Là sinh viên ngành Việt Nam học, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc trên đất nước mình, muốn đóng góp phần nào cho những thế hệ sau được biết về những nét văn hó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẢO TRANG
SO SÁNH PHONG TỤC CƯỚI XIN GIỮA NGƯỜI H’MÔNG
Ở SA PA (LÀO CAI) VÀ NGƯỜI H’MÔNG
Ở MÙ CANG CHẢI (YÊN BÁI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẢO TRANG
SO SÁNH PHONG TỤC CƯỚI XIN GIỮA NGƯỜI H’MÔNG
Ở SA PA (LÀO CAI) VÀ NGƯỜI H’MÔNG
Ở MÙ CANG CHẢI (YÊN BÁI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Tính
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên ngành bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2 Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo - TS Nguyễn Thị Tính đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Do vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hảo Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Tính Các nội dung nghiên cứu trong
đề tài này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào Nếu phát hiện có bất kì gian lận nào trong khóa luận, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hảo Trang
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI H’MÔNG 5
1.1 Nguồn gốc lịch sử và tên gọi 5
1.1.1 Nguồn gốc lịch sử 5
1.1.2 Tên gọi 5
1.2 Địa vực cư trú 7
1.3 Số lượng dân số và các nhóm người Mông ở Việt Nam 9
1.4 Đặc điểm kinh tế 11
1.4.1 Trồng trọt 11
1.4.2 Các loại cây ăn quả và cây công nghiệp 12
1.4.3 Công cụ sản xuất 13
1.4.4 Những ngành nghề khác trong gia đình 14
1.5 Tổ chức cộng đồng 15
CHƯƠNG 2: PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI H’MÔNG Ở SA PA VÀ NGƯỜI H’MÔNG Ở MÙ CANG CHẢI - NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG 21
2.1 Quan niệm cưới xin của người H’Mông 21
2.2 Các nghi thức trong cưới xin 23
2.2.1 Tục “kéo vợ” của người Mông 23
2.2.2 Lễ dạm hỏi và so tuổi 25
2.2.3 Lễ cưới 26
2.3 Trang phục của cô dâu, chú rể trong ngày cưới 27
CHƯƠNG 3: PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI H’MÔNG Ở SA PA VÀ NGƯỜI H’MÔNG Ở MÙ CANG CHẢI - NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT 31
Trang 63.2 Các nghi thức trong cưới xin 35
3.3 Trang phục của cô dâu, chú rể trong ngày cưới 38
3.4 Những kiêng kị trong đám cưới 40
3.5 Những hủ tục trong cưới xin 42
KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ PHONG TỤC CƯỚI HỎI
Trang 7Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là ngành công nghiệp 4.0 hiện nay, văn hóa các dân tộc đã phần nào mất đi những bản sắc vốn có của mình Là sinh viên ngành Việt Nam học, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc trên đất nước mình, muốn đóng góp phần nào cho những thế hệ sau được biết về những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc đã bị mai một, đặc biệt là phong tục cưới xin của người H’Mông ở tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái,
cụ thể hơn là hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải, bởi đây là hai nơi tập trung đa số người H’Mông sinh sống Để khai thác rõ nét nhất về phong tục cưới xin của người
H’Mông nơi đây, tôi đã chọn chủ đề “So sánh phong tục cưới xin giữa người
H’Mông ở Sa Pa (Lào Cai) và người H’Mông ở Mù Cang Chải (Yên Bái)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong tục cưới xin của dân tộc H’Mông là một trong những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo trong phong tục của 54 dân tộc Việt Nam Đây là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Có thể kể đến một số bài viết về nguồn gốc của dân tộc H’Mông như Tìm
hiểu dân tộc Mông của tác giả Hoàng Việt Quân; Dân tộc Mông ở Việt Nam của tác
giả Cư Hòa Vần Cả hai cuốn sách đều bàn về sự ra đời của dân tộc Mông tại Việt Nam cũng như địa vực cư trú, đời sống kinh tế, đời sống văn hóa, phong tục tập
Trang 8của một trong số những dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam Dường như, cả hai tác giả có rất nhiều điểm chung khi nói về cuộc sống của dân tộc H’Mông, đặc biệt là tục “kéo vợ” đặc sắc trong phong tục cưới xin của người Mông, cho dù người H’Mông có sinh sống rải rác ở nhiều tỉnh thành khác nhau thì tục “kéo vợ” vẫn là một nghi lễ không thể thiếu tạo nên bản sắc riêng biệt của mỗi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Trai gái H’Mông còn tìm hiểu nhau qua những phiên chợ tình, những ngày tết nhất, hay các dịp hội xuân Họ thổ lộ tình cảm qua ánh mắt, qua cử chỉ, giọng nói, đặc biệt hơn là qua những tiếng khèn, tiếng sáo thánh thót “Một ngày họp chợ Đồng Văn, Lũng Phìn (Hà Giang) có biết bao nhiêu thanh niên kết hợp đi chợ để làm quen với nhau Ngoài cách thổ lộ tình cảm bằng tiếng nói mộc mạc, bằng các câu ca trữ tình, nam nữa thanh niên còn có cách tỏ tình qua tiếng sáo
trúc, tiếng đàn môi” (Dân tộc Mông ở Việt Nam - Cư Hòa Vần) [13-tr.134]
Trên trang điện tử baoyenbai.vn tác giả Hà Anh có bài viết Đặc sắc đám
cưới người Mông Bài viết là nét khái quát về các nghi thức trong cưới hỏi của đồng
bào Mông ở Mù Cang Chải, trong đó cũng có những nét riêng biệt trong quan niệm cưới xin mà chỉ riêng dân tộc Mông ở Mù Cang Chải mới có như “cô dâu không được ăn cơm cùng gia đình mà phải vào trong buồng ngồi, chỉ có chú rể ra tiếp khách Mẹ chồng hoặc em chồng sẽ là người mang cơm vào buồng cho cô dâu” Phong tục cưới xin là một trong những nét văn hóa độc đáo của người
H’Mông, có thể kể đến công trình Đám cưới của người H’Mông Lềnh (H’Mông
Hoa) ở Lào Cai của tác giả Trần Hữu Sơn Đây là một công trình nghiên cứu công
phu và tỉ mỉ về các nghi thức trong cưới hỏi của người H’Mông, đặc biệt là người H’Mông Lềnh sinh sống chủ yếu ở Mù Cang Chải Tác giả có viết “Lễ cưới của người H’Mông Lềnh là một nghi lễ được tổ chức theo phong tục truyền thống của người H’Mông Nghi lễ cưới truyền thống của người H’Mông được tiến hành qua các bước sau: Lễ so tuổi, Lễ dạm ngõ, Lễ ăn hỏi, Lễ cưới, Lễ lại mặt Các nghi lễ này được tiến hành lần lượt theo từng bước khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định” [10-tr.9]
Đề cập đến phong tục cưới xin của dân tộc H’Mông – một trong những phong tục độc đáo của người H’Mông còn có nhiều bài viết nữa Đó là bài viết của
Lãnh Thị Bích Hòa: Phong tục tập quán trong đời sống xã hội tộc người Mông ở
một số tỉnh miền núi phía Bắc Nhà nghiên cứu Phạm Hổ Đấu: Đời sống văn hóa dân tộc Mông Nhà nghiên cứu Hà Thị Thu Thủy trong công trình Các dân tộc Mông Dao cũng đã dành một nửa cuốn sách để viết về những nét đặc sắc trong
phong tục tập quán của người H’Mông
Trang 9Tất cả những nghiên cứu của các tác giả đều đề cập và phân tích các nghi lễ
cũng như phong tục trong cưới xin của dân tộc H’Mông nói chung Như Dân tộc
Mông ở Việt Nam của tác giả Cư Hòa Vần nói chủ yếu về dân tộc Mông ở Sapa, còn Đám cưới của người H’Mông Lềnh (H’Mông Hoa) ở Lào Cai của tác giả Trần Hữu
Sơn lại đề cập đến phong tục cưới xin của người H’Mông Lềnh sinh sống chủ yếu ở
Mù Cang Chải Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào so sánh về phong tục cưới xin giữa dân tộc H’Mông ở Sapa và dân tộc H’Mông ở Mù Cang Chải Chưa có bài viết nào đi sâu khai thác những nét đặc sắc trong phong tục cưới xin giữa các tỉnh có người H’Mông sinh sống Sự khác nhau giữa phong tục tập quán của người H’Mông giữa các tỉnh với nhau là không nhiều nhưng phần nào vẫn có những nét đặc sắc riêng để phân biệt giữa họ Vì vậy, dựa trên những tài liệu kế thừa từ các tác phẩm của các nhà nghiên cứu đi trước tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và phân tích những nét đặc sắc trong phong tục cưới xin của người H’Mông trên phương diện đưa ra những điểm tương đồng và so sánh những điểm khác biệt của dân tộc H’Mông ở các tỉnh nói chung, hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái nói riêng, đặc biệt là phong tục cưới xin của dân tộc Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải Từ đó giúp người đọc tăng thêm vốn hiểu biết và nhận biết được đó là phong tục cưới xin của người Mông ở tỉnh nào, huyện nào
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Thấy được những nét văn hóa nổi bật và riêng biệt trong phong tục cưới hỏi của người H’Mông, đặc biệt là người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải Góp phần quảng bá hình ảnh, du lịch của vùng trung du và miền núi phía Bắc tới độc giả, du khách trong và ngoài nước
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ đặc điểm, những biểu hiện văn hóa đặc sắc và chỉ ra nét giống, khác nhau nổi bật trong phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải với những nét giống và khác nhau nổi bật
Trang 10+ Phạm vi nghiên cứu:
Phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp thực địa
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người H’Mông
Chương 2: Phong tục cưới xin của người H’Mông ở Sa Pa và người H’Mông
ở Mù Cang Chải - những điểm tương đồng
Chương 3: Phong tục cưới xin của người H’Mông ở Sa Pa và người H’Mông
ở Mù Cang Chải - những điểm khác biệt
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI H’MÔNG
1.1 Nguồn gốc lịch sử và tên gọi
Về nguồn gốc lịch sử và tên gọi của dân tộc H’Mông, hiện nay đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau
1.1.1 Nguồn gốc lịch sử
Dân tộc H’Mông là một trong những dân tộc sinh sống sớm nhất và lâu nhất
ở vùng núi cao của miền Bắc Việt Nam Lịch sử thiên di của người H’Mông vào Việt Nam gắn liền với quá trình đi tìm nơi sinh sống ổn định, tự do và ấm no
Trong tác phẩm Dân tộc Mông ở Việt Nam tác giả Cư Hòa Vần đã nghiên
cứu rất kĩ về nguồn gốc lịch sử và tên gọi của dân tộc H’Mông khi thiên di vào Việt Nam Tác giả đã dành 7 trang từ trang 10 đến trang 17 để viết về nguồn gốc lịch sử của người H’Mông
“Người Mông thiên di vào Việt Nam theo ba đợt lớn khác nhau
Đợt đầu, người Mông vào Việt Nam cách đây khoảng 14 - 15 đời Khoảng
80 gia đình người Mông họ Vù và họ Dàng từ Quý Châu thiên di đến Đồng Văn (Hà Giang)
Đợt thiên di lớn thứ hai đến Việt Nam cách đây khoảng 9 - 10 đời Đợt thiên
di này đi theo hai đường: đến Đồng Văn (Hà Giang), ước chừng 100 gia đình bao gồm các họ: Vàng, Lý; đến Simacai (Lào Cai) ước chừng 80 gia đình, gồm các họ: Vàng, Lù, Chấu, Sùng,Vù, Mùa
Đợt thiên di lớn thứ ba của người Mông đến Việt Nam là đợt thiên di đồng hơn cả và đi theo các đường vào Hà Giang, Lào Cai và trực tiếp đến Tây Bắc nước ta” [13-tr.17]
1.1.2 Tên gọi
Dân tộc H’Mông là một dân tộc có số dân tương đối đông ở nước ta, hơn 80 vạn người Hiện nay vẫn tồn tại nhiều tên gọi và viết khác nhau trên sách báo và các văn bản của cơ quan Nhà nước như: Mèo, HMông, Mông, HMôngZ, Miêu, Nhưng người H’Mông từ xưa đến nay và bất cứ ở đâu đều tự gọi tên dân tộc mình theo tiếng Mông là người Mông Không bao giờ họ tự gọi mình là Mèo hay Miêu,
Trang 12“Người Trung Quốc gọi người H’Mông là Miêu Tử hay Miêu Dân Xét theo cấu tạo của chữ Miêu Trung Quốc ta thấy, trên là bộ thảo, dưới là chữ điền, từ đó sau này nhiều học giả suy đoán rằng, tên gọi này có thể do người Hán đặt để chỉ
một dân tộc đã biết làm ruộng Và sau này Miêu đã trở thành tên dân tộc” (Dân tộc
Mông ở Việt Nam - Cư Hòa Vần)
Tác giả Cư Hòa Vần cũng có bài viết Tên gọi của dân tộc Mông trên trang
http://hddt.gov.vn bàn về các tên gọi của dân tộc H’Mông như sau:
“Vậy tên gọi của dân tộc H’Mông, gọi và viết thế nào mới đúng? Tại sao có tình trạng như trên?
- Mèo: Là tên mà các dân tộc khác gọi người H’Mông, từ năm 1979 trở về trước, sở dĩ có tên đó là xuất sứ từ ở bên Trung Quốc, người Hán gọi dân tộc này là Mèo Nhưng người H’Mông bao giờ và ở bất cứ đâu cũng vẫn tự gọi tên dân tộc mình là H’Mông Ở khu bốn cũ thì đọc theo tên địa phương ( phương ngữ ) từ Mèo thành Mẹo Từ năm 1978, tại Hội nghị cốt cán dân tộc H’Mông đã chính thức và được thừa nhận, bắt đầu từ đó tên gọi dân tộc theo dân tộc đó tự gọi là H’Mông
- HMôngZ: Là tên viết bằng chữ H’Mông trong phương án chữ Mèo đã được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua ngày 27/11/1961, gồm có 48 nguyên
âm và phụ âm HM là một chữ cái đọc gần như chữ M của tiếng Việt, nhưng khi đọc hơi ra mũi nhiều Do đó chữ dân tộc H’Mông viết về dân tộc mình là HMôngZ HMôngZ đọc giống như chữ H’Mông của tiếng Việt nhưng hơi ra mũi nhiều
tra dân số tại Quyết định số 121-TLTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 của Tổng cục thống
kê, chữ HMông thực ra là chữ HMôngZ, nhưng khi đưa vào danh mục này đã bỏ quên dấu Z ở sau cùng
- H' Mông: Là do không biết đọc chữ H’Mông, đáng lẽ viết bằng chữ phổ thông phải viết và đọc là H’Mông thì lại viết sai và đọc thành Hơ Mông là viết và đọc sai hoàn toàn ( sai một ly đi một dặm - một thành hai )
H’Mông không biết đọc thế nào nên đọc luôn là Hơ Mông
- Mông là chuyển từ chữ HMôngZ trong phương án chữ Mèo “HMôngZ” sang tiếng Việt, xuất phát từ quan điểm không chuyển nguyên dạng chữ dân tộc thiểu số sang chữ phổ thông; nếu chuyển nguyên dạng chữ dân tộc thiểu số sang tiếng Việt
Trang 13nhiều dân tộc anh em khác cũng có chữ, thậm chí không phải là chữ La tinh Nhiều người không thể biết hết chữ của các dân tộc thiểu số trong nước, nên đã xảy ra đọc chệch từ HMông đáng lẽ đọc Mông thì lại đọc là Hơ Mông là sai hoàn toàn Hoặc như chữ ÊĐê viết tên huyện Cư Mgar viết nguyên chữ đó vào tiếng phổ thông chắc chắn sẽ đọc là Cư-mờ-ga, nếu đọc như thế là sai, mà phải đọc là Chư-mờ-ga, vì chữ
C của EĐê là chữ Ch của tiếng phổ thông
(nay là Văn phòng Chính phủ) về kết luận của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) tại Hội nghị vùng cao và dân tộc H’mông đã dùng là dân tộc H’mông
đã ghi rõ “Chỉ thị về một số công tác ở vùng dân tộc H’Mông”
Nhân dân đều viết là dân tộc H’Mông
Nam ngày 15/11/2000 đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã viết là dân tộc H’Mông (đã đăng trên báo nhân dân)
Vì vậy, đọc và viết tên dân tộc H’Mông bằng tiếng phổ thông là ngôn ngữ Quốc gia thì viết là dân tộc H’Mông Nếu viết bằng chữ H’Mông thì viết và đọc là HMôngZ
Tên gọi của một dân tộc là rất quan trọng, đó là văn hoá, là truyền thống, lịch sử của một dân tộc, là mối quan hệ giữa các dân tộc theo nguyên tắc “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển” Do đó, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, trên sách báo và mọi người cần thống nhất dùng chữ H’Mông để gọi tên dân tộc H’Mông”
1.2 Địa vực cƣ trú
“Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H'Mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam Dân tộc H'Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung
và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh
Trang 14tập quán du mục nên một số người H'Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum” [14;Người H’Mông ở Việt Nam] Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam dân tộc Mông đứng thứ tám sau dân tộc Kinh, Thái, Hoa, Khơ Me, Nùng, Mường, Tày và chiếm tỷ lệ gần 1% dân số cả nước
Dân tộc Mông sống ở các vùng núi cao Như các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu toàn bộ là miền núi Có những tỉnh có phần đất là đồng bằng nhưng dân tộc H’Mông cũng chỉ sống ở các vùng núi cao nguyên như huyện Quan Hoa (Thanh Hóa), huyện Mai Châu (Hòa Bình), huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) Ở những nơi có dân tộc H’Mông sinh sống, khí hậu đặc biệt mát mẻ, nhiệt độ giữa
Lào Cai,… Vào mùa đông rét hơn nhiều so với ở đồng bằng, nhiệt độ trung bình từ
C, thời tiết ban ngày mát mẻ, song ban đêm nhiệt độ hạ thấp nhiều, vì vậy mọi người phải dùng chăn bông đắp vào ban đêm và sáng sớm Mùa hè ở các vùng dân tộc H’Mông cũng là mùa mưa, nhiều nhất là vào tháng sáu và tháng bảy Mùa đông là mùa khô, tháng mười một và tháng mười hai là hai tháng có lượng mưa ít nhất Lượng mưa trung bình khoảng 5mm đến 10mm
Vì là miền núi nên đi lại rất khó khăn, từ huyện xuống tỉnh thậm chí tính bằng ngày đường Nguồn nước khan hiếm và phân bố không đồng đều Những nơi
có nguồn nước dồi dào như các tỉnh Lai Châu, Sơn La; những nơi khan hiếm nước như các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), vào mùa khô đồng bào ở đây phải
đi lấy nước xa hàng cây số Sông chính ở Tây Bắc là dòng sông Đà, chảy qua các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, mang theo lưu lượng nước lớn, là nguồn thủy năng quan trọng của đất nước ta Dân tộc H’Mông ở Hà Giang, Lào Cai không có sông lớn mà chỉ có sông nhỏ là sông Nho Quan chảy qua huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)
Tuy sống trên các vùng núi cao nhưng những nơi có dân tộc H’Mông sinh sống lại có những cánh đồng lòng chảo rộng đến hàng nghìn hecta Đồng bào Tây Bắc có câu miêu tả về những cánh đồng đó là:
“Nhất Thanh,
Nhì Lò,
Trang 15Tam Tấc,
Tứ Than
Nhất Thanh là Mường Thanh, nay là xã Điện Biên Phủ tỉnh Lai Châu Nhì
Lò là Mường Lò, nay là thị trấn Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tam Tấc là Mường Tấc, nay là huyện lỵ Phù Yên, tỉnh Sơn La Tứ Than là Mường Than, nay là huyện lỵ Than Uyên, tỉnh Lào Cai” [13-tr.9]
Những người H’Mông phần lớn chỉ ở trên núi cao nên định hướng sản xuất theo hướng hàng hóa và chăn nuôi gia súc gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, tài nguyên khoáng sản lại vô cùng phong phú, hứa hẹn nhiều khả năng phát triển về kinh tế và cung cấp cho nước nhà những nguồn nguyên liệu quan trọng
1.3 Số lượng dân số và các nhóm người Mông ở Việt Nam
- Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người H’Mông ở Việt Nam
có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 6 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố
người H’Mông tại Việt Nam)
người H’Mông tại Việt Nam)
người H’Mông tại Việt Nam)
người H’Mông tại Việt Nam
Trang 16 Bắc Kạn (17.470 người)
Theo tên tự gọi, người H’Mông có những nhóm chính sau:
H’Mông đấu – Mông trắng
H’Mông Lềnh (mống sí) – Mông hoa (Mông đỏ)
H’Mông đú – Mông đen
H’Mông súa – Mông Hán
Các tên tự gọi này, chủ yếu dựa vào sự khác nhau của y phục và tiếng nói để phân biệt
H’Mông “đấu” sống tập trung ở cá huyện Bảo Lạc (Cao Bằng), Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ (Hà Giang) Ở các tỉnh Tây Bắc, người Mông sống rải rác ở các huyện Yên Châu (Sơn La), huyện Sông Mã, Phong Thổ, Mù Cang Chải, Trạm Tấu (Yên Bái), Tủa Chùa (Lai Châu) Với người phụ nữa H’Mông đấu từ già đến trẻ, họ mặc toàn bộ váy lanh trắng do mình tự thiết kế và sản xuất, váy lanh trắng càng giặt nước tro càng trắng Ngày nay, một số người mặc quần đen để dễ dàng hoạt động trong những ngày bình thường, nhưng khi chết họ bắt buộc phải mặc váy lanh trắng
và họ tự nhận mình là người H’Mông trắng
Người H’Mông “Lềnh” sống tập trung ơ các huyện Mùa Cang Chải (Yên Bái), Trạm Tấu, Mộc Châu (Sơn La), Sín Mần (Hà Giang), Tảu Chuàn, Điện Biên, Tuần Giáo (Lai Châu), SaPa, Bắc Hà, Simacai, Mường Khương (Lào Cai), Hoàng
Su Phì Người phụ nữ H’Mông Lềnh mặc váy hoa, có hai loại váy chủ đạo Loại phổ biến hơn cả là váy thêu hoa phần dưới, người phụ nữa dùng chỉ thêu hoặc ghép vải màu thay cho hoa thêu vào phần dưới của váy Màu sắc chủ đạp của hoa thêu là màu đỏ, vì vậy người H’Mông Lềnh còn được gọi là H’Mông đỏ (H’Mông sí) Loại thứ hai là dung sáp ong để vẽ lên nền váy trắng sau đó nhuộm chàm cả váy Nước chàm sẽ ăn vào những chỗ không có hình vẽ Nhuộm xong nhúng vào nước nóng, sáp ong sẽ tan ra để lại hình vẽ trắng trên nền váy màu chàm Nhóm H’Mông mặc váy hoa văn tự gọi mình là H’Mông hoa
H’Mông “đú” sống tập trung ở các huyện Phong Thổ, Tủa Chùa (Lai Châu), Trạm Tấu (Yên Bái) và một số sống rải rác ở các huyện Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình
Trang 17Họ thuộc nhóm H’Mông Đen vì trang phục của họ chủ yếu là màu đen Ngoài ra có một số nhóm sống ở Tràng Định (Lạng Sơn), Thạch An (Cao Bằng), Định Hóa (Bắc Thái) tự nhận mình là H’Mông Đú
H’Mông “súa” tập trung ở xã Sính Phình (huyện Tủa Chùa, tỉnh Lai Châu), một số ở xã Lùng Phình (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) Người phụ nữa H’Mông Súa thường mặc quần áo bằng vải bông, đặc biệt hơn so với những nhóm H’Mông khác
vì nhóm H’Mông này thiên di vào nước ta muộn hơn
ít sói mòn và đi lại làm nương dễ dàng
Đồng bào H’Mông thường trồng cây lương thực vào mùa xuân, vì vậy họ phát nương vào mùa khô sau khi vụ chính kết thúc để chuẩn bị cho vụ mùa sau Nơi
có đồng bào H’Mông sinh sống thường có khi hậu á nhiệt đới nên họ chỉ trồng cây lương thực vào mùa hè thu như ngô, lúa Trước đây, người H’Mông còn trồng cây thuốc phiện, trên nương trồng những cây chính họ thường xen kẽ cây lương thực và hoa màu như đậu rang ngựa, đậu Hà Lan, dong riềng,… vừa đề chống mưa lũ làm xói mòn, rửa trôi đất canh tác, vừa cung cấp thêm lương thực cho gia đình
Trang 18Đồng bào H’Mông có ba phương thức canh tác chính: gieo trồng theo đường cây, gieo trồng theo hốc dung để cuốc bổ và gieo trồng theo lỗ dung gậy chọc Cây lương thực chính của người H’Mông là lúa nương và cây ngô
Cây lúa nương được trông nhiều ở Tây Bắc, đây là cây lương thực chính của đồng bào Có nhiều loại giống lúa như: giống lúa sớm, giống lúa muộn, giống lúa
có râu, giống lúa không râu Gạo lúa nương hạt rất trắng và dài giống như gạo dẻo của dân tộc kinh, nấu lên thành cơm ăn rất dẻo, thơm, ngon
Cây ngô được trồng nhiều ở Việt Bắc vùng Đồng Văn, Mèo Vạc, nơi đây rất thích hợp để trồng ngô, họ có thể trồng trong các hốc đá và đâu đâu cũng đều thu hoạch được tốt, vì vậy đối với nhóm người H’Mông ở đây ngô là cây lương thực chính
Ruộng bậc thang là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc mà do chính những người dân tộc H’Mông tạo nên Họ chăm sóc, cày bừa từng thửa ruộng rất kĩ, mỗi thửa rất hẹp chỉ hai đường bừa là hết Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt cùng với địa hình đồi núi dốc cao khó khăn trong việc canh tác nên người H’Mông có nhiều kinh nghiệm làm ruộng bậc thang để có thể sinh sống, làm ăn và buôn bán phục vụ sinh hoạt cho người dân Họ thành thạo trong quá trình làm ruộng nước từ khâu chọn địa hình cho đến khâu thu hoạch đều rất tỉ mỉ Đặc biệt là khâu bón phân cho ruộng lúa bởi phân bón là nguồn sống chính của lúa, quyết định một vụ mùa hạt gạo có chất lượng hay không Vì vậy, để có đầy đủ phân cho từng thửa ruộng, những thửa ruộng thấp họ thường tự tay chăm bón và đi đến từng thửa một, còn những thửa ruộng cao họ làm luôn một chuồng trâu bên cạnh để khi cần có phân thì không phải vất vả gánh
1.4.2 Các loại cây ăn quả và cây công nghiệp
Vùng đồng bào H’Mông thường có các loại cây công nghiệp như cây lanh, cây chè, cây dâu tằm, cây đậu tương, cây thuốc lá
Cây lanh là loại cây được trồng phổ biến nhất ở các vùng có dân tộc H’Mông sinh sống, bởi hầu hết người phụ nữ H’Mông đều dung sợi lanh dệt vải để may váy, may quần áo, thậm chí các túi xách hay những đồ dùng đi kèm theo người cũng được làm từ sợi lanh Họ trồng lanh vào tháng hai, tháng ba và thu hoạch vào tháng năm, tháng sáu Tất cả những kĩ thuật tốt nhất được đồng bào H’Mông áp dụng vào việc trồng lanh, bởi cây lanh gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày của mỗi người dân Từ công đoạn xới đất làm cho đất tơi, sau đó nhặt thật sạch cỏ, làm luống tỉ mỉ, bón phân lót đều mặt ruộng sau đó mới đến công đoạn rắc hạt lanh Hạt giống phải được rải đều và dày vì như thế cây lanh mới phát triển và sợi lanh mới cứng, mới tốt
Trang 19Cây chè là một loại cây sẵn có ở các vùng núi cao nguyên, nơi có nhiều người H’Mông sinh sống, chè nơi đây phát triển rất tốt vì thế chất lượng chè cao, chỉ cần hái búp mang về sao lên là đã có một bình chè thơm nức Có những cây chè mọc tự nhiên to đến vài người ôm không hết, nhiều người chèo lên hái mà không gãy, chứng tỏ đất nơi đây rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè Những vùng trồng nhiều chè nổi tiếng như chè Suối Giàng (Văn Chấn, Yên Bái), chè Lũng Phìn (Đồng Văn, Hà Giang), chè Bắc Hà (Lào Cai)
Cây dâu tằm cũng rất phổ biến ở đồng bào dân tộc H’Mông bởi quần áo, váy vóc của họ đa số đều thêu hoa văn Chừng nào váy còn có hoa văn thì chừng đó nghề trồng dâu tằm vẫn được duy trì
Cây đậu tương chiếm một vị trí quan trọng và trở thành nguồn kinh tế chính của đồng bào dân tộc H’Mông Đậu tương có thể xay làm ớt bột, gừng, đậu xị Vì vậy, hàng năm người dân tộc H’Mông thu hoạch một khối đậu tương khá lớn Đậu tương nấu với rau, cho ít canh chua vào ăn với “máu của” (ngô xay thành bột rồi đồ xôi) ăn rất ngon và bổ Đậu tương không chỉ làm thức ăn mà còn để bán, vì vậy đậu tương được trồng ở mọi nơi Nơi trồng nhiều nhất là vùng dân tộc H’Mông ở Mường Khương, Bắc Hà, Simacai, Lào Cai
Cuối cùng cây thuốc lá là một loại cây công nghiệp không thể thiếu ở những vùng đồng bào H’Mông sinh sống, bởi thuốc lá không chỉ phục vụ nhu cầu của người dân mà còn là một sính lễ không thể thiếu trong ngày cưới của những chàng trai H’Mông, người ta quen gọi là lá H’Mông Cây thuốc lá được trồng ở hầu hết các vùng, không giống như cây thuốc lá bình thường, lá H’Mông có lá to, dài và dày bản Đồng bào H’Mông chặt cả cây thuốc lá đem về nhà phơi khô sau đó ngắt lấy lá bó lại cất đi dùng quanh năm Thuốc lá người H’Mông hút nặng hơn rất nhiều
so với các loại thuốc lá khác
Một số cây ăn quả ôn đới mà vùng thấp không có như táo, lê, mận, đào Mận của dân tộc H’Mông nổi tiếng là ngon, giòn, đặc biệt khi chín đỏ rất ngọt và thơm, khác hẳn với mận vùng đồng bằng Nổi tiếng nhất vẫn là mận Bắc Hà (Tam Hoa) được trồng phổ biến ở huyện Bắc Hà và dần lan sang các vùng lân cận
1.4.3 Công cụ sản xuất
Công cụ sản xuất của đồng bào H’Mông là do tích lũy kinh nghiệm qua hàng ngàn năm lao động gian khổ mới có được, công cụ sản xuất thể hiện trình độ phát triển kĩ thuật sản xuất của đồng bào H’Mông Là một vật dụng quan trọng phục
vụ cho nhu cầu và đời sống của con người
Trang 20Công cụ sản xuất chính của đồng bào H’Mông bao gồm: cày, bừa, cuốc bướm, cào cỏ, liềm, dao,…
Cuốc bướm là một công cụ lao động không thể thiếu trong mỗi gia đình người H’Mông, trong nhà có bao nhiêu lao động thì có bấy nhiêu cái cuốc bướm Lưỡi cuốc được người dân tự rèn rất tốt, có độ cứng vừa phải mà lại vừa có độ dẻo
để không bị quăn trong điều kiện đất đá Kĩ thuật rèn sắt của dân tộc H’Mông đã đạt đến trình độ điêu luyện
1.4.4 Những ngành nghề khác trong gia đình
Đồng bào H’Mông chăn nuôi một số loại gia súc gia cầm như: trâu, bò, lợn, ngựa Trâu, bò chủ yếu nuôi là để cày bừa, cúng ma và ăn thịt Ngựa được nuôi chủ yếu để thồ hàng và tải lúa, ngô về vào mỗi vụ mùa Những nơi nuôi nhiều là đồng bào H’Mông ở Tây Bắc, mỗi gia đình nuôi đến năm, bảy con trâu, bò và nuôi rất nhiều ngựa để lấy sức kéo Còn ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) do địa hình nhiều đồi đá trọc, ít nơi có cỏ nên chăn nuôi tương đối ít, mỗi gia đình chỉ nuôi từ một đến hai con bò hoặc trâu để có thể cắt cỏ cho chúng
Ngoài việc chăn nuôi để tư lợi về kinh tế thì việc nuôi để thưởng thức cái đẹp của những chú trâu, chú ngựa cũng là thú vui của đồng bào dân tộc H’Mông Vì vậy, mỗi dịp phiên chợ ở các nới như Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Hà (Mường Khương, Lào Cai), Lũng Phìn (Hà Giang), đồng bào dắt rất nhiều ngựa đến để cùng ngắm và bình phẩm về vẻ đẹp của chúng Theo quan niệm của người dân, ngựa đẹp
là những con ngựa khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, cân đối, có sắc lông đẹp Con ngựa nào được khen càng nhiều thì người chủ càng phấn khởi
Ngựa là một con vật có sức lao động chính ở các vùng dân tộc H’Mông, dùng để thồ hàng mỗi khi ô tô không vào được trong bản, sau đó là để cưỡi Vì thế chuồng của gia súc được làm không kém gì nhà ở của người Đặc biệt ở Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) nền chuồng được lát ván, có máng đựng thức ăn cho gia súc
ăn vào ban đêm Hàng ngày đi làm ngựa phải thồ phân tro, giống má ra đồng, đến
vụ thu hoạch ngựa được dùng để tải lúa, ngô về nhà Đồng bào cũng dùng ngựa để chở hàng hóa từ nhà ra chợ bán
Thủ công nghiệp cũng là một phần quan trọng trong kinh tế tự cung tự cấp của đồng bào dân tộc H’Mông, đặc biệt là nghề dệt và nghề rèn
Trang phục chính của người H’Mông là những bộ quần áo váy được dệt từ chính những sợi lanh mà họ trồng nên Vì vậy, nghề dệt được hình thành để thỏa
Trang 21mãn nhu cầu may mặc của người dân, đồng thời tăng thêm kinh tế cho gia đình Ở người H’Mông nghề dệt phát triển từ xa xưa, thế nên trong mỗi gia đình đều có khung cửi, trước hết là để tự phục vụ nhu cầu của chính bản thân từ đồ mặc đến những chiếc gối, chăn, màn đều từ dệt thủ công mà ra Để tạo nên được một sản phẩm thủ công từ chính những sợi lanh phải tốn rất nhiều công sức, thì giờ Bởi vậy, nghề dệt không chỉ có ý nhĩa về kinh tế, còn có ý nghĩa về mặt xã hội Sự chăm chỉ, khéo léo trong từng đường kim mũi chỉ, từng đường dệt thể hiện sự đảm đang của người phụ nữ, là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng việc lựa chọn vợ của các chàng trai Những cô gái nào khéo tay, thêu thùa giỏi sẽ là một trong những ứng cử viên sáng giá đầu tiên Vì vậy những chị em phụ nữ đến tuổi lập gia đình thường rất bận rộn trong việc thêu thùa may vá để thể hiện phẩm chất của mình Nghề rèn cũng là một nghề thủ công nổi tiếng ở đồng bào các dân tộc H’Mông Đặc biệt kĩ thuật tôi, khoan đã đạt đến trình độ đỉnh cao Nghề rèn cung cấp những công cụ lao động thường ngày cho người dân, họ tự làm những cái cuốc, cái liềm, làm súng kíp, đúc lưỡi cày, đến cả những đồ trang sức của phụ nữ Không chỉ cung cấp công cụ lao động trong bản mà nghề rèn của người H’Mông còn cung cấp cho cả các dân tộc khác như Thái, Dao, Khơ Mú, Kháng, Cờ Lao, Pu Péo Nhưng không phải gia đình nào cũng làm được nghề rèn, người dân tộc H’Mông quan niệm, muốn có nghề phải có bí quyết phù phép xin thần thánh phù hộ Không có bí quyết thì không thể làm nghề được Vì vậy, bí quyết chỉ được truyền cho những người con trai trong gia đình Thực chất bí quyết là ở kĩ thuật tôi Tôi non thì bị quăn, tôi già thì công cụ bị mẻ Kĩ thuật cao hơn của nghề rèn là kĩ thuật khoan Họ mua các loại nòng súng của các dân tộc khác hoặc mua các vòng tay lái xe con bị hỏng về tôi lại sau đó khoan cho đúng yêu cầu kĩ thuật Tất cả những kĩ thuật này đều do quá trình làm nghề mà thành, chính quá trình tiếp xúc và phụ việc của những người con trong gia đình đã dần dần học được những bí quyết của anh, của cha để lại
Ngoài ra nghề nghề mộc, nghề đan lát cũng rất phát triển ở những nới có đồng bào H’Mông sinh sống Những nghề này được hình thành chủ yếu để cung cấp công cụ lao động trong gia đình là chính
1.5 Tổ chức cộng đồng
Những gia đình cùng họ thường có xu thế ở gần nhau Việc cư trú xen kẽ giữa các họ đến nay là phổ biến, vì thế làng mang tính chất láng giềng nổi trội Mỗi làng bao gồm vài chục nóc nhà, quây quần bên nhau cùng quay về một hướng Có
Trang 22khi phân bố thành từng cụm mấy nhà trên một khu vực nhất định hoặc vài ba nóc nhà ở rải rác ven sườn núi, sườn đồi
Làng của người H’Mông quần tụ chủ yếu theo dòng họ , một làng trung bình
có từ hai - ba họ, làng lớn có sáu - bảy họ Tuy sống chung trong một làng nhưng các dòng họ cư trú thành từng cụm riêng, mỗi cụm là một dòng họ Kiểu cư trú này phổ biến ở khắp các vùng người H’Mông, điều đó thể hiện sự gắn bó giữa những người cùng dòng họ với nhau Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện sự cư trú đan xen giữa các dòng họ ở một số làng mới thành lập và cư trú hỗn hợp dân tộc trong cùng một làng Mặc dù vậy, người H’Mông vẫn tách thành từng khu vực riêng, họ quan niệm
đó mới là làng của mình Điều này phản ánh truyền thống khép kín, tính cố kết tộc người của dân tộc H’Mông
Nơi được chọn lập làng phải là nơi có nguồn nước sinh hoạt cho người và gia súc Bên cạnh nơi cư trú, từng làng phải có đất đai để canh tác và khai thác riêng với những quy định cụ thể cho từng khu vực của đất làng như:
không được làm nhà, lấy củi, chém dao vào cây đa, cây si – theo họ, là nơi các thần linh cư ngụ
Dân bản này không thể tự ý sang đất bản khác để khai phá đất rừng để làm nương Muốn khai phá đất bản khác phải xin phép chủ nhân sở tại - nếu đất đã có chủ, hoặc xin trưởng bản - nếu đất đó đang thuộc quyền sử dụng chung của bản Những đám đất, những lâm sản trong rừng nếu đã được đánh dấu xác định quyền
Trang 23chiếm hữu thì người khác không được khai thác Các thành viên trong bản phải tôn trọng và tuân thủ luật tục, ai vi phạm sẽ bị xử phạt
Theo quan niệm của người H’Mông, mỗi làng bản đều có chung một vị thần bảo vệ cho cộng đồng mình Thần chi phối đời sống của cộng đồng bản, làm cho dân bản được khỏe mạnh, mùa màng được bội thu, gia súc - gia cầm được đầy đàn,… Ngược lại gia súc - gia cầm bị dịch bệnh Người gặp tai nạn đều là do có hành động vô lễ với các vị thần (như chặt cây trong rùng cấm, phá phách nơi thần trú ngụ hay làm điều gì ảnh hưởng đến các vị thần Vì vậy, hàng năm cứ ăn tết xong, đại diện các gia đình trong làng lại đến khu rừng thiêng làm lễ cúng thần Tại
lễ này các thành viên trong làng sẽ tập trung bàn bạc thống nhất quy ước Nội dung quy ước bao gồm những điều cụ thể liên quan đến việc chăn thả gia súc, bảo vệ mùa màng, bảo vệ trị an, phòng chống trộm cướp, bảo vệ rừng trồng rừng, giúp đỡ các gia đình nghèo khó, hoạn nạn trong làng Mọi người bàn bạc đi đến thống nhất rồi lần lượt uống một bát rượu thề để thực hiện đúng quy ước Các đại diện gia đình bầu ra một người trưởng làng và phó trưởng làng mới giúp việc cho năm tới Những người này có nhiệm vụ giám sát mọi người trong làng thực hiện đúng quy ước, đồng thời xử phạt những ai vi phạm
Trong xã hội truyền thống của người H’Mông tồn tại khá rõ ràng một loại hình tổ chức xã hội dựa trên quan hệ huyết thống, đó là dòng họ Trước đây hầu như mỗi vùng đều có một dòng họ vừa đông đúc vừa có thế lực nhất, ngày nay hầu hết các dòng họ người H’Mông đều sống xen kẽ với nhau và một làng thường có ít nhất hai - ba dòng họ
Có hai phạm trù cố kết trong dòng họ H’Mông đều sống xen kẽ với nhau và một làng thường có ít nhất hai - ba dòng họ
Có hai phạm trù cố kết trong dòng họ:
Người H’Mông hay nhận nhau để biết có cùng dòng máu hay không, dấu hiệu nhận
họ là cùng họ và cùng ma (tổ tiên chung) Những người chỉ cùng họ mà không cùng
ma thì không được sinh, không được chết ở nhà nhau, mặc dù có những kiêng kị như nhau
chục gia đình có chung một ông tổ Đó là một đơn vị cố kết cộng đồng huyết thông
Trang 24Đây là những người “cùng họ, cùng ma” Ở người H’Mông, khi muốn nhận anh em cùng tổ tiên, người ta hỏi kỹ lưỡng về những điều kiêng kị, cách thức cúng ma, đặc biệt là nghi thức làm ma chay cho người chết như: ma khô, ma bò,… Mỗi họ đều kiêng ăn một số các con vật hoặc bộ phận con vật như: họ Giàng kiêng ăn tim, họ
Lý kiêng ăn lá lách, họ Thào kiêng ăn dưa chuột… Cách cúng ma thường khác nhau
về số lượng bát cúng, cách bày bát, chia thịt, chỗ cúng: họ Vàng cúng 33 bát, họ Sùng bầy 13 bát, họ Mùa 19 bát… Mỗi họ có tên gọi riêng liên quan đến một số con vật, loại cây, đồ vật, màu sắc như: Sùng (gấu), Mã (ngựa), Giàng (dê), Hờ (khỉ), Cư (trống), Thào (đào), Lù (xanh)… Các họ người H’Mông có rất nhiều như: Thào, Giàng, Vàng, Háng, Vừ, Lầu, Lý, Sồng, Hờ, Và, Cư, Mã, Phàng, Mùa,…
Đứng đầu dòng họ là trưởng tộc: hơ pâu (cái gốc) hay uô thâu (cái đầu) ông
là người có đạo đức, uy tín, luôn quan tâm đến đời sống các thành viên Đồng thời ông cũng là người có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, giỏi tổ chức săn bắn, thạo nghề rèn, am hiểu các lễ nghi, kiêng kỵ riêng của dòng họ, nắm chắc phong tục tập quán của người H’Mông Người trưởng tộc có trách nhiệm trực tiếp tổ chức khai hoang giải quyết các vụ xích mích trong dòng họ, hướng dẫn các gia đình có ma chay, cưới xin Ông cũng là người thay mặt dòng họ giao thiệp với chính quyền và các dòng họ khác, thậm chí còn là người tổ chức các vụ kiện, đi đòi nợ máu xưa kia
Có tộc trưởng do các thành viên dòng họ bầu ra, nhưng cũng có nơi lại do người tộc trưởng cũ tìm chọn và đào tạo Đặc biệt ở một số nơi, người tộc trưởng được hình thành một cách rất tự phát: tộc trưởng cũ mất đi Từ đó người có uy tín luôn được các thành viên hỏi ý kiến thì dần dần trở thành tộc trưởng
Những bậc cha, chú sẽ là người giám sát việc làm của trưởng họ Nếu ông ta không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bị bãi miễn Ý kiến trưởng họ có trọng lượng nhưng không thể đi ngược lại quyền lợi chung của dòng họ Trưởng họ không được hưởng quyền lợi gì ngoài sự kính trọng của các thành viên Ngoài trưởng họ còn có các bà cô (chị hoặc em gái của bố) cũng là người có vai trò quan trọng Tuy đã thành “ma” nhà khác nhưng bà cô vẫn có trách nhiệm với dòng họ mình, góp ý kiến trong việc cưới gả các cháu gái, quyết định đồ sính lễ, thách cưới Khi bố mẹ cháu mất, bà cô thay mặt gia đình bàn bạc với các bậc cha chú trong dòng họ để làm ma Nếu nghi thức thành ma muốn thay đổi chút ít phải được sự đồng ý của các bà cô Cưới xin, làm nhà mới là công ciệc của từng gia đình nhưng toàn thể các thành viên trong dòng họ đều có nghĩa vụ giúp đỡ Ở các vùng cư trú lâu đời, hàng năm người trưởng tộc phải bàn bạc với các chủ gia đình quyết định việc làm nhà
Trang 25cho đình nào, xem xét kỹ số nguyên vật liệu chuẩn bị đến đâu, thiếu thứ gì cần phân
bổ cho các thành viên khác lo liệu Riêng cột cái chính - nơi sau này hồn ma trú ngụ thì đích thân ông trưởng tộc chọn giúp Trường hợp ông ta bận thì phải chọn một người khỏe mạnh, đông con cái đi vào rừng chọn lấy về
Trường hợp một gia đình có đám tang thì cả dòng họ đứng ra lo liệu Gia đình đó quá nghèo không làm nổi đám ma, cả dòng họ có nghĩa vụ đóng góp rượu, thịt, gạo… để mọi việc được chu toàn Người chủ ma tuy không nhất thiết là trưởng tộc nhưng cũng phải là thành viên am hiểu lễ tục của dân tộc mình Ông này có quyền quyết định mọi công việc của đám ma Sự thống nhất về xã hội và tư tưởng trong dòng họ của người H’Mông phản ánh khá rõ nét qua lễ làm “ma bò” Tất cả các thành viên trong dòng họ phải có mặt trong lễ này, kể cả phụ nữ đã đi lấy chồng, lễ do trưởng họ chủ trì Đây là lễ của con cháu cúng báo hiếu ông bà, cha
mẹ Sự gắn kết về tinh thần còn được thể hiện ở lễ đuổi tà ma, cầu yên cho dòng họ Mỗi họ tổ chức vào những ngày nhất định trong năm, luân phiên từ gia đình này đến gia đình khác trong dòng họ
Sự thống nhất tư tưởng của dòng họ biểu hiện tập trung về ký ức đối với ông
tổ chung Người H’Mông không có chữ viết nên trừ những gia đình chức dịch biết chữ Hán còn hầu hết đều không có gia phả, nhưng mọi thành viên của dòng họ luôn nhứ kỹ về lịch sử ông tổ, lịch sử di cư của dòng họ mình Trong các lễ cúng “ma bò”, lễ giải hạn, người tộc trưởng phải có nghĩa vụ nhắc lại sự nghiệp của tổ tiên cùng các ký hiệu quy định của dòng họ cho con cháu nhớ
Cộng đồng dòng họ người H’Mông cũng định ra những luật tục rất nghiêm khắc, nổi bật là tục cấm kết hôn trong dòng họ, kể cả những anh em “khác ma” song trùng tên dòng họ; tục không bao giờ để người khác họ chết hay đẻ ở nhà mình Luật tục còn quy định cả nghĩa vụ, trách nhiệm của các thành viên trong dòng họ Người H’Mông có câu: “Sống là người của dòng họ, chết là ma của dòng họ” Sống phải bảo vệ nhau, chết phải chôn cất cho nhau” Trong cuộc sống người H’Mông tuân thủ nghiêm ngặt những lễ nghi, kiêng kỵ của dòng họ, những người thân thuộc phải giúp đỡ nhau, bảo vệ nhau, giúp nhau báo thù, kiện tụng hay giúp trả nợ và đòi
nợ, giúp vì danh dự của dòng họ… Gặp chuyện vui buồn “dốc cao đừng xa” họ cũng đến chia sẻ với nhau Mối quan hệ giữa các thành viên cùng sòng họ thường vượt qua cả danh giới quốc gia Người dòng họ cư trú tới đâu, luật tục dòng họ thực hiện tới đó
Trang 26Gia đình người H’Mông là loại hình gia đình nhỏ phụ quyền Quy ô mỗi gia đình khoảng sáu đến tám người Nhiều gia đình bao gồm hai hay ba thế hệ cha - con
- cháu sống chung dưới một mái nhà, có kinh tế chung Cá biệt có những gia đình
“tứ đại đồng đường” Đây là loại hình gia đình lớn (gồm bố mẹ và một hoặc hai cặp
vợ chồng anh em sống chung với nhau) tồn tại ở một số nơi nhưng không phổ biến
Có trường hợp này là do những người anh em trai chưa đủ điều kiện để ra ở riêng Trong gia đình, tính phụ quyền thể hiện tập trung nhất ở người cha; ông có quyền quyết định tất cả trong nhà Thông thường, ở người H’Mông , con cái và vợ luôn phải phục tùng, nghe lời chồng, cha Người cha quyết định trong việc chi tiêu, mua sắm, bán chác… và điều hành lao động hàng ngày Khi có việc hệ trọng như tang
ma, cưới xin… tuy có bàn bạc với người vợ nhưng quyền quyết định vẫn về người chồng Tính phụ quyền còn thể hiện trong ngôi nhà người H’Mông, ở tục lệ chỗ gắn nơi thờ “ma nhà” khi ngồi ăn chỉ duy nhất có ông chủ nhà mới được ngồi quay lưng vào; vợ con không bao giờ được ngồi vào vị trí đó Con được tính theo họ cha, tài sản gia đình gồm bất động sản, các nông cụ, trâu, bò, tiền bạc… khi đem trao đổi, cầm cố, bán chác, ý kiến của chủ nhà là quyết định Tài sản trong gia đình chỉ chia cho con trai, không chai cho con gái Của hồi môn duy nhất con gái được đem về nhà chồng là váy áo và đồ trang sức Mỗi thành viên trong gia đình ngoài việc phải tuân thủ luật lệ của dòng họ và cộng đồng mà còn phải khuôn mình trong gia pháp
mà đại diện là người chồng, người cha - người chủ gia đình Việc phân công lao động trong gia đình người H’Mông thường theo giới và lứa tuổi Con trai lo các việc nặng nhọc hơn như cày bừa, chặt gỗ, đi săn, rèn, mộc,…; con gái lo việc bếp núc chăn gia súc - gia cầm, lấy củi, hái rau… Khi đến tuổi trưởng thành, nam nữ được tự do tìm hiểu yêu đương
Tiểu kết chương 1
Dân tộc H’Mông là một trong những dân tộc thiểu số xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam, có truyền thống lịch sử lâu đời Vì vậy, phong tục tập quán của đồng bào H’Mông rất đa dạng và phong phú, đặc biệt ít bị mai một nhất trong số các dân tộc khác Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, người H’Mông đã phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình hòa nhập mà không bị hòa tan, đó là một điều đáng quý
Trang 27CHƯƠNG 2: PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI H’MÔNG Ở SA PA VÀ NGƯỜI H’MÔNG Ở MÙ CANG CHẢI - NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG 2.1 Quan niệm cưới xin của người H’Mông
Người H’Mông sinh sống rải rác ở nhiều huyện khác nhau, tuy vậy vẫn có điểm chung mang nét đặc sắc riêng của dân tộc, đặc biệt là phong tục cưới hỏi Nguyên tắc hôn nhân của người H’Mông là: nội hôn tộc người, ngoại hôn dòng họ Theo thống kê, dân tộc H’Mông ở Tây Bắc có khoảng 16 dòng họ, ở Lào khoảng 16 dòng họ, ở Nghệ An khoảng 12 dòng họ Trong đó, người H’Mông Hoa thường có các họ như: Giàng (Già), Mùa, Ha (Hạng); người H’Mông Hoa thường
có các họ như: Vàng, Lầu, Vừ Những người không có quan hệ huyết thống nhưng
có cùng cùng một họ thì cũng không được lấy nhau, ví dụ hai nhà hàng xóm có cùng họ Vàng với nhau, hai người con của họ cũng họ Vàng, tuy không có quan hệ máu mủ nhưng cũng không được lấy nhau Nam nữ thanh niên được tự do lựa chọn bạn đời nhưng phải theo tập tục truyền thống của gia đình và dòng họ Không được phép kết hôn giữa những người cùng họ nội Trường hợp anh trai chết, em trai có thể lấy chị dâu làm vợ dù là vợ lẽ Khi người con gái muốn về nhà bố mẹ đẻ sống thì gia đình nhà gái phải làm lễ gọi hồn để nhập ma trở lại Nhưng không có lệ anh trai lấy em dâu làm vợ khi người em trai chết
Cũng như mọi người dân lao động, người H’Mông quan niệm cái đẹp lứa đôi trong khi chọn người bạn trăm năm phải khỏe mạnh, đạo đức tốt, chăm làm và làm có hiệu quả Con gái phải giỏi việc nội trợ, thêu thùa, may vá,… Con trai phải biết cày bừa, biết một số nghề thủ công như mộc, đan lát, Ngoài ra, con trai biết thổi sáo, hát hay là một trong những điểm cộng để thu hút người con gái Những cô gái hay chàng trai biếng làm, có những thói hư tật xấu như trộm cướp, lừa đảo thì rất khó lấy vợ, lấy chồng Nét độc đáo trong cách tán tỉnh của những chàng trai, cô gái người H’Mông đó là hình thức vỗ mông đối phương để trao gửi yêu thương Vào mỗi dịp lễ hội, lễ tết các chàng trai, cô gái người H’Mông mặc những bộ quần
áo xúng xính đủ màu sắc sặc sỡ cùng nhau xuống chợ trẩy hội, du xuân Họ tán tỉnh nhau bằng cách đưa tình qua ánh mắt, dùng ánh mắt để thổ lộ tình cảm Trong tiết trời xuân ấm áp, không khí lễ hội náo nhiệt tưng bừng, các chàng trai người H’Mông mặc những bộ quần áo truyền thống và chơi những trò chơi thể hiện khí chất mạnh mẽ, nam nhi của mình; các cô gái người H’Mông thướt tha trong những
bộ váy tự thiết kế nom thật đẹp đẽ và duyên dáng, cùng hát những câu hát giao
Trang 28duyên tạo nên một khung cảnh nên thơ trữ tình Họ mời nhau những chén rượu ngô
ấm nóng và trao cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất đầu năm mới, đồng thời đưa mắt để tìm kiếm bạn đời, khi chàng trai đã nhìn thấy cô gái mình thích sẽ đưa mắt nhìn đắm đuối, nếu cô gái cũng ưng thuận thì sẽ đưa mắt nhìn lại Khi men rượu đã say, men tình đã ngấm thì cô gái dời khỏi chỗ ngồi của mình và đi ra một chỗ vắng những không quên đưa mắt liếc về phía chàng trai để ra tín hiệu Chàng trai chỉ chờ
có thế đi theo cô gái và vỗ nhẹ vào mông cô, nếu cô gái cũng ưng thuận thì vỗ lại một cái Lúc này, coi như cuộc tán tỉnh đã thành công, chàng trai cô gái về nhà và không ngừng nhớ đến nhau, đến phương chợ tới họ lại tìm đến nhau để trao gửi yêu thương Khi đủ 9 lần vỗ mông thì coi như hai bên đã ưng thuận, chỉ chờ người mai mối để nên vợ, nên chồng
Ở người H’Mông, nam nữ thanh niên được tự do tìm hiểu, yêu đương để lựa chọn bạn đời Điểm hẹn hò, gặp gỡ của các thanh niên nam nữ là các phiên chợ, dịp
lễ tết… Những cơ hội này, thông qua các hình thức sinh hoạt văn hoá như ném pao, thổi khèn, hát đối đáp… mà trai gái làm quen, thổ lộ tình cảm Vào các đêm trăng, các chàng trai H’Mông thường kéo thành từng tốp mang theo khèn sang nhà bạn gái
để gửi gắm tâm tình Khi tìm được người tâm đầu ý hợp, các chàng trai thường đem kèn môi đến sau vách nhà cô gái nói chuyện Nghe tiếng nhạc, cô gái ra mở cửa mời chàng trai vào nhà để tâm sự Những bài tình ca của các chàng trai Mông mang ý
nghĩa sâu sắc, chất chứa tình cảm yếu thương thầm kín như bài “Nhớ em yêu” (Dân
ca H’Mông):
“A Chiều, lòng anh nhớ gọi em Mái!
Chiều, kìa tiếng sáo gọi em lưng đồi
Vầng trăng lên sáng rồi, bừng lên núi
Nhớ người yêu, lòng anh buồn
Buồn ăn chẳng no lòng
Kìa tiếng sáo gọi em ơi Mái!”
Những lời hứa, lời hò hẹn cho tương lai cũng đong đầy tình cảm, được thể
hiện qua bài “Nhắn gửi” (Dân ca H’Mông):
“Nhắn gửi đôi lời cùng anh
Hỏi núi gọi suối bao giờ
Mừng đón anh về
Trang 29Nhắn gửi đôi lời cùng em
Trông vời lưng núi
Hẹn em chờ đến ngày anh trồng lúa
Trồng xong nương sắn mùa
Em đợi chờ đón anh về
Nhắn gửi đôi lời cùng em
Xa người yêu dấu anh còn đi
Một sáng anh về vui sống cùng anh”
Từ khi đặt vấn đề ăn hỏi đến khi cưới xong là cả một quá trình với các nghi
lễ phức tạp, đậm đà bản sắc dân tộc và phải trải qua các nghi lễ chính sau: Lễ dạm hỏi và so tuổi; Xin ngày cưới và lễ vật; Lễ cưới
2.2 Các nghi thức trong cưới xin
2.2.1 Tục “kéo vợ” của người Mông
Tục “kéo vợ” là một trong những phong tục tập quán lâu đời của người H’Mông từ xưa đến nay Ngày nay, cho dù bị rất nhiều văn hóa hiện đại không lành mạnh tác động nhưng đồng bào dân tộc Mông vẫn giữ được những nét truyền thống vốn có từ tục “kéo vợ” đó
Trong trường hợp đôi trai gái yêu nhau thắm thiết nhưng gia đình hai bên đều không đồng ý thì họ không được phép qua lại hay lấy nhau Bởi nếu kiên quyết đến với nhau thì sẽ mang tội bất hiếu và cuộc hôn nhân đó cũng không được chấp thuận Thế nên tục “kéo vợ” có thể được coi là một giải pháp khá hiệu quả cho