1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa trấn quốc (hà nội)

79 943 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp đó, phải nhắc đến cuốn “Chùa Việt Nam” của tác giả Hà Văn Tuấn, Nguyễn Văn Kự đã nghiên cứu về chùa Trấn Quốc qua các giai đoạnlịch sử, nét độc đáo trong kiến trúc, tầm ảnh hưởng củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=======o0o=======

NGÔ THỊ HOÀI LINH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI TÍCH CHÙA TRẤN QUỐC (HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=======o0o=======

NGÔ THỊ HOÀI LINH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI TÍCH CHÙA TRẤN QUỐC (HÀ NỘI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học:

Th.S Nguyễn Thị Nhung

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến quýthầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoaNgữ Văn đã tạo điều kiện cho em được tham gia làm khóa luận tốt nghiệp,đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ phương pháp đã luôn đồng hành, quantâm trong suốt quá trình nghiên cứu

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo Th.s NguyễnThị Nhung đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo điều kiện tốt nhất

để em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Một lần nữa em xin cảm ơn sự giúp đỡ của tất cả các thầy cô Đồngthời do trình độ lí luận và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận của

em còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô đểkhóa luận của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Ngô Thị Hoài Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quảnghiên cứu không sao chép và không trùng với bất kì khóa luận nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Ngô Thị Hoài Linh

Trang 5

DANH SÁCH VIẾT TẮT

LBN : Liên Bang Nga UBND : Ủy ban nhân dânNXB : Nhà xuất bản

VN : Việt Nam

VHTT : Văn hóa thông tin

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ CHÙA TRẤN QUỐC 6

1.1 Những vấn đề về công tác quản lý di sản 6

1.1.1 Khái niệm 6

* Di sản văn hóa 6

1.1.2 Những quy định, đường lối, chính sách của Nhà nước về vấn đề bảo tồn di sản 8

1.1.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay 10

1.2 Tổng quan về chùa Trấn Quốc 13

1.2.1 Vị trí địa lý, cảnh quan chùa Trấn Quốc 13

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Trấn Quốc 14

1.2.3 Kiến trúc chùa Trấn Quốc 16

1.2.4 Một số lễ hội tại chùa Trấn Quốc 24

Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT CỦA CHÙA TRẤN QUỐC 31

(HÀ NỘI) 31

2.1 Giá trị lịch sử 31

2.2 Giá trị văn hóa tâm linh 32

2.3 Giá trị kiến trúc 34

2.4 Giá trị du lịch 36

2.5 Giá trị giáo dục 37

2.6 Giá trị khoa học 39

Chương 3: BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ 41

DI TÍCH CHÙA TRẤN QUỐC (HÀ NỘI) 41

3.1 Đánh giá việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Trấn Quốc 41

3.1.1 Những mặt tích cực 41

3.1.2 Những mặt hạn chế 42

Trang 7

3.2 Một số biện pháp 44 3.2.1 Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và kiện toàn bộ máy quản lý di tích 44

3.2.2 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về di tích 45 3.2.3 Giải pháp về bảo tồn và phát huy các giá trị di tích 46 3.2.4 Về công tác xã hội hoá 47 3.2.5 Áp dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa 48 KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC

Trang 8

để con người tĩnh tâm, hướng thiện.

Chùa Việt không phải là một công trình đơn lẻ mà là một quần thể kiếntrúc, gồm những ngôi nhà nối vào nhau hoặc xếp cạnh nhau Tùy theo cách bốtrí mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau Theo biến thiên thờigian, kiến trúc chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển đa dạng Nhữngmái chùa cổ kính đã góp phần điểm tô cho vẻ đẹp truyền thống của làng quê.Ngôi chùa dần dần chiếm một vị trí quan trọng và trở thành một phần thểthiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Trải qua những biến cố của thờigian, lịch sử và xã hội khiến cho nhiều di tích lịch sử văn hoá bị phá hoại bởichiến tranh ác liệt, sự khắc nghiệt của khí hậu nắng nóng mưa nhiều và thêmnữa bị huỷ hoại dưới bàn tay của con người, đó có thể do vô tình hay hữu ýkhiến cho di tích bị xuống cấp hay bị lãng quên Công tác trùng tu tôn tạo, bảo

vệ và giữ gìn nét văn hoá, các di tích lịch sử văn hoá là nhiệm vụ cấp bách của

sự nghiệp xây dựng văn hoá, xây dựng đất nước Nghiên cứu về chùa khôngđơn giản chỉ dừng lại ở tính chất tôn giáo tín ngưỡng, đời sống sinh hoạt màqua đó chúng ta còn hiểu thêm về những vấn đề lịch sử và xã hội

Trang 9

Với lịch sử hơn 1500 năm, chùa Trấn Quốc được xem là ngôi chùa lâuđời bậc nhất tại kinh thành Thăng Long Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoàgiữa sự uy nghiêm, cổ kính với khung cảnh thanh nhã trong nền tĩnh lặng củamột hồ nước trong xanh Nơi đây từng là trung tâm Phật giáo của kinh thànhThăng Long vào thời nhà Lý và nhà Trần Với những giá trị về lịch sử và kiếntrúc, chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, là điểm thu hútrất nhiều tín đồ Phật tử, khách tham quan, du lịch trong và ngoài Việt Nam

Có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhà sử học, nhà văn hoá học có giá trị

về chùa như: “Chùa Trấn Quốc” - tác giả Ngô Văn Tấn và Nguyễn Văn Cự;

“Chùa Trấn Quốc cảnh đẹp hồ Tây” - tác giả Hoà thượng Kim Cương Từ và

nhà báo Phạm Kế hay “Chùa Trấn Quốc - danh thắng bậc nhất kinh kì” - tác

giả Quý Long, Kim Thư Tuy nhiên, những công trình kể trên mới chỉ đề cậpđến kiến trúc, tôn giáo, danh thắng của di tích ở những góc độ độc lập Hiệnnay, chưa có công trình nào nghiên cứu đi sâu vào vấn đề bảo tồn và phát huygiá trị khu di tích chùa Trấn Quốc một cách chuyên sâu

Là một sinh viên ngành Việt Nam học, một ngành học nghiên cứu vềđất nước con người Việt Nam tôi luôn mong muốn vận dụng các kiến thứcchuyên ngành đã được học vào thực tiễn cuộc sống Từ thực tế trên tôi chọn

vấn đề “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Trấn Quốc (Hà Nội)” làm đề

tài nghiên cứu khóa luận để có thể rút ra những mặt tích cực, tiêu cực, cácbiện pháp để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Trấn Quốc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài nghiên cứu về chùa Trấn Quốc đã trở thành đề tài nghiên cứuquen thuộc Có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài luận văn của nhiều tácgiả nghiên cứu đề tài này theo nhiều góc độ khác nhau

Đầu tiên, phải kể đến cuốn giáo trình “Quản lý Di sản văn hóa” của tác

giả Nguyễn Thị Kim Loan Trong cuốn sách đã cung cấp cơ sở lý luận giúptôi thực hiện đề tài nghiên cứu này Tuy vậy, nội dung mới chỉ dừng lại ở việc

Trang 10

cung cấp những lý luận chung về vấn đề quản lý di sản, công tác bảo tồn vàphát huy giá trị di sản chỉ được nhắc đến ở một vài trường hợp tiêu biểu chứchưa đi sâu vào trường hợp chùa Trấn Quốc

Tiếp đó, phải nhắc đến cuốn “Chùa Việt Nam” của tác giả Hà Văn

Tuấn, Nguyễn Văn Kự đã nghiên cứu về chùa Trấn Quốc qua các giai đoạnlịch sử, nét độc đáo trong kiến trúc, tầm ảnh hưởng của nó đến đời sống tâm

linh người Việt “Chùa Trấn Quốc” của Phòng văn hóa thông tin Quận Tây

Hồ (2000) Ngoài ra cuốn sách “Chùa Trấn Quốc - khảo sát về tư liệu Hán

Nôm” do nhà xuất bản Văn học xuất hành năm 2009 còn nghiên cứu về các di

sản văn hóa phi vật thể (thơ bằng chữ Hán, Nôm) ở trong chùa và còn nhiềucác tài liệu nghiên cứu khác nữa Các tài liệu nói trên đã đưa ra những kiếnthức vô cùng phong phú và sâu sắc về chùa Trấn Quốc trên các phương diện:Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo và danh thắng

Bên cạnh đó, công tác tu bổ các di tích lịch sử - văn hóa ở Hà Nội cũngđược nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến trong các tạp chí chuyên ngành Có thể

kể đến bài “Về giá trị văn hoá vật thể Thăng Long - Hà Nội và vấn đề tu bổ”

đăng trên Tạp chí Di sản văn hoá của Hiếu Giang (số 3/ 2003, Cục Di sản vănhóa) Bài viết trình bày các giá trị văn hóa vật thể nói chung ở Thăng Long -

Hà Nội và phân tích một số điểm mạnh cũng như những hạn chế trong côngtác tu bổ, phục hồi các di sản này Điểm chung của các nguồn tư liệu trên làchưa đề cập đến vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của chùa Trấn Quốcmột cách chi tiết và hệ thống Tuy nhiên, những tài liệu này đã phần nào địnhgiúp tôi định hướng và triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu giá trị của chùa Trấn Quốc

- Thực trạng chùa Trấn Quốc hiện nay

Trang 11

Quốc

- Đề xuất những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Trấn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống những vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

di tích chùa Trấn Quốc

- Khảo sát di tích chùa Trấn Quốc, từ đó:

+ Tìm hiểu chùa Trấn Quốc

+ Phân tích thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tíchchùa Trấn Quốc

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu đề tài là chùa Trấn Quốc (đường Thanh Niên,quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội)

* Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: Chùa Trấn Quốc

- Thời gian: Từ khi chùa Trấn Quốc được hình thành đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp tư liệu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp thư viện

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

Trang 12

khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vàtồng quan về chùa Trấn Quốc (Hà Nội)

Chương 2: Những giá trị nổi bật của chùa Trấn Quốc (Hà Nội)

Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Trấn Quốc(Hà Nội)

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ CHÙA TRẤN QUỐC

đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau Trong "Quản lý di sản văn hóa"

có nêu khái niệm như sau: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của

cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [9-tr.12].

Di sản văn hóa bao gồm: Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi

vật thể Theo điều 4 chương 1 “Luật Di sản văn hóa 2001” số 28/2001/QH10 Việt Nam có đưa ra khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể: “Di sản văn hóa

phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử văn hóa khoa học, được lưu trữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu trữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết trong tác phẩm văn học, nghệ thuật khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn học ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” Và di sản văn

hóa vật thể như sau: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị

lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [10-tr.25].

Tuy vậy, những khái niệm này chỉ mang tính tương đối, nhằm mụcđích nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản trong thực tế yếu tố vật

Trang 14

thể và phi vật thể liên kết chặt chẽ với nhau tồn tại song song tạo nên giá trịcủa một di sản Di sản văn hóa phi vật thể chính là linh hồn, là cốt lõi là biểuhiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể.

 Di tích

Di tích là dấu hiệu của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặtđất có ý nghĩa về mặt văn hóa lịch sử Tại Việt Nam di tích được chia làm 4loại sau: Di tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ,

di tích thắng cảnh, di tích lịch sử cách mạng

 Giá trị

Giá trị được hiểu là một phạm trù triết học dùng để đánh giá nhữngthành quả lao động sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người Có tácdụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm mục đích hướngtới những điều đúng đắn, điều tốt, cái đẹp và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

Giá trị là phạm trù riêng, nó liên quan đến không chỉ lợi ích vật chất màcòn cả tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa của giá trị chính là tínhnhân văn Chức năng cơ bản của giá trị là định hướng, đánh giá, điều chỉnhcác hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị đi liền với nhu cầu conngười, nhu cầu của con người càng lớn càng trở thành động cơ thúc đẩy hànhđộng của con người, giúp con người sáng tạo nên những giá trị vật chất và

tinh thần Garrick Bailey và James People từng nhận định rằng: "Giá trị là cái

ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống của một cá thể, nó được chia sẻ trong một nhóm hay trong toàn xã hội, nó được cá thể, nhóm hoặc toàn xã hội mong muốn hay được coi là có ý nghĩa Đó là phẩm chất cơ bản cần phải có để đảm bảo con đường sống, các chuẩn tối thượng chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn Có những giá trị có thể định lượng bởi một giá, nhưng cũng có những giá trị không thể định giá - vô giá: lòng yêu nước, tình yêu tình bạn, các tác phẩm nghệ thuật”.

Trang 15

 Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều khái niệm về quản lý khácnhau nhưng đều tập trung về hai vấn đề cơ bản: Quản lý là một hoạt động cóhướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt mụctiêu của tổ chức và quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoànthành với hiệu quả cao bằng cách thông qua những người khác Từ đó chúng

ta có thể đưa ra định nghĩa:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích, có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý sao cho sử dụng mộtcách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra theođúng luật định và thông lệ hiện hành Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Loan:

“Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đới tượng

quản lý để đạt được mục đích nhất định thông qua hệ thống pháp luật và các quy định có tính pháp lý” [9-tr 251].

Nhiệm vụ cơ bản của quản lý là: Hoạch định, tổ chức, bố trí nhân lực,lãnh đạo, kiểm soát Có 2 cấp độ quản lý cơ bản dưới góc độ văn hóa là quản

lý vi mô và quản lý vĩ mô Về bản chất, quản lý di sản văn hóa là quản lý cáchoạt động của con người, cộng đồng xã hội có thể tác động tới di sản văn hóa.Cũng có thể hiểu, quản lý di sản văn hóa là tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa

cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa với cộng đồng dân cư địa phương nơi

có di sản cần được bảo vệ, phát huy Như vậy, quản lý di sản dưới góc độ vănhóa cũng chính là bảo tồn và phát huy di sản

1.1.2 Những quy định, đường lối, chính sách của Nhà nước về vấn đề bảo tồn di sản

Theo điều 5 chương 1 của “Luật di sản Văn hóa” quy định: “Nhà nước

thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân, công dân và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định của pháp luật”

Trang 16

[10-tr.25] Luật di sản quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hoá, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sảnvăn hoá ở Việt Nam

Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằmmục đích nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước, khuyến khích tổ các cá nhân, tổ chức trong nước vàngoài nước đóng góp, tài trợ cho việc bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn

hóa Bàn về vấn đề này, nhà nghiên cứu Đặng Văn Bài cho biết: “Nhà nước

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa Chủ sở hữu

di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”

[2-tr 11] Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đóng vai trò vô cùngquan trọng với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Do đó, nhà nước cần có

sự đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứngdụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhóa

Cùng với đó, cơ quan, tổ chức nhà nước, các cá nhân cần có tráchnhiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Đối với các cơ sởvăn hóa, các cơ quan thông tin đại chúng nên tang cường tuyên truyền, phổbiến ở cả trong nước và nước ngoài về các giá trị di sản văn hóa đặc sắc củadân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát huy giátrị di sản văn hóa trong nhân dân

Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng với mục đích: Phát huy giá trị

di sản văn hóa vì lợi ích cộng đồng; phát huy truyền thống tốt đẹp của dântộc; phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; sáng tạo nhữnggiá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt; mở rộng giao lưuvăn hóa quốc tế Để phát huy những mục tiêu đó Nhà nước đã đưa ra nhiềuquy định nghiêm cấm về các hành vi gây tổn hại đến di sản như: Chiếm đoạt,làm sai lệch di sản văn hóa, hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn

Trang 17

hóa, đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đaithuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, mua bán, trao đổi và vậnchuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử - vănhóa, danh lam thắng cảnh, đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ranước ngoài, lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thựchiện những hành vi trái pháp luật.

1.1.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc vềtầm quan trọng của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội Di sản vănhóa trở thành cốt lỗi của bản sắc dân tộc, được coi là yếu tố cấu thành đặctrưng của nền văn hóa Đề cao vị trí của di sản văn hóa cũng chính là đề caonhững thành quả lao động, giá trị đời sống tinh thần của nhân dân trong quátrình lịch sử dựng nước và giữ nước Một hệ thống đình, chùa, lăng tẩm,thành quách đồ sộ không chỉ minh chứng cho sức lao động, tính sáng tạo, sựcần cù chịu khó, mà ở đó còn ẩn chứa khát vọng, ý chí và nghị lực của chaông Việc giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo các giá trị di sản văn hóa không chỉ thể hiện

đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” từ ngàn xưa, mà nó còn góp phần làm phong

phú đời sống tinh thần các thế hệ tương lai

Nhờ các chính sách đúng đắn, nghiêm ngặt của Đảng, Nhà nước trongnhững năm qua đã góp phần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, ngănngừa tình trạng xuống cấp của di tích lịch sử, tác động tích cực đến sự nghiệpxây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Bằng chínhsách xếp hạng của Nhà nước nhiều di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn

hóa và khoa học đã được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật Tác giả “Vấn đề

quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” cho biết: “Chương trình mục tiêu quốc gia tu bổ tôn tạo di tích ngày càng có hiệu quả, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo tồn, bảo tàng Nhờ nguồn ngân sách được đầu tư kịp thời của Nhà nước và cộng đồng xã hội mà

Trang 18

nhiều di tích lịch sử cách mạng đã được cứu thoát khỏi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng” [2-tr.12] Đồng thời, quá trình thực hiện các chương trình với

mục tiêu về chống xuống cấp và tôn tạo di tích đã góp phần tạo nên các sảnphẩm văn hóa đặc thù, có sức hấp dẫn mới Ngoài sự quan tâm của các cấpchính quyền, các di sản còn nhận được sự tham gia tích cực của cộng đồngvào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không chỉ trong công tác tổchức, xây dựng bộ máy đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, các di sản vănhóa còn nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn của các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước Các khóa tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, những hội thảo khoahọc được tổ chức với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu thuộc nhiềuchuyên ngành khác nhau cả trong nước và quốc tế góp phần làm tăng chấtlượng đội ngũ cán bộ của các đơn vị quản lý

Nhờ vào việc từng bước hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về bảo tồn,

phát huy giá trị di sản văn hóa với việc ban hành “Luật Di sản văn hóa” và

các quyết định có liên quan, việc tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lí nhànước để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, kêu gọi sự tham gia của toàn xãhội với hoạt động giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa, việc triển khailiên tiếp các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa Hoạt động bảo tồnphát huy di sản văn hóa đã đạt nhiều thành tựu, không chỉ dừng lại ở đápứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và phong phú của nhân dân,

mà còn góp phần đưa hình ảnh quốc gia ra thế giới, tạo động lực thúc đẩycho sự phát triển kinh tế - xã hội

Tuy đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như trên, song đối vớivấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhữngmặt hạn chế:

- Vấn đề bảo tồn di sản nếu không được coi trọng bằng việc khai thác

di sản thì sẽ dẫn đến tình trạng phá hoại di sản, khiến di sản bị xuống cấp, maimột nhanh chóng Cùng với đó là nhận thức của người dân về luật di sản văn

Trang 19

hóa còn chưa đầy đủ nên tình trạng vi phạm bảo tồn di tích còn xảy ra.

- Sự quản lý còn lỏng lẻo buông thả, mang tính chất nhắc nhở răn đe,dẫn đến nhiều di tích tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, nhiều di sản đánh cắp,làm hư hại, thất thoát khá nặng nề, nhiều di sản quý không còn khả năng khôiphục Ở một số địa phương, trong quá trình bảo tồn, trùng tu thiếu tráchnhiệm, thiếu năng lực chuyên môn, làm biến dạng, mất giá trị di tích, đặc biệt

là các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến Nhiều hoạt động lễ hội văn hóa

có những biến tướng xấu nhằm trục lợi gây phản cảm, thậm chí gây ấn tượngxấu với du khách

- Bên cạnh đó, dù đã được nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng nguồnkinh phí đưa về các di tích vẫn còn khá hạn hẹp so với nhu cầu thực tế Cảnước hiện vẫn còn hàng nghìn di tích quốc gia đã xuống cấp nhưng chưa đượctrùng tu, những di tích được tu bổ chủ yếu vẫn bằng nguồn vốn xã hội hóa nênvừa yếu vừa thiếu Các di tích được đầu tư mới chỉ đáp ứng được mục tiêu gia

cố, chống xuống cấp cục bộ chứ chưa đủ khả năng thực hiện các dự án tổngthể nhằm tạo điều kiện cần và đủ để di tích tồn tại lâu dài Việc xã hội hóacác hoạt động văn hóa tuy thu được những nguồn lực đáng kể để tu bổ, tôntạo di sản, nhưng do yếu kém trong khâu quản lí dẫn đến lộn xộn, nhậpnhằng, thậm chí phô trương phản cảm

- Tổ chức bộ máy quản lý di sản, mặc dù mỗi di sản văn hóa đã thànhlập một tổ chức quản lý riêng, song cả về quy mô và cơ chế tổ chức của các

cơ quan giữa các di sản còn chưa thống nhất Đội ngũ cán bộ chuyên mônnghiệp vụ ở một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng và yếu vềchất lượng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có nhiều di sản thế giớirất cần một đội ngũ cán bộ thực sự có trình độ chuyên môn cao Việc học tậpchuyên môn, ngoại ngữ của một số cán bộ, nhân viên thiếu bài bản, chỉ nhằmphục vụ những lợi ích trước mắt, chứ không chú ý chuyên sâu, không thườngxuyên để đáp ứng những đòi hỏi chuyên môn cao của ngành Sự thiếu đồng

Trang 20

bộ trong tổ chức và đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất rõ đến công tác bảo tồn vàphát huy giá trị di sản văn hóa cũng như tài nguyên du lịch.

- Một vấn đề bất cập khác chính là nhận thức và sự tham gia của cộngđồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản chưa đồng đều Vẫn còntình trạng nhiều di tích chưa được đầu tư đồng bộ: Nơi nhận được dự án của

du lịch thì di tích chưa được quan tâm, nơi di tích được đầu tư thì dự án của

du lịch lại chưa tới Du lịch phát triển, kéo theo những mặt tiêu cực đối với disản, những hiểm họa đe dọa trực tiếp về vấn đề ô nhiễm môi trường ở các disản thiên nhiên và di sản văn hóa

1.2 Tổng quan về chùa Trấn Quốc

1.2.1 Vị trí địa lý, cảnh quan chùa Trấn Quốc

Chùa Trấn Quốc nằm trên đường Thanh Niên, quận Tây Hồ, thành phố

Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 3 đến 4km [Hình 1.1] Chùa quayhướng nam, đây là một vị trí đẹp và phổ biến trong xây dựng đình, chùa Việt.Hướng nam là nơi các đức Phật, Bồ Tát ngồi để lắng nghe lời kêu cứu củachúng sinh trong kiếp đời khổ đau, dùng pháp lực vô biên cứu vớt họ Trong

tác phẩm “Chùa Việt” có ghi: “Phía Nam đối với đạo Phật là „Bát nhã”, tức

trí tuệ (cứu cánh của Phật đạo), có trí tuệ sẽ diệt trừ được ngu tối, bởi ngu tối

là mầm mống của tội ác, và hướng nam đối với nhà Phật là hướng thiện”

[3-tr.63]

Chùa Trấn Quốc được bao bọc bởi hồ Tây, thế đất của chùa biểu thịmối âm dương tứ tượng và dịch học Kiến trúc chùa biểu tượng cho dương,diện nước thấp biểu tượng cho âm, tượng trưng cho âm dương hòa hợp,không ngừng phát triển Cảnh quan nơi đây là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ tĩnhlặng uy nghiêm cổ kính với sự tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang Chùađược bao bọc bởi vườn cây xanh tốt mang lại cho con người cảm giác yênbình khi đặt chân đến nơi đây [Hình 1.2]

Trước đây vườn trước chùa có cây cổ thụ quý hiếm, đó là cây Bồ đề,

Trang 21

biểu tượng của Bát nhã Tuy cây không còn nhưng đã được thay bằng một cây

Bồ đề khác do Thủ tướng Ấn Độ Parasar sang thăm Việt Nam và trồng tặng[Hình 1.3] Vị trí của cây như một trục và trụ ở giữa chính đạo để hội tụ

"Chan – Tâm – Như " và cây Bồ Đề như cánh cửa mở vào cõi Niết bàn.

Cạnh cây Bồ đề có nhà bia, tấm bia dựng trong đó có bài lược dẫn về

cây Bồ Đề: "Đức Thích ca Mẫu Như Như Lai Giáo chủ khi sắp lên ngôi đang

chính giác Ngài ngồi Thiền định bên gốc cây Bồ đề…" Ngoài ý nghĩa với

đạo Phật thì việc trồng cây Bồ đề ở đây còn có ý nghĩa thắt chặt hơn nữa tìnhhữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Ấn Độ

Ngày nay chùa được coi là một trong những chốn cửa Phật linh thiêng,thu hút rất nhiều tín đồ Phật giáo đến hành lễ, chiêm bái cảnh chùa, đặc biệt làtrong các dịp lễ tết chùa không chỉ đón đông đảo lượt khách thủ đô mà cả dukhách quốc tế

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Trấn Quốc

Chùa Trấn Quốc là một ngôi chùa cổ, có lịch sử hình thành từ rất lâu

đời Hầu hết tư liệu như: Tây Hồ chí, Đại Nam nhất thống chí, Lịch sử thủ đô

Hà Nội, Hà Nội nghìn xưa, Hà Nội và danh lam thắng cảnh đều khá thống

nhất khi đề cập đến niên đại của ngôi chùa Chùa đã có lịch sử xây dựng trên

1500 năm, được xem là ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất tại Thăng Long HàNội, là trung tâm Phật Giáo của Thăng long thời Lý - Trần Qua các biến cốthăng trầm của lịch sử chùa đổi thành nhiều tên gọi khác nhau như: KhaiQuốc, An Quốc, Trấn Quốc, Trấn Bắc, và ngày nay là Trấn Quốc

Trong cuốn “Hà Nội nghìn xưa” có viết: “Theo truyền thuyết, Lý Bí

xây dựng chùa vào thế kỉ thứ 6 (544-548) Sau khi thắng quân Lương lập nước Vạn Xuân ông cho xây dựng chùa Khai Quốc (có ý là mở nước, thể hiện

ý chí độc lập của dân tộc) Chùa bên bờ sông Cái (sông Hồng ngày nay) thuộc phường An Hoa, Yên Hoa (Yên Phụ)” [21-tr.166] Trong “Tây Hồ chí”

có ghi lại rằng: “Chùa Khai Đế, nhân nền cũ chùa An Trì, mà dựng nên, vì

Trang 22

vậy có tên Khai Quốc” [18-tr.349] “Tây Hồ chí” cho rằng chùa An Trí vốn

được xây dựng từ thời Hồng Bàng Các sách “Hà Nội danh lam thắng cảnh”,

“ Lịch sử Phật Giáo Việt Nam” và tư liệu của Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội

đều có điểm chung là chùa thuộc bãi Yên Phụ, có từ thời Lý Nam Đế, mangtên là Khai Quốc

Qua các triều đại Lý - Trần chùa có tên là Khai Quốc đến thời LêThánh Tông (1942) đổi thành An Quốc Sang thời vua Lê Kính Tông (1600 -1619) đê Yên Phụ có dấu hiệu sạt lở vào gần tới chùa, sợ đê vỡ nên người dândời chùa từ bãi sông đến đảo Cá Vàng, chính là địa điểm hiện nay Tới thờivua Lê Hy Tông (1680 - 1705) An Quốc được đổi thành Trấn Quốc Các sách

“Tây Hồ chí”, “Hà Nội nghìn xưa”, “Hà Nội và danh lam thắng cảnh”, đều

khẳng định điều này Năm 1842 (thời Nguyễn) vua Thiệu Trị đã đổi tên chùathành Trấn Bắc

Theo “Hồ sơ của chùa Trấn Quốc” và các tư liệu sử sách ghi chép lại

thì vị trị chùa hiện nay chính là nền của các cung Thúy Hoa thời nhà Lý vàđiện Hàn Nguyên thời Trần Từ những dẫn chứng tư liệu cho ta thấy chùaTrấn Quốc là một ngôi chùa cổ, gốc tích từ rất xa xưa [Hình 1.4] Ngôi chùangày nay chúng ta thấy được xây dựng từ thời Lê Kính Tông (1616) Hiện

nay việc này còn được khắc trên bia đá tại chùa: “Xưa chùa ở ngoài bãi, giáp

liền bờ sông Niên hiệu Hoàng Định (1616), sau khi đắp con đê xong, dân làng mộ đạo mới chiếm một khu đất rồi bắt đầu xây dựng” Tấm bia được

khắc năm 1858 cũng đã khẳng định điều trên

Trong xuất quá trình lịch sử phát triển chùa trải qua nhiều lần trùng tuxây dựng Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long ban lệnh sửa chữa lạichùa Đến năm 1616 thì chùa được chuyển tới địa điểm hiện nay Vào năm

1624 triều Lê Thần Tông dựng nhà Thượng điện, đình đốt hương, Tiền đường

và cổng sau, bốn năm sau chùa được tu sửa lại lần nữa Chùa được trùng tuvới quy mô lớn nhất là vào thời Lê Thần Tông năm 1639, vua cho sửa lại Hậu

Trang 23

đường, cửa gác phía trước và xây dựng thêm hai dãy hành lang Trạng nguyênNguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 để ghi lại

công cuộc tôn tạo này Trên tấm bia dựng năm 1815 có viết: “Năm 1813 cho

sửa lại Tam bảo, Tiền đường, Thiên hương, hành lang gác chuông rồi tô tượng đúc chuông” Vào năm 1832 xây một bảo tháp mới đến năm 1939 thì

cho xây dựng lại nhà bia, sửa chữa trùng tu lại năm pho tượng vào năm 1949

và đảo lại ngói của chùa cùng năm đó Tới năm 1951 và 1954 bồi đất, đổ kèxung quanh chùa Chùa được trùng tu gần đây nhất là năm 2010 chào mừngĐại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Chùa đã trải qua rất nhiều đời trụ trì như: Vân Phong thiền sư, nhà sưThảo Đường, nhà sư Thông Biện Hiện nay chùa Trấn Quốc còn là chi sơnmôn của Thiền phái Tào động Phái Thiền Tào động bắt nguồn từ TrungQuốc Vào Đàng Ngoài thời vua Lê Thế Tôn (1575 - 1599) do Thủy Nguyệthiệu là Thông giác - tổ khai sơn chùa Hồng Phúc đến cuối thế kỉ 17 thì đượctruyền vào Đàng Trong

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nhiều lần đổi tên và trùng

tu lại đến nay chùa vẫn giữ nguyên tên gọi thuở ban đầu là Trấn Quốc Chùa

có một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong sự phát triển lịch sử Phật giáo nước

ta, một chứng nhân lịch sử không chỉ có ý nghĩa về vật chất, mà còn chứađựng tinh hoa văn hóa Việt

1.2.3 Kiến trúc chùa Trấn Quốc

Chùa Trấn Quốc là một ngôi chùa cổ, thuần Việt Ngày nay, chùa TrấnQuốc tọa lạc trên một hòn đảo nhỏ duy nhất của một hồ nước ngọt lớn nhất

Hà Nội Phía trên cửa chùa có ghi ba chữ “Phương Tiện môn” và câu đối hai

bên viết bằng chữ Nôm:

“Vang tai xe ngựa qua đường tục

Mở mặt non sông đứng cửa thiền”.

Trang 24

Giống hầu hết các ngôi chùa khác ở Việt Nam kết cấu và nội thất chùa

có sự sắp xếp trình tự, theo nguyên tắc khắt khe của Phật giáo gồm nhiều lớpnhà với ba ngôi chính là Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện nối thànhhình chữ Công (工)

Tiền đường hướng về phía tây (hướng Phật) hai bên nhà Thiêu hương

và Thượng điện là hai dãy hành lang Sau Thượng điện là gác chuông, gácchuông chùa là một ngôi ba gian nằm trên trục sảnh đường chính trên giangiữa gác treo một chuông lớn, bên phải là nhà Tổ phía trước có một vườn caudựng một số pháp Phật, bên trái là nhà bia trong có dựng một bia lớn Các dãynhà nối bên phải nhà khách phục vụ cho sinh hoạt của chư tăng, thêm một dãyhành lang phía trong dọc theo tường ngoài Hậu cung Kiến trúc chùa tạo

thành khối thống nhất “nội Công, ngoại Quốc”.

Sơ đồ chính chùa Trấn Quốc theo chữ Công (工).

- Tòa Tiền đường

Tòa Tiền đường là một dãy nhà bảy gian theo hướng bắc - nam, mặthướng phía tây Kết cấu của Tiền đường giống hầu hết các ngôi chùa Việt

Nam theo lối “Giá Chiêng Chồng Rường con Nhị”, toàn bộ khung được làm

bằng gỗ, bảy gian hai trái, đầu hồi bít với mười hai bộ vì kèo và tám hàng cột

Trang 25

bao gồm: Cột cái, cột quân, cột hiên Tổng diện tích là 160 với chiều dài 2,chiều rộng 7m, hiên có chiều dài là 1, chiều rộng 2.

- Tòa Thượng điện

Phần quan trọng nhất của chùa là Thượng điện, nơi trang nghiêm nhất

và cũng là nơi thể hiện rõ nhất những nét kiến trúc độc đáo của ngôi chùa.Thượng điện có kết cấu gồm bốn gian, năm hàng cột, mỗi gian dài 2, rộng 6.Hai gian bên trong rộng hơn với hai hàng cột quân tương đương với bốn cột,chiều rộng lên tới 9m Điểm đáng chú ý nhất là những bức tượng, không chỉđảm bảo về sự khắt khe trong đạo Phật mà nó còn là sự đầy đủ, tinh xảo củacác pho tượng Phật Trong bảy gian của chính điện thì chùa Trấn Quốc là mộttrong những chùa có đầy đủ các bức quấn thư, hoành phi câu đối nhất.Thường các chùa chỉ có ở chính giữa nhưng ở chùa Trấn Quốc thì từ hoànhphi, câu đối, văn bia hay tên người cúng tiến đều được tiền nhân ghi lại rấttrang trọng Thượng lương đòn nóc được làm rất chắc chắn, trạm trổ côngphu, các đường nét thể hiện sự tinh xảo khéo léo của người nghệ nhân xưa.Những họa tiết được thể hiện chủ yếu tượng trưng cho bộ tứ quý, nhiều nhấtvẫn là trạm trổ hình rồng [Hình 1.5]

- Hành lang

Hai bên hành lang có tổng là 16 gian, mỗi bên 8 gian, mang kiến trúcgiống với tòa Tiền đường, có 4 trụ để đỡ mái Gian giữa có treo một bức

Trang 26

hoành lớn mang tên “Dương công thể đức” xung quanh bức hoành được

trang trí hình rồng nổi vô cùng sống động và đẹp mắt, thêm vào đó là các loạiquả thiêng ở thân cây trúc

- Nhà Tổ

Nhà Tổ với hai chức năng chính hiện nay là thờ Mẫu và thờ Tổ Nhà Tổcũng được làm theo kiểu tường hồi bít đất, ngói lợp kiểu vẩy hến, không cócánh cửa Tại đây có bộ khung gỗ bề thế gồm có sáu bộ vì kèo theo kiểu

“Chồng giường giá chiêng” tọa thành năm gian, ba gian giữa thờ Tổ, hai gian

bên thờ Mẫu [Hình 1.7] Ở các gian hiên này có những kẻ cổ ngỗng vươn dài

đỡ mái Nhà tổ có tổng 12 pho tượng mang tính chân dung cao, nét mặt rấtgiống với người sống không giống tượng Phật, tượng ngồi trong tư thế kiếtgià, áo cà sa chạm nong kênh trùm xuống tận bệ Đặc biệt là có một photượng mới làm tạc theo khuôn mặt của một vị sư mới viên tịch ở chùa, tượngbằng đồng thiếp vàng lộng lẫy [Hình 1.8]

- Vườn tháp

Bên phải nhà Tổ là vườn tháp cổ kính nằm soi bóng xuống mặt hồ.Vườn tháp rộng khoảng 200 với nhiều tháp cổ từ thế kỉ 18 vẫn còn lưu giữđến tận ngày nay Vườn có tổng 15 tháp 6 tháp một tầng, 8 tháp ba tầng vàmột tháp 11 tầng được xây dựng năm 1998 Đây là những tháp mộ an tángnhững người đã tu hay trụ chì chùa qua các đời Tháp một tầng gọi là am sư,chôn cất những người công quả tu hành còn ở mức độ thấp, tháp ba tầng làtháp của hòa thượng các đồ đệ thường xây cho sư tổ của mình Điểm nhấn tạonên nét riêng biệt cho chùa chính là tòa Bảo Tháp Lục độ đài sen, bảo thápcao 15m, mỗi tầng có sáu ô cửa hình vòm, bên trong các ô cửa đặt một tượngPhật A Di Đà bằng đá quý Phía trên cùng của đỉnh tháp có đặt một đài sen

chín tầng tên là “Cửu phẩm liên hoa” cũng được tạc bằng đá quý Bảo tháp

được xây dựng đối xứng với cây bồ đề lớn do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ôngđến thăm Hà Nội vào năm 1959 Sự đối xứng này được Thượng tọa Thích

Trang 27

Thanh Nhã - ủy viên hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam trụ chì chùa

Trấn Quốc lí giải rằng: “Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính

sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp” [Hình 1.9].

- Nhà bia

Nhà bia gồm 2 tầng - 8 mái, đỉnh mái là lọ nước Cam lồ, 8 góc đaocong hình rồng và các thân đuôi rồng là những lá hóa vân Góc đao ngoàicùng là những vân xoáy Kích thước nhà bia là 3,5 x 3,5m Ở giữa nhà bia đặtmột bia đá hình trụ, bốn mặt (1m x 2,15m) trên đỉnh bia trụ cũng là một bìnhnước Cam lồ [Hình 1.10]

- Hệ thống tượng Phật

Chùa Trấn Quốc là ngôi chùa theo thiền phái Bắc tông (Đại thừa) nên

hệ thống tượng chia thành 4 khu chính Đáng chú ý nhất là hệ thống tượng thờTiền đường và Thượng điện

 Tiền đường

Gian trái thờ tượng Già Lam Hộ Pháp (Quan Công) cùng với Đà ThiênTôn Hộ Pháp tạo thành một cặp tượng trấn giữ, phát tâm nguyện bảo vệ Phậtpháp Hai Ngài đứng ngăn cản cái ác, ô uế tới nơi thờ tự linh thiêng Làm ảnhhưởng tới sự hướng Phật, tới sự chân tu của chúng phật tử Quan Vũ hay còngọi là Quan Công là hiện thân của 6 đức tính tốt đẹp: Trung, nghĩa, tín, trí,nhân, dũng Thờ Quan Công theo Phật giáo là để con người noi theo tấmgương phẩm hạnh của Ngài

Gian bên phải là tượng Đức Ông là nhân vật có công lớn với Phật pháp,

ở hàng cư sĩ mà hộ trì chính pháp, trọn vẹn đạo hạnh từ, bi, hỉ, xả, tế độ quầnmanh [Hình 1.11]

Trang 28

 Thượng điện

Mỗi chùa có một nguyên tắc sắp xếp khác nhau, tùy theo từng nơi mà

có thay đổi linh hoạt [Hình 1.12] Tại chùa Trấn Quốc lớp bàn thờ được sắpxếp theo nguyên tắc sau:

Lớp tượng thờ thứ nhất là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở sâu trêncùng, giáp mái chùa được gọi là Tam Thế Phật hay còn có tên đầy đủ là TamThế Thường Trụ Diệu Phất Pháp Thân Tam thế có nghĩa là ba thời quá khứ,hiện tại, tương lai Quá khứ gọi là Trang Nghiêm Kiếp, hiện tại gọi là HiềnKiếp, tương lai gọi là Tinh Tú kiếp, ngồi theo lối kiết xà hằng ma Mỗi đạikiếp xấp xỉ bằng 1.344.000.000 năm, Thường Trụ là tồn tại vĩnh hằng, Diệu làđẹp đẽ linh thiêng, nhiệm màu, Pháp thân là thân chân thực không không biếnđổi, không lệ thuộc vào hình, danh, sắc, hương, tướng, không sinh diệt, tứccái đạo thể Một tên khác là Tam Thế Thiên phật, có nghĩa là ba nghìn vị Phậtnối nhau giáo hóa chúng sinh trong ba đại kiếp

Lớp thứ hai thông thường ở các chùa là bộ Di Đà tam tôn nhưng chùaTrấn Quốc lại đặt tượng Thích Ca cùng với hai đệ tử thân thiết là An Nan, CaDiếp Tượng đặt ở hang thứ hai chính giữa, có tên gọi khác là tượng TuyếtSơn diễn tả Thích Ca trong thời kì tu hạnh trên núi Tuyết Sơn với thân hìnhgầy gò, chỉ có da bọc xương Khuôn mặt và cơ thể diễn tả rõ nỗi dày vò, nổi

rõ gân cốt, chân khoanh chân chống, tay hững hờ tì trên gối Mắt tượng nhìnvào khoảng không Theo tích truyện xưa thì bằng kiếp tu khổ hạnh, Thích Cakhông thành công, Ngài bỏ xuống núi và được cô gái chăn bò dâng sữa Uốngxong ngài tắm rửa sạch sẽ cho tỉnh táo mà ngồi thiền định rồi đạt được đạochính đẳng chính giác (giác ngộ thành Phật) Bên phải tượng Tuyết Sơn làtượng tổ thứ nhất Ca Diếp, người có sự hiểu biết sâu xa về ý nghĩa của đạo lý,

đã có công tập hợp tăng chúng sau định Tam Tạng kinh Nét mặt có nhiều nếp

nhăn, tay kết ấn “mật phùng” để giữ cho tâm thanh tịnh, lòng không tà loạn.

Bên trái là vị tổ thứ hai, em họ của Đức Phật Thích Ca - A Nan Đà, rất thông

Trang 29

minh, ghi nhớ được các lời Phật dạy, rồi ghi chép lại làm nền tảng cho kinh,

nét mặt trẻ, tay thường hay kết ấn “liên hoa” - chắp tay để trước ngực, biểu

hiện ý nghĩa như bông sen của Phật Hoa Nghiêm

Tiếp đến hàng thứ ba là bộ Di Đà tam tôn hay còn gọi là Tây phươngTam thánh Tượng A Di Đà Phật được đặt ở chính giữa, đứng chủ về cõi NiếtBàn ở phía tây, có 13 đại hồng danh, trong đó nổi lên là Vô Lượng QuangPhật có nghĩa là ánh sáng Phật pháp tỏa ra muôn nơi không gì che cản nổi,nhằm cứu độ chúng sinh, Vô Lượng Thọ Phật là vị Phật thọ ngang cùng trờiđất để giáo hóa mọi kiếp đời Bên trái là Đại Thế Chí Bồ Tát, bên phải làtượng Quan Thế Âm Bồ Tát (còn gọi là Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế ÂmNam Hải, Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, Phật bà Quan Âm) Đây là hai

vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A-di-đà Quan Thế Âm Bồ Tát đại diệncho lòng đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả Đại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng cho đạihùng, đại lực, đại trí, đại tuệ Tích truyện về Thế Chí có kể rằng Ngài bước đilàm rung chuyển thế giới Ma Vương, có nghĩa là trí tuệ đi đến đâu thì sự tàn

ác và u tối bị diệt trừ tới đấy Bộ tượng mang ý nghĩa tiếp dẫn chúng sinh cóphật quả về thế giới tịnh độ tức thế giới cực lạc

Sau bộ Di Đà tam tôn là hàng thứ tư có một bức tượng Di Lặc ĐứcPhật Di Lặc là hiện thân của nguồn hạnh phúc, đầy đủ yên lành Vì thế tượng

Di Lặc tại chùa Trấn Quốc được tạc với thân hình béo tốt, ngộ nghĩnh và sinhđộng Ngực tượng nở, bụng no tròn, miệng cười tự nhiên rạng rỡ Tượng ngồitrên tòa sen sơn đỏ có trang trí vạch khắc nổi chạy song song Khuôn mặttượng luôn cười hớn hở bắt nguồn từ đại tâm, từ hỉ và xả, Di Lặc Phật cònđược gọi là đấng Từ Tôn, được coi như là một vị cứu thế, nên người ta thường

cho rằng: “ Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình” - có nghĩa là: Di Lặc xuống

đời muôn nơi yên ấm Hai vị bên cạnh là Bồ Tát Pháp Hoa Lâm, Đại DiệuTường được tạc dưới dạng nữ nét mặt phúc hậu, dịu hiền

Trang 30

Lớp tượng thứ năm là Quan Âm Chuyển Đề được đặt chính diện, tượng

có mười một tay đan xen theo hình khai mở, đôi tay chính chắp trước ngực

kết ấn “chuyển đề”, ấn này chỉ được kết khi Đức Phật hoặc Bồ Tát cần sức

mạnh vô biên để cứu độ chúng sinh Bàn tay tượng trưng cho phổ độ, con mắttượng trưng cho sự xem xét, quán thông, thấu suốt, thấy rõ tường tận tất cảchúng sinh ở các cõi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lớn lẫn nhỏ bé, trước mặt vàsau lưng, trên và dưới

Tiếp đến, lớp tượng thứ sáu là tòa Cửu Long (tượng Thích Ca sơ sinh),tượng không chỉ gắn với sự ra đời của một thánh nhân mà còn là một lờituyên ngôn gắn với Phật đạo Tượng Thích Ca ở tư thế một tay chỉ lên trời,một tay chỉ xuống đất, có chín con rồng uốn chầu xung quanh, tượng CửuLong dựa vào Phật sử nói rằng khi Thích Ca giáng sinh có chín con rồng phunnước để tắm cho Ngài Tắm xong Ngài tự đi bảy bước về phía trước, tay phải

chỉ lên trời, tay trái chỉ thẳng xuống đất mà nói rằng: “Thiên thượng, Thiên

hạ, duy ngã độc tôn” (nghĩa là trên trời, dưới đất, chỉ có “ta” là tôn quý) Hai

tượng Đế Thích và Phạm Vương được đặt hai bên tòa Cửu Long với tư cách

là thiên thần trợ thủ cho Thích Ca sơ sinh lúc chưa thành đạo Thượng ĐếThích ở bên trái, Phạm Thiên ở bên phải Đây là hai vị chủ thể thế giới, nêntạc theo kiểu nhà vua ngồi trên ngai Truyền rằng khi đức Thích Ca xuất thếthì hai vị vua trời là Phạm Thiên (Brahma) và Đế Thích (Inđra) đã hết sức vuimừng, nên cho các thiên tướng, các nhạc sĩ thiên thần và các vũ nữ thiên thầntung hoa và hát đầy trời để ca ngợi

Cuối cùng là lớp tượng Thích Ca nhập Niết bàn Đây là điểm nổi bậtcủa chùa Trấn Quốc, cũng là bức tượng có niên đại sớm nhất trong số cáctượng phật ở chùa Tượng bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy, có thể nói là một kiệttác của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam, tư thế của pho tượng được cho là đặcbiệt bởi các cao tăng khác khi vào niết bàn thường ở tư thế tựa còn Phật Thích

Ca Mâu Ni lại trong tư thế nằm

Trang 31

Ngoài ra, trong chùa hiện nay đang lưu giữ mười bốn tấm bia đá, trong

đó có bia của trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính (1587 - 1693) và tiến sĩPhạm Quý Thích (1760 - 1825) [Hình 1.13] Các văn bia ghi lại nhiều tư liệuquý về việc tu sửa chùa qua các năm 1624, 1628, 1639, 1815, 1821, 1842

Về tổng thể kiến trúc ngôi chùa giữ được tinh thần hòa nhập với vũ trụcủa người dân Việt, bốn phía đều hợp với hiện tượng đối đãi âm dương Chùamang đậm kiến trúc Á Đông, nơi giao hòa giữa thiên nhiên và con người

Chùa Trấn Quốc được xem là một di sản văn hóa của dân tộc, danh lamthắng cảnh của kinh thành xưa kia và thủ đô ngày nay Trải qua biến cố thăngtrầm lịch sử chùa Trấn Quốc trở thành biểu tượng, niềm tự hào của Phật giáoViệt Nam và của văn hóa dân tộc

1.2.4 Một số lễ hội tại chùa Trấn Quốc

Theo thông lệ, hằng năm cứ đến ngày rằm tháng 4 âm lịch, cả nướclong trọng tổ chức kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời Từ năm 1999, lễ Phật Đảnvào 15/4 đã được Liên Hiệp Quốc công nhận là ngày lễ hội văn hóa tâm linhthế giới Lễ Phật Đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ Tam hợp mà Liên HiệpQuốc gọi là Vesak (lễ Phật Đản sinh, lễ Phật thành đạo và lễ Phật nhập Niếtbàn)

Trang 32

Lễ Phật Đản là ngày lễ vô cùng lớn không chỉ với chùa Trấn Quốc nóiriêng mà cả Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung Ngoài việc tổ chức buổi

lễ chính vào đúng ngày rằm tháng 4 âm lịch, chùa còn tổ chức xe hoa diễudành trên các đường phố, làm lễ phóng sinh, thả hoa đăng quanh khu vực hồTây, tổ chức các hoạt động văn nghệ múa hát chào mừng Phật Đản, thuyếtgiảng Phật pháp, đèn lồng và cờ Phật giáo được treo khắp các lối vào chùa vàxung quanh chùa, chùa còn dựng lễ đài lớn thu hút sự tham gia của hàngnghìn tăng, ni, phật tử [Hình 1.14]

Ngoài ra, chùa còn tổ chức các hoạt động từ thiện như xây nhà tìnhthương, thăm hỏi và tặng quà cho các em thiếu nhi, các gia đình có hoàn cảnhkhó khăn trên địa bàn Hà Nội Vào ngày Phật Đản, chùa kêu gọi các Phật tửkhông sát sinh, nên ăn chay, làm việc lành, điều thiện, phóng sinh tích đức.Tại chùa, Phật tử thường dựng lên lễ đài lớn cho buổi văn nghệ và thuyếtgiảng Phật pháp, trang trí các xe hoa, trang hoàng kiệu rước để chuẩn bị chođêm rước [Hình 1.15]

Đây là dịp nhắc nhở mỗi người luôn tự ý thức lại về đời sống của mình,

từ bỏ lòng ghen ghét đố kỵ, kiêu căng, sân hận, mở lòng mình hơn với nhữngngười nghèo khó, biết sống hiền lành, thiện lương Đồng thời, truyền đạt lạinhững giáo lý tốt đẹp đó cho mọi người xung quanh để tất cả cùng nhau đượcbình an, hạnh phúc Đó là tinh thần của người con của Phật trong ngày lễ PhậtĐản

 Lễ Vu Lan

Vu Lan là danh từ gọi tắt của Vu Lan Bồn, trong tiếng Phạn là

“Ullambana” “Ullam” là treo ngược, được ví như sự thống khổ của người

chết bị treo ngược "Bana" tạm dịch là cứu giúp Như vậy chúng ta có thể

hiểu từ Vu Lan Bồn có nghĩa là giải cứu người bị tội treo ngược Báo hiếu cónghĩa là sự báo đáp, đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người conđối với cha mẹ hiện tiền và với cha mẹ kiếp trước

Trang 33

Theo trong kinh của nhà Phật có ghi chép lại thì Lễ Vu Lan phát xuất từthời Đức Phật Ngài đã dạy phương thức báo hiếu cho cha mẹ ở đời này vànhiều đời khác Người đầu tiên tiếp nhận chính là Tôn giả Mục Kiền Liên,Ngài là một trong 10 vị đệ tử xuất chúng của Đức Thế Tôn Từ những nămtháng đầu tiên khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, các chùa đã tổ chức lễ VuLan Ngày nay, lễ Vu Lan không còn đơn thuần chỉ có ý nghĩa tôn giáo thiêngliêng ca ngợi lòng hiếu thảo đối với mẹ mà đã trở thành lễ hội mang tính nhânvăn bày tỏ lòng hiếu kính của tất cả mọi người đối với cha mẹ hiện tiền, hayông bà cha mẹ đã qua đời.

Sau đại lễ Phật Đản thì lễ Vu Lan cũng là một lễ lớn tại chùa TrấnQuốc, được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, thu hút đông đảo tín đồPhật tử tham dự Vào dịp lễ, ngoài cờ biểu trưng của nhà Phật, chùa còn trangtrí rất nhiều cờ hoa, băng rôn quanh lối dẫn vào chùa như một lời nhắc nhởđến mỗi người về lòng kính nhớ cha mẹ, biết ơn công sinh thành dưỡng dụccủa người, cầu cho cha mẹ một đời bình an, khỏe mạnh, hoặc sớm siêu thoát

về cõi cực lạc nếu đã qua đời [Hình 1.16]

Lòng hiếu kính mẹ cha, phụng thờ tổ tiên ông bà, chính là sợi dây liênkết giữa người còn kẻ mất, là truyền thống cao đẹp nêu cao tình người củadân tộc Việt Truyền thống ấy cần được giữ gìn và phát huy để luôn nhắc nhởcon cháu về công ơn to lớn của cha mẹ, ông bà

1.2.4.2 Một số nghi thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian tại chùa Trấn Quốc

Trang 34

viên Tiếp đó, vị thượng tọa tụng kinh niệm Phật, phía sau là các vãi áo nâusòng ngồi trước một bàn xếp nhỏ trên để quyển kinh chữ đại tụng theo Saucác kinh, vị thượng toạ mở từng lá sớ đọc đầy đủ họ tên, nơi ở của từng giachủ, đọc xong mỗi lá sớ là lời niệm Phật Nam mô A Di Đà Cuối cùng, nhàchùa sẽ cho hóa các lá sớ Do vào dịp lễ lớn nên số lượng các gia chủ kháđông, chùa thường làm lễ tụng kinh cầu an chung, sau đó hóa sớ.

 Lễ cúng sao giải hạn

Theo quan niệm dân gian xưa, mỗi một năm con người đều sẽ có mộtngôi sao chiếu mệnh của riêng mình Cúng sao giải hạn là một trong nhữngnghi lễ phổ biến trong dân gian hiện nay với số lượng lớn người tham dự vàđều có sự hiểu biết khá cặn kẽ với nghi lễ này Lễ cúng sao giải hạn mang ýnghĩa giống như tên gọi là giải hạn xấu trong năm mà ngôi sao chiếu mệnhđem tới Các sao Thái Bạch, Kế Đô, La Hầu là sao được dự báo vận hạn xấunhất Sao La Hầu cúng vào mùng 8 tháng giêng, sao Thái Bạch cúng vào rằmtháng Giêng Sao Kế Đô cúng vào 18 tháng Giêng, tất cả các sao thường đượccúng vào buổi tối tại chùa Trấn Quốc Các đối tượng tham dự nghi lễ tại chùaphần đông là nữ, nam có nhưng khá ít

 Lễ bán khoán

Đây là lễ thức mà đối tượng được làm lễ là trẻ nhỏ điều này trái ngượcvới lễ đội bát hương Với những trẻ nhỏ hay ốm đau, quấy khóc hoặc khónuôi, cha mẹ sẽ sắm lễ lên chùa xin nương gửi cửa Phật Tới khi trẻ lên 12, 13tuổi sắm lễ để xin về, cũng có một số trường hợp do bản mệnh kém hoặc

“hợp‟‟ với nhà Phật thì bán khoán suốt đời Cha mẹ trẻ đã bán khoán phải

thường xuyên tới chùa vào những ngày sóc, ngày vọng Lễ bán khoán tại chùaTrấn Quốc thường bao gồm cả cỗ mặn và cỗ chay Cỗ mặn sẽ được đặt tại banĐức Ông được dân quan niệm là có lời xin Đức Ông cho trẻ nhập chùa

Trang 35

 Lễ đội bát hương

Dân gian xưa quan niệm với những người có “căn” hợp với các cậu,

cô hay các ông hoàng, các Mẫu (các công chúa), các thần tướng, vương quanmuốn được hưởng phúc tránh tai ương, việc làm ăn xuôi chèo mát mái thìphải bốc bát hương bản mệnh thờ các vị đó Đội bát hương là lễ thờ các vịthần bản mệnh, các vị thần này chính là các vị thần trong hệ thống thần điệndân gian Đối tượng tham dự lễ là người trưởng thành bao gồm cả nam và nữ

Ở chùa Trấn Quốc, lễ này được thực hiện tại điện thờ Mẫu do thầy cúng thựchiện, lễ thường chỉ thực hiện cho một người, không giống với các nghi lễkhác là thực hiện từ năm đến mười người

 Lễ cắt giải tiền duyên

Những người cao số cả nam lẫn nữ muộn chồng muộn vợ, đường tìnhduyên gặp nhiều khó khăn theo ông cha xưa có thể do người âm hợp vớimình, họ ngăn cản không cho lấy vợ hoặc lấy chồng Vì thế, họ cần phải làm

lễ cắt tiền duyên với người âm mới tránh được những trắc trở trong chuyệntình yêu Ở chùa Trấn Quốc lễ được tiến hành trước ban thờ Mẫu do một thầycúng chủ trì buổi lễ Nhà chùa thường làm lễ cùng một lúc cho nhiều ngườithường khoảng năm đến mười người, tiền lễ là vàng hương, hình nhân thếmạng, hoa quả, xôi oản Thầy cúng đọc tên từng người làm lễ, đến tên ai ông

sẽ gieo thử quẻ xin lễ cắt tiền duyên cho người đó Nếu quẻ gieo là quẻ thuận

thì người âm chấp nhận việc “chia tay”, trong trường hợp quẻ không thuận,

phải xin đi xin lại nhiều lần Trong khi thầy cúng tiến hành làm lễ, nhữngngười đi lễ ngồi phía sau chắp tay cung kính Buổi lễ kết thúc hình nhân sẽđược đem đi hóa, người ta mang tro đã hóa về thả trôi sông và có một điểmrất đặc biệt là khi đi đến chùa đường nào thì lúc ra về phải đi sang đường kháctránh để người cõi âm theo về, trong một tháng tiếp theo, người được giảiphải ăn riêng bát đũa để giữ mình luôn trong sạch

Trang 36

Khác với lễ ở chùa, lễ cắt giải tiền duyên ở điện thờ người làm lễ là một

cô đồng, “cô” thường là một người đàn ông “Cô” sẽ lên khoảng năm đến

sáu giá đồng, mỗi giá là một trang phục khác nhau, người đi lễ đầu trùm khăn,

thỉnh thoảng “cô” dùng thanh kiếm đập nhẹ vào lưng Lễ xong, “cô” sẽ đưa

cho người làm lễ một con gà nhỡ, người đó sẽ ôm gà chạy từ cửa Đông sangcửa Tây, sau đó chạy thẳng ra cổng thả con gà ra ngoài Đồ lễ trong cắt giảitiền duyên không thể thiếu đó là hình nhân nhưng quan niệm về hình nhân có

sự khác biệt Tại chùa Trấn Quốc, người cắt giải tiền duyên nếu là nữ thì hìnhnhân là nữ với hàm ý là hình nhân thế mạng, hình nhân sẽ thay họ làm vợ

người âm đang “theo” mình Trong khi tại điện thì hình nhân là một người

nam khăn xếp áo đóng Trong quá trình làm lễ, một thẻ hương được cô đồngcắm vào đầu hình nhân Lễ cắt giải tiền duyên ở đây diễn ra như một hình

thức “ly hôn” với người âm, trái ngược với lễ cắt duyên ở chùa diễn ra theo

hình thức cưới vợ mới cho người âm

Như vậy, trong quá khứ hay trong hiện tại, tín ngưỡng, tôn giáo vẫnluôn là nhu cầu tinh thần của nhân dân Các nghi lễ tín ngưỡng dân gian hòaquyện quanh ngôi chùa Phật giáo trở thành nơi bộc lộ đời sống tâm linh, lốisống cộng đồng, nơi giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa, đạo đức, làm giàuđẹp thêm bản sắc văn hóa Việt

Tiểu kết chương 1: Phát triển du lịch gắn liền với công tác bảo tồn và

phát huy giá trị di tích là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế du lịch thủ đô nói riêng và cả nước nói chung Nếu không đặt công tácbảo tồn và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa lên hàng đầu thì không thểđạt được mục tiêu phát triển ngành du lịch địa phương hay vùng du lịch Bảotồn và phát huy giá trị di tích là một phần thiết yếu của du lịch là cơ sở đểphát triển du lịch bền vững Muốn bảo tồn và phát huy các giá trị di tích, disản văn hóa thì phải hiểu rõ được bản chất nó Nhận thức được vai trò, giá trị

Trang 37

của di tích những năm gần đây nhà nước không ngừng quan tâm đầu tư pháttriển, ban hành các bộ luật về công tác quản lý bảo tồn di tích, di sản văn hóagóp phần gìn giữ những nét văn hóa độc đáo của dân tộc Một trong những ditích nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đó là chùa Trấn Quốc.Chùa Trấn Quốc là ngôi chùa cổ, đặc trưng cho cấu trúc chùa Việt Chùa tọalạc tại đường Thanh Niên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Trong suốt quátrình hình thành và phát triển chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạonhưng vẫn giữ được những nét cấu trúc riêng biệt Hiện nay, chùa vẫn lưu giữđược những lễ hội truyền thống mang đậm tín ngưỡng dân gian Chùa có vaitrò vô cùng quan trọng đối với đời sống văn hóa Việt vì thế mà việc bảo tồn

và phát huy giá trị chùa là một việc làm thiết thực trong thời đại ngày nay

Trang 38

Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT CỦA CHÙA TRẤN QUỐC

(HÀ NỘI)

Nằm trên vị trí thuận lợi, từ lâu Việt Nam đón nhận và giao thoa vớinhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới Trong quá trình tiếp thu và chọnlọc, có thể nói, không có nền văn hóa nào có sức sống mãnh liệt và hòa lẫn,cắm sâu vào nền văn hóa Việt Nam như văn hóa Phật giáo Phật giáo đã lantruyền và thấm sâu vào đời sống xã hội, góp phần quan trọng trong đời sống

tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc Đượctruyền vào Việt Nam từ thế kỷ I, văn hóa Phật giáo đã tạo thành dòng mạchchủ đạo trong suốt dòng chảy lịch sử của dân tộc Trong vườn văn hóa Phậtgiáo muôn màu ấy, ngôi chùa đã trở thành biểu tượng văn hóa thiêng liêng vàgần gũi nhất Chùa là cơ sở thờ tự của đạo Phật, đồng thời chùa còn là trungtâm sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Một trong những ngôi chùa mang giá trịlớn trong đời sống xã hội không thể không nhắc đến là chùa Trấn Quốc

2.1 Giá trị lịch sử

Chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế tính đến nay đã hơn nghìntuổi, có thể nói đây là ngôi chùa cổ nhất còn lưu giữ được ở Việt Nam Nókhông chỉ là niềm tự hào của người dân Hà Nội, mà còn là niềm tự hào củadân tộc

Nơi đây đã từng chứng kiến biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử,

từng là nơi được các vị vua ghé thăm Trong “Di tích Tây Hồ” có viết: “Các

vua thời Lý, Trần cùng các mặc khách tao nhân đã sớm khai thác bãi Kim Ngư làm nơi du lịch, nghỉ chân của mình” [18-tr.349] Vào thời Lý Nhân

Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã từng nhiều lần tới chùa đàm đạo cùng các vị caotăng Vào năm 1942 vua Minh Mạng cũng đã viếng chùa trong chuyến vihành Thăng Long của ông, vua Thiệu Trị cũng từng tham quan ngôi chùa này.Vào năm 1639, chúa Trịnh cho sửa và trồng sen quanh chùa, biến nơi đây

Trang 39

thành hành cung riêng của Chúa Sau khi chúa Trịnh bị tiêu diệt, vua LêChiêu Thống hạ lệnh đốt hết những nơi chúa Trịnh đã ở Nhân dân trongphường ra sức bảo vệ nên lính của vua Lê chỉ đốt những phòng dựng trên bènổi quanh chùa do chúa Trịnh làm cho bọn hoạn quan và cung nữ, còn chùavẫn giữ được nguyên vẹn.

Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan củangôi chùa, trước đây, chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn

xứ Đông Dương theo Viện Viễn Đông Bác Cổ, là một trong 12 di tích lớn củađất nước đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng đợt đầu tiên vào năm 1962

Sau đó, chùa được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc giavào năm 1989 Chùa Trấn Quốc mang trong mình giá trị lịch sử to lớn, lànhân chứng sống cho quá trình biến đổi lịch sử dân tộc, trở thành một trongnhững biểu tượng lịch sử của thủ đô Hà Nội

2.2 Giá trị văn hóa tâm linh

Từ lâu trong tâm thức mỗi người dân Việt chùa là nơi tĩnh lặng thiêngthiêng Đến chùa là đến nương nhờ cửa Phật, tìm lại cho lòng mình chút bìnhyên, cầu mong hạnh phúc an lạc cho bản thân, gia đình Với nhịp sống hiệnđại ngày nay càng hối hả bon chen thì dường như càng hướng con người tìmđến chốn cửa Phật, để lắng đọng tâm hồn, quên đi những lo toan vất vả bộnbề

Trước kia những người đi chùa chủ yếu là người trung niên, là tín đồPhật giáo, đi để quy y, để học đạo lý nhà Phật, để vãn cảnh chùa Ngày nayngười đi chùa vô cùng đa dạng phong phú, người trẻ có, người già có, ngườitri thức, thanh thiếu niên, sinh viên Chùa trong thời buổi kinh tế công nghệ

đã trở thành một nơi cứu cánh cho tâm hồn, một không gian tâm linh đặc biệt.Đến chùa không chỉ đơn thuần là thắp nhang bái Phật, mà với mỗi độ tuổi, đốitượng khác nhau lại có mục đích khác nhau Với các tín đồ Phật tử, đến chùa

là để học hỏi triết lý nhà Phật, nâng cao giác ngộ, thêm hiểu hơn về giáo lý

Ngày đăng: 29/08/2019, 12:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Lang (2000), Văn hóa Phật giáo sử luận, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phật giáo sử luận
Tác giả: Nguyễn Lang
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
16. Vũ Tam Lang (1998), Kiến trúc cổ Việt Nam, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1998
17. Nguyễn Thị Kim Loan (2012), Quản lý di sản văn hóa (Giáo trình), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Loan
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Minh Lý (2004), Đại cương cổ vật Việt Nam, NXB Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương cổ vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Lý
Nhà XB: NXB TrườngĐại học Văn hoá Hà Nội
Năm: 2004
20. Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (2007), Địa chí Thăng Long Hà Nội trong Thư tịch Hán Nôm, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thăng Long HàNội trong Thư tịch Hán Nôm
Tác giả: Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2007
21. Nhiều tác giả (2012), Tổng tập dư địa chí Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập dư địa chí Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanhniên
Năm: 2012
22. Nguyễn Thị Hồng Nhung (3/2017), Quản lý di tích vùng ven hồ Tây (Luận án Tiến sĩ), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích vùng ven hồ Tây
23. Phòng Văn hóa thông tin quận Tây Hồ (2000), Chùa Trấn Quốc, Phòng VHTT quận Tây Hồ xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Trấn Quốc
Tác giả: Phòng Văn hóa thông tin quận Tây Hồ
Năm: 2000
24. Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1992), Mỹ thuật của người Việt, NXB Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật của người Việt
Tác giả: Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng
Nhà XB: NXBMỹ thuật
Năm: 1992
25. Bùi Thiết (2000), Từ điển lễ hội Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển lễ hội Việt Nam
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
26. Ngô Đức Thịnh (2001), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
27. Mạnh Thường (1999), Đình chùa lăng tẩm Việt Nam, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chùa lăng tẩm Việt Nam
Tác giả: Mạnh Thường
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1999
28. Thích Nguyên Toàn (2013), Tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Thích Nguyên Toàn
Nhà XB: Nhàxuất bản Tôn giáo
Năm: 2013
29. Hà Văn Tuấn, Nguyễn Văn Kự, Phan Ngọc Long (1993), Chùa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tuấn, Nguyễn Văn Kự, Phan Ngọc Long
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
30. Chu Quang Trứ (1975), Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam, NXB Viện Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: NXB ViệnNghệ thuật
Năm: 1975
31. Chu Quang Trứ (1994), Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam, NXB Viện Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: NXB ViệnNghệ thuật
Năm: 1994
32. Chu Quang Trứ (2001), Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc, NXB Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắcdân tộc
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: NXB Mỹ thuật
Năm: 2001
33. UBND quận Tây Hồ (2015), Di tích Tây Hồ, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích Tây Hồ
Tác giả: UBND quận Tây Hồ
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2015
34. Viện nghiên cứu Hán Nôm (2009), Chùa Trấn Quốc - Khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Trấn Quốc - Khảo cứu và tư liệuHán Nôm
Tác giả: Viện nghiên cứu Hán Nôm
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
35. Tân Việt (2001), 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam
Tác giả: Tân Việt
Nhà XB: NXB Văn hóadân tộc
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w