1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người tày huyện na hang, tỉnh tuyên quang

263 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 8 MB
File đính kèm Luận văn full.rar (12 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhậpkhu vực và quốc tế hiện nay, văn hóa dân tộc nói chung và phong tục tập quán, cácnghi lễ trong chu kỳ đời người củ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT

NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ HOA MAI

NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA NGƯỜI TÀY HUYỆN NÀ

HANG TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT

NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ HOA MAI

NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA NGƯỜI TÀY HUYỆN NÀ

HANG TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Nhân học

Mã số : 9 31 03

02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM QUANG HOAN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận án với đề tài: “Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày

ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang” là công trình nghiên cứu khoa học

của riêng tôi Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Hoa Mai

Trang 4

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đến Khoa Dân tộc học và Nhân học, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà và các thầy, cô giáo trong Khoa đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đến Lãnh đạo và các phòng ban, đơn vị thuộc Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận án này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo và các cán bộ Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và vật chất để tôi thực hiện luận án này.

Tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành đến các thôn, bản, xã, thị trấn của huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang nơi tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn của đề tài luận án.

Tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn

bè đã động viên và giúp đỡ tôi thực hiện luận án này.

Hà Nội, tháng năm 2019

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Hoa Mai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8

1.1.T ổng quan tình hình n g hiên c ứ u 8

1.2 Cơ s ở lý thuyết của đề tài 18

1.3 Khái quát về Tuyên Quang, về Nà Hang và người Tày ở Nà Hang 29

Chương 2: NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ NUÔI DẠY CON 40

2.1 Quan niệm của người Tày về con cái 40

2.2 Cơ sở tín ngưỡng của nghi lễ sinh đẻ 48

2.3 Chăm sóc v à nuôi d ạy trẻ 62

Chương 3: NGHI LỄ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY 68

3.1 Quan niệm của người Tày về hôn nhân 68

3.2 Nguyên tắc kết hôn của người Tày 76

3.3 Phong tục và các nghi lễ hôn nhân của người Tày 78

Chương 4: NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY 95

4.1 Quan n i ệm v ề s ự s ốn g , cái c h ết v à linh h ồn 95

4.2 Quan niệm hồn vía con người 98

4.3 Các l o ại tang m a 99

4.4 Trình tự nghi lễ tang ma của người Tày 101

4.5 Lễ chôn cất người chết .111

4.6 Các nghi lễ sau khi chôn cất người chết 114

Chương 5: BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT 125

5.1 Những biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày 125

5.2.Nh ữ n g m ặ t t í c h c ự c v à hạ n ch ế c ủ a n g h i l ễ t r on g sin h đ ẻ v à nu ô i d ạ y co n 135

5.3.Nh ữ n g m ặ t t í c h c ự c v à hạ n ch ế c ủ a hô n nhâ n v à n g h i l ễ tron g h ô n n hâ n 139

5.4.N h ữ ng m ặt tích c ự c v à h ạn chế của n g hi lễ trong ta n g ma 140

5.5.M ột v ài k iến n g hị 141

5.6 M ột số g i ải pháp 143

K Ế T LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM K H ẢO 152

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 5.1: Đánh giá sự biến đổi về sinh đẻ và nghi lễ trong sinh đẻ, nuôi dạy con 125Bảng 5.2: Đánh giá sự biến đổi về hôn nhân và nghi lễ trong hôn nhân 130Bảng 5.3: Đánh giá sự biến đổi của nghi lễ tang macủa người Tày ở Nà Hang

hiện nay 133

Trang 7

1.Tính cấp thiết của đề

tài

MỞ ĐẦU

Trang 8

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhậpkhu vực và quốc tế hiện nay, văn hóa dân tộc nói chung và phong tục tập quán, cácnghi lễ trong chu kỳ đời người của các tộc người trong đại gia đình các dân tộcViệt Nam nói riêng cũng có những biến đổi nhất định do những nguyên nhân khácnhau.Việc tìm hiểu thực trạng và sự biến đổi văn hóa tộc người, trong đó có nghi lễtrong chu kỳ đời người, đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của cácnghi lễ đó là rất cần thiết trong tiến trình xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Dân tộc Tày là một dân tộc thiểu số đông dân nhất ở nước ta hiện nay chỉ saungười Kinh, có một bản sắc văn hóa đặc thù, phong phú Họ sống tập trung tại một

số tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang Cho đếnnay đã có nhiều công trình về người Tày, các công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học đi trước chủ yếu tập trung nghiên cứu về người Tày ở các tỉnh miền núibiên giới, nơi mà người Tày có điều kiện được giao lưu, tiếp xúc và trao đổi vớinhiều nền văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục khác nhau Trong khi đó, dân tộc Tàyđang sinh sống ở tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là một bộ phận người Tày ở huyện NàHang thì các dạng thức văn hóa, trong đó có nghi lễ trong chu kỳ đời người thườngchậm biến đổi hơn so với người Tày ở một số tỉnh khác Người Tày ở huyện NàHang hiện nay vẫn được coi là người Tày cổ, còn bảo tồn được nhiều yếu tố vănhóa truyền thống, nhất là trong các nghi lễ chu kỳ đời người của họ Việc nghiêncứu nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, sẽ giúp chúng ta biếtđược những bảo lưu, cũng như những biến đổi của nghi lễ trong chu kỳ đời ngườicủa người Tày ở Nà Hang, qua đó phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp, phùhợp và hạn chế được những biểu hiện tiêu cực, không phù hợp của nghi lễ trongchu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, để có những giải pháp góp phần giúpngười Tày ở Nà Hang phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá củamình

Mặt khác, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và

có tính hệ thống, toàn diện về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ởhuyện Nà Hang Có thể nói, việc nghiên cứu nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày tại một địa bàn cụ thể là huyện Nà Hang, có ý nghĩa cả về lý luận vàthực tiễn Kết quả

Trang 9

nghiên cứu của đề tài luận án góp phần làm sáng tỏ hơn các đặc trưng văn hóa,những vấn đề thực trạng và nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa, cũng như việcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong nghi lễ chu kỳ đời ngườicủa dân tộc Tày tại huyện Nà Hang Kết quả đạt được của đề tài cũng có đóng gópcho việc thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc, chính sách phát triển văn hóa dântộc của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với tinh thần nghị quyết Trung ương V(khóa VIII) và Nghị quyết Trung ương IX ( khóa XI), đồng thời góp phần thực hiệntrực tiếp chương trình xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu sốhiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.2 Nhiệm vụ

- Luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan tới nghi lễ trong chu kỳđời người (quan niệm và thực hành nghi lễ gồm sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) củangười Tày ở huyện Nà Hang trong truyền thống;

- Làm rõ những biến đổi trong nghi lễ chu kì đời người của người Tày ở huyện

Nà Hang hiện nay và phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó;

- Từ các kết quả đạt được, luận án đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa phù hợp trong nghi lễ chu kỳ đời người củangười Tày tại huyện Nà Hang trong tình hình hiện nay

3 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nghi lễ chu kỳ đời người của ngườiTày huyện Nà Hang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu sâu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của

Trang 10

người Tày ở huyện Nà Hang bao gồm: nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ hôn nhân và nghi lễ tang ma

Trang 11

từ truyền thống đến biến đổi Phạm vi truyền thống được giới hạn là giai đoạn trướcnăm 1986; Giai đoạn biến đổi được xác định là từ đổi mới năm 1986 đến nay vànhất là từ khi có Thủy điện Tuyên Quang đã tác động đáng kể đến văn hóa củangười Tày và một số tộc người sinh sống ở nơi đây.

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Tác giả luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,văn hóa dân tộc để luận giải các sự vật, hiện tượng trong nghi lễ chu kỳ vòng đờitrong hệ thống và bối cảnh cụ thể, có sự tác động qua lại lẫn nhau và luôn luôn có

sự vận động, biến đổi NCS còn vận dụng các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta vềdân tộc và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu

số để làm sáng tỏ hơn những nội dung nghiên cứu dưới góc nhìn về chính sáchquản lý và phát triển văn hóa tộc người trong xã hội hiện tại Cùng với đó, luận

án sử dụng các cơ sở lý luận chuyên ngành, các lý thuyết tiếp cận phù hợp để làmsáng tỏ các vấn đề trong văn hóa tộc người thông qua hệ thống các nghi lễ trongchu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang dưới gócnhìn Dân tộc học/Nhân học

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Thu thập tổng hợp và kế thừa các tài liệu sẵn có: NCS đã tìm đọc và xử lý

nhiều nguồn tài liệu từ sách, tạp chí, luận án, luận văn và báo cáo kết quả của cácchương trình, dự án nghiên cứu trong nước, các báo cáo tổng kết của các cơ quantrung ương và địa phương liên quan đến đề tài nghiên cứu; những nguồn số liệuthống kê ở trung ương và địa phương;

- Phương pháp điền dã Dân tộc học/ Nhân học:

Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo được NCS sử dụng để khai thác, thuthập các nguồn thông tin, tư liệu tại địa bàn nghiên cứu ở huyện Nà Hang Vớiphương pháp này, các thao tác kỹ thuật được sử dụng gồm có:

+ Quan sát và quan sát tham dự: Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá

trình nghiên cứu tại thực địa tại các điểm nghiên cứu, giúp tác giả có cơ hội tiếp cậnvới chủ thể văn hóa và cộng đồng, dễ hòa nhập, gần gũi với người Tày, hiểu biết

Trang 12

sâu về văn hóa Tày, về từng nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời của người Tàytại các điểm nghiên cứu được lựa chọn.

+ Phỏng vấn sâu: Công cụ này đã được tác giả luận án sử dụng cho nhiều đối

tượng là người Tày ở huyện Nà Hang Các thông tin viên ở các bản được lựa chọn

để phỏng vấn sâu, khai thác thông tin khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghềnghiệp Trong đó, đối tượng được tác giả chú ý nhiều hơn là những người caotuổi, am hiểu phong tục tập quán, những người làm thầy Tào, thầy Pụt, mai mối vàcác chủ hộ gia đình, phụ nữ, nam nữ thanh niên đã xây dựng gia đình Tác giảcũng gặp gỡ, phỏng vấn những người trẻ tuổi để tìm hiểu quan niệm của họ vềsinh nở, về nguyên vọng sinh con trai hay gái, lựa chọn bạn đời, về xu hướng biếnđổi trong các nghi lễ vòng đời của người Tày ở huyện Nà Hang hiện nay cũng nhưcác yếu tố tác động đến sự biến đổi

+ Thảo luận nhóm cũng được tác giả luận án sử dụng để thu thập thông tin, tư

liệu từ người Tày, qua đó thấy được những nhận định, đánh giá của họ về giá trịtruyền thống và biến đổi của các nghi lễ chu kỳ đời người, cũng như các yếu tố cóảnh hưởng đến sự biến đổi đó; các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn vàphát huy các giá trị của các nghi lễ vòng đời trong bối cảnh mới, phục vụ cho mụctiêu phát triển từ góc nhìn của người Tày

+ Trong những chuyến điền dã dân tộc học/ nhân học tại các bản làng củangười Tày, tác giả luận án cũng tiến hành quay phim, chụp ảnh, kết hợp với phỏngvấn để thu thập những thông tin, tư liệu cập nhật liên quan đến các nghi lễ chủ yếutrong chu kỳ vòng đời của người Tày tại địa bàn nghiên cứu

Để có thể thu thập thông tin, tư liệu hoàn thành luận án, nghiên cứu đã tiến hànhcác đợt điền dã từ năm 2015 - 2018 tại các xã của huyện Nà Hang cụ thể như sau:

a Thị trấn Nà Hang: Thị trấn Nà Hang gồm 20 tổ dân phố Đó là tổ dân phố

số 2 đến tổ dân phố số 17, tổ Hà Vị, tổ Khuôn Phươn, tổ Tân Lập, tổ Ngòi

Nè và tổ Nà Mỏ Trong 20 tổ dân phố, đề tài luận án đã khảo sát 3 tổ: Tổ 2,

tổ 3, tổ Khuôn Phươn

b Xã Sinh Long: bao gồm 9 thôn Đó là thôn Trung Phàn, thôn Phiêng Ten, thôn

Lũng Khiêng, thôn Phiêng Thốc, thôn Nà Tấu, thôn Nặm Đường, thôn Khuổi Phìn,

Trang 13

thôn Bản Lá, thôn Phiêng Ngàn Trong số 9 thôn của xã Sinh Long đề tài luận án đãkhảo sát 3 thôn: Thôn Trung Phàn, thôn Nà Tấu, thôn Nặm Đường

c Xã Thượng Giáp: gồm có 6 thôn là thôn Nà Ngoa, thôn Bản Cườm, thôn Nà

Thài, thôn Bản Muông, thôn Bản Vịt, thôn Năm Cằn

Trong số 6 thôn của xã Thượng Giáp đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn Bản Muông, thôn Bản Vịt, thôn Năm Cằn

d Xã Côn Lôn: gồm có 7 thôn: Thôn Phia Lếch, thôn Nà Ngoãng, thôn Nà

Thưa, thôn Pom Pán, thôn Đon Thài, thôn Pác Bẻ, thôn Lũng VàiTrong số 7 thôncủa xã Sinh Long đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn Nà Ngoãng, thôn NàThưa, thôn Pom Pán

e Xã Hồng Thái gồm có 7 thôn là Thôn Nà Khiếu, thôn Bản Muông, thôn

Khau Tràng, thôn Hồng Ba, thôn Nà Mụ, thôn Khuổi Phẩy, thôn Pắc Khoang

Trong số 7 thôn của xã Sinh Long đề tài luận án đã khảo sát 3 thôn: Thôn Nà

Mụ, thôn Khuổi Phẩy, thôn Pắc Khoang

g Xã Khau Tình gồm có 4 thôn: Thôn Nà Lũng, thôn Khau Tình, thôn Khau

Phiêng và thôn Nà TạngTrong số 4 thôn của xã Sinh Long, luận án đã khảo sát 3thôn: Thôn Nà Lũng, thôn Khau Phiêng, thôn Khau Tình

Tại địa bàn, nghiên cứu tập trung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cácđối tượng cụ thể như sau:

Bảng 1: Mẫu khách thể phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

1.3 Người dân là dân tộc Tày ở thị trấn và xã 54

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này giúp cho chúng tôi được gặp gỡ trao đổi với các chuyên gia

về lĩnh vực nghiên cứu của mình, là những người có kiến thức, kinh nghiệm sâu về

Trang 14

văn hóa tộc người, về người Tày và là những người có uy tín trong cộng đồngngười Tày tại địa bàn đã chọn để nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tàiluận án chúng tôi sẽ trao đổi, xin ý kiến của một số chuyên gia đầu ngành tronglĩnh vực văn hóa, dân tộc học/ nhân học để tìm hiểu sâu hơn về những biểuhiện, nguyên nhân của nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày, đặc biệt là nhữngnguyên nhân biến đổi của nghi lễ này ở người dân tộc Tày huyện Nà Hang, tỉnhTuyên Quang.

- Phương pháp so sánh: Nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp so

sánh, để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, cũng như sự biến đổi củanghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang thời kỳ trước

1986 và sau 1986 đến nay; đồng thời so sánh nghi lễ chu kỳ đời người của ngườiTày ở Nà Hang với người Tày ở địa phương khác

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện, có hệ thống và chuyênsâu dưới góc độ chuyên ngành Nhân học về nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Trên cơ sở các tư liệu có được, luận án góp phần hiểu biết sâu sắc hơn vềnhững đặc trưng văn hoá của người Tày ở huyện Nà Hang, thông qua các nghi lễtrong chu kỳ đời người

- Luận án đã cho thấy được sự biến đổi nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở huyện Nà Hang, dưới tác động của quá trình đổi mới, hội nhập và giaothoa văn hóa Đồng thời qua hệ thống các nghi lễ trong chu kỳ đời người, luận áncung cấp cứ liệu để người Tày và chính quyền địa phương thấy được các giá trị vănhóa cần được bảo tồn và phát huy

- Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị tốtđẹp, hạn chế những mặt không phù hợp của nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày huyện Nà Hang, Tuyên Quang hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa họccho việc hoàn thiện những vấn đề lý luận về các nghi lễ trong chu kỳ đời người

Trang 15

của

Trang 16

người Tày ở Việt Nam, chỉ ra được những biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến các nghi lễ này.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo trong việc nghiêncứu và giảng dạy về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tại các cơ sởđào tạo ở nước ta hiện nay

Đây cũng là tài liệu tham khảo cho lãnh đạo địa phương có dân tộc Tày sinhsống, trước hết là cán bộ quản lý ngành văn hóa để phát huy các giá trị văn hóa tốtđẹp của các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, hạn chế những biểu hiệnkhông phù hợp trong các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hangnói riêng và ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu

5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa

bàn nghiên cứu

Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con

Chương 3: Nghi lễ hôn nhân của người

Tày Chương 4: Nghi lễ tang ma của người

Tày

Chương 5 Biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người và một số nhận xét

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Tày

Đã từ lâu, sử sách Trung Quốc có đề cập tới các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữTày – Thái, trong đó có tộc người Tày ở Việt Nam Các nghiên cứu này đã viết vềmối liên hệ giữa cộng đồng người Choang - Đồng ở Trung Quốc với một số tộcngười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái hiện nay ở Việt Nam, Lào…

Thời kỳ cận hiện đại, các học giả Trung Quốc tập trung chủ yếu nghiên cứu

về lịch sử hình thành và phát triển của các tộc người, trong khi lại ít quan tâm đếncác khía cạnh văn hóa tộc người cũng như sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộcngười

Từ đầu thế kỷ XX, một số học giả phương Tây đã bắt đầu quan tâm nghiêncứu về các khía cạnh như lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa… của các tộc người thuộcnhóm ngôn ngữ Choang - Đồng ở Trung Quốc và nhóm Tày - Thái ở Việt Nam

Một số cuốn sách đã được công bố như Vân Nam – cái chốt giữa Ấn Độ và sông

Dương Tử của H R Danes, Tính năng động chủng tộc ở Đông Á và từ Vân Nam đến Thái Lan của V Eichstedt, hay Thái - Kađai và Indonexia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á của Paul K Benedict

Đáng chú ý là, vào những thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, các nhà Dân tộc học

Xô Viết như IU Bromlei, N Cheboksarov, M Kriucov… đã tiến hành các nghiên

cứu và công bố một số ấn phẩm, trong đó có đề cập đến tộc người Tày như: Các

dân tộc trên thế giới (Moscova, 1965), Những vấn đề dân tộc học hiện đại và Lịch

sử tộc người Nam Đông Á (Moscova, 1972) Tuy nhiên, các công trình nêu trên

chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện , có hệ thống về các tộcngười, về văn hóa của tộc người Tày ở Việt Nam nói riêng

1.1.2 Các nghiên cứu của tác giả trong nước về người Tày

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà dân tộc học Việt Nam đã quantâm nghiên cứu sâu về tộc người Tày từ những góc nhìn chuyên ngành khác nhau

Trang 18

- Hướng nghiên cứu tổng hợp về người Tày: Các công trình nghiên cứu này đề

cập khá toàn diện về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế,

văn hóa, xã hội của người Tày như Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía

Bắc) (Viện Dân tộc học, 1978), Một số vấn đề về lịch sử tộc người và những đặc điểm chủ yếu của văn hóa các dân tộc Tày - Thái và Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (Bế Viết Đẳng chủ biên, 1992), Văn hóa Tày – Nùng (Lã Văn Lô, Hà Văn

Thư); Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam (Hoàng Hoa

Toàn, Nguyễn Chí Huyên chủ biên, 2000),v.v

- Nghiên cứu về ngôn ngữ của tộc người Tày: Có thể đưa ra một số công

trình tiêu biểu nghiên cứu về tiếng Tày Nùng và mối quan hệ giữa tiếng Tày Nùng và tiếng Việt của Nguyễn Hàm Dương và Nguyễn Thiện Giáp công bố trên

-các Tạp chí Ngôn ngữ như Nguồn gốc lịch sử tiếng Tày - Nùng, Quan hệ giữa tiếng

Tày - Nùng và tiếng Việt và vấn đề ngôn ngữ; Các chức năng xã hội của tiếng Tày – Nùng; Hiện tượng mượn từ trong tiếng Tày - Nùng và cách làm giàu vốn từ vựng Tày – Nùng, v.v.

Cũng trong giai đoạn này, nhiều các tác giả là người Tày và người Nùng cũng

đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và công bố nhiều công trình có giá trị như Vấn

đề chữ Tày - Nùng (Nông Quốc Chấn, 1960); Vài ý kiến nhỏ trong việc dùng tiếng

và chữ Tày - Nùng (Ban Giáo dục Khu Việt Bắc, 1962); Tiếng nói chữ viết Tày – Nùng với việc xây dựng âm tiêu chuẩn cho chữ Tày – Nùng (Ma Thế Dân, 1969); Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1971); Từ điển Tày - Nùng - Việt (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1974); Từ điển thành ngữ - tụcngữ dân tộc Tày (Triều Ân, Hoàng Quyết, 1996); Việc xây dựng chữ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta (Phương Bằng, 1985),v.v.

Từ những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện những nghiên cứu chuyên sâu

về tiếp xúc ngôn ngữ, về các trạng thái song đa/ ngữ giữa các tộc người thiểu số vàngười Việt dưới góc độ Xã hội học – ngôn ngữ Trong đó, đáng chú ý là tác giảĐặng Thanh Phương (1979), đã tiếp cận với phương pháp nghiên cứu định lượng

và định tính trong nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc, để chỉ ra sự tiếp xúc ngôn ngữTày - Việt trên bình diện chức năng xã hội và cấu trúc ngôn ngữ qua nghiên cứutrường hợp ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn,v.v

- Nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân gian Tày, Nùng: Đáng chú ý

Trang 19

là công trình Văn hóa truyền thống Tày, Nùng của Hoàng Quyết và các cộng sự

Trang 20

(1993); Ca dao Tày, Nùng của Triều Ân (1994); Truyện thơ nôm Tày của Hoàng Quyết và Triều Ân (1994); Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày của Triều Ân

và Hoàng Quyết (1996); Phong Slư của Phương Bằng (1994), Lượn cọi: Ngữ Tày

-Quốc Tày của Lục Văn Pảo (1994).

Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có Lượn Tày Lạng Sơn (song ngữ Tày Kinh) của Hoàng Văn Páo, 2003), đã nêu rõ giá trị tinh thần của hát lượn trong đời

-sống đồng bào Tày, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm bảo tồn và

phát huy hát lượn Lạng Sơn Cuốn sách Nghệ thuật múa rối Tày, Nùng (Nguyễn

Huy Hồng, 2003) đã giới thiệu một số trò rối của người Tày, Nùng ở các tỉnh BắcKạn, Thái Nguyên và Cao Bằng

Nghệ thuật diễn xướng Then Tày được mô tả khá sinh động và tỷ mỉ trong công trình Nét chung và riêng của âm nhạc trong Then Tày - Nùng (Nông Thị Nhình, 2004) Tác giả đã đề cập tới phần âm nhạc trong Then, sự giống nhau và khác nhau về âm nhạc Then của mỗi vùng, qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật trong Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam Cuốn Lễ

hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng (Nguyễn Thị Yên, 2003) đã đi sâu tìm hiểu

đặc điểm, vị trí và ý nghĩa của lễ hội Nàng Hai trong hệ thống các lễ hội ở tỉnh CaoBằng, từ đó rút ra những nhận xét ban đầu về sự hình thành và phát triển của lễ hội

Nàng Hai ở tỉnh này Cuốn Then Tày - những khúc hát (Triều Ân, 2000), đã giới thiệu những khúc hát cầu chúc và lễ hội: Thì thầm dân ca nghi lễ (Vi Hồng, 2001),

giới thiệu dân ca nghi lễ của người Tày ở tỉnh Cao Bằng,v.v

- Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền: Đáng chú ý là Bộ Then Tứ Bách, do nhà nghiên cứu quá cố Lục Văn Pảo dịch và biên soạn (1996) Cuốn sách

giới thiệu một thể loại nghi lễ cúng bái của dân cư Tày ở Việt Bắc - bộ tứ bách

gồm: Bách cốc, Bách thú, Bách điểu, Bách va Cùng thể loại này còn có Then

Bách điểu (Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc, 1994) “Bách điểu” là một xã

hội thu nhỏ của các loài chim, nhưng phản ánh rõ những bất công, ích kỷ, oan trái,

buồn vui, v.v… mà trung tâm là chúa Then “Bách điểu” có 3.980 câu, 27.860 từ

bằng chữ Nôm Tày

Liên quan đến tín ngưỡng của người Tày có cuốn Tàng mừa pjá lệ đẳm

(Hoàng Hạc, sưu tầm và biên soạn, 2004), sách gồm hai phần: Phần tiếng Tày là

Trang 21

“Tằng mừa

Trang 22

pjá lệ đẳm” và phần dịch ra tiếng Việt là “Đường lên dâng lễ tổ”, giới thiệu hình thức hát bụt trong lễ cúng vía và cúng mụ của dân tộc Tày,v.v.

Viện Dân tộc học đã thực hiện dự án điều tra cơ bản kinh tế, xã hội, văn hóacác dân tộc ở Việt Nam (2000) do Khổng Diễn làm chủ nhiệm Đề tài đã phác họamột bức tranh khá phong phú về các dân tộc thuộc bốn vùng ở nước ta (Tây Bắc

Bộ, Đông Bắc, Trung Bộ và Nam Bộ) Tại vùng Đông Bắc, đã khảo sát dân tộc Tày,Nùng ở Cao Bằng Ở đây đề tài chỉ ra thực trạng dân tộc, tỷ lệ sinh, chết, tăng dân

số, những nơi đặc biệt khó khăn tỷ lệ đi học, không biết chữ, biết chữ, hộ nghèo,nhà ở, di dân tự do, đời sống tinh thần của hai dân tộc Tày, Nùng tại Cao Bằng

Tác giả Lê Thị Hường (2006), đã tìm hiểu nghi lễ hôn nhân của người Tày

huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích quátrình hôn nhân và các bước tiến hành nghi lễ hôn nhân của người Tày Đó là quátrình từ lúc đôi trai gái tìm hiểu nhau, đến lễ dạm hỏi, lễ báo lá số, lễ ăn hỏi, lễ cướichính thức, lễ lại mặt Tác giả đã phân tích biểu hiện của từng lễ trong nghi lễ cướinày Nghiên cứu cũng chỉ ra những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân của người Tày ởVăn Lãng Đó là quyền lựa chọn người yêu của con cái, sự giảm bớt các lễ vậtmang đến nhà gái, sự thay đổi phương tiện đi đón dâu, thay đổi trang phục, thay đổi

tục hát lượn Tuy có một số thay đổi, song về cơ bản các phong tục truyền thống

của nghi lễ cưới của người Tày ở Văn Lãng vẫn giữ được bản sắc truyền thống [37]

Tác giả Đặng Thanh Phương (2007), đã tìm hiểu về người phụ nữ Tày ở

vùng ven thị trấn trong quá trình đô thị hóa hiện nay Trong nghiên cứu này, tác giả

đã phân tích đặc điểm nghề nghiệp và phân công lao động của phụ nữ Tày Tác giảcũng phân tích về trình độ học vấn, việc giáo dục con cái của phụ nữ Tày Kết quảkhảo sát cho thấy, người phụ nữ Tày tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất ngoàinông nghiệp Các gia đình nhiều thế hệ của người Tày giảm và gia đình hai thế hệ

có xu hướng tăng Qua nghiên cứu này cho chúng ta thấy sự phát triển của ngườiphụ nữ Tày trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của đấtnước hiện nay Đó là sự phát triển về năng lực sản xuất, sự thay đổi quan hệ tronggia đình người Tày Nghiên cứu không tập trung tìm hiểu về nghi lễ sinh đẻ củangười Tày, cũng như các nghi lễ vòng đời khác của dân tộc này [52]

Trang 23

Nguyễn Thị Yên (2009), đã xuất bản cuốn sách có tựa đề: “Tín ngưỡng dân

gian Tày – Nùng” Trong cuốn sách này, tác giả đã đi sâu phân tích các hình thức

văn hóa tín ngưỡng của người Tày, nùng (then, pụt; Tào và sinh hoạt tín ngưỡngtào; Một số hình thức văn hóa tín ngưỡng khác) Tác giả cũng đi sâu vào phân tích

sự hình thành và biến đổi của các hình thức văn hóa tín ngưỡng Tày, nùng cũng nhưhiện trượng đời sống sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Tày, Nùng, vai tròhình thức văn hóa tín ngưỡng trong đời sống của người Tày, Nùng

Bên cạnh công trình tiêu biểu về tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng đã phân tích

ở trên, tác giả Nguyễn Thị Yên (2010) cũng đã cho người đọc thấy được bức tranh

đời sống tín ngưỡng của người Tày ở Cao Bằng thông qua cuốn sách Đời sống tín

ngưỡng của người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng Trong đó, tác giả đã đi

sâu phân tích về đời sống kinh tế, đời sống văn hóa của người Tày Đặc biệt, tác giả

đã đi sâu vào việc phân tích tín ngưỡng dân gian của người Tày thông qua việcphân tích quan niệm về thế giới ba tầng, đối tượng thờ cúng, các hình thức vănhóa tín ngưỡng của người Tày như là Then và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Then;Tào và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Tào; Siên và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡngSiên; Thầy Phường, Nghiên cứu này đã khẳng định đời sống tín ngưỡng củangười Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng đã góp phần bảo lưu các phong tụctập quá cổ truyền của địa phương

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2010), trong công trình nghiên cứu về các

dân tộc vùng Tây Bắc đã phân tích một số nghi lễ của người Tày như: Lễ mừngnăm mới, lễ cưới xin, lễ tang ma Tác giả đã phân tích quan niệm, ý thức về tầmquan trọng của các lễ này đối với dân tộc Tày, chỉ ra cách thức tiến hành các lễ.Ngoài ra, tác giả còn phân tích một số nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng tang ma, lễthờ cúng của người Tày Đây là những nghi lễ quan trọng của dân tộc này trongcuộc đời và cuộc sống của cộng đồng Cũng trong công trình nghiên cứu này, tácgiả Nguyễn Thị Thanh Nga đã phân tích một số nghi lễ của người Thái như lễcúng nhà, lễ cầu hồn, chúc thọ, lễ hỏa táng, lễ đưa hồn về nghĩa địa, lễ đưa hồn lêntrời gặp tổ tiên… Tác giả cũng chỉ ra sự bảo tồn và phát triển bản sắc của các dântộc Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay Có thể nói, trong công trình nghiên cứu củatác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã phân tich một số nghi lễ trong cuộc đời của người

Trang 24

dân tộc thiểu số lớn ở khu vực Tây Bắc Qua đó cho chúng ta thấy sự bảo tồn và những biến đổi của các nghi lễ ở các dân tộc này [47].

Tác giả Bùi Xuân Đính trong đề tài nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản của

các dân tộc vùng Đông Bắc đã phân tích các nghi lễ cưới xin, tang ma của người Lô

Lô, H’mông vùng Hà Giang, của người Tày, Nùng ở vùng biên giới Lạng Sơn trongbối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và vùng Đông Bắc hiện nay Theotác giả, các nghi lễ cưới xin, ma chay hiện nay của các dân tộc không thay đổinhiều Điểm thay đổi rõ nhất của nghi lễ cưới xin là thủ tục đơn giản hơn, lễ vậtthách cưới dành cho nhà giái trước đây bằng lễ vật (lợn, gạo, rượu) thì nay bằngtiền đựng trong phong bì Các bài hát mới thay cho các bài hát truyền thốngtrong lễ cưới Lễ tang của bộ phận người Tày không thay đổi nhiều Ngoài ra,trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng, các hình thái tín ngưỡng của các tộcngười thiểu số ở đây vẫn còn được bảo lưu khá tốt như thờ cúng tổ tiên, thờ mụ,thờ thổ công… Tuy tác giả không phân tích đầy đủ các nghi lễ vòng đời của cácdân tộc thiểu số, song đã phân tích một số nghi lễ trong cuộc đời con người củamột số dân tộc, trong đó có dân tộc Tày vùng Đông Bắc [32]

Gần đây, tác giả Vũ Phương Nga đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ

ngành Nhân học với đề tài: Tiếp biến văn hóa trong bối cảnh gia đình hỗn hợp dân

tộc (qua nghiên cứu về người Tày ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn), đã luận giải

khá rõ sự tiếp nhận các giá trị văn hóa của các tộc người khác trong gia đình hỗn hợpdân tộc là người Tày với người Kinh trên các phương diện ngôn ngữ, phân công laođộng, giáo dục và chăm sóc sức khỏe, quan hệ gia đình và dòng họ, thực hành tôngiáo, tín ngưỡng, trong đó có các nghi lễ trong chu kì đời người Theo tác giả, trongbối cảnh hội nhập, có sự giao thoa văn hóa giữa các gia đình hỗn hợp việc biến đổi

là điều tất yếu và trong quá trình giao thao ấy, sự tự điều chỉnh và thích ứng của mỗi

cá nhân để phù hợp với lối sống của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc duytrì gia đình tốt đẹp

Trong thời gian qua, khi nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, một

số tác giả cũng đã tìm hiểu nghi lễ sinh đẻ, tang ma của một số dân tộc Nhữngnghiên cứu này bổ sung và làm đậm nét hơn bức tranh về nghi lễ trong chu kỳ đờingười của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Trang 25

1.1.3 Những nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày

Khi nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, một số tácgiả đã quan tâm đến nghi lễ tang ma của dân tộc này Có thể kể ra một số nghiêncứu sau:

Tang ma là một việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần gian Mặc

dù mỗi quốc gia, mỗi tộc người có các cách thức tổ chức nghi lễ khác nhau, nhưngcách tiếp cận nghiên cứu, cách nhìn nhận, đánh giá về tang ma của các tác giả trongnước cũng như ngoài nước nhìn chung khá thống nhất

Các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn Sơ lược giới thiệu các

nhóm Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1968), đã phân tích khá sâu về tôn giáo, tín

ngưỡng, ý niệm về hồn Phi, khoăn và cái chết, về sự tồn tại của thế giới bên kia,những nghi lễ liên quan đến sản xuất của dân tộc Tày [41]

Trong công trình nghiên cứu Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1982) của

các tác giả Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Quang Huy,Nguyễn Anh Ngọc đã phân tích khá sâu về nghi lễ tang ma của dân tộc Tày

Trong cuốn sách Văn hóa Tày - Nùng, xuất bản 1984, các tác giả Lã Văn Lô,

Hà Văn Thư đã giới thiệu khá đầy đủ về xã hội, con người và văn hoá của hai dântộc Tày, Nùng ở Việt Nam Các tác giả đã miêu tả về 9 nghi lễ chính và 13 lễ nhỏcủa người Tày Đây là nghiên cứu khá sâu về nghi lễ chu kỳ đời người của ngườiTày ở Việt Nam [42]

Một cuốn sách khác cũng phân tích tương đối đầy đủ về các phong tục tập

quán trong văn hóa dân tộc Tày là cuốn Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc

của tác giả Hoàng Quyết (1995) Cuốn sách đã tập trung tìm hiểu về đời sống vănhoá tinh thần của dân tộc Tày ở khu Việt Bắc, với những phong tục tập quán về

ăn mặc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tang ma, cưới hỏi,… từ xa xưa của người Tày.Công trình nghiên cứu này đã cho ta thấy một bức tranh khá sinh động về đời sốngvăn hóa của dân tộc Tày ở Việt Nam [55]

Tác giả Đỗ Thúy Bình trong công trình Hôn nhân và gia đình các dân tộc

Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam (1994), đã phân tích 6 nghi lễ chính trong tang ma

của 3 dân tộc, trong đó có tang ma của dân tộc Tày [9]

Trang 26

Từ năm1997 đến nay, hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, khôi phục văn hoá Tày

ở tỉnh Bắc Kạn đã được quan tâm Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau:

Các tác giả Hà Văn Viễn, Lương Văn Bảo, Lâm Xuân Đình, Triệu Kim Văn,

Bàn Tuấn Năng, Đàm Thị Uyên, Hoàng Thị Lan (2004) xuất bản cuốn sách Bản

sắc và truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, đã phản ánh khá chi

tiết về những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, về đời sống văn hoá vậtchất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở địa phương này, trong đó có dântộc Tày Nhưng những nghi lễ trong tang ma, cũng chỉ được giới thiệu một cáchkhái quát

Một nghiên cứu khá sâu về nghi lễ tang ma của người Tày là công trình

Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, của tác giả Hoàng Tuấn Nam (1999) Tác

giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống về các nghi lễ tang ma của dân tộc Tày

ở Việt nam, từ biểu hiện đến cách thức tiến hành nghi lễ tang ma Qua nghiên cứunày đã thể hiện một số đặc trưng về nghi lễ tang ma của người Tày ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Thị Ngân (2002), đã tìm hiểu Nghi lễ tang ma của người

Nùng huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn Nghiên cứu này đã phác họa đầy đủ,

chi tiết các nghi lễ tang ma của người Nùng huyện Bạch Thông Đây là nguồn tàiliệu bổ ích giúp chúng tôi thấy được những nét tương đồng và khác biệt trongtang lễ của người Tày và người Nùng ở Bắc Kạn trong bối cảnh hiện nay

Tác giả Hoàng Lương (2005), đã nghiên cứu Văn hóa các dân tộc Tây Bắc

Việt Nam Ở đây, tác giả đã phân tích sự phân bố, nguồn gốc lịch sử, hoạt động

kinh tế, các dạng thức văn hóa vật thể của các dân tộc ở Tây Bắc Đặc biệt trongcông trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích tục lệ vòng đời của các dân tộcvùng Tây Bắc, trong đó có dân tộc Tày Đó là tục lệ hôn nhân của dân tộc Tàygồm quá trình tìm hiểu nhau, các lễ dạm hỏi, ăn hỏi, định ngày cưới, lễ cưới chínhthức, lễ đón dâu, lễ lại dấu chân Tục lệ sinh đẻ và nuôi dạy con cái Tục lệ này thểhiện ở tục lệ ăn kiêng, chăm sóc thai nhi, tục kiêng kỵ để sinh nở may mắn, tự khisinh, sau sinh và các tục lệ chăm sóc đứa trẻ Tục lệ ma chay của dân tộc Tày Tục

lệ này thể hiện ở chỗ khâm liệm người chết, tổ chức đám ma Có thể nói đây làmột trong số ít nghiên cứu phân tích đầy đủ các nghi lễ trong vòng đời của ngườiTày từ lúc sinh ra đến khi qua đời

Trang 27

Tác giả Nguyễn Thị Yên (chủ biên), Vương Hùng, Nông Vĩnh Tuân (2008),

trong quyển sách Quyển Đẳm đã đi sâu vào việc phân tích nghi lễ Quyển Đẳm của

then và pựt

Trang 28

nhạc trong đám tang của Thầy cúng người Tày, Nùng chính là một cách để hiện thựchóa việc tiễn đưa linh hồn người chết trở về trời Thông qua đó nó đã tích hợp nhiềuyếu tố văn hóa tín ngưỡng đặc trưng của người Tày Trong tác phẩm này, các tác giảcũng đã đi sâu vào việc phân tích trình tự một lễ Quyển Đẳm, ý nghĩa tôn giáo tínngưỡng của Quyển Đẳm, ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng của người Tày, Nùng qua lễQuyển Đẳm.

Tác giả La Công Ý (2010), đã phân tích khá sâu về phong tục tập quán trong chu

kỳ đời người của người Tày Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tíchmột số nghi lễ như: cưới xin; mang thai, sinh con, nuôi con và ma chay của ngườiTày Về nghi lễ cưới xin tác giả đã cho rằng, việc cưới hỏi của người Tày là một quátrình diễn ra trong một thời gian tương đối dài, phải trải qua nhiều bước khácnhau với những nghi lễ rườm ra phức tạp, tốn kém, trong đó có ba lễ chính là lễ dạmhỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới Trong mỗi lễ này được tác giả phân tích khá cụ thể Vềnghi lễ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tác giả đã phân tích qua niệm củangười Tày là “giàu con hơn giàu của” Nhiều con, lắm cháu là yếu tố quan trọngnhất tạo nên hạnh phúc bền lâu của mỗi gia đình Người Tày tin rằng trẻ em là loàihoa đẹp nhất trên thượng giới Về vấn đề con cái, người Tày rất quan tâm đến việcsinh con trai hay con gái Người Tày rất quan tâm đến việc chăm sóc cho người phụ

nữ khi mang thai để có được mẹ tròn con vuông Người phụ nữ phải kiêng cữ rấtnhiều từ ăn uống đến lao động và sinh hoạt hàng ngày Tác giả cũng phân tích quátrình thực hiện việc sinh đẻ, chăm sóc đứa trẻ sau khi sinh Về nghi lễ ma chay,người Tày cho rằng tổ chức tang lễ cho người đã khuất là đưa tiễn linh hồn củangười đó về với thế giới bên kia, chuẩn bị mọi thứ cho người đã khuất sống cuốcsống mới Tổ chức tang lễ cũng là dịp để xóa sạch mọi tội lỗi lúc sinh thời người đó

đã phạm phải để linh hồn được siêu thoát Các lễ trong nghi lễ tang ma được tổ chứctheo một quy trình cẩn thận, nghiêm túc và chặt chẽ Từ nghiên cứu này, tác giả đãcho ta thấy một chu trình khép kín của một đời người từ lúc hôn nhân đến khi sinh

ra và mất đi [69]

Một công trình nghiên cứu quan trọng về các nghi lễ trong chu kỳ đời người củangười Tày ở Tuyên Quang là nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, NgôThị Trang, Phạm Thị Hằng, Nguyễn Linh Hương, Lục Mạnh Hùng, Hoàng Thị Hỏi,

Hồ Sỹ Lập, Trần Đức Tùng, Nguyễn Mạnh Tiến (2016) Trong công trình này các

Trang 29

tác giả đã phân tích một bức tranh khá đầy đủ và sinh động về đời sống kinh tế, tổ

Trang 30

chức xã hội và văn hóa của dân tộc Tày ở Tuyên Quang Về nghi lễ vòng đời củangười Tày ở Tuyên Quang Các tác giả đã phân tích các nghi lễ sinh đẻ và nuôi con;nghi lễ trong đám cưới và nghi lễ tang ma Về nghi lễ sinh đẻ và nuôi con, các tácgiả đã phân tích quan niệm về sinh đẻ và ảnh hưởng của nó đến vị thế của ngườiphụ nữ trong gia đình Đối với người phụ nữ sinh con nhất là con trai sẽ có ảnhhưởng quan trọng đến việc khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình Sựchuẩn bị cho người phụ nữ trước khi sinh đến khi sinh và sau khi sinh, giai đoạnchăm sóc đứa trẻ cũng được các tác giả phân tích cụ thể Về nghi lễ trong đámcưới, các tác giả cũng phân tích khá kỹ về quá trình từ khi dạm ngõ đến ăn hỏi và tổchức lễ cưới Về nghi lễ tang ma, các tác giả đã phân tích quan niệm của người Tày

về cái chết, tổ chức nghi lễ tang ma với nhiều nghi thức cầu kỳ và rất trang trọng.Trong công trình nghiên cứu này các tác giả không chỉ phân tích thực trạng bảo lưucác nghi lễ mà còn chỉ ra những biến đổi của các nghi lễ này trong xã hội hiện nay[61]

Nghiên cứu về phong tục, tập quán đã xuất hiện nhiều công trình có giá trị

Chẳng hạn, Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng (Triệu Thị Mai, 2001) đã khảo cứu

về lễ cầu tự cổ truyền của người Tày tại vùng Trí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnhCao Bằng và so sánh với một số lễ cầu tự ở một số địa phương khác trong tỉnh đểthấy rằng, lễ cầu tự hiện nay vẫn là một lễ thức gắn với đời sống tinh thần của cộng

đồng người Tày Một cuốn sách khác cũng rất được chú ý ở mảng đề tài này là Dân

ca đám cưới Tày, Nùng của Nông Minh Châu (1973), đã mô tả và phản ánh khá sắc

nét nhiều phương diện đời sống của xã hội Tày - Nùng

1.1.4 Các nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của các tộc người thiểu số ở khu vực phía Bắc

Có thể nói, văn hóa tộc người được thể hiện qua nghi lễ khá cụ thể và rõ ràng,

nó chứng minh được sự thống nhất và khác biệt trong văn hóa của mỗi cộng đồngtộc người Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua, các nghiên cứu về nghi lễ trongchu kì vòng đời của các tộc người thiểu số, trong đó có các tộc người ở khu vực

phía Bắc khá được các tác giả chú ý Chẳng hạn như: Nghi lễ trong chu kì đời

người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của Lý Hành Sơn (2003); Nghi lễ trong chu kì đời người của người Mường ở Hòa Bình của Nguyễn Thị Song Hà

(2011), Nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở Nghệ An của Lê Hải Đăng

Trang 31

(2013), Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam (2015) của Nguyễn Văn Thắng; Nghi lễ trong chu

Trang 32

kì đời người của người Dao Thanh Y, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh của

Nguyễn Thị Thu Hà (2016),… Có thể nói, trong các công trình ấy, văn hóa của cáctộc người thể hiện qua các nghi lễ trong chu kì đời người được tái hiện khá rõ, đồngthời các công trình cũng đã luận giải được quá trình biến đổi, nguyên nhân tác độngđến quá trình biến đổi của văn hóa trong bối cảnh hội nhập Các công trình trên đãcung cấp cho tác giả luận án này các phương pháp tiếp cận, các công cụ về kháiniệm và lí thuyết phù hợp để làm rõ vấn đề nghiên cứu, do đó nó có giá trị gợi ý vàđịnh hướng tác giả nhận thức sâu hơn về văn hóa thông qua các hệ thống nghi lễchu kì đời người mà các tộc người thiểu số, trong đó có người Tày đang thực hànhhàng ngày trong cuộc sống của họ

Từ tổng quan nghiên cứu có thể thấy rằng, cho đến nay chưa có nhiều cácnghiên cứu về văn hóa, trong đó có nghi lễ vòng đời của dân tộc Tày ở tỉnh TuyênQuang Do vậy, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Tày

ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang qua các nghi lễ chu kỳ vòng đời là rất cầnthiết, vừa có ý nghĩa khoa học vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc

Từ phân tích những công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:

Có khá nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến văn hóa, trong đó có cácnghi lễ vòng đời của các dân tộc thiểu số phía Bắc, trong đó có dân tộc Tày Nhữngnghiên cứu này chủ yếu của các tác giả Việt Nam, rất ít các công trình nghiên cứunước ngoài Nhiều nghiên cứu tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa, điều kiện sống

và sinh hoạt của dân tộc Tày Một số nghiên cứu lại tìm hiểu một khía cạnh của đờisống văn hóa của dân tộc Tày, hay nghi lễ trong vòng đời của người Tày Rất ítnghiên cứu tìm hiểu đầy đủ các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời của dân tộc Tày

Những nghiên cứu về người Tày ở Tuyên Quang còn rất khiêm tốn, đặc biệtchưa có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu, có hệ thống về các nghi lễ vòng đời của dântộc Tày tại huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang Đây là khoảng trống để luận án đinghiên cứu

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài

- Nghi lễ

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm khác nhau về nghi lễ.Theo Schultz và Lavenda, nghi lễ thường có bốn yếu tố chính: (i) Các hoạt

Trang 33

động xã hội lặp đi lặp lại gồm hàng loạt những động tác có tính biểu tượng dưới

Trang 34

dạng múa, hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nào đó; (ii) Nghi lễ táchriêng khỏi các hoạt động thường ngày của xã hội; (iii) Nghi lễ theo đúng một môhình nhất định do văn hoá đặt ra; (iv) Hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đếnmột số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại Mục đích của thực hiện nghi lễ

là để hướng dẫn việc lựa chọn tư tưởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tượng.Tuy nhiên, theo quan điểm của ngành Nhân học nói chung thì, nghi lễ bao gồmnhiều hoạt động với tầm rộng hơn cách hiểu nêu trên, bởi: nghi lễ tạo ra hành động,nghi lễ hoàn toàn có thể chuyển đổi, nghi lễ và vui chơi luôn gắn liền và bổ sung chonhau

Theo Từ điển Nhân học, nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong

bối cảnh thờ cúng tôn giáo Thông thường, các nhà nhân học sử dụng khái niệm

“nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đíchphi bình quân chủ nghĩa Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến mộtloại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện toàn bộ hoạt động củacon người Trong chừng mực nhất định nó chuyển tải các thông điệp về địa vị vănhóa và xã hội của các cá nhân, của bất kỳ một hành động con người nào có khíacạnh nghi lễ” (Barfield, 1997)

Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam (2003, tr.109), nghi lễ là những hoạt

động mang tính truyền thống được thực hiện tại những thời điểm quan trọng trongđời sống và trong hoạt động sản xuất của con người Có thể phân biệt 2 loại: nghi lễchính là loại gắn với chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, ma chay) gọi là nghi lễgia đình; còn một loại liên quan đến sản xuất nông nghiệp và các hoạt độngkinh tế khác gọi là nghi lễ theo lịch

Trong luận án này, NCS xác định khái niệm nghi lễ theo từ điển tiếng Việt:

“Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành một cuộc

lễ”.

- Nghi lễ chu kỳ đời người

Nghi lễ chu kì đời người (hay nghi lễ vòng đời) là toàn bộ những nghi lễ liênquan đến chu kỳ của một con người từ khi sinh ra, lớn lên, kết hôn và chết đi Trongmỗi xã hội có những nghi lễ đánh dấu các mốc quan trọng của đời người như: lễ đặttên, lễ cúng mụ, lễ mừng thọ, lễ cưới, lễ tang,

Theo Từ điển tiếng Việt, thứ nhất, chu kỳ là khoảng thời gian nhất định để một

Trang 35

quá trình tuần hoàn lặp lại sự diễn biến của nó một cách đều đặn Thứ hai, chu kỳ là

Trang 36

khoảng thời gian tương đối không đổi giữa hai lần diễn ra kế tiếp nhau của một hiện tượng thường xuyên lặp đi lặp lại [Từ điển Tếng Việt 1995][ tr 541].

Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn, nghi lễ vòng đời hay nghi lễ trong chu kỳ đờingười là tập hợp các hành vi của con người (cá nhân hay tập thể) trong quá trìnhthực hành các nghi thức của cuộc lễ theo một trật tự nhất định, liên quan đến sinh

đẻ, cưới xin, tang ma,

Khi nói đến khái niệm chu kỳ đời người, trong Từ điển Tiếng Việt xác định:

“Chu kỳ đời người được hiểu: 1) Chu kỳ đời người là quá trình sống của một conngười, của một cá thể sinh vật, nhìn một cách toàn bộ từ lúc mới sinh ra cho đếnchết 2) Chu kỳ đời người là toàn bộ đời sống xã hội với những hoạt động, những

sự kiện xảy ra trong đó”[59]

Nói một cách khác, chu kỳ đời người là sinh – lão – bệnh – tử Ở đây, sinh là

con người được sinh ra; Lão là con người lớn lên, trưởng thành và già đi; Bệnh lànhững loại bệnh tật xuất hiện trong cuộc đời con người đặc biệt là lúc con ngườichuyển sang giai đoạn tuổi già thì các bệnh tệ thường xuất hiện nhiều hơn; Tử là lúccon người chết Nói cách khác đó là một quá trình mà con người sinh ra, lớn lên, già

- Nghi lễ trong chu kỳ đời người

Từ phân tích các khái niệm trên, có thể xác định khái niệm nghi lễ trong chu kỳđời người như sau:

Nghi lễ trong chu kỳ đời người là nghi thức và trình tự tiến hành các cuộc lễcủa con người từ lúc sinh ra đến lúc chết

Như vậy, nghi lễ trong chu kỳ đời người là những hành động có tính khuônmẫu, tức là những hành động này được lặp đi, lặp lại trong cuộc đời của một conngười Nó được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác

Nghi lễ trong chu kỳ đời người gắn với ba sự kiện quan trọng của cuộc đời làsinh đẻ, hôn nhân và tang ma Nghi lễ trong chu kỳ đời người được thực hiện theo

Trang 37

một trật tự nhất định Các thế hệ nối tiếp tuân theo trật tự này để thực hiện nghi lễ.

Trang 38

- Sinh đẻ:

Theo tác giả Thomas Barfield (2006, tr.105), sinh đẻ là việc người phụ nữ cốgắng dùng cơ dạ con của họ để đẩy những đứa con từ thế giới riêng bên trong tửcung ra một xã hội và văn hóa rộng lớn hơn

Trong Từ điển tiếng Việt, sinh đẻ là nói về việc sinh con Sinh đẻ là một vấn

đề quan trọng trong cuộc đời của một con người gia đình và một dân tộc, quốc gia.Sinh đẻ giúp cho dòng họ, dân tộc và quốc gia trường tồn Sinh đẻ cũng là cơ sở đểtạo ra nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội [67]

Sinh đẻ là hoạt động duy trì và bảo tồn nòi giống, là công việc của phụ nữ cốgắng và dùng cơ của dạ con để đẩy đứa con từ thế giới riêng bên trong tử cung ramột xã hội và văn hóa rộng lớn hơn [33, tr35]

- Nghi lễ sinh đẻ:

Nghi lễ sinh đẻ là nghi thức và trình tự tiến hành việc sinh con

- Hôn nhân:

Hôn nhân theo Từ điển Nhân học (1997, tr.519), hôn nhân là mối quan hệ gắn

bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bànhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặcnhằm tạo ra hộ gia đình mới

Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.Schultz và Robobert H Lavenda(2001, tr.342- 343) cho rằng: Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của

nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làmbiến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thânthuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một

số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm Hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái

do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàngbên chồng Do vậy, có thể nói hôn nhân là hiện tượng xã hội, là một trong nhữngđặc trưng cơ bản của văn hóa tộc người

Tác giả Đỗ Thúy Bình cho rằng: “Hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và nữ

nữ được hợp thức hóa bởi tập quán và luật pháp tạo thành một gia đình Sau hônnhân là những gia đình với tổng thể các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên vàcác nghi lễ trong gia đình và cộng đồng” [Dẫn theo 22]

Khái niệm hôn nhân cũng được xác định tại điểm 6, Điều 8 trong Luật Hôn

Trang 39

nhân và Gia đình năm 2004 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau

Như vậy, khi nói đến hôn nhân là nói đến quan hệ giữa vợ và chồng sau khikết hôn Ngày nay, khái niệm này được mở rộng hơn, có thể áp dụng đối với các đốitượng khác nhau, chẳng hạn như hôn nhân của những người đồng giới Tuy nhiên,trong nghiên cứu hôn nhân của người Tày tại điểm nghiên cứu chúng tôi chưa thấy

có hiện tượng hôn nhân đồng giới

- Nghi lễ hôn nhân

Nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quyđịnh của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân Nghi lễ hôn nhân là một thủ tục đểkhẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp, được cộng đồng và luật pháp công nhận,

nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảmbảo cho sự chứng kiến và sự công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn thựchiện một số yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân Qua nghi lễ hôn nhân chúng tathấy được bản sắc văn hóa tộc người

- Tập quán hôn nhân:

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tập quán là những thói quen hình thành trong đời

sống, sinh hoạt thường ngày”[67]

Khái niệm tập quán hôn nhân được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình

năm 2014 Tại điểm 4, Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 định nghĩa:

“Tập quán hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền,nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trongmột thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộngđồng” [43]

- Tang ma

Trang 40

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tang ma (tang lễ) là những hành động ứng

xử đối với người đã chết Tang ma thường gắn với những quy định, nghi thức thờcúng, kiêng cữ nhất định [58]

Theo tác giả Nguyễn Thị Song Hà, tang ma là thuật ngữ chỉ cách thức vànghi lễ liên quan đến người chết và những tín ngưỡng gắn liền với nghi lễ đó màtrọng tâm là làm như thế nào để đưa linh hồn người chết về an cư ở thế giới bênkia Theo tác giả H.R River (1926), nhờ nghi lễ tang ma mà người chết đượcgiao về cho thế giới tổ tiên và như vậy họ không còn được nuôi dưỡng nữa Khithực hiện nghi lễ tang ma đã thể hiện những tình cảm mạnh mẽ của người sốngvới người chết Theo tác giả này, việc giải thích các nghi lễ liên quan đến tang

ma phải gắn liền với bối cảnh văn hóa và xã hội mà người ta thực hiện nghi lễ đó.Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tang ma hay còn gọi là tang lễ lànhững nghi lễ, hành động ứng xử đối với người chết… Tang lễ thường gắn vớinhững quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định và cả việc chu cấp thức

ăn, nước uống cho người chết Thường có sự khác biệt giữa tang lễ của người chết

bình thường (tai đi/tai tháu) và tang lễ của người chết do tai nạn xe cộ, chết trôi, chết do bị hổ vồ, ngã cây, đá đè tức chết bất đắc kỳ tử (tai hại).

Trong luận án này, khái niệm tang ma được xác định như sau:

Tang ma là những hành động ứng xử đối với người đã chết Tang ma thường gắn với những quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định.

- Nghi lễ tang ma:

Nghi lễ tang ma là nghi thức và trình tự tiến hành hành động ứng xử đối với người đã chết

- Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành

trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, traotruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộcnhư nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thườngngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thốngnhất

- Tập quán: là thói quen hình thành từ lâu đời trong đời sống, được lặp đi lặp

lại và được mọi người làm theo

Ngày đăng: 29/08/2019, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Hoàng Thị Càng (2013), Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Càng (2013), "Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình
Tác giả: Hoàng Thị Càng
Nhà XB: NxbVăn hóa thông tin
Năm: 2013
16. Lê Trọng Cúc (2001), Các mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển bền vững ở Việt Nam, trường hợp ở vùng núi phía Bắc. Chương trình người dân vùng cao Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Trọng Cúc (2001), "Các mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển bền vữngở Việt Nam, trường hợp ở vùng núi phía Bắc
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Năm: 2001
17. Nông Minh Châu (1973), Dân ca đám cưới Tày – Nùng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông Minh Châu (1973), "Dân ca đám cưới Tày – Nùng
Tác giả: Nông Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dântộc
Năm: 1973
18. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Từ Chi (1996), "Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Vănhóa
Năm: 1996
20. Nguyễn Trọng Chuẩn (2001). Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NxB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2001
21. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002). Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa. NxB Chính trị Quốc gia. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thứccủa toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2002
22. Đàm Thị Dẫn (2017), Tập quán hôn nhân của người Tày ở xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hôn nhân của người Tày ở xã Minh Quang,huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Đàm Thị Dẫn
Năm: 2017
23. Phan Hữu Dật (1995), "Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian", Tạp chí dân tộc học, (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1995
24. Nguyễn Trắc Dĩ (1970), Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trắc Dĩ
Năm: 1970
25. Khổng Diễn (2001), Báo cáo kết quả dự án điều tra cơ bản kinh tế, xã hội, văn hóa hóa các dân tộc ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án điều tra cơ bản kinh tế, xã hội,văn hóa hóa các dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 2001
26. Bế Viết Đẳng (1992), Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam, Viện Dân tộc học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Năm: 1992
27. Bế Viết Đẳng (1994), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hộiở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
28. Nịnh Văn Độ (chủ biên) (2003), Văn hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dừu ở Tuyên Quang, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao,Sán Dừu ở Tuyên Quang
Tác giả: Nịnh Văn Độ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội
Năm: 2003
29. Lê Quý Đức (2005). Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng. NxB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa -hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Lê Quý Đức
Năm: 2005
30. Phạm Duy Đức (2006) Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. NxB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế
31. Mạc Đường (1964), Các dân tộc miền núi Bắc Trung bộ, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc miền núi Bắc Trung bộ
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1964
32. Bùi xuân Đính (chủ nhiệm đề tài) (2010), Báo cáo đề tài : “Một số vấn đề cơ bản của các dân tộc vùng Đông Bắc”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài : “Một số vấn đề cơbản của các dân tộc vùng Đông Bắc
Tác giả: Bùi xuân Đính (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2010
33. Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ trong chu kỳ đời người của ngườiMường ở Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Song Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
33. Trần Hồng Hạnh (2008), Những biến đổi về văn hóa phi vật thể của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện, Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về văn hóa phi vật thể của người Tàyở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Trần Hồng Hạnh
Năm: 2008
34. Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm) (2005), Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Chương trình KX05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa, con người và nguồnnhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm)
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w