Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (Heteroptera Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Hà Ngọc Linh
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
LOÀI BỌ XÍT BẮT MỒI (HETEROPTERA:
REDUVIIDAE) TẠI MỘT SỐ KHU BẢO TỒN
Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 8/2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Trang 2Hà Ngọc Linh
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
LOÀI BỌ XÍT BẮT MỒI (HETEROPTERA:
REDUVIIDAE) TẠI MỘT SỐ KHU BẢO TỒN
Ở TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 8 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Trương Xuân Lam
Hà Nội - 8/2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Hà Ngọc Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trương Xuân Lam, người đã hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số “106-NN.06-2015.35" và Quỹ học bổng NAGAO đã hỗ trợ kinh phí để tôi thực hiện đề tài này
Xin gửi lời cảm ơn tới cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo điều kiện, hỗ trợ để tôi được học tập và thực hiện luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình làm việc, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ hạn chế về nhiều mặt, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi
ý kiến đóng góp đó
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Hà Ngọc Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
4.Các điểm mới của luận văn 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 5
1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bọ xít bắt mồi trên thế giới 6
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bọ xít bắt mồi ở Việt Nam 14
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.4 Vật liệu nghiên cứu 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp thu mẫu bọ xít bắt mồi (theo Simpson, 1999; Steyskal et al., 1986; Nguyễn Hi Tuất, 1997) [2],[72],[73] 20
2.3.2 Mô tả hình thái của loài (theo Cai Wanzhi, 2004; Hsiao et al., 1981) [40] 22
2.3.3 Phân tích, bảo quản và làm tiêu bản mẫu vật (Steyskal et al.,1986; Ủy ban khoa học kỹ thuật, 1967) [16],[73] 22
2.3.4 Phương pháp định loại bằng hình thái 22
2.3.5 Phương pháp sinh học phân tử 23
Trang 62.3.6 Nghiên cứu sự phân bố và vai trò của một số loài bọ xít bắt mồi phổ biến
25
2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu 25
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Thành phần loài, sự phân bố và mức độ phổ biến của các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae ở một số sinh cảnh tại Tây nguyên 27
3.1.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi tại một số sinh cảnh tại đểm nghiên cứu 27
3.1.2 Sự phân bố và số lượng cá thế các loài bọ xít bắt mồi ở các sinh cảnh khác nhau tại các điểm nghiên cứu 36
3.2 Sự đa dạng của các loài bọ xít bắt mồi ở các SC nghiên cứu 48
3.2.1 Chỉ số đa dạng loài ở các sinh cảnh 48
3.2.2 Độ tương đồng thành phần loài bọ xít bắt mồi ở các sinh cảnh ở các điểm nghiên cứu 49
3.3 Sử dụng DNA barcoding trong định loại một số loài bọ xít bắt mồi 52
3.3.1 Nhân bản đoạn gen đích 52
3.3.2 Xác định trình tự nucleotide cho các mẫu nghiên cứu 53
3.4 Nghiên cứu vai trò của một số loài bọ xít bắt mồi phổ biến có giá trị trong việc đấu tranh sinh học 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae, bộ cánh khác Heteroptera (Insecta: Rhynchota) là một trong số các nhóm côn trùng phong phú, có ý nghĩa kinh tế và giá trị khoa học cao Trên thế giới, họ bọ xít bắt mồi Reduviidae có khoảng 7000 loài, thuộc 29 phân họ (Weirauch, 2008)[89] Chúng
có mặt trong tất cả các hệ sinh thái, thậm chí cả các khu vực xung quanh con người Nhiều loài trong số chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, chúng là những mắt xích quan trọng trong chuỗi và lưới thức ăn của động, thực vật, cũng như có vai trò trong sự cân bằng sinh thái, đồng thời, chúng còn là thiên địch của nhiều loài sâu hại nguy hiểm hoặc có vai trò chỉ thị cho các sinh cảnh rừng Hơn nữa, nhiều loài bọ xít bắt mồi Reduviidae có vai trò quan trọng trong việc chỉ thị và bảo vệ cây trồng (Ambrose, 1999)[18]
Tây Nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng và đa dạng về chủng loại Trữ lượng rừng gỗ tại đây chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước Diện tích rừng Tây Nguyên là 3.015,5 nghìn ha, chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước Nạn phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ, trồng cây công nghiệp, xây dựng các nhà máy công nghiệp, khu đô thị, khai thác khoáng sản không được kiểm soát đã và đang làm xói mòn và thoái hóa đất; tình trạng thiếu và ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc sụt giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài sinh vật khu trú ở đây Hậu quả là xảy ra tình trạng suy giảm số lượng và có thế làm biến mất nhiều loài đặc trưng, trong đó có các loài bọ xít bắt mồi họ bọ xít bắt mồi Reduviidae (Trương Xuân Lam, 2008)[7] Hiện nay, tại các Khu bảo tồn Thiên nhiên và vùng đệm thuộc các tỉnh ở Tây Nguyên, các loài bọ xít bắt mồi có nhiều taxon mới cho khoa học nhưng chưa được phát hiện và công bố, nhiều loài chưa được ghi nhận cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam Các thông tin và dẫn liệu về phân loại học của các loài bọ xít bắt mồi ở các khu bảo tồn thiên nhiên ở Tây Nguyên chưa được thống kê đầy đủ hoặc thiếu thông tin về mẫu vật, phân bố cho việc hệ thống Các dẫn liệu về tập tính, sinh học và sinh thái học của các loài phổ biến, có ý nghĩa kinh tế và loài chỉ thị cho sinh cảnh cũng như các mối quan hệ giữa chúng với vật mồi làm cơ sở cho việc đánh giá khả năng sử dụng chúng chưa được quan tâm, chú ý đúng với tiềm năng của nhóm bọ xít này Hơn nữa, ở hệ sinh thái tự nhiên do áp lực sự tăng nhanh dân số, mở rộng đất trồng cây công nghiệp (hồ tiêu, cà phê, ) và việc sử
Trang 8dụng các hóa chất trên cây công nghiệp đã làm tăng dư lượng độc hại và các hóa chất chưa phân hủy trong hệ sinh thái Các tác động bất lợi kể trên đã làm suy giảm nghiêm trọng thành phần và số lượng cá thể của loài bọ xít thuộc họ Reduviidae, mà ngoại trừ một vài loài thuộc phân họ Triatominae có thức ăn là máu của các loài động vật có xương sống, trong đó có cả con người, đa phần các loài bọ xít Reduviidae có thức ăn là các loài côn trùng nhỏ, trong đó có các loài sâu hại Việc các sinh cảnh rừng bị suy giảm và bị tàn phá, tình trạng sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp không ngừng gia tăng đã làm cho nhiều loài bọ xít thuộc họ Reduviidae bị biến mất hoặc bị tiêu diệt, nhiều loài trước đây đã được ghi nhận nhưng giờ khó có thể tìm thấy, nhiều loài có phân bố phổ biến thì nay rất hiếm gặp Đặc biệt là khả năng đấu tranh sinh học sâu hại trên các cây trồng và vai trò làm chỉ thị cho các sinh cảnh rừng của các loài bọ xít này dần dần bị biến mất cùng với sự biến mất của các sinh cảnh rừng tự nhiên (Đặng Đức Khương, 1990)[1] Để góp một phần bảo vệ tài nguyên côn trùng nói chung và các loài bọ xít nói riêng, cũng như phát hiện kịp thời các loài ghi nhận mới cho vùng nghiên cứu, cho Việt Nam, đồng thời đánh giá khả năng sử dụng của các loài có trá trị trong sử dụng đấu tranh sinh học chúng tôi tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu sự đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi
(Heteroptera: Reduviidae) tại một số khu bảo tồn ở Tây Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định thành phần loài, sự đa dạng loài, mức độ phổ biến, tỷ lệ bắt gặp
và đánh giá mức độ tiêu thụ một số vật mồi của các loài bọ xít bắt mồi phổ biến phục vụ cho phòng trừ sinh học cây trồng
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Những dẫn liệu về thành phần loài và sự đa dạng các loài bọ xít bắt mồi tại một số sinh cảnh ở khu vực Tây Nguyên, góp phần bổ sung các dẫn liệu khoa học còn ít ỏi trong nghiên cứu về các loài bọ xít bắt mồi ở khu vực Tây Nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung Các dẫn liệu thu được của đề tài là
cơ sở cho những nghiên cứu về hệ thống, sinh học, sinh thái và định hướng sử dụng bền vững loài bọ xít bắt mồi ở một số sinh cảnh ở khu vực Tây Nguyên, góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển và bảo tồn sự đa dạng của các loài côn trùng ở Việt Nam
Các dẫn liệu về khả năng sử dụng của các loài bọ xít bắt mồi trong việc diệt sâu hại cùng với các dẫn liệu về hình thái học của các loài phổ biến có giá
Trang 9trị về mặt kinh tế và khoa học sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà bảo vệ thực vật, cũng như các nhà quản lý đề xuất các giải pháp bảo vệ, duy trì và lợi dụng chúng trong biện pháp sinh học sâu hại trên các cây trồng Nông - Lâm nghiệp ở Tây Nguyên
4 Các điểm mới của luận văn
Lần đầu tiên hệ thống các dẫn liệu về thành phần loài, sự phân bố của các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae tại một số sinh cảnh ở khu vực Tây Nguyên
Bổ sung các dẫn liệu về sự đa dạng loài và số lượng cá thể của các loài
bọ xít bắt mồi họ Reduviidae tại một số sinh cảnh ở khu vực Tây Nguyên
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Họ Reduviidae có khoảng 7000 loài, thuộc 29 phân họ (Weirauch, 2008)[89] Chúng là một trong những nhóm côn trùng lớn thứ ba của bộ Hemiptera sau (Cicadellidae and Miridae) và phân bố trên toàn thế giới nhưng
sự đa dạng loài cao nhất ở khu vực nhiệt đới, thế giới cũ và thế giới mới (Maldonado 1990)[54] Chúng có mặt trong tất cả các hệ sinh thái trên cạn từ sa mạc đến rừng nhiệt đới và ngay cả các khu vực gần con người Nhiều loài trong
số chúng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn của động, thực vật, cũng như sự cân bằng sinh thái và là thiên địch của nhiều loài sâu hại nguy hiểm hoặc có vai trò chỉ thị cho các sinh cảnh rừng Hơn nữa, nhiều loài thuộc phân
họ bọ xít hút máu Triatominae (họ Reduviidae) lại có vai trò dịch tễ và là các véc tơ truyền bệnh nguy hiểm cho người và gia súc (Ambrose, 1999; Lent & Wygodzinsky, 1979)[18],[49] Việt Nam được biết đến với nhiều phát hiện khoa học mới cho các nghiên cứu về các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae trong vùng Đông Phương - Ấn Độ (Randall & James, 1995)[63]
Những năm gần đây do nạn phá rừng và sự khai thác quá mức vào tài nguyên rừng của người dân ở khu vực Tây Nguyên, nhiều sinh cảnh rừng tự nhiên ở đây đã bị suy giảm và tàn phá nghiêm trọng, đất rừng chuyển thành đất trồng cây công nghiệp gia tăng ở vùng đệm và đang có xu thế tăng nhanh trong vùng chính của các khu bảo tồn Ở hệ sinh thái tự nhiên, do áp lực của sự tăng nhanh dân số, sự mở rộng đất trồng cây công nghiệp (hồ tiêu, cà phê, điều, )
và việc sử dụng các hóa chất trên trên các sinh cảnh trồng cây công nghiệp đã làm tăng dư lượng độc hại và các hóa chất chưa phân hủy trong hệ sinh thái Dưới các tác động bất lợi kể trên, thành phần và số lượng cá thể của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae đã bị suy giảm nghiêm trọng,
mà các loài này đa phần là thiên địch của các loài côn trùng nhỏ trong đó có các loài sâu hại (ngoài trừ một số loài thuộc phân họ Triatominae sống nhờ máu của các loài động vật có xương sống, trong đó có cả con người) Việc các sinh cảnh rừng bị suy giảm và bị tàn phá, tình trạng sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp không ngừng gia tăng đã làm cho nhiều loài bọ xít bắt mồi thuộc
họ Reduviidae bị biến mất hoặc bị tiêu diệt, nhiều loài trước đây đã được ghi nhận nhưng giờ khó có thể tìm thấy, nhiều loài có phân bố phổ biến thì nay rất hiếm gặp Đặc biệt là khả năng đấu tranh sinh học sâu hại trên các cây trồng và
Trang 11vai trò làm chỉ thị cho các sinh cảnh rừng của các loài bọ xít này dần dần bị biến mất cùng với sự biến mất của các sinh cảnh rừng tự nhiên
Chính vì vậy đề tài được thực hiện, nhằm đưa ra dẫn liệu về mức độ đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc đánh giá chất lượng môi trường và sử dụng chúng để thực hiện các biện pháp đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng tại khu vực Tây Nguyên
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia) Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia, còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế
Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam)
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh, Trung Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk
và Đắk Nông, Nam Tây Nguyên tương ứng với tỉnh Lâm Đồng Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam
Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ trung bình năm khoảng 20oC, điều hoà quanh năm, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch cao trên 5,5oC Và có hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa của cả năm
Trang 12Tây Nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại Trữ lượng rừng gỗ chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước Diện tích rừng Tây Nguyên là 3.015,5 nghìn ha chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước Các cây dược liệu quý được tìm thấy ở đây như sâm bổ chỉnh, sa nhân, địa liền, thiên niên kiện, hà thủ ô trắng, sâm ngọc linh, và các cây thuốc quý có thể trồng được ở đây như atisô, bạch truật, tô mộc, xuyên khung, Hệ động vật hoang dã cũng rất phong phú có giá trị cả về kinh tế và khoa học Có tới 32 loài động vật quí hiếm như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu, công, gà lôi, [95]
1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bọ xít bắt mồi trên thế giới
1.3.1.1.Sơ lược về họ bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae)
Họ bọ xít bắt mồi Reduviidae là một trong những họ lớn của bọ cánh khác Heteroptera, tổng bộ Rhynchota, của lớp côn trùng Insecta Về mặt phân loại,
họ bọ xít bắt mồi được chia thành 32 phân họ (Maldonado, 1990)[54], tuy nhiên theo một số tác giả khác thì họ này chỉ chia thành từ 21-28 phân họ
Ở Việt Nam họ Reduviidae có 10 phân họ bao gồm: Ectrichodinae, Emesinae, Harpactorinae, Peiratinae, Reduviinae, Saicinae, Salyavatinae, Stenopodainae, Triatominae và Centrocneminae
Hình 1.1 Vị trí họ bọ xít bắt mồi Reduviidae trong bộ cánh khác Heteroptera
Trang 13Từ những hiểu biết về các đặc điểm hình thái chủ yếu dùng trong nghiên cứu phân loại các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae, những nghiên cứu
về sự đa dạng về cấu trúc hình thái của chúng đã được chúng tôi dựa trên cơ cở phân tích sự đa dạng của 4 đặc điểm hình thái của vòi, mảnh lưng đốt ngực trước, phần đệm ở đốt ống chân và cánh
Vòi của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường có 4 dạng chính, đó là: Thẳng, hơi cong, cong và rất cong Phân tích các loài và dạng loài cho thấy phần lớn các loài bọ xít bắt mồi có vòi hơi cong (43%), tiếp theo là vòi cong (41%), sau cùng là các loài có vòi rất cong (15%) và chiếm tỷ lệ ít nhất là các loài có vòi thẳng (4%) Hơn nữa, trong 6 phân họ thu được tại Tây Bắc (Ectrichodinae, Harpactorinae, Peiratinae, Saicinae, Salyavatinae, Stenopodainae) phân tích hình thái vòi còn cho thấy: tại vùng Tây Bắc các loài thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae có hình thái vòi rất cong chỉ tập trung ở 2 phân họ Peiratinae và Ectrichodinae, trong đó Peiratinae chiếm 89% và Ectrichodinae chiếm 11%, 4 phân họ còn lại không phát hiện thấy hình thái vòi rất cong Hình thái vòi cong tập trung ở 3 phân họ Harpactorinae, Stenopodainae và Ectrichodinae trong đó Stenopodainae chiếm 57%, Harpactorinae chiếm 26% và Ectrichodinae chiếm 17% Hình thái vòi hơi cong tập trung ở 3 phân họ Harpactorinae, Saicinae và Salyavatinae trong đó Harpactorinae chiếm 88%, Saicinae chiếm 4% và Salyavatinae chiếm 8% Cuối cùng là hình thái vòi thẳng, qua điều tra ở Tây Bắc chúng tôi chỉ phát hiện các loài thuộc phân họ Harpactorinae có hình thái vòi dạng này Pronotum (mảnh lưng đốt ngực trước) của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường có
2 dạng chính: dạng có gai và dạng không có gai Phân tích các loài và dạng loài thu được tại điểm nghiên cứu nhận thấy số lượng các loài bọ xít bắt mồi không
có gai ở Pronotum chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 70% so với 30% là có gai Trong
đó các loài có hình thái Pronotum không gai tập trung chủ yếu ở phân họ Harpactorinae (chiếm 44%) Các loài thuộc 2 phân họ là Saicinae và Salyavatinae đều là các loài có hình thái Pronotum có gai ngược lại với các loài thuộc phân họ Ectrichodinae và Peiratinae đều là các loài có hình thái không gai ở Pronotum Phần đệm của đốt ống chân (Tibial pad) của các loài bọ xít bắt mồi thường có 2 dạng đó là có đệm và không có đệm Phân tích cho thấy 75% các loài thuộc họ bọ xít bắt mồi này đốt ống chân trước và giữa không có đệm
so với 25% là có đệm Các loài đốt ống chân trước và giữa có đệm đều thuộc phân họ Ectrichodinae và Peiratinae Phần cánh (Wing) của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường rất đa dạng và thường có các dạng là: có cánh thông thường, có cánh ngắn, có cánh nhỏ và không có cánh Phân tích và quan
Trang 14sát cánh nhận thấy các loài bọ xít bắt mồi này có cánh là chiếm trội hơn chiếm 96% so với các loài có cánh ngắn và có cánh nhỏ chiểm tỷ lệ 4% (Trương Xuân Lam, 2011)[8]
1 Tấm môi (tylus) 8 Đốt cơ sở của vòi 15 Đốt ống (tibia)
2 Tấm bên môi (jugum) 9 Tấm lưng ngực trước (Pronotum) 16 Đốt bàn (tarsus)
3 Đốt cơ sở đốt râu 10 Tấm mai lưng (Scutellum) 17 Chùy trước
4 Râu đầu ( anten) 11 Tấm đệm cánh trước (clavus) 18 Chùy sau
5 Mắt (eye) 12 Tấm cứng cánh trước (corium) 19.Đốt râu thứ nhất
6 Mắt đơn (ocelli) 13.Cánh màng (hymenoptera) 20.Bờ biên bụng
7 Vòi (Rostrum) 14 Đốt đùi (femur) 21.Sinh dục con cái
22 Sinh dục con đực
Hình 1.2: Một số đặc diểm hình thái của các loài bọ xít họ Reduviidae
(Loài Astimus intermedius, Miller, 1954)
Trang 151.3.1.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae)
Các nghiên cứu phân loại và phát sinh loài thuộc họ Reduviidae trong suốt 2,5 thế kỷ qua, việc phân loại họ Reduviidae vẫn chưa được giải quyết và rất nhiều taxa ở cấp giống, loài đang cần sửa đổi hệ thống phân loại hiện đại Đỉnh cao trong hoạt động phân loại ở Reduviidae xảy ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, dẫn đầu bởi nhà côn trùng học Thụy Điển, Carl Stål, cũng như William Lucas Distant và Gustav Breddin Bốn nhà khoa học, những người cùng đóng góp trên 40% của tất cả các loài tên hợp lệ trong họ Reduviidae và
là những nhân vật thống trị trong hệ thống phân loại họ Reduviidae khoảng giữa thế kỷ 20 như Norman Cecil, Egerton Miller (London), Henri Schouteden (Brussels), André Villiers (Paris), Petr Wolfgang Wygodzinsky (Rio de Janeiro, Tucumán & New York) Hai catalogue thế giới Putchkov và Putchkov 1986-1989; Maldonado 1990 được bổ sung bởi các danh mục địa phương và các danh mục tập trung vào phân họ Phymatinae Nghiên cứu phân loại gần đây trên Reduviidae cho thấy không thiếu các loài chưa được mô tả, nhưng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải sửa đổi phân loại toàn diện để lộ các loài đồng nghĩa giữa các taxa được mô tả (Bérenger, 2009; Cai et al., 2001; Ishikawa et
al, 2005; Weirauch 2006)[20],[24],[42],[88],
Dù dữ liệu lịch sử tự nhiên của phần lớn các loài bọ xít bắt mồi đều không đầy đủ, nhưng qua các quan sát cơ bản và các nghiên cứu chuyên sâu đã cho thấy một bức tranh gần đầy đủ trong thế kỷ trước Các nghiên cứu chỉ ra
rằng Reduviidae là thiên địch của một số loài Chân kép như giống Millipede
(Ectrichodiinae: Reduviidae) (Forthman & Weirauch, 2012)[34], mối như một số loài thuộc phân họ Salyavatinae, Harpactorinae (McMahan 1982; Bérenger & Pluot-Sigwalt 2009)[58],[20], kiến như một số loài thuộc phân họ Holoptilinae, Reduviinae (Weirauch et al 2006)[88], và nhện như một số loài Emesinae (Wignall & Taylor 2011)[72], ngoài ra còn có một số loài thuộc phân họ Triatominae hút máu động vật có xương sống (Lent & Wygodzinsky 1979; Schofield & Galvão 2009)[49],[67]
Phần lớn vật mồi của các loài bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) là các loài động vật chân khớp khác Đồng thời, chúng cũng biến đổi về mặt hình thái để thích nghi với từng loại vật mồi, như các loài ở phân họ Phymatinae, các loài
bọ xít vuốt bọ ngựa, chúng đã tiến hoá vuốt giống như chân loài bọ ngựa để bắt các loài ăn thịt khác, hay như ở một số loài thuộc phân họ Emesinae, các phần phụ dài cho phép chúng bắt vật mồi từ mạng nhện, trong một nhánh của phân
Trang 16họ Harpactorinae, một số loài đã bao phủ chân của chúng với các tuyến chất dính tự tạo ra để bắt mồi
Reduviidae cũng có vai trò quan trọng về mặt kinh tế Reduviidae là các loài săn mồi có lợi, thiên địch của các loài côn trùng gây hại nhưng đồng thời cũng là các vector mang bệnh có hại Tất cả các loài thuộc họ Reduviidae, thì
có các loài thuộc phân họ Triatominae (khoảng 139 loài) đều hút máu các loài động vật có xương sống, và là vector mang bệnh Chagas, gây nguy cơ đáng kể đối với sức khoẻ con người (Schofield & Galvão 2009)[67] Bệnh Chagas ảnh hưởng đến hầu hết các nước Trung và Nam Mỹ (Dias & Schofield 1999; Franco-Paredes et al., 2007)[30],[35] Bên cạnh đó, hơn 150 loài Reduviidae được biết đến là loài săn mồi của các loài côn trùng gây hại và một số loài được sử
dụng như thiên địch, đặc biệt, loài Pristhesancus plagipennis Walker được
dùng làm thiên địch của sâu đục thân bông (Grundy & Maelzer 2000)[38] Các
loài khác thuộc giống như Zelus và Sinea đang được nghiên cứu để sử dụng
trong quản lý dịch hại tổng hợp trên các loài sâu bướm và sâu đục thân (Cohen
& Tang 1997)[28]
Họ bọ xít bắt mồi Reduviidae được nghiên cứu ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX Theo Distant (1906,1919) đã ghi nhận được 335 loài thuộc 16 phân họ của họ Reduviidae ở khu hệ Ấn Độ[31],[32] Các nghiên cứu khác như: ở Argentina đã xác định 27 loài (Carmen Coscaron, 1990)[26], 89 loài thuộc 15 phân họ đã được công bố ở Australia (Malipatil, 1993)[55]
Maldonado (1990) và Randall & James (1995) đã ghi nhận họ Reduviidae có 22 phân họ và đã lên danh lục 6500 loài thuộc 930 giống[54],[63] Đến nay, các loài thuộc họ Reduviidae đã được bổ sung với số loài gần 7000 loài được mô tả trên toàn thế giới với 1000 giống, 29 phân họ trong đó phân họ Hacpartorinae là phân họ đa dạng nhất (Maldonado, 1990; Weirauch, 2008)[54],[89]
Tại Anh đã ghi nhận và xây dựng khóa định loại cho 56 loài bọ xít thuộc
họ Reduviidae (China & Miler, 1955)[27] Khoá định loại của 43 loài thuộc 11 giống của phân họ Harpactorinae đã được xây dựng ở Nicaragua (Ravichandran & Livingstone, 1992)[64]
Nghiên cứu bọ xít họ Reduviidae ở Hàn Quốc đã ghi nhận 99 loài thuộc
12 phân họ trong đó ghi nhận mới 35 loài ở miền Nam (Lee et al., 1994)[48] Tại Nhật Bản ghi nhận và mô tả 126 loài bọ xít họ Reduviidae và con mồi của chúng (Masaaki, 1993)[56], riêng phân họ Harpactorinae có giống mới
Trang 17Cosmosycanus đã được Ishikawa & Tomokuni (2004) phát hiện, mô tả giống
tiết và 6 loài ghi nhận mới cũng được Ishikawa et al (2005) công bố[41],[42]
Trung Quốc đến năm 1971, đã ghi nhận được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi (Cai et al., 2001)[21] Năm
1981 đã phát hiện và mô tả 237 loài thuộc 18 phân họ, trong đó phát hiện 9 loài mới thuộc phân họ Harpactorinae (Hsiao et al., 1981)[40] Năm 1988 cũng đã
mô tả hình thái 107 loài bọ xít họ Reduviidae ở vùng Đông Nam Trung Quốc (Li Yongxi et al., 1988)[51] Gần đây, 3 giống mới Yangicoris, Asiacoris và
Stalireduvius và 11 loài mới thuộc phân họ Harpactorinae với các mẫu vật thu
ở một số vùng ở Trung Quốc đã được mô tả giống tiết hình thái ngoài, cấu tạo sinh dục và các dẫn liệu ảnh minh họa (Cai et al., 1994,1995; Tomokuni & Cai,
2002, 2004)[22],[23],[75],[76] Năm 2006 đã phát hiện loài Maldonadocoris
annulipes Zhao, Yuan & Cai là loài mới thuộc phân họ Harpactorinae ở Trung
Quốc và mô tả, minh họa với mẫu chuẩn được lưu giữ ở bảo tàng côn trùng học
của trường Đại Học Nông Nghiệp Bắc Kinh, Trung Quốc Loài Platerus
pilcheri Distant, 1903 được công bố lần đầu tiên ở Trung Quốc và mô tả, minh
họa với một khoá định loại xây dựng cho giống này (Ping Zhao et al., 2014)[61]
Tại Iran đã ghi nhận 109 loài bọ xít họ Reduviidae với 24 giống thuộc 7 phân họ, trong đó ghi nhận mới 6 loài (Ghahari et al, 2013)[37]
Khoá phân loại của 168 loài bọ xít họ Reduviidae thuộc 11 phân họ với 6 giống, trong đó 16 loài mới cho khoa học ở khu hệ Nam Ấn Độ cũng đã được
kế thừa và bổ sung (Murugan et al.,1995; Livingstone & Murugan, 1998)[59],[50]
Ngoài ra các kết quả nghiên cứu bọ xít thuộc họ Reduviidae ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam cũng được nhiều tác giả thực hiện và công bố Như ở Đông Dương ghi nhận 11 loài thuộc 9 giống
bọ xít thuộc phân họ Harpactorinae (Vitalis, 1919)[87] Năm 1990, đã công bố
14 loài bọ xít bắt mồi bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ Pentatomidae có 2 loài thuộc giống Cazira và Dalpada (Ambrose, 1999)[18]
1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu về vai trò của các loài bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae)
Nghiên cứu về khả năng sử dụng các loài bọ xít thuộc họ Reduviidae và
sử dụng chúng cho chỉ thị cho các sinh cảnh rừng của chúng cũng được nghiên cứu (David & Ananthakrishnan, 2006; Price, 1975)[29],[62]
Trang 18Nhiều loài bọ xít thuộc họ Reduviidae có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát côn trùng gây hại, ở các cây công nông nghiệp như: lúa, đậu tương, bông, ngô , chúng cần được bảo tồn và tăng cường sử dụng trong kiểm soát sinh học cây trồng (Ambrose, 1999)[18]
Tại Ấn Độ, đã nghiên cứu khả năng tiêu thụ vật mồi của loài bọ xít bắt
mồi Coranus spiniscutis Reuter trong điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ
30 - 350C, ẩm độ 75 - 85% với vật mồi là loài sâu xanh Helicoverpa armigera
Nghiên cứu cho thấy khi 1 con trưởng thành cái có khả năng tiêu thụ vật mồi
trong 1 ngày từ 1-2 cá thể của sâu sâu xanh Helicoverpa armigera (Vennison et
al., 1990)[90]
Autralia đã nghiên cứu khả năng tiêu thụ con mồi của loài Bọ xít bắt
mồi Pristhesancus plagipennis (họ Reduviidae) trong các điều kiện nhiệt độ
22,5oC; 25oC và 30oC (vật mồi nuôi gồm trưởng thành loài ruồi dấm
Drosophila sp ấu trùng mọt bột Tribolium castaneum, sâu mọt Tenebrio molitor, thiếu trùng loài Biprorulus bibax và loài bọ xít xanh Nezara viridula) (James, 1994)[44] Khả năng sử dụng loài bọ xít bắt mồi
Pristhesancus plagipennis (họ Reduviidae) ở Australia đã được nghiên cứu để
tiêu diệt các loài ruồi dấm Drosophila sp., ấu trùng mọt bột Tribolium
castaneum, sâu mọt Tenebrio molitor và thiếu trùng loài hại Biprorulus bibax
và loài bọ xít xanh hại Nezara viridula (James, 1994)[44]
Ambrose et al., (1999) đã nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài Bọ xít bắt
mồi Acathaspis siva (họ Reduviidae) đối với 2 vật mồi là loài Camponotus
compressus và loài Dittopternis venusta cho thấy: lượng thức ăn tiêu thụ được
có mối quan hệ với mật độ con mồi[18]
Các loài bọ xít giống Sycanus (họ Reduviidae) có khả năng sử dụng cao phòng trừ các loài sâu hại cây trồng, đặc biệt như loài Sycanus versicolor có vai trò diệt sâu khoang Spodoptera litura, sâu xanh Heliothis armigera và một số
loài sậu hại khác hại trên cây đậu tương, cây bông và cây ngô (Selvamuthu & Ambrose, 1992)[66]
Malaysia đã nghiên cứu và xây dựng quy trình nhân nuôi trong phòng và
đã sử dụng thành công loài bọ xít bắt mồi Sycanus collaris để phòng chống bọ xít xanh hại đậu tương Nezara viridula trên cánh đồng (Khoo, 1990)[45]
Ở Ấn Độ đã đánh giá khả năng sử dụng của loài Rhinoceis marginatus (Fabr.) và Acanthaspis pedestris (họ Reduviidae) đối với một số loại sâu hại
trên một số cây trồng cho thấy 2 loài này có khả năng nhân nuôi để diệt sâu
xanh, sâu khoang, sâu đo, sâu tơ và mối hại cây trồng cho hiệu quả cao Nhân
Trang 19nuôi loài Rhynocoris kumarii (họ Reduviidae) thả ra cánh đồng để diệt sâu hại trên cây bông như sâu xanh Helicoverpa armigera, sâu khoang Spodoptera
litura và sâu róm Euproctis mollifera đã được thực hiện ở Ấn Độ làm giảm
việc sử dụng thuốc trừ sâu trên cánh đồng (Sahayaraj, 1994)[65]
Ở Trung Quốc, Shi đã nghiên cứu sử dụng loài Acanthaspis pedestris
trong việc phòng trừ mối hại công trình và đê điều Theo kết quả nghiên cứu của Maria et al (1999) thì cần phải bảo tồn vai trò diệt sâu của các loại bọ xít bắt mồi họ Reduviidae Sử dụng tối thiểu thuốc trừ sâu trên cây trồng công nghiệp cũng làm tăng vai trò của các loài bọ xít bắt mồi trên cánh đồng, đặc
biệt là các loài Acanthaspis pedestris trong việc phòng trừ sâu hại cây cà phê ở
Trung Quốc
Các kết quả nghiên cứu về vai trò dịch tễ của các loài bọ xít hút máu thuộc phân họ Triatominae (họ Reduviidae) đã chỉ rõ 3 loài bọ xít hút máu là
loài Triatoma infestans, Triatoma dimidiata và Rhodnius prolixus, 3 loài này là
“véc tơ chính” truyền bệnh ký sinh trùng đơn bào Tryanosoma cruzi gây ra bệnh Chagas cho người và các bệnh ký sinh trùng đơn bào cho động vật Các
loài là “véc tơ hoạt động” của bệnh Chagas (chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh
hiện hành) gồm 17 loài thuộc 3 giống Triatoma, Rhodnius và Panstrongylus (Lent & Wygodzinsky, 1979; Who, 2002)[49],[93] Loài bọ xít hút máu Triatoma
rubrofasciata (De Geer) là loài côn trùng dịch tễ trong danh lục các loài côn
trùng có ý nghĩa trong thế kỷ 21 ở Trung Quốc (Cai et al., 2001)[24]
1.3.1.4 Tình hình nghiên cứu về dữ liệu phân tử của các loài bọ xít bắt mồi
Hennig (1968 và các nghiên cứu trước) không đồng ý với ý tưởng rằng
hệ thống phát sinh loài dựa trên hệ thống hình thái học; tác giả cũng không tin rằng người ta có thể thiết lập các uy quyền cho các hệ thống lý tưởng mà không
sử dụng các giả thiết trước Tác giả cũng giải thích rằng giữa các cá nhân có thể thiết lập quan hệ di truyền bắt nguồn từ quá trình sinh sản ("quan hệ tocogenetic")[39] Tiếp sau đó các nghiên cứu phân tử đã tập trung vào phân tích các mối quan hệ của các loài thuộc phân bộ Cimicomorpha bao gồm một số loài Reduviidae (Schuh et al., 2009)[69] và đánh giá các mối quan hệ của các loài bọ xít bắt mồi hút máu thuộc phân họ Triatominae (Bargues et al., 2000; Paula et al., 2005)[19],[60] Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu phân tử phân tích dữ liệu hình thái cấp cao và tương đối toàn diện, đã được công bố gần đây về Reduviidae của Weirauch (2008)[89] có vẻ là bước tiến lớn trong việc nghiên cứu phân loại bọ xít bắt mồi Các nhóm ăn thịt khác nhau thuộc họ Reduviidae
Trang 20đã được đề xuất như là các nhóm chị em của nhóm nhỏ của Triatominae, do đó phân họ Triatominae được coi như nhiều nguồn gốc và dẫn đến nhiều kịch bản tranh luận về sự tiến hóa đa dạng của việc hút máu trong một nhóm động vật ăn thịt Trong những năm gần đây các nghiên cứu về phân tử được tiến hành nhiều hơn như: Nghiên cứu về phân loại, tiến hóa trong nhóm loài thuộc phân họ Triatominae cũng được tiến hành (Schofield & Galvão, 2009)[67] Nghiên cứu cây phát sinh chủng loại các loài bọ xít bắt mồi trên các gen ti thể và Ribosomal đã được tiến hành (Weirauch & Munro, 2009)[90] Nghiên cứu cây phát sinh chủng loại của phân họ Harpactorini nhằm đưa ra sự tương quan giữa chiến lược bắt mồi và sự tiến hóa về hình thái móng vuốt phù hợp với khả năng săn mồi các tác giả đã sử dụng 5 đoạn gen (28S D2, D3–D5, 16S, COI, and Deformed) và sử dụng các phương pháp phát sinh loài so sánh, đưa ra chứng minh mối tương quan chiến lược săn mồi bám dính, sự tiến hóa nhanh chóng của chân trước bắt mồi của các loài bọ xít ăn thịt (Zhang & Weirauch, 2013)[94] Nghiên cứu về cây phát sinh và địa sinh học của một số loài bọ xít bắt mồi ăn thịt động vật nhiều chân đặc hữu ở Madagascan đã được tiến hành (Forthman
& Weirauch, 2016)[34]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bọ xít bắt mồi ở Việt Nam
1.3.2.3 Tình hình nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae)
Từ những năm 1960 đến nay, các nhà khoa học của Việt Nam đã có những công bố sau đây:
Kết quả điều tra côn trùng năm 1967-1968 ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam đã ghi nhận 53 loài thuộc 10 phân họ (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976)[15]
Trong kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam của Uỷ ban khoa học nhà nước (1981) cũng đã định tên được 52 loài của 10 phân họ[16] Trong các năm tiếp theo, các nghiên cứu rất ít ỏi, chỉ dừng lại ở việc liệt kê danh sách loài của các tác giả như Đặng Đức Khương (1990)[1] đã định tên được 12 loài bọ xít bắt mồi ở Tây Nguyên; tác giả Trương Xuân Lam và Đặng Đức Khương đã ghi nhận 24 loài thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae tại Sơn La
và Hòa Bình năm 2000.[13] Năm 2004, tác giả Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn đã đưa ra danh sách của 68 loài (định tên 51 loài) trong 7 phân họ thuộc họ Reduviidae trên một số cây trồng Nông-Lâm nghiệp và vật mồi của chúng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam[9] Trong các công bố từ năm 2005 đến năm
2010, tác giả Trương Xuân Lam và cộng sự đã thống kê danh lục 78 loài thuộc
Trang 219 phân họ bọ xít bắt mồi (Truong Xuan Lam et al., 2005, 2006a,b,c, 2007, 2010)[79],[80],[81],[82],[83]
Từ năm 2011 đến nay, trong kết quả nghiên cứu về đánh giá đa dạng sinh học của các loài bọ xít họ Reduviidae ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Trương Xuân Lam đã kết hợp với các chuyên gia nước ngoài công bố cho khoa
học 1 giống mới Flexitibia Zhao, Pham, Truong & Cai, 2014, 3 loài mới
Empicoris montanus Ishikawa, Truong & Okajima, 2012, Empicoris laocaiensis Ishikawa, Truong & Okajima, 2012 và Flexitibia orientalis Zhao,
Pham, Truong & Cai, 2014 Các tác giả Ishikawa, Trương Xuân Lam và Okajima đã ghi nhận mới cho Việt Nam 13 giống, 33 loài với mô tả chi tiết, minh họa và cung cấp khóa phân loại cho 16 loài thuộc 4 giống, đưa ra danh lục cho 138 loài thuộc 9 phân họ (xác định tên được 105 loài), (Ishikawa, Truong Xuan Lam & Okajima, 2012; Zhao, Pham & Truong Xuan Lam & Cai, 2014; Trương Xuân Lam, 2011; Truong Xuan Lam et al., 2015)[43],[8],[85]
Trong hai năm 2007 và 2011, tác gỉả Trương Xuân Lam đã đưa ra danh sách loài của hai phân họ Peiratinae và Emesinae [6],[8]
Năm 2005, tác giả Trương Xuân Lam và cộng sự đã ghi nhận mới cho
Việt Nam giống Agyrius với loài Agyrius watanabeorum, đặc biệt, hình thái, bộ
phận sinh dục của loài này được minh họa chi tiết lần đầu[78] Trong các công
bố vào năm 2006, tác giả Trương Xuân Lam và cộng sự đã mô tả hình thái,
sinh dục, khoá định tên của 2 loài thuộc giống Astinus (Harpactorinae) cho Việt Nam với con cái loài A intermedius, lần đầu ghi nhận và xây dựng khoá phân loại của 4 loài thuộc giống Epidaus (Harpactorinae) cho Việt Nam với loài
Epidaus bachmaensis Truong & Cai, 2006 được phát hiện mới (Truong Xuan
Lam et al., 2006a,b,c)[79],[80],[81] Năm 2015, tác giả Trương Xuân Lam và các cộng sự đã đưa ra danh sách 65 loài thuộc 35 giống của phân họ Harpactorinae
ở Việt Nam (Truong Xuan Lam et al., 2015)[85] Năm 2016, tác giả Trương Xuân Lam đã ghi nhận 57 loài thuộc 28 giống 6 phân họ tại khu vực Tây Nguyên (Truong Xuan Lam, 2016)[86]
Trong các loài thuộc phân họ Salyavatinae, 5 loài thuộc 4 giống đã được
mô tả, ghi nhận mới cho Việt Nam, khóa phân loại được cung cấp; 1 giống mới
được phát hiện là Rhachicephala Truong & Cai, 2007 với loài chuẩn được mô
tả là loài Rhachicephala dilatibia Truong & Cai, 2007 (Truong Xuan Lam et
al., 2007)[82]
Gần đây, tác giả Trương Xuân Lam và cộng sự đã ghi nhận mới phân họ Centrocneminae (Reduviidae) cho khu hệ côn trùng Việt Nam với loài mới
Trang 22được phát hiện là Centrocnemis schaeferi Truong, Li & Cai, 2010 (Truong
Xuan Lam et al., 2010)[83]
Độ cao và sự thay đổi các sinh cảnh có ảnh hưởng đến số lượng cá thể cũng như tiềm năng đấu tranh sinh học sâu hại của chúng (Trương Xuân Lam, 2007)[6] Việc đốt rừng làm nương rẫy kéo theo sự suy giảm đáng kể số lượng loài nhóm bọ xít bắt mồi Reduviidae Tỷ lệ loài/giống (theo Duncan) trung bình
từ 1,50-1,68 giảm so với 1,20-1,26 ở các xã bị tác động (Trương Xuân Lam, 2008)[7] Một số đặc điểm sinh học của loài Sycanus falleni, Sycanus
croceovittatus (Reduviidae: Harpactorinae) cũng đã được nghiên cứu trong
điều kiện phòng thí nghiệm nhằm làm cơ sở cho việc sử dụng chúng trong phòng trừ sâu hại trên cây đậu tương, ngô và bông (Trương Xuân Lam, 2002a,b)[2],[3]
Trong các công bố năm 2007 và 2011, tác giả Trương Xuân Lam đã xác định được 59 loài bọ xít thuộc 7 phân họ với 15 vật mồi là các loài sâu hại trên cây trồng nông nghiệp và trong các vùng trang trại, vườn rừng, trong đó có 7 loài bọ xít phổ biến có tiềm năng cao trong phòng trừ sâu hại cây trồng và vai trò chỉ thị cho sinh cảnh rừng (Trương Xuân Lam, 2007, 2011)[6],[8] Hai loài bọ
xít bắt mồi phổ biến thuộc giống Sycanus có vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ cây trồng ở một số điểm miền Bắc, một số đặc điểm sinh học của loài
Sycanus falleni, Sycanus croceovittatus cũng đã được nghiên cứu trong điều
kiện phòng thí nghiệm, phổ thức ăn của 2 loài này là 13 loài sâu hại, vật mồi
chủ yếu của chúng là các loài sâu xanh, sâu khoang, sâu đo xanh, sâu đo Plusia
sp., sâu cuốn lá, sâu loang và bọ xít xanh trên cây rau, đậu tương, ngô và bông
(Phạm Huy Phong & Trương Xuân Lam, 2012; Trương Xuân Lam, 2002a,b)[13],[2],[3]
Năm 2004, tác giả Trương Xuân Lam đã nghiên cứu vai trò dịch tễ của các loài bọ xít hút máu thuộc phân họ Triatominae, trong đó, chỉ mới ghi nhận
sự có mặt của loài Triatoma rubrofasciata và Triatoma bouvieri có ở Vĩnh
Phúc (Trương Xuân Lam, 2004)[4] Những năm gần đây, loài bọ xít hút máu
Triatoma rubrofasciata có mặt ở nhiều khu dân cư đông đúc ở Miền Bắc và
loài này có sự gia tăng số lượng ở Hà Nội với nhiều lần tấn công và hút máu
con người Tại Hà Nội, loài bọ xít hút máu T rubrofasciata có tập tính sống tập
trung thành những ổ lớn với đủ các pha phát triển Một số dẫn liệu về sự phát
sinh phát triển của loài bọ xít hút máu T rubrofasciata đã được ghi nhận trong
phòng thí nghiệm và trong 1 năm thì loài bọ xít hút máu này chỉ có 1 thế hệ với
tỷ lệ gia tăng phụ thuộc rất nhiều vào sự có mặt của vật chủ để hút máu
Trang 23(Trương Xuân Lam và ctv, 2012; Truong Xuan Lam & Dujardin Jean Pierre, 2013)[10],[84]
Trang 24NỘI DUNG V
2.1 Đối tượng, thời gian v
2.1.1 Đối tượng nghiên c
Bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) thuộc bộ Cánh khác (Heteroptera), lớp Côn trùng (Insecta), ngành Chân kh
2.1.2 Thời gian nghiên c
Mẫu vật được thu thập trong 2 đợt (tháng 5/2017 v
Tham khảo các mẫu vật thu đ
ỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C
ợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
được chon gồm 4 sinh cảnh khác nhau:
ảnh rừng kín thường xanh (tập trung vình); (SC2) - Sinh cảnh rừng phục hồi là rừng ở phần chuyển tiếp
èo và vùng đệm (tập trung vào rừng nghèo, rảnh trảng cỏ, cây bụi (tập trung vào vùng đ
à (SC4) - Sinh cảnh gắn với các cây trồng công nghiệp (tập trung vào các nhóm cây quan trọng Hồ tiêu, Cà phê và Chè)
ảnh rừng kín thường xanh SC2 - Sinh cảnh rừng phục hồi
À PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) thuộc bộ Cánh khác (Heteroptera), lớp
ợc thu thập trong 2 đợt (tháng 5/2017 và tháng 7/ 2018)
ương xuân Lam và cộng sự trong các
ẫu ở một số điểm thuộc Khu bảo tồn Thiên nhiên Kon
ư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk
ợc chon gồm 4 sinh cảnh khác nhau:
ờng xanh (tập trung vào rừng giàu và
ừng ở phần chuyển tiếp
èo, rừng non và vùng
ào vùng đất trống có cây ảnh gắn với các cây trồng công nghiệp (tập
êu, Cà phê và Chè)
ảnh rừng phục hồi
Trang 25SC3 - Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi
- Bước đầu sử dụng dẫn liệu sinh học phân tử để định loại
bắt mồi ở các điểm nghi
ảnh trảng cỏ, cây bụi SC4 - Sinh cảnh gắn với các cây trồng
ọ tam giác nút mài với thể tích V=70-100 cm
c giết côn trùng bằng độc tố Ethyl acetate, N
ng mẫu (10x20 cm)
ản mẫu
Panh, kéo, bút lông, kim mổ
n vi soi nổi Olympus SZX7, kính lúp 2 mắt và kính lúp c
o quản mẫu
n 70%, Axelen, Clofukaly, Formol
sách ghi chép số liệu thí nghiệm và số liệu điều tra
ên cứu
ành phần loài và mức độ phổ biến của các lo(Heteroptera: Reduviidae) tại 4 sinh cảnh ở điểm ngiên cứu
ịnh các chỉ số đa dạng của các loài bọ xít bắt mồi ở các điểm nghi
ớc đầu sử dụng dẫn liệu sinh học phân tử để định loại
ắt mồi ở các điểm nghiên cứu
ảnh gắn với các cây trồng công nghiệp
80 cm
=15
100 cm3 Ethyl acetate, Naphthalene
t và kính lúp cầm tay
u tra
ức độ phổ biến của các loài bọ xít bắt mồi
ọ xít bắt mồi ở các điểm nghiên
ớc đầu sử dụng dẫn liệu sinh học phân tử để định loại một số loài bọ xít
Trang 26- Nghiên cứu một số vật mồi của các loài bọ xít bắt mồi phổ biến (Heteroptera: Reduviidae) phục vụ cho phòng trừ sinh học cây trồng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu mẫu bọ xít bắt mồi (theo Simpson, 1999; Steyskal et al., 1986; Nguyễn Hi Tuất, 1997) [72],[73],[14]
2.3.1.1 Xác định điểm thu mẫu
Tại mỗi một vùng điều tra, xác định địa điểm thu mẫu, tuyến khảo sát và thu mẫu, đối tượng có liên quan đến sự hiện diện của các loài bọ xít nghiên cứu, số lượng mẫu Thu thập các thông tin liên quan đến địa điểm thu mẫu như tên, địa điểm, tọa độ, độ cao, loại đất, thảm thực vật, điều kiện thời tiết (nhiệt
độ, ẩm độ, ) Sau đó tiến hành thu mẫu theo các phương pháp điều tra sau đây:
a) Điều tra ngẫu nhiên
Tại mỗi địa điểm thu mẫu tiến hành thu mẫu theo các điểm lựa chọn ngẫu nhiên, tùy thuộc vào các sinh cảnh để xác định sự phân bố và bắt các mẫu
bọ xít ngẫu nhiên có mặt Phương pháp này thường chỉ áp dụng cho các chỉ tiêu định tính hoặc thu bắt mẫu để kiểm tra sự tồn tại của các loài bọ xít trên các hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái nhân tạo sau khi bị tác động Điều tra tuân thủ theo nguyên tắc là điểm điều tra lần sau không được trùng với điểm lần trước
b) Điều tra theo tuyến
Tại vùng nghiên cứu, tiến hành điều tra sơ bộ để xác định và chọn lựa các tuyến điều tra có tính chất đại diện cho vùng nghiên cứu Các tuyến điều tra
có chiều dài từ 3 – 6 km, tuỳ thuộc vào sinh cảnh và độ cao của từng khu vực nghiên cứu Trên các tuyến điều tra, ghi chép thông tin các sinh cảnh, đo độ cao điều tra, tọa độ bằng GPS Sử dụng vợt côn trùng đường kính từ 35 - 40 cm hoặc bằng tay hoặc dùng vợt đập có đường kính 60 cm để thu các loài bọ xít xuất hiện Chụp ảnh các sinh cảnh, nơi sống cũng như các mẫu vật thu sống được Tiến hành điều tra thu mẫu trong các bụi cỏ hoặc các bụi cây thấp bắt gặp trên các tuyến điều tra Ghi chép tất cả các sô liệu về số lượng cá thể, các sinh cảnh bắt gặp, sinh cảnh bị tác động, tập tính, con mồi của các loài bọ xít bắt mồi để phục vụ cho việc phân loại và nghiên cứu ảnh hưởng các hoạt động đến chúng
Trang 27c) Điều tra bằng bẫy tại những địa điểm tiềm năng
Những địa điểm tiềm năng thường là những nơi ven suối hoặc chỗ đất
ẩm, tức là những nơi có khả năng trú ẩn của bọ xít hoặc thiếu trùng bọ xít Tiến hành sử dụng bẫy hố và bẫy đèn
Thời gian tiến hành bẫy đèn từ 18 giờ tới 22 giờ Các địa điểm bẫy đèn được bố trí xa cách nhau và có không gian thoáng rộng đại diện cho các sinh cảnh để thu mẫu Toạ độ, độ cao của điểm đặt bẫy được xác định bằng GPS Sử dụng các dụng cụ thu bắt mẫu với thời gian là 15 phút cho 1 lần thu mẫu trên bẫy Mẫu vật được chụp ảnh, bảo quản trong đệm bông và trong ống tuýp chuyên dùng với cồn 90%
Bẫy hố được đặt dưới đất, tại mỗi điểm điều tra sử dụng 50 bẫy hố, điểm đặt bẫy được chọn sao cho đại diện cho các sinh cảnh thu mẫu và ghi thông tin
về toạ độ, độ cao, sinh cảnh, Thời gian thu mẫu 24 giờ/lần thu mẫu
2.3.1.2 Cách thức thu bắt mẫu vật
Tiến hành thu bắt mẫu vật bọ xít theo các cách thu mẫu của Steyskal et al., (1986), Schuh and Slater (1995)[73],[68] bao gồm:
a) Thu mẫu bằng tay
Nhiều loài bọ xít thuộc họ Reduviidae có mặt ở dưới thảm lá, ke đá, ke vỏ cây và dưới các vỏ cây chết, vì vậy sử dụng tay với những dụng cụ hỗ trợ như panh hoặc kẹp nhỏ có chiều dài 15-20 cm để thu bắt chúng
b) Thu mẫu bằng vợt côn trùng
Các loài bọ xít thuộc họ Reduviidae hầu hết có mặt ở các sinh cảnh khác nhau ở trên cây, bụi hoặc chúng có thể ở trên lá, thân hoặc cành cây Sử dụng vợt côn trùng có đường kính từ 35 - 40 cm hoặc vợt đập (Beating net) có đường kính 60 cm và có chiều dài từ 2, 3 - 5, 6 m để thu bắt chúng
c) Thu mẫu bằng bẫy đèn
Nhiều loài bọ xít bắt mồi có tính hướng sáng như các loài thuộc phân họ Harpactorinae, Peiratinae, Reduviinae và Stenopodainae (họ Reduviidae) Chính vì vậy, có thể sử dụng bẫy đèn để thu bắt chúng Bẫy đèn gồm 2 bóng cao áp, mỗi bóng có công xuất từ 160-250W và đặt cách nhau 1m, được đặt trước tấm vải trắng dùng để thu mẫu Thời gian cho mỗi đợt bẫy đèn kéo dài từ
18 giờ đến 22 giờ
Trang 28d) Thu mẫu bằng bẫy hố
Một số loài bọ xít thuộc họ Reduviidae thường bắt mồi là các loài côn trùng trong đất hoặc trong các rễ cây Chính vì vậy, có thể sử dụng bẫy hố để thu bắt chúng Bẫy hố bao gồm các bẫy nhỏ (Φ = 12cm và cao 15cm) được đặt dưới đất với 3 hàng song song trên diện tích là 1m2 Sử dụng nước xà phòng pha đậm đặc đổ với chiều cao bằng 1/5 chiều cao của bẫy để giết cá thể bọ xít mắc vào bẫy Số lượng đặt là 50 bẫy cho 1 điểm điều tra Thời gian cho mỗi đợt thu mẫu trong bẫy là 24 giờ
2.3.2 Mô tả hình thái của loài (theo Cai Wanzhi, 2004; Hsiao et al., 1981) [40]
Sử dụng kính Olympus SZX7 để mô tả các đặc điểm về hình thái của phần đầu (antenna, anteocular, ocelli, eyes, rostrum), phần ngực (anterior pronotum lobe, posterior of pronotum lobe, legs,…), scutellum, bụng (Abdomen), cánh (wing), các gai trên cơ thể và đặc biệt là cấu tạo của cơ quan
sinh dục (pygophore, right clasper, phallus, phallobase, phallosoma)
2.3.3 Phân tích, bảo quản và làm tiêu bản mẫu vật (Steyskal et al.,1986; Ủy ban khoa học kỹ thuật, 1967) [73],[16]
Sau mỗi đợt thu mẫu phải tiến hành xử lý và phân loại sơ bộ mẫu Mẫu được định vị bằng kim côn trùng, mỗi cá thể mẫu ngắn với một nhãn ghi nhận các thông tin về mẫu, mẫu được sấy khô trong vòng 24 giờ ở nhiệt độ 60oC, xử
lý sạch và bảo quản trong các hộp gỗ đựng mẫu (35 x 50 x 15 cm) Trước khi định vị bằng kim côn trùng, tách một phần mẫu (đốt bàn chân hoặc phần khác của mẫu) lưu giữ trong cồn 99% để có thể phân tích ADN khi cần thiết, các mẫu dùng để phân tích ADN được mã hóa theo thông tin của mẫu được bảo quản khô
2.3.4 Phương pháp định loại bằng hình thái
Việc định tên các loài dựa theo các tài liệu của Cai Wanzhi (2004), Hsiao
et al (1981); Li Yongxi et al (1988); Maldonado - Capriles (1990)[40],[51],[54]
Trang 29Các loài mô tả mới sẽ được kiểm định bởi Cai Wanzhi (Trung Quốc), Ishikawa (Nhật Bản), David Redei (Hunggari)
2.3.5 Phương pháp sinh học phân tử
Được tiến hành tại phòng Hệ thống học Phân tử và Bảo tồn thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Mẫu bọ xít trưởng thành được thu thập tại điểm nghiên cứu, bảo quản trong cồn 95% và vận chuyển đến các phòng thí nghiệm để tách chiết DNA ADN tổng số sẽ được tách ra từ phần chân, bụng dưới hoặc ngực của các loài bọ xít bằng cách sử dụng Tissue kit (Qiagen, Đức) theo quy trình được đưa ra bởi nhà sản xuất (Aljanabi & Martinez 1997)[17] Mẫu vật còn lại của các loài bọ xít này sau khi tách ADN sẽ được cắm ghim và lưu giữ tại Viên Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Các nghiên cứu trước đây cho thấy vùng gen ty thể COI được xem là vùng gen barcoding mang nhiều biến đổi đặc trưng cho loài, cụ thể vùng gen này đã được sử dụng thành công trong một số nghiên cứu ở cấp độ loài của các loài bọ xít thuộc họ Reduviidae (Weirauch & Munro, 2009)[90]
a Tách DNA
Chân của các loài bọ xít bắt mồi sẽ được sử dụng cho DNA barcoding (xem trong phần “Mô tả”) Toàn bộ cơ thể được rửa sạch bằng 500 µL dung dịch TE (pH 8.0) trong một đĩa nhựa trắng dùng một lần đã được tiệt trùng, và chân hoặc bụng của chúng bị phá vỡ một phần bằng pank đã được tiệt trùng Chân đã được rửa sạch bằng dung dịch sau đó sẽ được chuyển vào 105 µL dung dịch bộ đệm chiết trong ống eppendorf đã được ghi nhãn ((100 µL of 10% Chelex-TE solution and 5 µL Qiagen Proteinase K) Sau đó cho vào máy lắc ủ ở 56˚C trong 24h, sau 24h chuyển sang máy nhiệt và đun nóng ở 99˚C trong 10 phút để khử hoạt tính Qiagen Proteinase K trong bộ đệm chiết
b PCR
Sau khi DNA được tách, đoạn gen dài 658 bp vùng mã vạch DNA (vùng Folmer) đầu 5 'của gen CO1 ti thể được khuếch đại bằng bộ mồi
Bảng 1: Ký hiệu và trình tự cặp mồi dùng trong nghiên cứu
Mỗi một phản ứng nhân gen PCR chứa 5 µL of 2xPCR buffer, 2 µL of dNTPs (final 0.4 mM), 0.3 µL of 10 pmol/µL mồi xuôi và mồi ngược (final 0.3
Vùng gen Ký hiệu mồi Gen khuyếch đại
COI LCO-EG TTTCAACAAATCACAAAGAYATYGG
HCO-EG TAAACTTCAGGRTGACCRAAAAATCA
Trang 30µ M), 0.2 µL of 1.0 U/µL DNA polymerase KOD FX Neo (TOYOBO 2015), and 1.0 µL of DNA mẫu Sau đó cho vào máy PCR với chu kì nhiệt như sau: 2 phút ở 94 °C; 5 vòng với các chu kì nhiệt sau 10 giây ở 98 °C, 30 giây ở 45 °C và 45 giây ở 68°C; 40 vòng với các chu kì nhiệt sau 10 giây ở 98
KFX-°C, 30 giây 48.5 °C và 45 giây ở 68 °C; và cuối cùng là 7 min at 68 °C
94℃ 2 min 98℃ 10 sec
5 cycles 45℃ 30 sec
68℃ 45 sec 98℃ 10 sec
40 cycles 48.5℃ 30 sec
68℃ 45 sec 68℃ 7 min 4℃ ∞ Sau khi kết thúc PCR, mẫu sẽ được điện gi trên gel agarose 2.0%
c Tinh sạch DNA
Sau khi PCR, các mẫu DNA sẽ được tinh sạch bằng cách ủ trong máy PCR ở 37°C trong 15 phút và 80°C trong 15 phút với IllustraTM ExoStar (GE Healthcare, Buckinghamshire, UK) để loại bỏ mồi dư thừa, tạp chất và nucleotide bẩn
d Giải trình tự
Các phản ứng giải trình tự được chạy trên máy ABI PRISM BigDye Terminator Cycle Sequencing Kit v.3.1 (Applied Biosystems) Các sản phẩm giải trình tự sẽ được tinh chế, tập trung bằng kết tủa ethanol với natri axetat, và trình tự nucleotide của chúng được xác định bằng cách sử dụng phần mềm tự động (ABI PRISM 3130xl, Applied Biosystems)
Các trình của mỗi mạch trong một mẫu được lắp ráp với nhau sau khi cắt tỉa các đoạn có chất lượng thấp ở cả hai đầu, và sau đó được xác nhận/sửa chữa bằng tay bằng cách tham chiếu các đỉnh của các trình tự nu ATGX Dữ liệu trình tự thu được đem so sánh, sắp xếp bằng phần mềm ChromasPro 1.7.6 (Technelysium Pty Ltd., Australia) và MEGA 7 (Kumar et al., 2016) chương trình Blast trên ngân hàng Genbank[47]
Sắp xếp các trình tự bằng chương trình Clustal W (Thompson et al., 1994) được xây dựng trong MEGA 7 (Kumar et al., 2016)[74] Sau đó, dựa trên
Trang 31dữ liệu 563 bp, các phân kỳ theo cặp được tính toán bằng cách sử dụng distance (thu được bằng cách chia số lượng nucleotide khác nhau cho tổng số nucleotide) và K2P distance model (Kimura, 1980)[46] Lập cây phát sinh chủng loại theo phương pháp Neighbor – Joined, kiểm tra giá trị boostrap với số lần lặp lại (replicate) là 1000 lần
p-2.3.6 Nghiên cứu sự phân bố và vai trò của một số loài bọ xít bắt mồi phổ biến
Tại các điểm nghiên cứu, trước khi thu bắt bọ xít bắt mồi tiến hành quan sát, lấy tọa độ GPS, xác định sinh cảnh và nơi thu bắt để xác định sự phân bố Ghi chép và mô tả tập tính săn bắt mồi và chích hút vật mồi, đặc biệt là các loài
bọ xít bắt mồi phổ biến Thu lại vật mồi của các loài bọ xít đang chích hút vật mồi ở ngoài tự nhiên để xác định tên vật mồi của chúng Những loài côn trùng bắt mồi phổ biến (tham khỏa từ các tài liệu đã công bố) xác định sự hiện diện của chúng trên địa điểm điều tra để đưa tên chúng vào bảng danh lục thiên địch sâu hại đậu rau Với các đối tượng mới phát hiện, chỉ ghi nhận chúng là thiên địch nếu thấy rõ chúng tấn công và ăn thịt vật mồi
2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu
- Số liệu được xử lí bằng CA (Cluster Analysis) theo chương trình Primer v6 và Excel 2010
- Các số liệu được tính toán dựa trên cơ sở sau:
* Chỉ số đa dạng Shannon – Weiner (H’)
H’ =
-Với: H’: chỉ số đa dạng loài
S : số lượng loài trong sinh cảnh N: tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh ni: số lượng cá thể của loài i
* Độ ưu thế của loài (A): A = %
Trong đó: na - Số lượng cá thể của loài a
N - Tổng số cá thể của thu được + A> 10% : Loài ưu thế tại sinh cảnh nghiên cứu
s
i 1
n nln
Trang 32*) Độ tương đồng về thành phần và số lượng loài: sử dụng hệ số Bray-Curtis
Trang 33CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài, sự phân bố và mức độ phổ biến của các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae ở một số sinh cảnh tại Tây nguyên
3.1.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi tại một số sinh cảnh tại đểm nghiên cứu
Các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae ở các khu vực nghiên cứu được thống kê theo bảng 3.1 dưới đây:
Bảng 3 1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thu
được ở các sinh cảnh tại một số điểm ở Tây Nguyên
SC1 SC2 SC3 SC4 SC1 SC2 SC3 SC4 Phân Họ ECTRICHODIINAE Amy & Ser 1843
Trang 39Ghi chú: + : Xuất hiện
SC1: Sinh cảnh rừng kín thường xanh
SC2: Sinh cảnh rừng phục hồi
SC3: Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi
SC4: Sinh cảnh gắn với các cây trồng công nghiệp
Tại các điểm nghiên cứu, chúng tôi đã ghi nhận được 60 loài thuộc 28 giống của 6 phân họ trên 4 sinh cảnh ở 2 điểm nghiên cứu Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng ghi nhận 52 loài 24 giống 6 phân họ chiếm 37,6% trong tổng số 138 loài ghi nhận được ở Việt Nam (Ishikawa, Truong Xuan Lam
& Okajima, 2012; Zhao, Pham & Truong Xuan Lam & Cai, 2014; Trương Xuân Lam, 2011; Truong Xuan Lam et al., 2015)[43],[61],[11],[85] Vườn Quốc gia Chư Yang Sin ghi nhận 55 loài 26 giống 6 phân họ chiếm 39.9% trong tổng số
138 loài ghi nhận được ở Việt Nam Số lượng các giống trong các phân họ được thể hiện ở đồ thị 3.1: phân họ Ectrichodiinae ghi nhận 2 giống ở cả Kon