Sự cần thiết của việc áp dụng các quan điểm cuẩ phương pháp giáo dục Montessori vào trong hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non .... 40Bảng 4: Sự cần thiết của việc áp dụng các
Trang 1CHO TRẺ MẦM NON(3-6 TUỔI)
THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2019
Trang 2CHO TRẺ MẦM NON(3-6 TUỔI)
THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo, T.S
Nguyễn Thị Hương – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em
trong suốt thời gian và quá trình làm khóa luận
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ ,
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian em tham gia học tập và
rèn luyện tạo trường
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các cô giáo trường Mầm non
Đại Thịnh ( Mê Linh – Hà Nội) và trường Mầm non Văn Khê ( Mê Linh – Hà
Nội ) đã tạo điều kiện cho em khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Người thực hiện
Nguyến Thị Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là thành quả của riêng cá nhân em cùng với sự hướng dẫn tận tình của TS.Nguyễn Thị Hương Nội dung khóa luận của em không trùng với bất kì khóa luận nào khác, nếu không đúng em hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm
Người thực hiện
Nguyễn Thị Linh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Cấu trúc khóa luận 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẦM NON (3 – 6 TUỔI) THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI 4
1.1 Phương pháp giáo dục Montessori 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Bản chất của phương pháp Montessori 5
1.1.3 Đặc trưng và ưu thế của phương pháp giáo dục Montessori 6
1.1.4 Đặc điểm của trẻ mầm non theo Maria Montessori 11
1.1.5 Vai trò của phương pháp dạy học Montessori đối với việc hình thành biểu tượng toán học cho trẻ 13
1.1.6 Bộ giáo cụ Montessori 14
1.2 Hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 24
1.2.1 Khái niệm “ biểu tượng số lượng” 24
1.2.2 Mục tiêu của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 25
1.2.3 Nội dungcủa việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 26
Trang 61.2.4 Đặc điểm dạy học biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 29
1.3 Sử dụng phương pháp Montessori để hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẦM NON(3-6 TUỔI) THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI 36
2.1 Mục đích khảo sát 36
2.2 Đối tượng khảo sát 36
2.3 Nội dung và phương pháp khảo sát 36
2.3.1 Nội dung điều tra thực trạng 36
2.3.2 Phương pháp khảo sát 36
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng 37
2.4.1 Nhận thức của giáo viên về phương pháp Montessori 37
2.4.2 Nhận thức của giáo viên về biểu tượng số lượng 38
2.4.3 Thực trạng việc vận dụng phương pháp Montessori trong dạy biểu tượng số lượng cho trẻ 39
2.4.4 Sự cần thiết của việc áp dụng các quan điểm cuẩ phương pháp giáo dục Montessori vào trong hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 40
2.4.5 Vai trò của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ dựa trên quan điểm của phương pháp giáo dục Montessori 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẦM NON THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI 44 3.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non (3 - 6 tuổi) theo phương pháp Montessori 44 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc trưng kiến thức toán học cần hình
Trang 7thành cho trẻ 44
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tự do, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ 44
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác 45
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 46
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 46
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo môi trường học tập 47
3.2 Tiến trình thiết kế bài học hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non (3 – 6 tuổi) theo phương pháp Montessori 47
3.3 Minh họa thiết kế bài hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ (3 – 6 tuổi) theo phương pháp Montessori 51
3.3.1 Học đếm từ 1 đến 10 51
3.3.2 Kết hợp giữa gậy số và số 53
3.3.3 Bài tập về thẻ số và hạt chấm đỏ 56
3.3.4 Bài tập với giáo cụ Montessori – Học phép tính cộng với trò chơi con rắn 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Bảng 1: Nhận thức của GV về phương pháp Montessori 37Bảng 2: Nhận thức của GV về biểu tượng số lượng 38Bảng 3: Thực trạng việc vận dụng phương pháp Montessori trong dạy
biểu tượng số lượng cho trẻ 40Bảng 4: Sự cần thiết của việc áp dụng các quan điểm cuẩ phương pháp
giáo dục Montessori vào trong hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 41Bảng 5: Vai trò của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ dựa trên
quan điểm của phương pháp giáo dục Montessori 42
Trang 9Để xây dựng mục tiêu trên việc xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp với từng độ tuổi nhằm phát huy hết khả năng vốn có của trẻ đóng vai trò rất quan trọng Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non nói chung và hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 3-6 tuổi nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình học ở trường mầm non Nội dung này góp phần giúp trẻ nhận biết và phản ánh bằng lời nói dấu hiệu
số lượng và mối quan hệ số lượng có trong các sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh trẻ, hình thành ở trẻ biểu tượng về con số và mối liên hệ giữa các
số liền kề thuộc dãy số tự nhiên, là cơ sở để trẻ học các phép tính đại số ở trường tiểu học sau này
Trên thực tế giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay đã và đang triển khai thực hiện nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi được quy định trong chương trình giáo dục mầm non Tuy nhiên quá trình giáo dục này chưa đạt được kết quả cao do giáo viên chưa biết lựa chọn
và sử dụng những phương pháp, biện pháp phù hợp
Bên cạnh đó, phương pháp Montessori là phương pháp giáo dục sớm cho trẻ, phương pháp này lấy khả năng tự học của trẻ làm nền tảng cơ sở, khai thác tiềm năng sẵn có của trẻ, không áp đặt bất cứ hành động gì, chỉ quan sát, gợi ý, khuyến khích, động viên trẻ để trẻ tự phát triển và hòa nhập với môi trường xung quanh
Dựa vào những lý luận thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề “ Tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi theo phương pháp Montessori” làm nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 102
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non ( 3 – 6 tuổi ) theo phương pháp Montessori
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non ( 3 – 6 tuổi ) theo phương pháp Montessori
Đề xuất một quy trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non ( 3 – 6 tuổi ) theo phương pháp Montessori
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 3-6 tuổi theo phương pháp dạy học Montessori
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 3-6 tuổi
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu thực tiễn tại trường Mầm non Đại Thịnh (
Mê Linh – Hà Nội ) và trường Mầm non Văn Khê ( Mê Linh- Hà Nội)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp lí thuyết
+ Phân loại và hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Quan sát
+ Phỏng vấn
+ Điều tra
Trang 113
7 Giả thuyết khoa học
Nếu các hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non (3 – 6 tuổi) được thiết kế và tổ chức dựa trên quan điểm của Montessori thì trẻ sẽ được sử dụng tối đa khả năng của bản thân, được thao tác và tương tác tích cực với bộ giáo cụ.Điều này rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển toàn diện các mặt của trẻ, giúp trẻ sáng tạo hơn
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu - kết luận, nội dung của đề tài gồm hai phần sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non (3 – 6 tuổi) theo phương pháp Montessori
Chương 2 : Cơ sở thực tiễn của việc hình thnahf biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non(3-6 tuổi) theo phương pháp Montessori
Chương 3: Đề xuất quy trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non (3 – 6 tuổi) theo phương pháp Montessori
Trang 124
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẦM NON (3 – 6 TUỔI) THEO
PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI 1.1 Phương pháp giáo dục Montessori
1.1.1 Khái niệm
Phương pháp giáo dục của M Montessori là phương pháp giáo dục trẻ
em với tiến trình giáo dục đặc biệt Chủ yếu dựa vào việc trẻ học khái niệm thông qua hoạt động trải nghiệm với các giác quan dưới hình thức cá nhân hóa được sáng lập bởi bác sĩ thần kinh, nhà giáo dục người Ý M Montessori,
bà đã có công to lớn trong việc tạo ra bộ đồ dùng cảm giác sáng tạo để chữa trị trẻ suy nhược thần kinh và đạt được hiệu quả xuất sắc Bởi đó giáo dục Montessori được phổ biến trên thế giới
Ở lớp học theo phương pháp Montessori trẻ được học toán với thái độ tích cực, tự tin, do đó trẻ dần nắm được hệ thống biểu tượng toán học, giúp trẻ học toán một cách tích cực và hứng thú
M Montessori cho rằng kiến thức toán hoạc là cơ sở quan trọng của thế giới tinh thần và sự phát triển của trẻ, mục tiêu của giáo dục toán là sự hình thành nền tảng cho sự phát triển khả năng tư duy logic cho trẻ Để trẻ tiếp thu khái niệm toán cơ sở bằng giác quan trong môi trường để phát triển tinh thần toán hiện tại của trẻ Vì vậy phải xây dựng môi trường từ sớm cho trẻ, phải giúp trẻ cảm thấy học toán là sự hoạt động không khó thông qua việc tổ chức các hoạt động của trẻ với hệ thống đồ dùng dạy học trên cơ sở khai thác khả năng và mức độ phát triển của trẻ Bằng cách đó phải giúp hình thành ở trẻ thái độ tích cực khi học toán
Dựa trên kết quả nghiên cứu và quan sát trẻ, bà ch rằng trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của trẻ sẽ có những hành vi chủ đạo đặc trưng dựa vào các xu hướng vốn có của loài người là: tự bảo vệ một cách bản năng, khuynh hướng tích cực gần gũi thiên nhiên, thích khám phá, thao tác với môi trường xung quanh, thích hành động lặp lại, thích giao tiếp, trí tuệ toán học, tính chính xác, tính trừu tượng, tính định hướng của hoạt động và tính trật tự Trên cơ sở đó bà cho rằng nếu trẻ được tự do lựa chọn và hoạt động trong môi trường được chuẩn bị kỹ càng, phù hợp với khả năng và giai đoạn phát triển
Trang 131.1.2 Bản chất của phương pháp Montessori
Triết lý giáo dục của phương pháp Montessori
- Triết lý giáo dục của Montessori coi trọng hai năng lực nội sinh do sự phát triển của một đứa trẻ là: quá trình nhận biết và khả năng nhận thức Trẻ
em có năng lực trí tuệ và khả năng nhận thức riêng để học hỏi và tiếp thu kiến thức từ chính môi trường của trẻ không giống như năng lực nhận thức của người lớn Trong môi trường đó trẻ em có thể sáng tạo và hoạt động theo
ý tưởng của mình Trẻ em cũng có đời sống tinh thần riêng, vừa có năng lực học tập vừa có tinh thần sẵn sàng học hỏi Trẻ em có khả năng tieeos thu trực giác, tự nhận thức thông qua các hoạt động độc lập, những gì trẻ thực hiện sẽ tác động đến việc hình thành tính cách của trẻ, trẻ tự nhận thức được giá trị của bản thân, chúng cảm thấy việc lao động không còn là gánh nặng đối với chúng
- Phương pháp Montessori nhằm hướng tới sự phát triển tổng thể tính cách của trẻ dựa trên ba lĩnh vực: sự vận động của cơ thể, kích thích giác quan và cách phát huy hoạt động trí tuệ Sự phát triển hài hòa giữa thể chất
và tinh thần giúp cho trẻ trở thành một con người toàn diện có tri thức và sức khỏe
- Tôn trọng sự tự do của trẻ là mọt trong những triết lý được Montessori chú trọng đến Trẻ em được tự do lựa chọn công việc và được quyền quyết định tương lai của mình, Montessori giao quyền quyết định về cho các em Montessori cho rằng sự tự do như nhân tố quan trọng nhất để tạo ra cơ hội
và hỗ trợ quá trình học tập của trẻ Tự do trong hoạt động nhận thức là cơ sở cho sự rèn luyện bên trong Tuy nhiên sự tự do trong phương pháp Montessori là có giới hạn thông qua đồ dùng và quy tắc xã hội bởi các em chỉ được tự do lựa chọn đồ dùng tương ứng với giai đoạn phát triển, chỉ sử dụng những đồ dùng trẻ đã được hướng dẫn, mỗi đồ dùng chỉ có một Chính
sự tự do lựa chọn ấy đã làm bộc lộ những quy tắc chi phối sự hình thành tâm
lý của trẻ
Trang 146
- Montessori đề cao vai trò của vận động, Montessori cho rằng: một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta là cho rằng bản thân vận động có khoảng cách với những chức năng bậc cao Sự phát triển nhận thức cần liên kết với vận động và dựa trên vận động, trong đó quan trọng nhất là sự rèn luyện nội tâm Vì vậy trong các hoạt động mà giáo viên thiết kế cho trẻ luôn bao hàm việc rèn luyện nội tâm tĩnh lặng Trong mỗi hoạt động ở lớp học, trẻ được hướng dẫn làm cụ thể nhưng chính xác và trẻ phải thực hiện các động tác thiết kế sẵn một cách tuần tự Thông qua những bài tập rèn luyện tập như vậy trẻ luôn ý thức về từng hành động riêng lẻ của mình
- Trẻ em có một sự nhạy cảm đặc biệt kèm theo khả năng trí tuệ để tiếp thu và học hỏi từ môi trường bên ngoài mà không giống như của người lớn
cả về năng lực và cấp độ Sáu năm đầu đời của trẻ là khoảng thời gian quan trọng nhất tạo tiền đề cho sự phát triển sau này khi mà từ việc học mà chơi, chơi mà học sẽ dần dần hình thành thói quen học tập nghiêm túc Đây được coi là thời điểm quyết định trong sự phát triển của trẻ Trẻ em có niềm say
mê khám phá ngay từ khi còn rất nhỏ nên chúng ta cần người lớn hướng dẫn những hoạt động có chủ đích Với những trẻ khuyết tật trí tuệ thì khả năng tập trung của trẻ không cao nên nếu như người lớn biết cách tổ chức và hướng trẻ vào hoạt động thì trẻ sẽ rất hứng thú
1.1.3 Đặc trưng và ưu thế của phương pháp giáo dục Montessori
Đặc trưng của phương pháp giáo dục Montessori
- Lớp học ghép các lứa tuổi với nhau:
Thông thường chỉ là các trẻ từ 2,5 hay 3 tuổi đến 6 tuổi Với mô hình lớp học như thế này, các bé lớn có thể giúp và hướng dẫn các em nhỏ tuổi hơn mình, đồng thời các em nhỏ cũng có thể sớm quen hơn với môi trường học mầm non, đặc biệt là những bé mới đi mẫu giáo Qua đó, trẻ lớn sẽ rèn được cho mình tính hòa đồng, biết giúp đỡ người khác.Còn bé nhỏ tuổi hơn thì trở nên linh hoạt, chủ động trong khi chơi
- Trẻ tự lựa chọn các hoạt động ( với điều kiện là các hoạt động này đã
được các giáo viên lên kế hoạch và sắp xếp trước)
Kế hoạch được giáo viên lên từ trước và trẻ là người chủ động trong việc làm
kế hoạch đó như thế nào Sự đa dạng trong kế hoạch thực tế khiến trẻ có cảm giác thích thú hơn với hoạt động mới đồng thời lượng tăng kiến thức tích lũy được của trẻ Khi được tự lựa chọn hoạt động, trẻ sẽ chọn những cách mà trẻ thích làm nhất qua đó các cô và bố mẹ có thể nhìn thấy được ưu điểm mà trẻ
có là gì, từ đó phát huy hay điều chỉnh hành động của trẻ Sự chủ động trong
Trang 157
lựa chọn hoạt động cũng giúp khuyến khích sự hoạt bát và sáng tạo của trẻ
- Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong suốt quá trình hoạt động
Một trong những mục tiêu của phương pháp Montessori là dạy trẻ biết tập trung Đây là một trong những kỹ năng đóng vai trò nền tảng cho việc học, nhưng lại hay bị bỏ qua trong các trường học truyền thống Một ngày học theo phương pháp Montessori được thiết kế để không ngắt quãng sự tập trung của trẻ khi phải chuyển sang bài mới, trong khi chưa hoàn thành bài cũ Khi trẻ về nhà, các bố mẹ cũng không nên ngắt quãng khi con đang làm việc gì
đó Để con tự làm dần dần bé sẽ quen cho dù lúc mới làm sẽ rất chậm chạp
Trang 168
- Nghe – quên, nhìn – nhớ, làm – hiểu
Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với một điều mới nếu chỉ đơn giản là nói cho trẻ hiểu thì kiến thức đọng lại trong trí não trẻ gần như là không có Ở độ tuổi này, trẻ rất hiếu động và mau quên, bố mẹ có thể vừa nhắc trẻ một vấn đề nào đó thì lúc sau trẻ đã gần như quên sạch Khi áp dụng phương pháp Montessori, trẻ sẽ tiếp nhận kiến thức thông qua việc thực hành trực tiếp để
có thể hiểu vấn đề một cách cặn kẽ nhất Ở trường Mầm non Montessori Quốc tế (MON), bé sẽ được thực hành thông qua các giáo cụ do chính
bà Maria Montessori thiết kế để hiểu về những điều trẻ được học và có thể tự làm khi trẻ về nhà
- Học mà chơi, chơi mà học
Khi học trong môi trường của phương pháp Montessori, trẻ sẽ thu nhận kiến thức thông qua các hoạt động vui chơi của mình Những hoạt động này đều được thực hiện cùng với các đồ vật, giáo cụ đã được thiết kế riêng biệt dành cho trẻ, vừa với kích thước và khả năng bê đỡ đồ vật của chúng Qua đồ vật này, trẻ chơi với chúng và đồng thời học từ chúng Có thể là học cách nhận biết các hình, các chữ, các con vật hay các màu Những đồ dùng này cho các bé đều được trường Mầm non Montessori Quốc tế nhập từ nước ngoài với những chất liệu sản phẩm uy tín, đảm bảo sức khỏe cho các bé
Trang 179
Ưu điểm của phương pháp Montessori đem lại cho trẻ mầm non:
- Tài năng được phát triển nhờ phương pháp giáo dục sớm Montessori
Phương pháp Montessori đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tính chủ động,
tự lập và khơi gợi tiềm năng, và định hình nhân cách trẻ Nhờ vậy, trẻ được tự
do tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh theo mong muốn, giáo viên lúc này đóng vai trò là người hướng dẫn Từ đó, tài năng cuả trẻ có thể được phát hiện rất sớm và khuyến khích phát triển Điều này không chỉ tốt cho trẻ mà còn giúp cả phụ huynh định hình được cách giáo dục con theo cái trẻ muốn
Trẻ sống tự lập và ý thức cao hơn nhờ phương pháp giáo dục này
Nhờ có phương pháp Montessori trẻ được tự học cách chăm sóc bản thân từ việc nhỏ nhất như: rửa tay, thay quần áo, sắp xếp đồ dùng – giáo cụ ngăn nắp, gọn gàng… thay vì nhờ bố mẹ hay người lớn làm giúp Điều này hình thành một suy nghĩ tự giác, tự lập cho trẻ, không ỉ lại vào người khác Đây sẽ là một tính cách rất tốt cho tương lai của trẻ cũng như việc định hình tích cách của trẻ khi trưởng thành
- Trẻ thông minh hơn khi học tập cùng Montessori
Như đã đề cập ở trên, phương pháp giáo dục sớm Montessori rất đề cao
sự phát triển tự nhiên của trẻ, tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ được tự học hỏi,
tự tìm tòi từ thế giới xung quanh trẻ hay từ những điều mà trẻ được tiếp xúc
Trang 1810
Đây là một yếu tố tác động rất tốt đến trí thông minh cũng như tư duy của trẻ Theo các nhiều nghiên cứu khoa học, việc trẻ được tự học hỏi không chỉ giúp trẻ học được cách độc lập tư duy về sau mà việc tự nghiên cứu cũng giúp não bộ và trí thông minh của trẻ phát triển hơn rất nhiều so với những trẻ học thụ động, theo sự chỉ dẫn của lớn
Đồng thời trong phương pháp giáo dục sớm Montessori còn được chia
ra nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có những lĩnh vực về Toán học, Ngôn ngữ, Thực hành cuộc sống, Giác quan, Nghệ thuật, Âm nhạc
Điều này đồng nghĩa với việc bé sẽ được tiếp cận với những kiến thức mang tính khoa học rất là sớm mà còn đượcVận động bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh theo cách tự nhiên nhất Trẻ sẽ linh hội kiến thức thông qua các giáo cụ quy chuẩn được thiết kế riêng biệt cho phương pháp Montessori dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đây là tiền đề tốt để phát huy trí thông minh và tiếp nhận kiến thức trong các giai đoạn phát triển sau này
Trí nhớ của trẻ cũng được phát triển cực tốt với phương pháp giáo dục sớm Montessori
Trẻ khi được tiếp cận phương pháp Montessori là được tiếp cận một
phương pháp tự học, tự tìm tòi mà việc tự tiếp thu kiến thức như vậy sẽ khiến trẻ ghi nhớ kiến thức được rất lâu
Việc tiếp thu kiến thức của trẻ sau này cũng dễ dàng hơn rất nhiều Thêm vào đó, trẻ còn có thể tự khám phá ra những điều mới xung quanh những điều mà mình thấy được, khả năng tư duy của trẻ từ đó cũng được phát triển hơn rất nhiều
- Tính nhân văn cũng được đề cao trong phương pháp giáo dục sớm Montessori
Khi được học tập với phương pháp giáo dục sớm Montessori trẻ được giáo dục từ rất sớm về tính nhân văn Trẻ sẽ luôn được học cách quan tâm, chia sẻ với mọi người, yêu quý môi trường sống, thiên nhiên, cách tự chăm sóc bản thân, ý thức được việc làm của mình Qua đó trong quá trình phát triển, trẻ sẽ hình thành được các tính cách hiền hòa, nhân ái và tự chủ Việc tự học, tự khám phá cũng có ý nghĩa giúp trẻ trở nên hoạt bát, năng động hơn Đặc biệt, trẻ sẽ luôn muốn tìm tòi, học hỏi điều mới với khả năng nhớ và tiếp thu kiến thức cực nhanh
Với những ưu điểm vượt trội như vậy, không bất ngờ khi nhiều bậc phụ huynh, nhiều thầy cô coi đây là phương pháp giáo dục sớm hiệu quả nhất Cũng nhờ vậy, phuong phap Montessori gần như trở thành một xu thế hiện nay Rất nhiều phụ huynh mong muốn trường của con mình cũng được
Trang 1911
áp dụng những phương pháp hiện đại như vậy hay sẽ lựa chọn những trường
áp dụng phương pháp Montessori để con mình có cơ hội được học tập và trải nghiệm Bởi vậy, thầy cô nên suy nghĩ để áp dụng và đưa phương pháp này vào với thực tế
1.1.4 Đặc điểm của trẻ mầm non theo Maria Montessori
Mỗi cuộc đời con người luôn gắn liền với những mốc giai đoạn quan trọng như: 6 năm đầu đời, tiền dậy thì, dậy thì và trưởng thành Trong đó, theo tiến
sỹ, nhà giáo duc người Italy – Maria Montessori, 6 năm đầu đời là giai đoạn
“vàng” trong tiến trình phát triển của trẻ
Ở giai đoạn này ba mẹ sẽ chứng kiến sự phát triển vượt bậc của trẻ về não bộ, khả năng tiếp thu và học hỏi kiến thức một cách nhanh, mạnh mẽ Đồng thời, trong giai đoạn này, trẻ cần phát triển những yếu tố về mặt thể lực như: nhanh nhẹn, khéo léo, bền bỉ, hình thành thói quen vận động giúp trẻ có ý thức hơn trong việc vận động để rèn luyện và giữ gìn sức khỏe Đặc biệt, chiều cao là một trong những yếu tố cần thúc đẩy tối ưu cho giai đoạn này
Tuy nhiên, không phải ba mẹ nào cũng thấu hiểu những về thời kỳ đặc biệt này Hãy cùng tham khảo bài viết dưới để để biết thêm những thông tin chi tiết nhất về các giai đoạn phát triển của trẻ
Giai đoạn 0 đến 6 tháng tuổi: Trẻ phát triển năng lực tiếp thu thông qua các giác quan
Đây là thời kỳ mẫn cảm nhất khi trẻ có những phản ứng lại với các kích thích
từ bên ngoài thông qua sự cảm nhận của các giác quan Bắt đầu là thính giác
và thị giác Khoảng ở tháng thứ 3, thính giác và thị giác bắt đầu hoạt động đồng thời khi trẻ có thể vừa nghe vừa nhìn Trẻ quen với những âm thanh của
ba mẹ và người thân thiết và nhoẻo miệng cường khi nghe thấy tiếng mẹ tới gần Khoảng đến 3 – 4 tháng tuổi, trẻ có thể nhớ mặt những người thân ở gần Ngay cả xúc giác của trẻ cũng có sự phát triển vượt trội khi các con bắt đầu biết cảm nhận thông qua việc chạm, thậm chí là mút ngón tay
Để mang đến cho con những kích ứng giác quan tích cực, ba mẹ hoàn toàn có thể cho bé xem sách tranh hoặc nghe những bản nhạc, các bài thơ theo giai điệu gắn kèm với các đầu sách tranh, ảnh phù hợp Nếu ba mẹ tiến hành lặp đi lặp lại các hành động này từ 1 tuần trở lên, trẻ sẽ có những phải xạ bằng việc biểu hiện vui, thích thú những hình ảnh, âm thanh bạn kể
Trang 20
Đặc biệt, trong giai đoạn này, trí tuệ thẩm thấu vô thức cũng sẽ giúp trẻ tự kiến tạo bản thân bằng cách tiếp nhận thông tin (học cách tiếp nhận ngôn ngữ), học hỏi thông qua việc bắt chước làm theo Trẻ cần ít nhất 5 yếu tố: liên
hệ trực tiếp với mẹ, và cần có sự hiện diện của cha; tôn trọng nhịp sinh học; Mọi việc được thực hiện theo đúng trình tự và dễ đoán với trẻ; không gian thích hợp để trẻ tự do nhìn ngó và vận động; nhu cầu khám phá môi trường mới với tất cả các giác quan)
Cho nên, ba mẹ cần chú trọng tới chuẩn bị một môi trường sẵn sàng cho sự tự
do khám phá của trẻ để các bạn nhỏ có thể phát triển toàn diện, giúp xây dựng nền tảng vận động và hoạt động giác quan cho trẻ từ bé Nếu ba mẹ bỏ qua cơ hội kích thích sự tự do trải nghiệm của trẻ và khơi gợi sự quan tâm tới sự vật, hiện tượng ở mỗi bé trong thời kỳ này, các con sẽ rất khó để hoàn thiện về mặt vận động, trí tuệ và tư duy
Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi: Trẻ phát triển năng lực tư duy
Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển xuất chúng về tư duy ở trẻ nhỏ Ở thời kỳ này, trẻ phát triển vượt bậc về trí tuệ Não bộ của trẻ sẽ có thay đổi mạnh mẽ về mặt tự duy logic, các giác quan cũng nhạy bén, khả năng vận
động nhanh nhạy hơn hẳn Tiến sỹ, nhà giáo dục người Ý khẳng định rằng: Ở giai đoạn này, trẻ phát triển toàn diện các yếu tố nhạy cảm, bao gồm 5 yếu tố trí tuệ: Trí tuệ logic (khả năng ghi nhớ sự vật; sắp xếp đồ vật trật tự), Trí tuệ ngôn ngữ (tăng vốn từ vựng; phát âm đúng…), Trí tuệ cảm xúc (biết thể hiện cảm xúc), Trí tuệ nghệ thuật (khả năng cảm thụ âm nhạc, mỹ thuật…), Kỹ năng giao tiếp (Trò chuyện, hòa đồng với mọi người, biết nói cảm ơn…) và 2 yếu tố khác về phát triển thểchất và các giác quan
Chuyên gia Montessori Nguyễn Bảo Trọng cũng cho biết: Sự thẩm thấu trí tuệ của trẻ ở giai đoạn này tiếp tục giúp trẻ mở rộng kiến thức của mình thông qua việc tự thu nhận, tự khám phá và tự trải nghiệm Từ đó, trẻ không chỉ thể hiện được sự hiểu biết của mình theo cá tính riêng mà còn hình thành nhân cách tốt và kỹ năng cần thiết như hợp tác linh hoạt, tự học, tự lập và
Trang 2113
trường thành, sẵn sàng trở thành công dân toàn cầu hội nhập thế kỷ 21
Cho nên, việc tận dụng tối đa giai đoạn này để phát triển và khơi gợi những tiềm năng sẵn có của trẻ vô cùng quan trọng Hãy mang đến cho trẻ thật nhiều
cơ hội khám phá thế giới xung quanh, tiếp nhận tri thức càng nhiều càng tốt
1.1.5 Vai trò của phương pháp dạy học Montessori đối với việc hình thành biểu tượng toán học cho trẻ
- Trẻ ham mê khám phá và giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng các dụng cụ học tập thiết thực nhằm phát triển sự kết hợp, tập trung, yêu cầu và cách tiếp cận học tập một cách độc lập
- Trẻ có thể hiểu các biểu tượng toán, khái niệm về lượng trong toán thông qua các hoạt động với giáo cụ trong góc toán của lớp học Thông qua
đó trẻ hiểu được nguyên lý của toán và thực hiện được những phép tính một cách dễ dàng Ngoài ra khi làm việc với giáo cụ trong góc toán, trẻ phát triển khả năng tư duy, suy luận, trẻ hiểu rõ một quá trình thông qua việc lặp đi lặp lại công việc
- Trẻ biết cách làm việc nhóm với các bạn trong quá trình học tập và khám phá
- Trẻ phát triển toàn diện về thính giác, thị giác, vận động từ các dụng
cụ học tập thiết kế riêng biệt theo phuong pháp giáo dục Montessori Trẻ có cảm nhận về giác quan một cách tinh tế nhất
- Trẻ hiểu hết tất cả các khía cạnh của môi trường học tập và văn hóa của mình trên góc độ riêng của bản thân Phuong pháp dạy học Montessori giúp trẻ yêu thích toán học với một thái độ tích cực, giúp trẻ hiểu biết toán học dưới dạng hệ thống các biểu tượng toán học sơ đẳng, nhờ vậy giúp trẻ hiểu biết tốt hơn về thế giới xung quanh của mình, giúp trẻ nắm được kiến thức ban đầu một cách hứng thú và tích cực
- Trẻ tự có mục tiêu để hướng tới và hoàn toàn có thể phát triển các kỹ năng tự đánh giá sự tiến bộ và khả năng của mình Phương pháp này có cơ sở
để đánh giá tiến độ phát triển của từng giai đoạn của trẻ
- Phương pháp dạy học ày hướng tới kích thích trẻ say mê tìm tòi, khám phá và treri nghiệm với sự tham gia tích cực của các giác quan, hướng tới lấy hoạt động của trẻ làm trung tâm, nghĩa là: trẻ tự hoạt động, tự tìm tòi, nghiên
Trang 2214
cứu phát hiện và tự phản ánh bằng lời nói những lời mình nhận biết được, sau
đó trẻ tích cực độc lập thực hành, áp dụng những kiến thức kinh nghiệm thu được vào thực tiễn Do đó trẻ chủ động hơn, kiến thức trẻ thu được sẽ vững
chắc hơn, từ đó hiệu quả dạy học sẽ cao hơn
1.1.6 Bộ giáo cụ Montessori
Đồ dùng dạy học hay thiết bị dạy học là công cụ hỗ trợ cho việc giảng dạy, giúp học sinh hiểu rõ hơn về những điều đã được giảng Từ lâu việc sử dụng các đồ dùng dạy học đac trở thành một phần không thể thiếu trong các phương pháp giáo dục Phương pháp Montessori nhấn mạnh tầm quan trọng
và mối liên hệ giữa tất cả các vật thể sống và nhu cầu của mỗi con người trong việc tìm được một công việc ý nghĩa cũng như một chỗ đứng cho riêng mình trong thế giới Giáo cụ Montessori do người sáng lập ra phương pháp này – Bà Montessori thiết kế hoặc cũng có thể được thiết kế riêng phù hợp với nhu cầu dạy học bởi các công ty thiết bị giáo dục Ngoài bộ giáo cụ Montessori chính hãng còn có bộ giáo cụ do giáo viên tự sáng tạo để phục vụ cho quá trình học tập của trẻ Tất cả các giáo cụ Montessori đều được thiết kế dựa trên nhu cầu và sự phát triển tự nhiên của trẻ Chúng đều được chú trọng vào thiết kế đẹp, khả dụng và nhấn vào một chủ điểm nhất định Trẻ em được
áp dụng phương pháp Montessori sẽ sử dụng các giác quan của mình để cảm nhận và làm quen với các giáo cụ Từ đó trẻ được hướng dẫn học, hiểu được các khái niệm, quy luật, sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và mắt Sử dụng giáo cụ Montessori đem đến cho trẻ khả năng rèn luyện tính độc lập, chú ý và quan sát, từ đó trẻ được khám phá khả năng của bản thân trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có toán học, mỹ thuật, ngôn ngữ, văn hóa,…
1.1.6.1 Giáo cụ Montessori dành cho góc sinh hoạt (hay góc luyện tập kỹ năng)
Phương pháp Montessori luôn chú trọng tới sự phát triển tự nhiên của trẻ Vì vậy, góc sinh hoạt là nơi bé sẽ có cơ hội được tiếp xúc và trải nghiệm những công việc gần gũi với cuộc sống hằng ngày của bé như lau rửa bàn ghế, cách bóc một số loại quả,… Từ đó, bé có thể học được cách tự chăm sóc bản thân cũng như chăm sóc môi trường xung quanh mình, thể hiện sự quan tâm đến người khác Các công việc sẽ được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để bé có thể trải nghiệm một cách từ từ Để làm được
những điều đó thì giáo cụ Montessori là một phần rất quan trọng, là điều kiện
phần nào quyết định đến kết quả học tập của các bé
Trang 2315
Trong góc sinh hoạt sẽ được chia ra thành các góc nhỏ như thực hành khô, thực hành với ít nước, thực hành với nhiều nước và ẩm thực Trong góc thực hành khô sẽ có những đồ vật gắn liền với cuộc sống của bé như thìa, kẹp, kéo, nhíp, dao hay khăn, quần áo, giày dép,… Với những giáo cụ Montessori đó, bé sẽ được thầy cô hướng dẫn cách sử dụng chúng như việc cách chuyển vật bằng các dụng cụ thìa, kẹp, nhíp; cách quét nhà, quét thảm; cách gấp khăn; cách khâu khuy, cách khuân bê đồ đạc và nhiều hoạt động khác xoay quanh cuộc sống của bé
Trong góc thực hành với ít nước thì bé lại được học hỏi cách lau nước khi bị đổ, cách đánh răng, cách chuyển nước vào các bình chứa có hình dạng khác nhau hay cả cách tạo bọt xà phòng Còn khi chuyển sang khu thực hành với nhiều nước, bé lại được tiếp xúc với nhiều hoạt động liên quan đến nước
và gắn bó với cuộc sống hằng ngày hơn như rửa tay, rửa bát, lau bàn ghế, giặt
đồ, cắm hoa,… Ứng với mỗi hoạt động các thầy cô hãy trang bị cho bé những dụng cụ cần thiết để bé có thể thực hiện được hoạt động của mình Khu cuối cùng của góc sinh hoạt là góc ẩm thực Ở đây bé sẽ được học cách làm một đầu bếp tí hon với các hoạt động đơn giản liên quan đến bếp núc như cách cắt bánh, cắt hoa quả; cách nghiền bánh mì, cafe; cách đập, bóc các loại hạt có vỏ cứng như đậu phộng, hạt dẻ; cách bóc, vắt cam,…
1.1.6.2 Giáo cụ Montessori dành cho góc cảm giác
Tại góc cảm giác, trẻ sẽ có cơ hội được củng cố và hệ thống lại những cảm giác, tri giác đã được hình thành, luyện tập ở góc sinh hoạt Bên cạnh đó
bé còn được thực hiện thêm những công việc giàu tính sáng tạo hơn Bé sẽ được tiếp xúc trực tiếp với các vật thật sau đó chuyển sang thực hiện những công việc trên tranh hay trên giấy Giáo cụ Montessori cho góc cảm giác được phân loại thành 4 kệ khác nhau cho các mục đích luyện tập, phát triển từng giác quan riêng biệt: phát triển thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác và thị giác Các kệ có thể thay đổi linh hoạt tuỳ theo điều kiện lớp học Nhưng dù có thay đổi thì nguyên tắc chung về sắp xếp đồ đạc trong phương pháp Montessori là từ dễ đến khó, từ to đến nhỏ, từ đơn giản đến phức tạp, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới
Trang 2416
1 Góc chuyển tiếp
Kệ này còn có tên gọi khác là kệ chuyển tiếp gồm các giáo cụ Montessori chuyển giao giữa hai góc sinh hoạt và cảm giác nhằm giúp trẻ phát triển khả năng phân biệt giống, khác nhau qua công việc tìm cặp đôi, phân loại đồ,… Trẻ nhận biết vật, tranh ảnh bằng thị giác, xúc giác, tìm hình dạng các vật, đặt hình theo quy tắc Trẻ tìm đúng vị trí của vật thông qua hoạt động với bảng ghép hình, trẻ phân biệt dầy mỏng, cao thấp, to nhỏ thông qua
Trang 2517
giáo cụ hình ghép có núm cầm Việc luyện tập với những giáo cụ ở kệ thứ nhất chính là tiền đề để trẻ thực hiện tốt những công việc ở những kệ tiếp theo trong góc cảm giác nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tri giác không gian
2 Góc tri giác
Kệ thứ hai gồm những giáo cụ giúp trẻ phát triển khả năng tri giác không gian, trẻ làm quen với các khái niệm về độ lớn, chiều cao, chiều dài, độ dày, mỏng…
Một số giáo cụ Montessori với các chức năng và công việc của nó tại góc cảm giác như sau:
- Tháp hồng: là tháp được tạo nên bởi 10 khối gỗ màu hồng có kích thước khác nhau, giáo cụ này giúp trẻ nhận biết khái niệm to, nhỏ;
- Bậc thang nâu: còn gọi là bậc thang rộng, gồm 10 khối gỗ màu nâu có kích thước khác nhau Giáo cụ này giúp trẻ làm quen với khái niệm rộng-hẹp, dày-mỏng;
- Gậy đỏ: là giáo cụ gồm 10 thanh gậy màu đỏ có chiều dài khác nhau, giúp trẻ nhận biết ngắn-dài và tạo tiền đề để trẻ làm việc với gậy số trong góc toán;
- Trụ núm 1: Gồm 10 trụ có chiều cao và đường kính khác nhau giúp trẻ nhận biết, củng cố về to-nhỏ;
- Trụ núm 2: gồm 10 trụ có chiều cao giống nhau, đường kính giảm dần giúp trẻ nhận biết, củng cố về độ dày-mỏng;
- Trụ núm 3: gồm 10 trụ có chiều cao cao dần, đường kính giảm dần Trẻ nhận biết khái niệm rộng, hẹp;
- Trụ núm 4: Gồm 10 trụ có chiều cao thấp dần, đường kính như nhau Trẻ nhận biết khái niệm cao, thấp;
- Trụ màu: về kích thước, hình dạng giống như trụ núm nhưng khác là
có màu và không có núm:
- Trụ màu vàng: kích thước chức năng giống trụ núm 1;
- Trụ màu đỏ: kích thước chức năng giống trụ núm 2;
- Trụ màu xanh lá: kích thước chức năng giống trụ núm 3;
- Trụ màu xanh lam: kích thước chức năng giống trụ núm 4
3 Góc cảm giác
Giáo cụ Montessori trong kệ thứ ba gồm những giáo cụ về màu sắc, đẳng
Trang 2618
thức, các khối hình và các hình hình học Công việc với các giáo cụ Montessori trong kệ thứ ba của góc cảm giác bao gồm: Các khối hình học: khối cầu, lập phương, chóp nón, ovan, hình trứng, trụ tròn, lăng trụ tam giác đều, trụ vuông, chóp tam giác đều, chóp vuông Sau khi làm việc với các khối hình học, trẻ sẽ được làm việc với các mặt của các hình khối được làm từ
mảnh gỗ
Ngăn kéo các hình học phẳng (6 ngăn kéo): hình tròn, hình tam giác, hình tứ giác, hình cong, hình đa giác, các dạng hình khác;
Bảng màu 1: đỏ, vàng, xanh (3 màu cơ bản);
Bảng màu 2: đỏ, vàng, xanh, cam, xanh lá, tím – 6 màu (hỗn hợp màu); Bảng màu 3: đỏ, vàng, xanh, cam, xanh lá, tím, hồng, nâu, xám, đen,
trắng Giúp trẻ nhận biết sắc độ;
Đẳng thức:
- Nhị thức 1: giúp trẻ hiểu về phân số (1 thành 2, thành 4, thành 8…);
- Đẳng thức bậc 2: giúp trẻ hiểu hằng đẳng thức (a+b)2 bằng cách tạo
Trang 2719
cặp giáo cụ đỏ, xanh, đen có cùng bề rộng cùng chiều cao
- Đẳng thức bậc 3: giúp trẻ hiểu hằng đẳng thức (a+b+c)3 bằng cách tìm cặp giáo cụ giống nhau về màu, về độ cao, về bề rộng Hộp hình học:
- Hộp hình tam giác: gồm các mảnh gỗ hình tam giác có màu xám, xanh
lá, vàng, đỏ Tạo ra các hình tam giác khác nhau từ những hình tam giác trên theo đường viền màu đen;
- Hộp hình lục giác lớn: gồm các hình tam giác có màu vàng, đỏ, ghép các hình tam giác tạo thành tam giác lớn,
hình thoi, hình bình hành, hình lục giác…
- Hộp hình lục giác nhỏ: gồm các hình tam giác kích thước khác nhau có màu xám, xanh lá, đỏ, vàng Từ những hình tam giác này tạo thành hình thang, hình thoi, hình lục giác…;
- Hộp tứ giác tổng hợp: gồm các hình tam giác các loại có màu xanh lá, vàng, đỏ, xám Tạo thành hình vuông, chữ nhật, thoi, bình hành… từ các hình tam giác;
- Hộp chữ nhật (màu xanh): gồm 5 mảnh gỗ hình tam giác màu xanh, không có viền đen Tạo ra các hình khác nhau theo ý thích từ 5 hình tam giác;
- Hộp màu xanh 12 mảnh: gồm 12 hình tam giác màu xanh, xếp được các loại hình khác nhau như hình vuông, lục giác, hình đa giác 12 cạnh…
từ 12 hình tam giác
4 Góc cảm quan
Hệ thống giáo cụ Montessori trong kệ thứ tư gồm các giáo cụ giúp trẻ luyện
Trang 28- 1 bộ chuông;
- Bảng luyện tập xúc giác 1,2,3,4: ráp, nhẵn; dần dần có chia độ ráp như ráp nhiều, ráp vừa phải, ráp ít… Hay nhẵn nhiều, nhẵn vừa phải, nhẵn ít;
- Túi bí mật;
- Đối chiếu tìm cặp vải;
- Bộ lọ phát triển khứu giác: Tìm cặp các loại hạt, bột, chất lỏng có hương như quế, cà phê, mè, giấm…;
- Bộ lọ phát triển vị giác: Tìm cặp các loại nguyên liệu như muối, đường, giấm, nước…
1.1.6.3 Giáo cụ Montessori trong góc ngôn ngữ
Ngôn ngữ hiện diện ở tất cả các góc của lớp học áp dụng phương pháp giáo dục Montessori Ở góc luyện tập giác quan, mỗi giáo cụ đều có các thẻ tên tương ứng giúp trẻ biết tên gọi từng giáo cụ Montessori từ đó giúp trẻ phát triển vốn từ Cũng trong góc này trẻ sử dụng những từ vựng về so sánh hơn kém, so sánh nhất như to, nhỏ, to hơn, nhỏ hơn, to nhất, nhỏ nhất… những từ vựng như ngọt, đắng, chua, thơm, bùi, lạnh, ấm, nhám, mềm, từ chỉ màu sắc, hình dạng… được trẻ lĩnh hội và củng cố thông qua việc luyện tập năm giác quan Chỉ mới trong một góc, trẻ đã có rất nhiều cơ hội được lĩnh hội, sử dụng ngôn ngữ Nhờ vậy, những trẻ được tiếp cận phương pháp giáo dục Montessori có khả năng sử dụng đa dạng, phong phú vốn từ vựng trong những lĩnh vực khác nhau Vậy là trẻ đã được làm quen với nhiều từ vựng thông qua các vật cụ thể trước khi được thao tác thực hành tại góc ngôn ngữ nên sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho trẻ khi tiếp xúc thực sự với ngôn ngữ tại góc này
Trang 29- Thẻ hình theo quy tắc; Thẻ hình ba bước; Đối chiếu thẻ chữ;
- Hộp tên gọi (hộp âm thanh): 5~6 vật trong mỗi hộp có tên bắt đầu bằng các phụ âm trong bảng chữ cái;
- Từ ghép vần đầu tiên: từ ghép giữa phụ âm với nguyên âm a Từ ba
Trang 3022
- Các loại hình khác nhau: 5 cái;
- Từ đồng âm khác nghĩa (chữ cái giống nhau nhưng hình vẽ khác nhau) ví dụ mực, đường…;
- Từ ghép: bản đáp án, thẻ hình đối chiếu;
- Giống cái, giống đực, giống trung: bản đáp án, thẻ đối chiếu;
- Từ tượng thanh: bản đáp án, thẻ đối chiếu;
- Từ tượng hình: bản đáp án, thẻ đối chiếu; Từ tôn kính: bản đáp án, thẻ đối chiếu;
- Ngữ pháp: thẻ từ theo kí hiệu màu sắc: danh từ, động từ, tính từ, trợ
từ, bổ ngữ, từ liên kết, thán từ…;
- Kí hiệu trong câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi, dấu chấm than…;
- Cấu tạo câu; Đọc câu; Viết truyện; Viết thơ
1.1.6.4 Giáo cụ Montessori trong góc toán học
Trong góc toán học được áp dụng phương pháp giáo dục Montessori, trẻ có thể hiểu các biểu tượng toán, khái niệm về lượng trong toán một cách
dễ dàng thông qua các hoạt động với giáo cụ Montessori Qua đó, trẻ hiểu được nguyên lí cơ bản của toán và thực hiện được những phép tính một cách
dễ dàng Ngoài ra, khi làm việc với các giáo cụ Montessori trong góc toán, trẻ phát triển khả năng tư duy, suy luận, trẻ hiểu rõ một quá trình thông qua việc lặp đi lặp lại một công việc
Một số giáo cụ Montessori trong góc toán như: gậy số 1,2,3; chữ số bằng cát 1,2,3; Gậy số + chữ số bằng cát; Hộp đũa 1,2,3; cờ vây chữ số (bảng đáp án); Quân cờ vây chữ số; Số chẵn, số lẻ; Bảng cờ vây chữ số (bằng giấy);
Trang 3123
Làm chuỗi hạt màu, Bảng số 10, 100; Hệ thập phân;
1.1.6.5 Giáo cụ Montessori trong góc văn hoá
Góc văn hóa gồm những công việc với các giáo cụ thuộc 3 lĩnh vực: lịch sử,địa lí, khoa học Ở góc văn hóa, trẻ tiếp xúc trực tiếp với những vật cụ thể, mô hình sống động liên quan đến các lĩnh vực lịch sử, địa lí, khoa học, từ
đó trẻ hiểu những khái niệm trừu tượng trong từng lĩnh vực Những công việc với các giáo cụ Montessori trong góc văn hóa khơi gợi ở trẻ niềm đam mê, cảm hứng tích cực với việc khám phá khoa học, tìm hiểu môi trường xung quanh Dụng cụ học tập Montessori trong góc văn hóa được sắp xếp thành từng lĩnh vực lịch sử, địa lí, khoa học như sau:
Lịch sử
Khái niệm lịch sử luôn được gắn liền với khái niệm thời gian mà biểu tưởng là các đồng hồ nên tại góc lịch sử bé sẽ được làm việc với các giáo cụ Montessori liên quan đến thời gian như các loại đồng hồ, lịch,… Từ đó, trẻ dễ dàng tính thời gian cho 1 giờ, 1 ngày, 1 tuần,…cũng như biết được những sự việc xảy ra gắn liền với khoảng thời gian đó
Các dụng cụ học tập Montessori thuộc lĩnh vực lịch sử bao gồm: các loại đồng hồ và dụng cụ liên quan đến đồng hồ như thẻ, con dấu,…những trang phục cổ xưa, búp bê đặc trưng cho các nền văn hoá khác nhau,… Cùng với đó, bé sẽ được học cách làm lịch, lên lịch công việc, tiếp xúc với các nền
Trang 3224
văn hoá, các đất nước hay so sánh giữa hiện tại và quá khứ
Địa lý
Hình dạng, đặc điểm, vị trí, tên gọi các châu lục, các dạng địa hình đất,
nước… được trẻ lĩnh hội một cách dễ dàng khi làm việc với các giáo cụ Montessori sinh động thuộc lĩnh vực địa lí, một phần của góc văn hóa
Các công việc liên quan đến địa lý bé sẽ được thực hiện như nhận biết phương hướng, tiếp xúc với các dạng bản đồ như quả địa cầu, bản đồ cát,… nhận biết quốc kì các nước, vị trí các nước,…
1.2 Hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non
1.2.1 Khái niệm “ biểu tượng số lượng”
Biểu tượng số lượng là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các tập hợp còn lưu lại và được tái hiện trong óc của ta khi các tập hợp ấy không còn được ta tri giác trực tiếp, không còn đang tác động vào các giác quan của ta như trước
Biểu tượng số lượng bao gồm: Biểu tượng số lượng (đếm số lượng trongmột nhóm vật), biểu tượng về mối liên hệ số lượng (so sánh số lượng của 2 nhóm đối tượng xem chúng như thế nào với nhau), biểu tượng về mối quan hệ số lượng (so sánh số lượng 2 nhóm đối tượng xem chúng hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị )
Trang 3325
1.2.2 Mục tiêu của việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non
- Hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học ban đầu về tập hợp, số lượng, số
tự nhiên, chữ số; hình dạng, kích thước, định hướng không gian và định
Trang 3426
1.2.3 Nội dungcủa việc hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non
và đếm
Tách một nhóm đối tượng thành các nhóm nhỏ hơn Tách một nhóm thành
hai nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau
Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày (số nhà, biển số xe, )
2 Xếp tương ứng Xếp tương ứng 1-1, ghép đôi Ghép thành cặp những
đối tượng có mối liên quan
Trang 35Đo độ dài các vật, so sánh và diễn đạt kết quả đo
Đo dung tích bằng một đơn vị
đo
Đo dung tích các vật, so sánh và diễn đạt kết quả đo
5 Hình dạng
Nhận biết, gọi tên các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật và nhận dạng các hình đó trong thực tế
So sánh sự khác nhau và giống nhau của các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật
Nhận biết, gọi tên khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật, khối trụ và nhận dạng các khối hình đó trong thực tế
Trang 3628
Sử dụng các hình hình học để chắp ghép
Chắp ghép các hình hình học để tạo thành các hình mới theo
ý thích và theo yêu cầu
- Tạo ra một số hình hình học bằng các cách khác nhau
Xác định vị trí của đồ vật so với bản thân trẻ và so với bạn khác (phía trước - phía sau; phía trên - phía dưới; phía phải - phía trái)
Xác định vị trí của đồ vật (phía trước - phía sau; phía trên - phía dưới; phía phải - phía trái) so với bản thân trẻ, với bạn khác, với một vật nào đó làm chuẩn
Nhận biết các buổi: sáng, trưa, chiều, tối
Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai
Gọi tên các thứ trong tuần
Trang 3729
1.2.4 Đặc điểm dạy học biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non
Trẻ nhỏ sinh ra, lớn lên và được tiếp xúc với thế giới những sự vật hiện tượng đa dạng về màu sắc, kích thước, số lượng Trẻ lĩnh hội số lượng của chúng bằng nhiều giác quan khác nhau: thị giác, thính giác, xúc giác.Những biểu tượng đầu tiên về những nhóm vật giống nhau như: nhiều quả bóng, nhiều viên bi, nhiều búp bê,…xuất hiện từ khi trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ.Được tích lũy và phản ánh trong ngôn ngữ thụ động của trẻ Được sự giúp
đỡ của người lớn cùng việc lắm được ngôn ngữ tích cực, trẻ đã nhận biết, phân biệt và nắm được tên gọi của nhóm động vật
Trẻ một tuổi thường nhận ra các nhóm vật giống nhau nhanh hơn việc nhận biết riêng từng vật, sớm phân biệt một vật với nhiều vật và có phản ứng trước sự khác nhau về số lượng các nhóm vật
Trẻ hai tuổi đã tích lũy được nhiều biểu tượng về số lượng các nhóm vật cá âm thanh, các chuyển động, trẻ thích thú tạo ra số nhiều các nhóm vật giống nhau, dịch chuyển chúng từ chỗ này đến chỗ khác… trong quá trình thao tác, hoạt động với đồ vật ở trẻ hình thành hứng thú phân biệt các nhóm vật có số lượng là một và nhiều, trẻ lĩnh hội được từ “một” và “nhiều”
Trẻ ba tuổi đã phân biệt được các khái niệm: Một, nhiều, ít và dễ dàng thực hiện các nhiệm vụ được giao như: Mang chô cô một con gấu bông, mang cho cô nhiều búp bê…; trẻ đã có phản ứng với những câu hỏi “có bao nhiêu”
“có mấy” Một số trẻ còn sử dụng được các từ số như “ba”, “năm”, nhưng không có nghĩa trẻ hiểu được các con số và phép đếm bởi các con số này không ứng với các nhóm đối tượng tương ứng
Điều này chứng tở trẻ đã có những suy nghĩ liên quan đến câu hỏi về
số lượng của nhóm đối tượng nhưng còn phản ánh thiếu chính xác số lượng của chúng Như vậy, sự hình thành biểu tượng số lượng ở trẻ mầm non diễn ra trên cơ sở trẻ thực ành thao tác với các nhóm vật Tuy nhiên, mới đầu biểu tượng về số lượng của trẻ còn rất phân tán, không cụ thể và thiếu chính xác, trẻ chưa nhận biết rõ ràng số lượng cũng như giới hạn của các nhóm vật Vì vậy trẻ nhỏ thường không nhận thấy sự biến mất của một vật trong nhóm Ví dụ: trẻ có rất nhiều viên bi nhưng ta lấy bớt bi đi thì trẻ vẫn không nhận ra sự biến mất đó
Mức độ phát triển biểu tượng số lượng ở trẻ tương ứng với việc trẻ sử
Trang 3830
dụng lời nói để diễn đạt chúng Có thể thấy sự tri giác số nhiều không xác định đặc trưng cho trẻ 2 tuổi, nên cần thiết phải dạy trẻ tri giác tập hợp như một theer trọn vẹn bởi sự sắp đặt các nhóm vật có ảnh hưởng lớn đến sự tri giác tập hợp Sự bố trí không gian của tập hợp dưới dạng sơ đồ ven, tạo điều kiện lĩnh hội tập hợp tốt hơn so với tập hợp xếp hàng ngang Tuy nhiên, tập hợp xếp hàng ngang lại giúp trẻ nhận thức rõ từng phần tử của tập hợp, thuận lợi cho việc học đếm
Trẻ 3-4 tuổi hiểu và phân biệt đúng các từ “ một”, “ít”, “nhiều” và biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống Trẻ ở độ tuổi này thích
so sánh các nhóm vật và phân bieeth được số lượng các âm thanh, các động tác Các từ “ít”, “nhiều” dần trở thành vốn từ tích cực của trẻ Trẻ có thể tạo
ra các nhóm vật và so sánh số lượng của chúng bằng biện pháp xếp chồng hoặc xếp cạnh từng vật của nhóm này với từng vật của nhóm khác, tức là bước đầu biết thiết lập tương ứng 1:1 giữa các vật của các nhóm khác nhau để xác định mối quan hệ số lượng giữa chúng Kết quả so sánh giúp trẻ lĩnh hội các khái niệm như: bằng nhau, không bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn Tuy nhiên, ban đầu trẻ còn chưa biết tri giác lần lượt tất cả các phần tử có trong tập hợp mà trẻ ít chú ý tới từng phần tử của tập hợp
Ví dụ: Khi yêu cầu trẻ phát cá cho những chú mèo đứng thành hàng ngang, trẻ luôn nhớ phát cá cho những con mèo đứng ở đầu hàng và cuối hàng, còn mèo ở giữa thì bị trẻ bỏ quên
Khả năng phân tích chính xác từng phần tử của tập hợp ở trẻ 3 tuổi còn yếu Vì vậy, kết quả so sánh độ lớn của tập hợp bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố màu sắc, hình dạng, kích thước, ví trí sắp đặt trong không gian Ví dụ: Kích thước cũng ảnh hưởng nhiều đến sự đánh giá số lượng ở trẻ như trẻ thường cho rằng 3 con bò sẽ nhiều hơn 4 con gà con…
Trẻ 4 tuổi xuất hiện nhu cầu xác định chính xác số lượng nhóm vật và nhu cầu đếm, khả năng đếm, xác định số lượng cua trẻ là rất khác nhau, phụ thuộc vào sự tác động của người lớn Trẻ chưa nắm được vai trò của số kết quả Trẻ chưa phân biệt được quá trình đếm và kết quả phép đếm, tuy nhiên các lối trên sẽ nhanh chóng khắc phục nếu người lớn dạy trẻ Trẻ độ tuổi này chưa có khả năng đếm số lượng lớn các vật, vì thế chúng ta chỉ nên dạy trẻ đếm trong phạm vi 5
Trẻ 4-5 tuổi, những biểu tượng về tập hợp được phát triển và mở rộng
Trang 3931
dần, trẻ có khả năng nhận biết tập hợp ngay cả khi tập hợp có những phần tử không giống nhau Ví dụ: Tập hợp các loại quả gồm các quả dài, ngắn, tròn màu sắc khác nhau, như vậy chứng tỏ trẻ có khả năng nhận biết dấu hiệu chung của tập hợp Trẻ có khả năng phân tích từng phần tử của taaapj hợp biết đánh giá độ lớn của chúng theo số lượng các phần tử của tập hợp Trẻ lứa tuổi này đã nắm và sử dụng tốt biện pháp thiết lập tương ứng 1:1 giữa các phần tử của tập hợp Trẻ nắm đực phép đếm, phân biệt được quá trình đếm và kết quả phép đếm, hiểu được ý nghĩa khái quát của con số - là chỉ số cho số lượng các phần tử của tập hợp Trẻ hiểu rằng các tập hợp có số lượng phần tử bằng nhau
Hoạt động đếm xác định số lượng đã phát triển lên một bước mới, trẻ
có hứng thú đếm và phần lớn nắm được trình tự của các con số từ 1 đến 10 và còn nhiều số hơn; trẻ biết thiết lập tuong ứng 1:1 trong quá trình đếm, mỗi từ
số ứng với một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm Trẻ không chỉ hiểu rằng, khi đếm thì số cuối cùng là số kết quả ứng với một phần của tập hợp mà trẻ đếm Trẻ không chỉ hiểu rằng khi đếm thì số cuối cùng là số kết quả ứng với toàn
bộ nhóm vật, mà trẻ còn bắt đầu hiểu con số là chỉ số cho số lượng phần tử của tất cả các tập hợp có cùng độ lớn không phụ thuộc vào những đặc điểm tính chất cũng như cách sắp đặt chúng
Trẻ 5-6 tuổi bắt đầu tìm hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền của dãy số tự nhiên ( mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị
và mỗi số đứng sau lớn hơn số đứng trước một đơn vị) Trên cơ sở đó dần dần trẻ hiểu được quy luật thành lập dãy số tự nhiên n +- 1 Khả năng đếm của trẻ ngày càng trở nên thuần thục, trẻ không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật
mà còn đếm âm thanh, động tác Qua đó trẻ hiểu sâu sắc hơn vai trò của số kết quả Mặt khác trẻ không chỉ đếm từng vật mà còn đếm từng nhóm vật, trẻ biết đếm xuôi, đếm ngược, nhận biết các số từ 1đến 10 Trẻ hiểu rằng, mỗi
Trang 4032
con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết
số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, đôi lúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng Việc cho trẻ làm quen với các con số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu tượng số lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các ký hiệu- các con số
Như vậy trẻ 5-6 tuổi cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp, bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp; dạy trẻ phép đếm trong phạm vi 10 và không chỉ đếm từng vật riêng lẻ mà còn đếm từng nhóm vật, nhờ vậy tư duy trẻ phát triển, giúp trẻ hiểu sâu hơn khái niệm đơn
vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học ở trường phổ thông
1.3 Sử dụng phương pháp Montessori để hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non
Trên thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay, trẻ 3-6 tuổi Việt Nam được học theo chương trình giáo dục mầm non mới với những nội dung hình thành biểu tượng về số lượng, con số cho trẻ được quy định trong chương trình So sánh chương trình hình thành biểu tượng số lượng Montessori với chương trình Việt Nam hiện hành cho thấy có sự khác biệt khá rõ Chương trình hình về số học Montessori có phạm vi rộng hơn và sâu hơn nhiều, thậm chí có nội dung tương đương với chương trình toán tiểu học Mặc dù khối lượng kiến thức trong chương trình Montessori là nặng nhưng thực tiễn đã chứng minh rằng trẻ em học tại các trường Montessori có thể tiếp thu một cách dễ dàng và học một cách hứng thú những kiến thức về số lượng đó, điều này diễn ra ngay cả khi với trẻ bị khuyết tật trí tuệ Kết quả này có được là do
có sự hỗ trợ đặc biệt của bộ giáo cụ học toán cũng như phương thức xây dựng
mô hình học tập cá biệt hóa hoạt động trong lớp học Montessori
Vớ mô hình dạy học truyền thống đang diễ ra ở các trường mầm non Việt Nam hiện nay thì việc dạy học diễn ra trên các hoạt động học có chủ đích với thời lượng hầu như cố định Nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ thường do giáo viên tự chọn dựa trên khả năng của só đông trẻ và dựa trên
sự phân bố nội dung chương trình giáo dục trong kế hoạch vì vậy nội dung dạy trẻ thường mang tính áp đặt Hơn nữa, phần lớn thời gian diễn ra hoạt động giáo viên cố gắng hướng dẫn đồng loạt cho cả lớp nhằm hướng tới hình thành ở tất cả trẻ một biểu tượng toán học nào đó với cùng một mức độ phát