chân ráo đến địa bàn mới để kiếm gạo kiếm mắm mang về rừng nuôi nhau… Tất cả tạo thành một đội quân đi cứu đói những tháng ngày trước 68 Mậu Thân” [10-tr.38-39] Cuộc đột ấp tưởng thuận lợi nhưng trên đường về đã bị mai phục của địch “khắp nơi, đằng sau, đằng trước, đạn vãi nổ rôm rốp như đá đổ vào mái tôn” [10-tr.42] Những trang văn tiếp theo, Chu Lai tái hiện những cuộc chiến đấu khác với sự khốc liệt, hiểm nguy của chiến tranh, sự tàn nhẫn của quân đội địch: “Thế là càn Một cuộc càn đánh đòn thù sinh tử của hải lục không quân vào chưa đầy một héc-ta đất rừng mỏng dính chạy dài theo triền sông Trên trời là hàng đàn trực thăng quần đảo tựa hồ đám chuồn chuồn báo mưa, dưới đất, hàng trăm chiếc xe bọc thép của chiến đoàn 52 thiện chiến bò chùi chũi như cua đồng tháng nắng, và ngoài bờ sông, các loài bo bo, tàu chiến vút qua vút lại dềnh cả sóng, cả rơm rác lên bờ…” [10-tr.114] Quân đội địch dội cả trăm trái bom xuống để tiêu diệt sinh lực của ta trong một mảnh rừng nhỏ mà lực lượng chưa đến hai chục con người: “Thoạt tiên là một loạt cối chừng năm trăm trái thực hiện khúc dạo đầu ồ ạt nhằm đánh sập ý chí kháng cự của không đầy hai chục con người ngay ở phút thứ nhất” [10-tr.114] Những “tiếng nổ nối đuôi, dằng dai dài bằng cả thế kỉ!” [10-tr.119] Chiến tranh khốc liệt đến nỗi, những ngày tưởng như được hòa bình thì lại càng tàn khốc, đau thương hơn: “Những ngày sau hiệp định Pari Bảy Ba là những ngày tột cùng cô đơn và cũng tột cùng khốc liệt đối với đám lính chiến bám trụ vùng giáp ranh chúng tôi… chạm khấc Bảy Ba thái bình, tưởng rằng thế là xong, là không còn chết chóc ở phía trước nữa nhưng rồi nó lại tiếp tục chảy, gian nan hơn, chết chóc hơn, thật là kinh khủng” [10-tr.196]
Nói đến chiến tranh là có máu đổ, có người chết, có hi sinh, tổn hại sau mỗi trận chiến: “Viên bị mìn Clâymo hất văng và bụi chuối cách đó ba mét, mình mẩy nát tươm mà không còn thở nữa” [10-tr.43] “Thêm thằng Viên nữa
là chẵn mười Xuống mười sáu, nay còn sáu, mất mát hơi nhiều những vẫn còn hơn là hết sạch” [10-tr.45] Chiến tranh là chấp nhận hi sinh để đổi lại thắng lợi về sau: “Năm ngày sau, vào giữa ngày rằm, để thoát ra được khỏi vòng vây và quật lại chúng một đòn đáng kể, khiến cho ba vành đai án ngữ
Trang 2620
tan tác, gãy vụn, khiến cho phong trào chiến tranh nhân dân toàn địa bàn tồn tại thêm được ít ngày, đơn vị tôi lại mất thêm gần một phần ba số quân Phần còn lại ngơ ngáo có chín thằng, phải nói là đã bại hoại sức chiến đấu, chỉ có thể làm được một động tác duy nhất là ôm nhau ngồi thở” [10-tr.213] Những đêm phục kích bò qua hàng rào dây thép gai đột nhập căn cứ địch: “hàng trăm loạt mìn, tạc đạn, đại niên phóng tới… Sáng ra, dứt khoát đối phương sẽ được mục đích những miếng thịt, vài mảng da đầu dính tóc vương vãi đó đây, vắt toòng teng trên lớp rào gai giá lạnh, ướt đẫm sương đêm,… [10-tr.213] Là số người kết nạp không theo kịp số người ngã xuống: “Số đảng viên kết nạp không theo kịp với số đảng viên ngã xuống; người vào đảng buổi chiều, buổi tối đã vĩnh viễn nằm lại hàng rào, toàn thân cháy đen chần chụi…” [9-tr.37]
Là những lần đột ấp trở về lại thiếu mấy người: “tao nhớ khúc sông Sài Gòn hồi ấy… chuẩn bị súng ống vào đột ấp và nửa đêm trở về lại thiếu mất mấy thằng” [9-tr.93] Sự hi sinh, mất mát đó không phải là ngày một, ngày hai mà
nó nối tiếp nhau qua cả một chặng đường, chặng đường hướng tới ngày thắng lợi hoàn toàn: “Chao ôi! Trận đánh! Những trận đánh Trận này nối tiếp trận kia, cái mất mát này nối liền cái mất mát khác, sự thành bại không ngớt đuổi theo nhau…” [10-tr.83]
Tuy nhiên, hiện thực của cuộc chiến tranh được Chu Lai tái hiện không chỉ có dữ dội, khốc liệt mà đôi khi lại rất lãng mạn, tuyệt đẹp như thể tất cả những chết chóc, đau thương của chiến tranh không hiện hữu Khung cảnh chiến tranh không chỉ có gam màu đen tối của khói lửa chiến tranh mà còn có gam màu lãng mạn của thiên nhiên: “Sông Sài Gòn vào kỳ trăng lặn, nước dâng đầy ăm ắp láng líp bờ Mặc kệ cho con người và chiến tranh tàn phá xơ xác ở hai bên, dòng sông vẫn yên ả trôi ngược trôi xuôi như dửng dưng, như ngạo mạn, như không đoái hoài gì tới những dã tâm toan tính lặt vặt, nhất thời, đáng thương hại của con người” [10-tr.79] Trong chiến tranh cũng có những giây phút yên bình đến thế, khi tiếng bom ngừng nổ nhường chỗ cho tiếng gà của cuộc sống êm đềm, bình dị: “Gà trong ấp đã eo óc gáy canh hai Tiếng gà của yên hàn, của đời thường ấm cúng vẳng vào tới đây nghe sao lạc lõng đến thế nhưng sao cũng da diết đến thế!” [10-tr.82] Là không gian thơ mộng: “Nước sông âm thầm vỗ sóng trễ nải vào bờ như ngàn năm nay nó
Trang 2721
không bao giờ trễ nải như thế Hỏa châu trôi lờ lững trên trời…” [10-tr.82] Lạc vào khung cảnh ấy, dường như những người lính có chút bình yên trong tâm hồn dù cho cuộc chiến tranh kia vẫn tiếp diễn và ngày chiến thắng thì vẫn chưa biết khi nào sẽ tới
2.1.1.2 Chiến tranh với những chiến thắng vẻ vang
Khác với những tác giả cùng thời trong giai đoạn văn học đổi mới Tác phẩm của Chu Lai dù có sự cách tân nhưng chiến tranh không chỉ có gam màu bi thương mà còn có gam màu hùng tráng Đó là những lần thoát khỏi sự bao vây của địch thành công, là những chiến thắng vẻ vang của đơn vị
Khi bị bao vây bởi “ba vòng toàn bọn sư 5 lọc lõi”, quân ta vẫn có thể thoát khỏi vòng vây thành công: “… thoát được ra khỏi vòng vây và quật lại cho chúng một đòn đáng kể, khiến cho ba vành đai án ngữ tan tác, gãy vụn, khiến cho phong trào chiến tranh nhân dân toàn địa bàn tồn tại thêm được ít ngày…” [10-tr.213] Hay trong trận đột ấp chiến lược bị địch phát hiện ra nơi ẩn náu, chúng ta vẫn rút khỏi an toàn: “Người ta bảo trước khi đám này ập được tới thì căn hầm ấy và cả những căn hầm khác đã được bà con hay cơ sở nội gián gì đó của các ông gài ngay trong đội hình bảo an đánh tháo được rồi” [10-tr.361]
Bên cạnh đó là những chiến thắng vẻ vang Sau trận đánh cam go, khốc liệt, tổng kết lại, vượt lên trên hi sinh đó là thắng lợi: “Buổi đột ấp tạm coi như thắng lợi, chỉ phải đổi mất mấy mạng người Thôi thế coi như là lãi” [10-tr.44]
Là những trận phản kích đồn địch thành công: “Cùng một lúc, 45 trái 40, 72 trái tạc đạn US, 540 viên AK có đầu đạn phá… giội lửa xuống, đốt cháy, xuyên thấu, xé lát… Cả khu chốt bỗng chốc bị san thành bình địa… nhà bạt cháy rụi, lô cốt rách toang, máu đọng thành vũng bầm đỏ như tiết đông, xương thịt nào trộn bùn đất, những thân người chết gục, những thân hình giần giật, cái mất chân, cái mất đầu, cái chỉ còn là một đống thịt băm có trộn cả hành băm húng tỏi…” [10-tr.163-164] Cuộc càn đánh đồn địch đã kết thúc thắng lợi Những trận thắng đã mang lại niềm vui, tinh thần lạc quan cho những người lính: “Ấy vậy nhưng trong những cánh rừng bom đạn không phải bao giờ cũng chỉ là chết chóc đau buồn… Đó là những niềm vui, lắm khi vui đến bốc trời… vui khi thắng trận trở về.” [10-tr.103]