1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Qui trình sản xuất gạo (THUC TAP NGHE NGHIEP)

46 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cuối cùng hiệu quả sản xuất của xí nghiệp vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vàonguồn nguyên liệu cung cấp đầu vào, chính vì vậy ngoài việc thu mua và bảo quảnnguồn nguyên liệu tốt, thì c

Trang 3

Lời cảm ơn

Sau những ngày tháng học lý thuyết ở trường, em được sự giảng dạy nhiệt tình

và chu đáo của thầy cô, thầy cô đã truyền đạt hầu hết những kiến thức bổ ích về ngành

đề em có được sự vững tin khi đi thực tập và tự tin hơn sau này để trở thành một cán

bộ kĩ thuật có tay nghề Sau thời gian học ở trường em có được sự giới thiệu của trường để đến công ty xuất khẩu lương thực AFIEX để học hỏi kinh nghiệm và trao dồi thêm kiến thức thực tế Tại đây em được sự giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình của các chú, các anh trong suốt quá trình thực tập Qua thới gian thực tập em cũng đã tiếp thu được một số kiến thức bổ ích thực tế cho bản thân

Em trân thành cảm ơn Ban Giám Đốc xí nghiệp cùng các chú, các anh ở xí nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đợt thực tập và báo cáo thực tập tại công ty

Em cũng trân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, cảm ơn các thầy, các cô bộ môn đã tận tâm chỉ dạy và truyền đạt kiến thức cho em trong quá trình học tập tại trường

Sau cùng thì em xin một lần nữa cảm ơn trân thành nhà trường, thầy cô bộ môn và BanGiám Đốc xí nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất cho em thực tập

Trang 4

Lời mở đầu

Do vị trí địa lí nước ta được thiên nhiên ưu đãi nằm trong vùng vành đai nhiệtđới gió mùa, khí hậu nóng ẩm quanh năm, lại còn có được mạng lưới sông ngòi dàyđặc bao quanh hai vùng đồng bằng rộng lớn nên mỗi năm đồng ruộng đều được phù savung đắp thêm, số lượng lớn phù sa làm cho đất đai màu mỡ phì nhiêu tạo nên điềukiện thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp và nông sản như: Lúa, khoai, ngô,đạu, sắn,…cùng các loại hoa màu khác Nhưng trong số đó quan trọng hơn cả vẫn làcây lúa bởi do bản chất truyền thống lâu đời của nhân dân ta từ xưa đến nay vẫn chủyếu sống bằng nghề nông

Tuy nhiên, bên cạnh đó cây lúa còn là nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu cho conngười, là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho hoạt động sống giúp con người tồntại và phát triển Đối với nước ta và một số nước trên thế giới, lương thực là nguồnnguyên liệu có vị trí cao trong đời sống hàng ngày và lại là nguồn hàng xuất khẩu cógiá trị và mang lại lợi ích kinh tế cao Vì vậy cây lúa luôn đucợ nhà nước và nông dân

ta quan tâm và không ngừng cải tiến và lai tạo nó để cho ra các loại giống mới có năngsuất, phẩm chất, chất lượng cao, thời gian gieo trồng ngắn để đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao của con người

Và hôm nay ta lại được gia nhập vào một tổ chức lớn của thế giới là WTO Do vậy màđòi hỏi Đảng, nhà nước và nông dân ta cần tận dụng được triệt để những thuận lợi mà

ta có được để phát huy và khắc phục khó khăn mà đặc biệt là ngành nông nghiệp nước

ta trong năm vừa qua vừa trải qua hai đại dịch lớn là rầy nâu và lùn xoắn lá làm giảm

đi đáng kể số lượng và chất lượng của lương thực và cả chi phí diệt trừ gây ra một tổnthất tương đối lớn Do đó nhà nước, nhà khoa học cần bắt tay vào việc cùng nông dânlàmviệc để tránh tình trạng đó xảy ra lần nữa bằng những biện pháp cụ thể sau:

• Đầu tư phát triển công nghệ lai tạo giống cho ra các giống lúa ngắn ngày năng suấtcao, chống được sâu bệnh cung cấp cho nông dân

• Đưa dần công nghệ kĩ thuật hiên đại hóa đưa máy móc thiết bị vào nông nghiệp để đạtnăng suất cao

Trang 5

• Khuyến khích người tham gia thực hiện các biện pháp kĩ thuật trong nông nghiệp như:Chương trình ba giảm ba tăng, Hội thảo đầu bờ, khuyến nông hay Hội nông dân làmgiàu góp phần đưa ngành công nghiệp nước ta đi lên

• Bên cạnh đó thì nhà nước còn cần phải chú trọng đào tạo một đội ngũ cán bộ có trình

độ về kiểm nghiệm, bảo quản, chế biến,…để xử lí và chế biến bảo quản an toàn cácmặt hàng lương thực thực sau thu hoạch ít bị hư hao tổn thất

Từ những yêu cầu đó mà Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm đã thường xuyên

mở ra các lớp đào tạo các đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về kiểm nghiệm, chếbiến, bảo quản Để khi vào một thị trường lớn chúng ta có một kiến thức vững vàngkhông bỡ ngỡ mà bắt kịp những bước tiến của họ để cạnh tranh và đưa nền nôngnghiệp nước ta tiến xa hơn

Để thực hiện phương châm” Lí luận đi đôi với thực tiễn_Học đi đôi với hành_NHàtrường gắn liền với lao động sản xuất và đời sống xã hội” Nên sau thời gian học líthuyết ở trường em đã được cung cấp đầy đủ các kiến thức cơ bản Nhà trường đã đưa

em đi tiếp xúc với thực tế tại xí nghiệp xuất khẩu lương thực AFIEX.CO.AG Qua thờigian thực tập tại xí nghiệp em đã nắm bắt được một phần nào những cách làm thực tếcủa cơ sở và một số bài học kinh nghiệm của các anh các chú đi trước trong việc kiểmtra chế biến bảo quản lương thực Em xin trình bài ở phần nội dung sau đây

Trang 6

- Xí nghiệp Xuất khẩu Lương thực được hình thành như sau:

• Cơ sở mặt bằng lúc trước trực thuộc Công ty Anbimex Đến năm 1989 Anbimex giảithể cơ sở được xác nhập vào Công ty Xuất Nhập Khẩu Nông Thủy Sản AnGiang(AFIEX) Phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất chế biến kinh doanh lương thựctheo kế hoạch của Công ty, hàng hóa trong nội địa và xuất khẩu theo ủy thác

• Đến năm 1998 chuyển hoạt động của phân xưởng sang thành Xí Nghiệp Xuất KhẩuLương Thực trực thuộc Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Nông Sản Thực Phẩm AnGiang(AFIEX) xí nghiệp có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Công tyđược xuất khẩu trực tiếp( Chế độ hoạch toán báo sổ)

- Diện tích mặt bằng xí nghiệp hiện nay là: 15000m2

- Các kho sản xuất hiện hữu tại xí nghiệp là 06 kho và văn phòng làm việc Sức chứacác kho khoảng 22000 tấn

-Hệ thống các kho được bố trí ở các huyện trong tỉnh Sản xuất mỗi năm: 150000 tấngạo các lại, trong đó xuất khẩu 120000 tấn

-Xí nghiệp Xuất Khẩu Lương Thực còn có các trạm thu mua và chế biến lương thựcđặt tại các huyện( Kế hoạch sản xuất do ban Giám đốc chỉ đạo)

1. Trạm Bình Đức: khóm Bình Khánh, phường Bình Đức, Tp Long Xuyên, An Giang.Sức chứa hàng hóa của kho là 2500 tấn gạo các loại

2. Trạm Bình Hòa: xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, An Giang Sức chứa của kho là

3000 tấn gạo các loại

3. Trạm Tân Lập: huyện Tịnh Biên, An Giang Trạm chỉ thu mua lúa tại địa phương vàocác mùa vụ trong năm Sức chứa của kho là 3000 tấn lúa các loại

Trang 7

4. Trạm Phú Tân: huyện Phú Tân, An Giang Sức chứa hàng hóa của kho khoảng 4000tấn gạo các loại.

5. Trạm Thới Thuận: huyên Thốt Nốt, Cần Thơ Xí nghiệp thuê kho có thời thời hạn đểthu mua và chế biến gạp xuất khẩu Sức chứa hàng hóa của kho khoảng 1500 tấn gạocác loại

6. Trạm Mỹ Thới: phường Mĩ Thới, Tp Long Xuyên, An Giang Xí nghiệp thuê kho cóthời hạn để thu mua và chế biến gạo xuất khẩu Sức chứa hàng hóa của kho là 2000 tấngạo các loại

7. Trạm Mĩ Khánh: xã Mĩ Khánh, Tp Long Xuyên Sức chứa hàng hóa của kho là 5000tấn gạo các loại

2. Sơ đồ nhân sự và cơ cấu xí nghiệp

Nhân sự xí nghiệp Xuất Khẩu Lương Thực gồm 90 nhân sự:

• Ban giám đốc

• Phòng hành chánh tổ chức

• Phòng kế toán

• Bộ phận xuất khẩu và thu mua

• 09 trạm thu mua và chế biến lương thực

Sau đây là cơ cấu và sơ đồ xí nghiệp AFIEX Co

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

II. KĨ THUẬT BẢO QUẢN LƯƠNG THỰC

Nguồn hàng mặt hàng lương thực theo từng vụ và chất lượng của nó.Tại xí nghiệpxuất khẩu lương thực AFIEX chủ yếu thu mua các mặt hàng chính như là gạo nguyênliệu xô hay còn gọi là gạo lức gạo lột vỏ

Thường loại gạo này được bóc đi lớp vỏ trấu bên ngoài của hạt lúa mà không qua cốixát trắng, để đem về xí nghiệp sản xuất ra lại các loại gạo thành phẩm( 5%;15%;20%)

để cung cấp cho thị trường trong nước và nước ngoài Ngoài ra xí nghiệp cũng có thumua một số loại gạo đã qua xát trắng, hay lau bóng( 15%;20%) để đem về xuất thẳnghoặc dùng để đấu trộn với các loại gạo thành phẩm tại xí nghiệp nhằm tăng thêm hiệuquả sản xuất Nên vì thế mà nguồn hàng ở xí nghiệp thu mua vào rất đa dạng và phongphú nhưng chủ yếu từ các bạn hàng xáo hay còn gọi là thương lái Họ thu mua lúa từnông dân sau đó đem ra xay thành gạo nguyên liệu rồi mang đến bán cho xí nghiệpbằng các phương tiện vận chuyển là tàu ghe có trọng tải 5-30 tấn ( Thông thường).Cũng có khi là do các công ty kinh doanh gạo hoặc các nhà máy chế biến lau bóngtrong vùng mang lại cung cấp trực tiếp cho xí nghiệp hay đóng bao xuất thẳng đénmạng tàu theo hợp đồng ký kết của xí nghiệp với nước ngoài mà chủ yếu là gạo laubóng

Nhưng cuối cùng hiệu quả sản xuất của xí nghiệp vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vàonguồn nguyên liệu cung cấp đầu vào, chính vì vậy ngoài việc thu mua và bảo quảnnguồn nguyên liệu tốt, thì còn yêu cầu việc bảo quản phải giữ được chất lượng củanguyên liệu ít thay đổi trong suốt thời gian tồn trữ ngắn ngày chờ đưa vào sản xuất vàđồng thời gạo thành phẩm thu hồi cũng phải không thay đổi trong suốt thời gian chờxuất đi Nên vì thế mà công tác bảo quản ở xí nghiệp đòi hỏi hết sức cần thiết khôngchỉ với gạo nguyên liệu mà còn ngay cả với gạo thành phẩm thu hồi

Do đó việc thiết lập một quy trình bảo quản gạo thích hợp trong xí nghiệp là yêu cầuhết sức quan trọng và đòi hỏi người cán bộ bảo quản lương thực phải nắm vững cácnguyên lí cơ bản của một qui trình kĩ thuật bảo quản và tính chất sinh lí của nguyênliệu để công tác bảo quản đạt kết quả tốt nhất, tránh hư hỏng tổn thất trong suốt thờigian chờ xuất đi.Xí nghiệp chế biến lương thực AFIEX trực thuộc Công ty Xuất nhập

Trang 9

khẩu Nông sản Thực phẩm An Giang là nơi chuyên chế biến gạo nguyên liệu để cho ragạo thành phẩm với nhiều loại khác nhau Đặc tính của xí nghiệp là nhập xuất liên tục,thời gian bảo quản ngắn nên gạo thành phẩm xuất đi luôn đạt chất lượng đáp ứng đượcnhu cầu của khách hàng.

Thường số gạo nguyên liệu xí nghiệp thu mua từ nông dân tương đối nhỏ khoảng 5000tấn lúa các loại mỗi năm, vì chỉ tập trung chủ yếu tại một địa bàn tại xã Tân Lập,huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và một số huyện khác như: Chợ Mới, Thoại Sơn, PhúTân

Mà tập trung cao điểm là vào vụ Đông Xuân từ tháng 2 đến tháng 4 hằng nă, và một số

ít của vụ Hè Thu từ tháng 7 đến tháng 9 và vụ 3 làm trong vùng bao đe ngăn lũ từtháng 10-12 Trong đó nguồn cung từ vụ Đông Xuân là lớn nhất chiếm khoảng 70%khối lượng thu mua cả năm của xí nghiệp

Cũng tùy theo từng hợp đồng mà xí nghiệp thu mua gạo nguyên liệu với nhiều phẩmchất khác nhau để chế ra nhiều loại gạo thành phẩm cung cấp cho thị trường nên xínghiệp thu mua nguyên liệu vào là thường dựa trên các chỉ tiêu về chất lượng như: Độdài-ngắn, độ trong-đục( bạc bụng), độ ẩm, độ gãy vỡ, hạt xanh non, hạt đỏ, độ lẫn loại,hạt hư, bông cỏ,…

Nhưng xét trên thực tế thì phẩm chất của gạo thường ít đạt được theo lí thuyết và luônbiến động thay đổi rõ rệt theo từng mùa vụ

Mà thường vào vụ Đông Xuân thì chất lượng hàng hóa là tốt nhất do thời tiết thuận lợicho quá trình phát triển của cây lúa Nên lúa ít bị sâu bệnh tấn công, phá hoại, lại còntrúng nắng ít mưa, cây lúa không bị ngã sập nên lúa xô, hạt đều, chất mẫy, có màu sắcsáng bóng, độ trong cao, lớp cám trên bề mặt tương đối thấp ít hạt xanh non, hạt hưbệnh, hạt đỏ, sọc đỏ, hạt vàng cũng ít, độ ẩm cũng thấp nên rất thuận lợi cho việc chếbiến và tồn trữ Nguyên liệu gạo ở xí nghiệp thu mua vào mùa này có độ ẩm thấp hơn17,5% nên không cần thời gian xử lí giảm được chi phí gia công hạ được giá thành sảnphẩm, chế biến gạo ra có phẩm chất cao đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu

Còn vụ hè thu và vụ 3: do mưa nhiều sâu bệnh phát sinh mạnh, độ dinh dưỡng trongđất thấp nên cây lúa phát triển chậm không đều, gặp mưa bão nhiều gây đổ ngã làm

Trang 10

cây lúa vô hạt không đồng loạt tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh gây ra nhiều hạt

hư bệnh, và do đổ ngã dầm nước nên độ ẩm cao, hạt bị tối màu nhiều tạp chất, độ lẫnloại cao nên chất lượng kém Ngoài ra do sau khi thu hoạch nông dân phơi sấy khôngkịp, ủ lại nhiều ngày làm cho hạt gạo bị gãy vỡ, mọc mộng, nấm mốc tấn công gây bốcnóng ẩm vàng nên khi đưa vào sản xuất gặp nhiều khó khăn dễ bị dgãy nát làm giảm tỉ

lệ gạo thành phẩm khi chế biến ra lại không đạt độ ẩm phải mất thêm công đoạn sấylửa, vừa mất công, vừa mất thời gian, tăng chi phí nhưng không đáp ứng nhu cầu xuấtkhẩu bảo quản thì lại bị hư hỏng

Do đó mà ở xí nghiệp luôn đặt ra những hình thức bảo quản tương đối phù hợp vớitừng loại mặt hàng cụ thể như sau:

1. Đối với gạo nguyên liệu xô:

Được chứa trong các bao pp mỗi loại đã qua sử dụng ít nhất một lần Trọnglượng mỗi bao khoảng 50kg được may bằng dây nilon bẹ rồi chất thành lô mỗi lôkhông quá 200 tấn/lô bên dưới có kê lót bằng những tấm ba lết gỗ có phủ bạc để tiệncho việc thông gió tự nhiên.Chẳng hạn như đối với gạo nguyên liệu xô: thì độ ẩm dựtrữ không được vượt quá 16% vì nếu cao hơn thì chỉ dự trữ được với thời gian rấtngắn, ít hơn 3 ngày và tối đa của thời gian dự trữ là 1 tháng

2. Đối với gạo trắng đã qua lau bóng:

Được chứa trong các bao pp nhưng mới, sạch chưa sử dụng, trọng lượng tịnhmỗi bao khoảng 50kg được may bằng máy may bằng tay để đảm bảo không bị rơi vãikhi luân chuyển vào kho để chất thành cây theo từng lô 300-500 tấn bên dưới được lótbằng những tấm ba lết gỗ phủ bạc để tránh sự tiếp xúc của- gạo với nền kho ngăn cản

sự hút ẩm của gạo, các bao cách nhau và tường khoảng 0.8-1m Ngoài ra xí nghiệpcòn qui định về hình thức bảo quản riêng biệt một cách cụ thể cho từng loại gạo nhằmhạn chế phần nào tổn thất trong thời gian bảo quản như: gạo được chất thành lô ởnhững khu vực riêng biệt tùy theo phẩm chất của gạo( gạo 5% tấm chất theo khu vựcriêng với loại gạo 15%, 20% tấm, gạo Đông Xuân theo khu vực riêng với gạo Hè Thu

vụ 3)

Nhưng trước khi được đưa vào bảo quản thì gạo sẽ được cán bộ KCS kiểm tra phẩmchất từng loại gạo để xác định được độ ẩm, tỷ lệ tấm rồi mới có biện pháp bảo quảnthích hợp.Đối với gạo lau bóng: thì độ ẩm dự trữ dao động từ 13,8% - 14,2% thời gian

dự trữ tối đa từ 1-2 năm Nhưng sau thời gian dự trữ trên 3 tháng gạo sẽ bị bó cám nênkhi đưa vào sử dụng cần tái chế lại

Trang 11

Còn đối với gạo xát trắng: thì độ ẩm dự trữ không được vượt quá 14,5% thờigian dự trữ tối đa là 2 tháng, nếu quá thời gian này thì phải tái chế ngay.

- Chính vì vậy mà bảo quản dưới hình thức chứa bao sẽ tận dụng sức chứa nhà kho, dễdàng xử lí các hiện tượng xấu xảy ra, đồng thời cũng góp phần làm giảm độ ẩm củakhối hạt Bên cạnh đó thì đòi hỏi nhà kho phải đảm bảo vững chắc chống được các ảnhhưởng xấu của môi trường bên ngoài đến khối lương thực bảo quản Đặc biệt là nhàkho phải được thiết kế sao cho cách nhiệt cách ẩm tốt, đảm bảo chống thấm chống dột

ở tường, nền và mái kho và việc giữ gìn kho được sạch sẽ, dụng cụ thiết bị bao bì vàbản thân lương thực cũng là một trong những khâu chính của công tác bảo quản, đểgóp phần phòng ngừa khối lương thực không bị hư hỏng khi bảo quản Ngoài ra việc

vệ sinh sát trùng cẩn thận kho trước khi nhập và sau khi xuất hàng cũng không thểthiếu được trong bảo quản bởi nó giúp ngăn chặn sự xâm nhập của côn trùng Đồngthời kết hợp với việc kiểm tra định kì để phát hiện và xử lí kịp thời các lô hàng bị hưhỏng

- Cơ sở cũng có những mặt thuận lợi như: gạo chỉ bảo quản trong thời gian ngắn, nhàkho được xây dựng kiên cố, nền kho cao ráo, khô thoáng được tráng bê tông chắcchắn, mái che kín đáo và vị trí kho nằm gần sông lớn nên tiện cho việc thu mua vàxuất hàng mà đặc biệt là lượng gại tồn kho không đáng kể do xí nghiệp nhập xuất liêntục nên chất lượng gạo xuất đi ít bị thay đổi về số lượng và chât lượng

- Từ những thuận lợi và khó khăn trên mà cơ sở có những hướng khắc phục như sau:

o Về kho: thì luôn tu bổ thêm, thay mới và sửa chữa những chỗ hư hỏng, thay đổithường xuyên nóc, mái để phát hiện những chỗ dột, tạc mà có phương pháp xử lí kịpthời

o Về nguyên liệu: thì tiến hành các biện pháp kiểm tra chặt chẽ trong quá trình thu mua,chế biến, bảo quản

o Trong thu mua: thì cần hạn chế các nguyên liệu xấu có độ ẩm, tỷ lệ hư bệnh, đỏ_sọc

đỏ, ẩm vàng và các chỉ tiêu khác cao

o Trong chế biến: cần túc trực máy để có biện pháp xử lí khi có trục trặc Trong côngđoạn xát trắng và lao bóng nên điều chỉnh tăng mức độ bóc cám lên 1-2% để làm chậm

sự bó cám, biến màu khi tồn trữ lâu

o Trong bảo quản: thì cần khống chế độ ẩm của nguyên liệu ở độ ẩm an toàn Gạo thànhphẩm có phẩm chất khác nhau phải phân riêng và nên chứa trong các loại bao bì lànhlặn hoặc còn mới để đảm bảo cho việc dự trữ tốt hơn, ít rơi vãi khi vận chuyển

Trang 12

o Sắp xếp trật tự ngăn nắp các lô hàng có phẩm chất khác nhau để tiện cho việc kiểm trađịnh kì Cứ khoảng 15-20 ngày/lần để kiểm tra sơ bộ phẩm chất biến đổi của mỗi lô

mà có biện pháp xử lí phù hợp với những bất lời thường xảy ra trong bảo quản

o Áp dụng các biện pháp phòng ngừa, diệt sâu mọt, chuột bọ, côn trùng phá hoại

- Từ những mặt chưa đạt và đạt được trong công tác bảo quản mà cơ sở rút ra đượcnhiều bai học kinh nghiệm quí báo mà điển hình là một số kinh nghiệm chủ yếu nhưsau:

o Đối với khâu thu mua nguyên liệu: thì kiểm tra chặt chẽ và có mực khống chế độ ẩmnhập vào tốt nhất từ 15-16% Vì với độ ẩm này gạo đưa vào chế biến sẽ đạt được mựcyêu cầu trong bảo quản là 13,8-14,2%

o Nếu độ ẩm vượt quá mức 16% thì gạo phải đưa vào chế biến ngay, không tồn trữ lại vì

sẽ để phát sinh nhiệt gây ẩm vàng

o Còn đối với gạo nguyên liệu: có độ ẩm 15-16% nếu dự trữ lại từ 7-10 ngày rồi đưavào chế biến sẽ rất tốt, vì khi đó tinh dầu trong lớp cám tiết ra làm cho lớp ngoài hạtgạo bóng lên nên việc xử lí trong khâu xát trắng, lau bóng rất nhẹ nhàng nhưng đạthiệu quả cao, hiệu xuất làm việc của máy cao hơn, độ bóng của gạo tăng lên

o Đối với khâu chế biến: thì khi gạo nguyên liệu đưa vào chế biến đạt độ ẩm từ bé hơnhoặc bằng 16% chỉ cần qua sấy gió, không cần lò cung cấp nhiệt mà vẫn đạt được độ

ẩm dự trữ Điều này sẽ giữ cho mặt gạo được sáng bóng mà không bị tối màu và gãy

vỡ thêm nên gạo thành phẩm có chất lượng tốt Còn nếu xác định gạo thành phẩm thuđược sẽ đưa vào dự trữ từ 3 tháng trở lên thì trong công đoạn xát trắng và lau bóng nênđiều chỉnh tăng mức độ bốc cám lên 1-2% chất lượng gạo khi tồn trữ sẽ chậm bó cám

và biến màu giúp thời gian tồn trữ lâu hơn

o Đối với khâu dự trữ: thì thông thường lô gạo nào đưa vào nhập kho dự trữ trước thìxuất ra trước Nhưng nếu có những lô hàng dự trữ trên 3 tháng thì phải kiểm tra lạichất lượng ở bên trong Nếu bị bó cám nhiều mà không có biện pháp nào khác ngoàiviệc tái chế thì phải để lô hàng đó lại chờ tái chế sau Khi đó ta sẽ ưu tiên xuất những

lô hàng dưới 3 tháng chưa bị bó cám vì nếu để những lô hàng này lại một thời gian saucũng sẽ bị bó cám, ta cũng phải đưa vào tái chế, ngoại trừ trường hợp tất cả các lôhàng đều bị bó cám thì tất nhiên phải đưa vào xử lí tái chế để đáp ứng theo yêu cầu củahợp đồng Và thường xuyên phun thuốc định kì diệt mọt dưới 2 con/kg Nếu mật sốnày vượt quá thì phải dùng biện pháp khử trùng bằng thuốc xông hơi bằng cách đưanhững viên thuốc vào mọi vị trí của lô hàng rồi phủ bạc kín lại ít nhất 3 ngày Để tiêu

Trang 13

diệt triệt để mọt và trứng mọt Sau đó cứ định kì kiểm tra mật số mọt để có biện pháp

xử lí thích hợp bởi do mọt là một trong những tác nhân gây ra hao hụt gạo tron dự trữ

- Bên cạnh đó thì cơ sở cũng áp dụng thêm một số biện pháp như: trước khi đưa vào bảoquản phải vệ sinh nhà kho cẩn thận, nền kho phải kê lót ba lết để chống ẩm

o Vào mùa nắng phải mở cửa thông gió, gạo phải được chất cây theo thẳng hàng, thẳnglối để có đường đi và gió lùa

o Vào mùa mưa dùng bạc che chắn tránh mưa dột gió tạc Gạo đưa vào bảo quản phải có

độ ẩm an toàn phẩm chất của gạo phải đồng nhất

- Ở cơ sớ mặc dù xí nghiệp hoạt động liên tục, thời gian bảo quản ngắn, tuy nhiên đôikhi cũng có một số hiện tượng hư hỏng thường xảy ra Nói chung chủ yếu là do mưadột, tạc mà không phát hiện hoặc gạo nguyên liệu nhập vào với số lượng lớn mà cáccán bộ kiểm nghiệm không kiểm soát hết được đặc biệt là vào vụ hè thu độ ẩm cao vànguyên liệu không đồng nhất nên dễ xảy ra các hiện tượng sau:

o Gạo bị móc: thường xảy ra với gạo xô gạo thành phẩm có chất lượng kém Hiện tượngnày xảy ra chủ yểu vào mùa mưa do mưa dột, tạc hoặc gạo bị hút ẩm mà không pháthiện và xử lí kịp thời Còn một nguyên nhân quan trọng nữa là do gạo khi nhập kho độ

ẩm cao, chất xếp quá qui định dẫn đến bốc nóng, hạt gạo bị ẩm vàng, bị mốc tấn công

o Gạo bị sâu mọt: thường xảy ra với các loại phụ phẩm tấm I và II Cám do các phụphẩm này có nhiều chất dinh dưỡng, kết cấu hạt nhỏ vụn lại vừa dễ hút ẩm nên tạođiều kiện cho sâu mọt xâm nhập phá hoại Vì vậy khi phát hiện ra sâu mọt phải tiếnhành phun xịt ngay để diệt trừ nhầm tránh được những tổn thất về số lượng lẫn chấtlượng của khối lương thực

o Gạo bị bó cám: là do gạo bị bảo quản lâu làm cho lớp cám bên ngoài hạt gạo khô vàđục lại làm cho hat gạo không còn bóng sáng như lúc đầu vì thế ta cần nhập xuất liêntục tránh để tồn kho quá lâu và cần lau bóng kĩ hơn trong khâu chế biến

- Đồng thời phải kiểm tra chặt chẽ về độ ẩm trong khâu nhập nguyên liệu, xử lí mức bốccám cao hơn trong công đoạn xát trắng và lau bóng ở khâu chế biến:

o Sắp xếp các lô hàng gọn gàng bằng việc sắp cây ngay ngắn chừa khoảng trống thíchhợp, không chất quá cao, tạo sự thông thoáng cho gạo, giúp cho độ ẩm bên trong gạothoát ra dễ dàng, không đọng lại làm biến đổi phẩm chất của gạo

o Sử dụng bao bì mới, tránh dùng những bao bì cũ rách, miệng bao được may bằng chỉloại tốt chắc chắn không dễ bung xúc

o Song song với việc diệt mọt phải đặt thuốc diệt chuột bọ cắn phá bao bì

o Sửa chữa kiệp thời những chỗ mái kho bị hư hỏng để ngăn chặn hiện tượng tạc, dộtnước khi mưa bảo xảy ra

Trang 14

- Nếu các biện pháp trên được triệt để thực hiện thì kết quả mang lại rất to lớn.gạo được

dự trữ với thời gian lâu hơn, phẩm chất gạo sẽ chậm xuống cấp Số lượng gạo trong dựtrữ hao hụt ít đi, tai nạn trong lao động sẽ được hạn chế ở mức tối đa

- Để bảo quản lương thực được tốt tránh làm tăng độ ẩm khối hạt từ nền và tường kho

Ở xí nghiệp áp dụng biện pháp kê lót bằng ba lết Trước khi tiến hành kê lót nền khophải được vệ sinh sạch sẽ, sát trùng cẩn thận, ba lết cũng được vệ sinh rồi kê lót cáchtường và cách nhau theo đúng qui định Các ba lết được xếp song song với nhau cácthanh gỗ trên mặt ba lết được xếp theo cùng một chiều nhất định để khi tiến hànhthông gió thì gió sẽ theo các khe hở này tiếp xúc với bề mắt khối hạt làm giảm nhanhlượng nhiệt ẩm trong khối hạt và giúp cho việc xông thuốc diệt mọt được phủ đều lôgạo sau khi lót xong dùng bao bạc phủ lên ba lết rồi mới chất hàng vào

- Việc sử dụng ba lết gỗ là rất thích hợp trong tồn trữ gạo nhưng đồng thời cũng cónhững mặt thuận lợi và khó khăn riêng:

o Mặt thuận lợi: khi kết lót bằng ba lết thì khối lương thực được cách ẩm tốt Mặt khác

nó còn tạo một khoảng trống dưới đáy khối lương thực giúp cho việc thông gió giảm

ẩm được tiến hành thuận lợi và hiệu quả cao tránh được hiện tượng bốc nóng lớp đáy

o Mặt khó khắn: do cơ sở còn sử một số loại ba lết gỗ có chất lượng không đạt yêu cầu,

mà giá thành lại cao, nhưng dễ hư hỏng do mối mọt cắn phá nên tốn cho phí bảo quản.Mặt khác khi ba lêt bị hư hỏng mà không phát hiện được thì khối lượng lương thực sẽtiếp xúc với nền kho làm tăng độ ẩm của khối hạt và là nơi trú ẩn của chuột và một số

vi sinh vật có hại khác Ngoài ra khi ba lết bị hư đinh ló ra làm rách bao gây rơi vãilương thực sạc lỡ cây không an toàn

o Tuy nhiên so với các phương pháp khác thì việc kê lót bằng ba lết trong bảo quản làmột trong những biện pháp được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả cao

- Còn về qui trình kĩ thuật bảo quản thì ở xí nghiệp chế biến lương thực AFIEX rất đơngiản, hầu như chưa có tính hệ thống và chưa bảo đảm về yêu cầu kĩ thuật trong bảoquản và thường được tiến hành như sau:

o Gạo nguyên liệu sau khi được chế biến xong sẽ được đóng gói vẫn chuyển đến khochứa thành phẩm đã được vệ sinh sát trùng cẩn thận và được kê lót ba lết đúng quiđịnh rồi chất xếp thành từng lô hàng riêng biệt theo độ thủy phần và tỷ lệ tấm đã đượccán bộ KCS kiềm tra cẩn thận trước khi nhập vào bảo quản

o Ở cơ sở bảo quản chủ yếu là gạo thành phẩm, gạo được chứa trong những bao PP cótrọng lượng vỏ bao là 100-120g/bao Trọng lượng tịnh của gạo là 50kg/bao, được maymiệng bằng một đường chỉ cotton, đảm bảo không rơi vãi trong quá trình chuyển kho

và thường dự trữ trong các nhà kho kiên cố có diện tích từ 1500-2000m2được lợp tone

Trang 15

Và thường được chất theo kiểu giật cấp, miệng bao quay vào trong, cứ 8 bao thì giậtvào nửa trái để tránh sạc lỡ, mỗi lô chất khoảng 200 tấn, chiều rộng khoảng 6-8m,chiều dài khoảng 9-13m, các lô cách nhau và cách tường khoảng 0,8-1m, nhưng đốivới những lô gạo có phẩm chất tốt độ ẩm thấp có thể chất với số lượng lớn hơn vàngược lại Bên cạnh đó các chế độ bảo quản khác cũng được thực hiện chu đáo như:thông gió thường xuyên bằng cách đóng mở của kho hợp lí và tiến hành kiểm tra địnhkì.

o Còn đôi với gạo nguyên liệu: thì sau khi mua xong phân ra từng loại riêng biệt theoyêu cầu rồi cho vào thùng chứa hoặc tủ cây giữ lại tối đa là một tháng cho gạo có độ

ẩm dưới 16% phẩm chất tốt còn gạo trong thùng chứa sẽ được chế biến ngay

o Nhìn chung qui trình bảo quản gạo như vậy là tương đối an toàn Tuy nhiên qui trìnhnào cũng vậy đều có ưu và nhược điểm của nó

• Ưu điểm: bảo quản bằng phương pháp khô thoáng với hình thức chứa bao, kĩ thuật xếpnhư thế là rất đơn giản, không đòi hỏi nhiều nhân lực, phương tiện phức tạp, chi phíbảo quản thấp nhưng ít xảy ra hư hỏng, giảm được sự hao hụt về số lượng lẫn chấtlượng trong bảo quản

• Nhươc điểm: bên cạnh đó còn có hạn chế chưa khắc phục như vào mùa vụ vì số lượnglương thực quá lớn, để tận dụng sức chứa của kho nên phải chất xếp cao hơn qui địnhnên dễ gây ra sạc lỡ gây nguy hiểm đến tính mạnh của người quản lí kho và công nhânbốc vác Khi có hiện tượng hư hỏng thì việc xử lí vận chuyển cũng khó khăn, nhất làvào mùa mưa bão nên gạo dễ bị xuống cấp về phẩm chất hao hụt về số lượng, dễ phátsinh sâu mọt, chuột bọ phá hoại,…

- Trong bảo quản dù được thực hiện tốt đến đâu cũng không giữ được đúng số lượngban đầu Nguyên nhân chủ yếu là do các hiện tượng biến đổi sinh hóa, vật lí của lươngthực làm giảm đáng kể một lượng vật chất khô Thời gian bảo quản càng lâu- thì haohụt càng nhiều bởi còn do nhiều nguyên nhân khác Ở cơ sở việc tính hao hụt khođược dựa trên tiêu chuẩn độ ẩm là chính cụ thể là gạo khi nhập kho sẽ được kiểm tra

độ ẩm nhiều lần để lấy bình quân là x0

- Đến khi xuất ra thì ta cũng tiến hành kiểm tra xác định độ ẩm bình quân là y0(mà y0

luôn luôn nhỏ hơn x0) Từ đó ta tìm được sự chênh lệch về độ ẩm của lô hàng bằngcách lấy x0-y0=z0

- Khi đó lô hàng xuất ra ta lại biết được trọng lượng của lô hàng là mX Vậy gọi mH làtrọn lượng gạo hao hụt ta sẽ có cách tính sau:

mH=

mH: trọng lượng gạo hao hụt

Trang 16

z0: hệ số chênh lệch về độ ẩm

mX: trọng lượng lô hàng xuất

- Ở đây 1,2% là hao hụt theo qui định chuẩn trong dự trữ (TCVN), cứ 1% độ ẩm giảm đithì trọng lượng giảm đi 1,2%

- Ngoài ra một cách tính hao hụt nữa là:

Tỷ lệ hao hụt =

- Để tính số lượng gạo nhập kho (mN) khi chuyển kho thì cơ sở tính như sau:

- Gạo được đóng trong bao PP Có trọng lượng tịnh qui định là 50kg Cả bao bì là50,2kg Khi chuyển kho các thủ kho theo dõi số lượng bằng những thẻ gỗ mỏng chứatrong một thùng gỗ có 20 ngăn mỗi ngăn có 10 thẻ Việc vận chuyển gạo qua lại được

sử dụng bằng những xe lôi đạp một xe chở 5 bao tương ứng với số thẻ

III. CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG CỦA NGUYÊN LIỆU VÀ

THÀNH PHẨM

- Đối với các loại hàng hóa nói chung, lương thực nói riêng, để đánh giá tốt phẩmchất của nó thì công tác kiểm nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng từ khâuthu mua đến khâu bảo quản, chế biến và thành phẩm để có biện pháp xử lí điềuchỉnh kịp thời đảm cho quá trình nhập kho cũng như quá trình xuất khẩu đượcthuận lợi Trong thu mua công tác kiểm nghiệm giúp đánh giá được phẩm chấtcủa từng loại lương thực, từ đó định ra giá thành sản phẩm tạo điều kiện dễdàng hơn cho quá trình bảo quản, chế biến sau này, dự đoán được thời gian bảoquản tránh hư hao tổn thất Ngoài ra việc kiểm nghiệm còn giúp đánh giá chấtlượng của từng loại lương thực để từ đó phân ra từng lô hàng riêng biệt giúpcho quá trình chế biến được thuận lợi, sử dụng các loại máy móc thiết bị phùhợp hơn, giảm được chi phí sản xuất, hạ được giá thành sản phẩm mà vẫn đápứng được yêu cầu xuất khẩu Tuy nhiên muốn thực hiện công tác kiểm nghiệm

có hiệu quả cao đòi hỏi người cán bộ kiểm nghiệm phải có trình độ chuyên môncao tay nghề vững vàng, nhiều kinh nghiệm mà đặc biệt là phải có tinh thầntrách nhiệm

- Ở xí nghiệp xuất khẩu AFIEX thì phẩm chất lương thực nhập kho không có qui định

cụ thể mà chủ yếu dựa vào các hợp đồng xuất khẩu rồi đưa ra các hạng mục như: độ

ẩm, độ trong-đục, chiều dài hạt, độ lẫn loại, tỷ lệ rạn-gãy, hạt xanh non, hạt đỏ, hạthỏng, hạt vàng, bông cỏ, tạp chất…nhưng trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu độ ẩmtuyệt đối phải đảm bảo an toàn Bên cạnh đó thì chỉ tiêu ẩm vàng, hư bệnh, tỷ lệ gãy

và thóc lẫn cũng quan trọng không kém yêu cầu đòi hỏi phải thấp Nhưng ở thực tế do

Trang 17

đặc điểm của xí nghiệp và đặc điểm của từng thời vụ và yêu cầu của từng hợp đồng mà

xí nghiệp kí kết mà phẩm chất lương thực nhập kho ban đầu của nguyên liệu ở cơ sởđược qui định dao động ở bản chỉ tiêu sau

Bảng 1 Chỉ tiêu nguyên liệu gạo nhập kho

ôi khi ở xí nghiệp cũng mua gạo nguyên liệu có độ ẩm cao hơn 17% và các chỉ tiêutrên cao hơn qui định Nhưng gạo nguyên liệu được kiểm tra cẩn thận dựa vào kinhnghiệm của cán bộ kiểm phẩm và được phân loại ra sau đó chất thành lô riêng biệttheo phẩm chất khác nhau

o Gạo được xem có phẩm chất tốt nhất hay còn gọi là nguyên liệu loại I sẽ đượcdùng để chế biến gạo 5% tấm còn các loại gạo có phẩm chất kém hơn như gạonguyên liệu loại II: nguyên liệu loại III thì được dùng sản xuất gạo 15%:20% tấm.Riêng một số hợp đồng đặc biệt chẳng hạn như xuất vào Nhật Bản, gạo phủ sắt vàoPhilipine thì cơ sở qui định thêm một số chỉ tiêu cần phải kiểm tra để đưa vào chếbiến riêng như: hạt bông cỏ phải nhỏ hơn 35 hạt/kg Kích thước của bề ngang hạtgạo trên bề dài hạt gạo phải nhỏ hơn hoặc bằng 0,3mm và một số chỉ tiêu khácnhư: hóa chất, kim loại, mùi vị, màu sắc…

o Nhìn chung trong thực tế ở mùa vụ đông xuân: thì các chỉ tiêu trên hầu như đạt được

vì nguồn nguyên liệu phong phú, chất lượng tốt nên rất dễ lựa chọn mà chủ yếu chútâm đến các chỉ tiêu quan trọng như độ ẩm, độ trong đục, độ lẫn loại, chiều dài trungbình hạt, tấm nhỏ (đối với gạo đi Nhật) bông cỏ (gạo đi Philipine) độ gãy rạn …luôn

Các chỉ tiêu

(%) tối đa

NL loại I chế biến gạo 5%

tấm

NL loại II chế biến gạo 15%

tấm

NL loại III chế biến gạo 20% tấm

NL XT 15% tấm (đấu trộn gạo 15%-25% tấm)

Trang 18

được cơ sở kiểm tra chặt chẽ nên chất lượng gạo qua chế biến đạt được chất lượngtheo qui định của hợp đồng xuất khầu.

o Riêng mùa vụ hè thu và vụ 3: thì do chất lượng kém hơn và nguồn cung hạn chế nênphần kiểm tra chỉ tiêu có phần dễ dãi hơn, bởi cơ sở có một số biện pháp khắc phụcnhư đưa vào sấy lửa với gạo có độ ẩm cao: thay lưới sàn bắt tấm 3 từ 1,5mm-2,2mm

để bắt triệt để bông cỏ và tấm mẫn…hai điều chỉnh mức xát trắng, lau bóng cao hơn và

dự trữ lại một số gạo đông xuân chất lượng tốt để đấu trộn chỉnh sửa các chỉ tiêu bịvượt, đáp ứng được hợp đồng xuất khẩu song nói chung thực tế việc thực hiện phẩmchất lương thực nhập kho của cơ sở rất tốt, thường xuyên và chặt chẽ nhưng khôngphụ thuộc một qui định mà thường theo các chỉ tiêu của hợp đồng chẳng hạn như:

Trang 19

Bảng 2 Chỉ tiêu gạo 15% tấm

Trang 20

Bảng 3 Chỉ tiêu gạo 5% tấm

Để đạt được chất lượng gạo cao đúng theo yêu cầu hợp đồng, mang lại hiệu quả caotrong kinh doanh thì vai trò của người cán bộ kiểm nghiệm là rất quan trọng Họ phảiđảm nhiệm hầu hết tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp

từ khâu thu mua, bảo quản chế biến cho đến xuất hàng theo hợp đồng

1. Ở khâu thu mua:

Nhiệm vụ của người cán bộ kiểm nghiệm là phải xuống ghe của khách hàng mang đến xôm điều các bao trên lớp mặt để lấy mẫu chung, chứa trong các bọc nhựa khối lượng 500-700g Sau đó dùng máy đo độ ẩm để loại bỏ bớt những mẫu không đạt yêu cầu

Trang 21

Còn những mẫu đạt được kiểm tra tiếp sơ bộ các chỉ tiêu khác bằng mắt thường để phân loại nguyên liệu ra loại 1; loại 2; loại 3.

Riêng gạo nguyên liệu dùng để làm gạo Nhật hoặc Philipine thì kiểm tra kĩ chiềungang, chiều dài bông cỏ có đạt không Rồi ghu vào bọc đựng mẫu gạo vừa lấy các sốliệu cần thiết như: Họ tên người bán, số lượng bao hoặc trọng lượng gạo, độ ẩm đođược (lấy chỉ số cao nhất trong ít nhất 3 lần đo) số tài chuyến rồi đưa sang các Bộ thumua

Sau khi cán bộ phụ trách thu mua đã mua xong một ghe gạo nào đó và ghi giá muavào bọc gạo thì kiểm phẩm sẽ căn cứ vào đó ghi đầy đủ vào phiếu mua hàng, nguyênliệu loại mấy, nơi nhập hàng, kho nào đổ bồn chứa mấy, giá gạo mua vào và độ thủyphần của nó Sau đó chuyển qua thủ kho thì thủ kho cũng căn cứ vào đó để tiến hànhnhập kho

2. Trong quá trình cân nhập kho:

Kiềm phần có nhiệm vụ kiểm tra lại mẫu thường bằng cách xôm đều từng bao, so sánh với mẫu bằng mắt thường hoặc đo độ ẩm lại bằng máy đo độ ẩm, nếu phát hiện

có sai lệch thì cho dừng nhập, đồng thời báo lại cho cán bộ phụ trách để có hướng xử línhư giảm giá hoặc trả mẫu lại cho chủ hàng, cho lái ghe đi

3. Trong khâu chế biến:

Phải kết hợp với cán bộ kỹ thuật chế biến vận hành máy, để điều chỉnh các thiết bịtrong lúc vận hành đạt được thông số tốt nhất, gạo thành phẩm thu hồi cao đạt đượccác chỉ tiêu phẩm chất theo yêu cầu

Lấy mẫu thường xuyên để kiểm tra, ở tất cả các khâu trong công đoạn chế biếnnhư: xát trắng thì kiểm xem mức xát đạt yêu cầu hay chưa để điều chỉnh thiết bị xáttrắng tăng hoặc giảm mức xát cho đạt yêu cầu Lau bóng thì kiểm mặt gạo xem cóbóng, bó cám hay không để có cách điều chỉnh thích hợp và các công đoạn khác nhưbắt thóc, thùng sấy, sàng đảo, trống tách tấm cũng được kiểm tra chặt chẽ để nếu có sailệch so với yêu cầu thì điều chỉnh kịp thời Trường hợp đã điều chỉnh rồi mà vẫnkhông đạt, không khắc phục được thì báo cáo cán bộ phụ trách, hay lãnh đạo cơ sở để

có hướng giải quyết

4. Trong khâu bảo quản:

Thì định kì kiểm tra chất lượng của các loại gạo đã dự trữ, nếu phát hiện có tìnhtrạng xuống cấp, bó cám, biến mẫu thì phải báo ngay cho cán bộ phụ trách để

có hướng đưa vào tái chế Thường xuyên kiểm tra nếu phát hiện mật số mọt caothì đề xuất cho xông trùng bằng thuốc viên và đậy bạc kín để diệt mọt

Trang 22

Đôn đốc thủ kho kiểm tra vách kho, nóc kho nếu không an toàn thì cho sửa chữangay Đồng thời áp dụng các biện pháp vệ sinh sạch sẽ nền kho, xung quanh khu vựckho Bảo đảm an toàn lao động phong chống cháy nổ.

5. Trong khâu đấu trộn:

Xuất hàng thì kiểm tra gạo trước để chuẩn bị đưa vào đấu trộn có còn giữ đượcphẩm chất đạt theo yêu cầu của hợp đồng hay không để có cách đấu trộn hợplí.Trước khi xuất thì phải đấu trộn mẫu chuẩn gửi cho cơ quan giám định đểkiểm tra theo đúng qui định của hợp đồng xuất khẩu.Trong quá trình đấu trộnthì điều chỉnh thiết bị đấu trộn sao cho mặt gạo đúng theo mẫu chuẩn Sau đólấy mẫu chuẩn đấu trộn kiểm tra phân tích thường xuyên bằng dụng cụ cân đo,đong, đếm để xác định các chỉ tiêu phẩm chất nào không đạt điều chỉnh lại hoặcbào với cán bộ phụ trách để có hướng khắc phục

Kết hợp với thủ kho đôn đốc công nhân thực hiện đóng định chuẩn xác, vệ sinhsạch sẽ trong khu vực đóng gạo và xuất đúng số lượng theo yêu cầu

Hợp tác chặt chẽ với nhân viên của cơ quan giám định để có những biện pháp

xử lí thích hợp để sao cho gạo xuất đi đạt được yêu cầu về chất lượng sản phẩm

Do vậy vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ kiểm nghiệm là rất quan trọng nên đòihỏi người cán bộ phải có một trình độ chuyên môn thật vững vàng không ngừnghọc hỏi rút kinh nghiệm năng cao tay nghề đồng thời phải kết sức nhiệt tình vàtrung thực trong công tác để giúp cho việc kinh doanh của xí nghiệp ngày pháttriển

- Tại cơ sở hiện nay chủ yếu thu mua gạo nguyên liệu là chính nên lúa không có mua

• Do gạo nguyên liệu được thu mua từ nhiều khách hàng khác nhau nên rất đa dạng vềgiống loại cũng như về kích thước hình dạng và chất lượng

• Tuy nhiên ở cơ sở chủ yếu thu mua các giống lúa, gạo có giá trị xuất khẩu cao như:

4218, 6976…có độ dài hạt cao hạt bóng mẫy, màu sáng trong Bên cạnh đó cũng cómột số loại gạo đục hơn như IR50404 thích hợp cho chế biến gạo 15%-20% tấm

• Còn riêng ở vụ hè thu và vụ 3: kích thước mẫu và hình dạng của nguyên liệu nhập khothường không bằng vụ đông xuân, gạo bị sẫm màu, hạt gạo không bóng do độ ẩm cao,hạt không no tròn mà thon ốm do dinh dưỡng trong đất ít cộng với thời tiết mưa nhiềulàm cho hạt phát triển không đầy đủ

• Do nguồn hàng ở cơ sở nhập vào từ các bạn hàng các nơi khác nhau chở đến nên gạođược trộn lẫn từ nhiều giống lúa khác nhau nên cán bộ kiểm nghiệm không phân biệt

Trang 23

được giống loại mà chủ yếu dựa vào các hạng mục như: độ ẩm, độ dài, độ trong, đục,hạt nguyên vẹn, độ rạn gãy, thóc lẫn, hạt vàng, hạt hư,hạt xanh non,…để phân loại racác loại gạo như sau

 Gạo nguyên liệu loại I: có phẩm chất chất lượng cao, ít xanh non, ít rạn gãy, kíchthước hạt dài, ít bạc bụng sẽ được chế biến gạo 5% tấm hoặc chế biến các loại gạoxuất vào các thị trường khó tính như: Nhật Bản, Châu Âu…

 Gạo nguyên liệu loại II; III: thì chất lượng kém, hạt lem, hạt hư bệnh, hạt đỏ, rạn gãynhiều thì dùng để chế biến ra gạo 15% -20% tấm

- Mà thường ở cơ sở kiểm tra bằng một số cách như sau

o Quan sát bằng mắt để kiểm tra màu sắc của hạt gạo, độ xát trắng, độ gãy vỡ, mức độlau bóng, sọc đỏ, sọc lưng trên mặt gạo còn nhiều ít mà đánh giá mức độ bóc cám,xem độ bóng của hạt gạo trong lau bóng đạt yêu cầu hay chưa bằng cách bóc một nấmgạo vào lòng bàn tay đưa lên cách mắt khoảng 10cm xem hạt gạo có bính dính bột cám(do phun nước nhiều) hay có những sọc cám (do phun ít nước hoặc ít do lượng gạoquá nhiều) Rồi đưa bàn tay ra ngoài cách nắng (đèn) phí dưới tầm mắt xem độ rạn gãycủa gạo

o Đánh giá các chỉ tiêu sơ bộ trên tấm bảng nhựa hình vuông hai mặt: bằng cách bốcnắm gạo trải đều trên mặt đen, đáng giá sơ bộ về chỉ tiêu hạt phấn, mức bóc cám, độbóng Bốc một nắm gạo rải đều lên mặt trắng, đánh giá sơ bộ về các chỉ tiêu hạt vànghạt đỏ, hạt sọc lưng, hạt bệnh,

o Cảm nhận bằng tay: sờ tay vào gạo bóp nhẹ để kiểm tra độ trơn bóng, độ nóng nguộicủa gạo hay độ ẩm bằng cách bóp mạnh và nắm chặt gạo trong lòng bàn tay khi buông

ra mà gạo vẫn còn vón lại trên lòng bàn tay là gạo có độ ẩm cao và ngược lại

o Cảm nhận bằng mũi: bốc một nắm gạo đưa lên mũi ngửi, gạo để lâu sẽ có mùi ẩmmốc, gạo độ ẩm cao sẽ có mùi chua Nhưng những cách trên chỉ là để đánh giá sơ bộlương thực trong khâu chế biến để có cách điều chỉnh thiết bị cho phù hợp Còn muốn

có được chính xác từng chỉ tiêu thì cán bộ kiểm nghiệm phải lấy mẫu mang về phòngphân tích kết hợp với các dụng cụ hỗ trợ chia mẫu sau đó mới tiến hành phân tích

o Trong đợt thực tập ở cơ sở em có kiểm tra các hạng mục chất lượng gạo bằng các dụng

cụ em thu được kết quả sau:

Ngày đăng: 29/08/2019, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w