Ðó là con đường hướng đến Chân,Thiện, Mỹ, mà những vị tăng ni đóng vai trò chủ chốt trong việc đào tạo này.Một học giả đã viết: “Thời Giao Châu đô hộ phủ, các lò huấn dục nhân tài ắtphải
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGÔ THỊ LY
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA
CHÙA ĐẬU (THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGÔ THỊ LY
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA
CHÙA ĐẬU (THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
ThS Nguyễn Thị Nhung
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai và thực hiện khóa luận, người viết đã thườngxuyên nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoaNgữ Văn và các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ Văn, đặc biệt làTh.S Nguyễn Thị Nhung – người trực tiếp hướng dẫn
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy côgiáo và các bạn sinh viên đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cũng như tạo mọi điềukiện để người viết hoàn thành tốt khóa luận này
Hà Nội , ngày tháng năm 2019
Tác giả khóa luận
Ngô Thị Ly
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận này làkết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn ThịNhung Kết quả thu được là hoàn toàn trung thực không trùng với kết quảnghiên cứu của những tác giả khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả khóa luận
Ngô Thị Ly
Trang 6MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÙA VÀ HỆ THỐNG CHÙA THỜ TỨ PHÁT TẠI VIỆT NAM 6
1.1 Khái quát chung 6
1.1.1 Khái niệm về chùa 6
1.1.2 Chức năng của chùa Việt Nam 6
1.1.3 Khái quát cấu trúc chùa Việt 9
1.1.4 Khái quát kiến trúc chùa Việt 10
1.2 Hệ thống chùa thờ Tứ Pháp tại Việt Nam 13
1.2.1 Tứ Pháp là gì? 13
1.2.2 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại Việt Nam 15
Chương 2 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CHÙA ĐẬU THƯỜNG TÍN - HÀ NỘI 29
2.1 Khái quát về chùa Đậu 29
2.1.1 Vị trí địa lý 29
2.1.2 Tên gọi 30
2.1.4 Các đợt trùng tu di tích chùa Đậu 32
2.2 Giá trị văn hóa 34
2.2.1 Lễ hội chùa Đậu 34
2.3 Giá trị kiến trúc, lịch sử tại chùa Đậu 35
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN, VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TẠI CHÙA ĐẬU 42
Trang 73.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy tại khu di tích chùa Đậu ( Thường Tín – Hà Nội ) 42 3.2 Những biện pháp phát huy và bảo tồn tại di tích chùa Đậu
( Thường Tín – Hà Nội ) 44
3.2.1 Thành lập một tiểu ban Quản lý di tích chùa Đậu 44 3.2.2 Tăng cường các công tác kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm kịp thời 45 3.2.3 Tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội 46 3.2.4 Tăng cường công tác bảo vệ di vật, cổ vật, đồ thờ tại di tích 47 3.2.5 Chính sách đầu tư và thu hút đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ tại khu di tích chùa Đậu 47
KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Nếu người Pháp tự hào về thủ đô Pari hoa lệ, người Trung Hoa tự hào
về dòng Trường Giang cuồn cuộn sóng dâng, thì tại sao người Việt Namchúng ta không tự hào về một mảnh đất “ nghìn năm văn hiến” Trong bốicảnh chung của sự nghiệp đổi mới, bên cạch những biến đổi đáng khích lệ vềmặt kinh tế, đời sống tinh thần của nhân dân ta có nhiều khởi sắc và nảy sinhnhu cầu phục hồi nền văn hóa truyền thống
Trong những tôn giáo được nhà nước công nhận (gồm: Phật giáo,Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Đạo Cao Đài , Hòa Hảo, Hồi Giáo ), Phật giáo
là tôn giáo lớn nhất và số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam, Phật giáo cómột vị trí quan trọng trong cơ cấu tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa Việt Namhiện nay nó đang được phục hồi và phát triển Nhiều ngôi chùa được xâydựng lại, tu bổ thêm, với những lễ nghi phong phú, đa dạng Điều đó ảnhhưởng không hề nhỏ đến đời sống tín ngưỡng , tôn giáo của các cộng đồngdân cư
Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta từngàn đời nay Đồng thời Hà Nội cũng là trung tâm Phật giáo lớn mang tínhđặc thù Việt Nam từ truyền thống tới hiện đại Hà Nội đang diễn ra quá trình
đô thị hóa mạnh mẽ để hòa nhịp với nền kinh tế thị trường
Hà Nội thực sự là một trung tâm du lịch rất lớn, thu hút mỗi năm hàngtriệu khách thăm Nơi đây đứng đầu cả nước với gần 10% tổng số di tích,trong đó có 1164 di tích cấp quốc gia và QG đặc biệt Có thể tìm các tài liệuchuyên khảo hoặc đi xem tận mắt những di chỉ khảo cổ tập trung dày đặc ởven sông Hồng, sông Đáy và sông Đuống để thấy rõ hơn vị thế đã có từ xưa.Cạnh con sông Nhuệ hiền hòa, có một con đường gập ghềnh đất đá đưavào sâu trong làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín Nằm biệtlập ở một góc làng, giữa mênh mông ruộng nước, cánh đồng bao bọc là Chùa
Trang 9Đậu, ngôi chùa nổi tiếng vì kiến trúc nơi đây mang những nét đặc trưng củanền nghệ thuật dân gian hưng thịnh từ thế kỷ XVII và kiến trúc mang hơihứng gợi nhớ đến các Vương triều (thời Lý – Trần – Lê – Nguyễn) Nơi đâycòn lưu giữ được đôi rồng đá từ Lê vào giữ thế kỉ XVII.
Hiện nay chùa còn lưu giữ hai nhục thân bất hoại của hai vị Thiền sư trụtrì là Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường từ thế kỉ XVII cho đến nay, thì hai
Xá lị vẫn còn gần như nguyên vẹn Đây là hai xá lị đầu tiên của Việt Nam.Chùa còn lưu giữ nhiều đồ vật quý do Vua Lê, Chúa Trịnh ban, còn cảngôi chính điện thờ Pháp Vũ mang đậm nét văn hóa bản địa Trước khi bịthực dân Pháp đốt (năm 1947) Giờ đây, chùa Đậu đem lại cảm giác luyến tiếccho mọi người trước khu cảnh nền chính điện đồ sộ với những chân cột đá lớntrơ trụi còn sót lại sau khi bị thực dân Pháp đốt, hai dãy hành lang đặt các bứctượng La hán, bia đá cổ, hương án thờ xuống cấp nghiêm trọng, những kèocột, mái ngói mục nát, xập xệ Hiện nay chùa đang tu sửa nhà thờ tổ và sắp tới
sẽ tiếp tục tiến hành với một trong hai dãy hành lang Với nguồn kinh phí cóhạn do Nhà nước hỗ trợ, chùa chỉ có thể đủ để chống xuống cấp một số khuvực chính
Có thời gian, Chùa Đậu từng có thời gian gây xôn xao dư luận vì vụ
kẻ gian hung dữ đột nhập trong một đêm mưa gió tối trời Sau sự cố này, nhàchùa vẫn luôn có bốn thầy trò sư Thích Thanh Nhung túc trực cùng một bảo
vệ xã hỗ trợ, dự định sẽ tăng thêm người Mặc dù từ đó đến nay chưa xảy rachuyện gì nhưng với địa thế hiện tại của chùa chưa phải là thật sự kiên cố, lại
ở nơi vắng vẻ đồng không mông quạnh vẫn luôn gợi cho mọi người nỗi lo kẻgian từ nơi khác đến
Nói đến chùa Đậu, chắc hẳn trong chúng ta không ai biết đây là ngôichùa nổi tiếng của Hà Tây, nơi đây được mệnh danh là danh lam đệ nhất trờiNam Chùa nằm ở một gò đất cao giữa cánh đồng làng Gia Phúc (xã NguyễnTrãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) với cây cối um tùm và được bao
Trang 10bọc bởi các hồ nước xung quanh, phía sau là sông Nhuệ hiền hòa chảy qua,quả là nơi đắc địa.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nói về chùa Đậu thì có rất nhiều các bài báo hay những cuốn sách nói vềchùa Đậu
+ Nguyễn Văn Công, Huyền bí tượng táng chùa Đậu Đây là bài được
viết trên báo saigondautu.com Bài báo nói về một hình thức mai táng hiếmgặp trên thế giới ở nước ta hình thức mai táng này xuất hiện lần đâu tiên vàothế kỉ XVII, khi hai thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường được đệ tửgiữ nguyên thân xác khi qua đời tại chùa Đậu( thôn Gia Phúc, xã NguyễnTrãi, huyện Thường Tín, TP Hà Nội)
+ Trần Mai, Thăm chùa Đậu chốn linh thiêng , cổ kính Được viết trên
báo Hà Nội- Thủ Đô Của Chúng Ta (hanoi.qdnd.vn) được viết ngày07/04/2017 Chùa Đậu nới thờ bà Đậu hay bà Pháp Vũ, một trong bốn nữathần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam Chùa được khởi dựng từ thế kỉ III
và sang cất khang trang vào thời Lý Chùa Đậu được trung tu theo hệ thống tứpháp của nhà Phật vào thời Lê (thế kỉ XVII - XVIII) Năm 1994 chùa đượcxếp hạng di tích lịch sử và nghệ thuật loại A Chùa Đậu được Trung tâm Sách
kỉ luật Việt Nam là ngôi chùa có tượng nhục thân đầu tiên tại Việt Nam vàxác nhận kỉ lục có Quyển sách ghi lịch sử chùa bằng đồng xưa nhất Việt Nam
+ Nguyễn Ngọc Tín, Chùa Đậu- một di sản văn hóa giá trị của dân tộc,
viết trên BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA (baotanglichsu.vn) Viết về kiếntrúc của chùa và nơi đây còn giữ lại hai xá lợi của hai vị thiền Sư Vũ KhắcMinh và Vũ Khắc Trường
+ Võ Văn Tường, Chùa Đậu – Thành Đạo Tự nơi thờ nhục thân hai
Thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm Được viết trên báo Giác Ngộ online Viết về
Xá lị đầu tiên tại Việt Nam, và cuốn sách đồng xưa nhất Việt Nam
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
+ Khẳng định giá trị văn hóa và giá trị lịch sử Chùa Đậu, chùa là mộttrong những ngôi chùa thờ Tứ Pháp (Vân, Vũ, Lôi, Điện tức là Mây, Mưa,Sấm, Chớp)
+ Giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử chùa Đậu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Chứng minh Chùa Đậu là một trong những chùa thờ tứ Pháp tại ViệtNam
+ Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lýtrong vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị chùa Đậu (Hà Nội)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chùa Đậu trên địa bàn huyện Thường Tín – Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Chùa Đậu trên địa bàn huyện Thường Tín – Hà Nội
Thời gian: Từ khi chùa được xây dựng cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương điền dã, tư liệu
Phân tích, tổng hơp
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp phỏng vấn
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÙA VÀ HỆ THỐNG CHÙA THỜ TỨ
PHÁT TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung
1.1.1 Khái niệm về chùa
Trong văn hóa đời sống của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúngkhác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am… Nhưng không phải aicũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó
“Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh
hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni Mọi người kể
cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảngkinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo
Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.”Trích báo Hành Trình Tâm Linh (https://hanhtrinhta m linh.c o m )
1.1.2 Chức năng của chùa Việt Nam
Ngôi chùa từ lâu đã hiện hữu và gắn bó thiết thân trong mỗi chúng ta.Khắp nơi nơi trên cả nước, ở đâu cũng có chùa, lớn có, nhỏ có, kim có, cổ có,tất cả đã trở thành một
Về tác dụng của ngôi chùa, trước hết phải nói ngôi chùa mang chức năng
là một cơ sở giáo dục Nói chung, dù chùa nhỏ hay lớn, đơn sơ hay hoànhtráng, đều có chung một mục đích là mang tính tác dụng giáo dục Thử nhìnlại, những giai đoạn hưng vong, thịnh suy của dân tộc và Phật giáo, lịch sử đãchứng minh, bất luận thời nào, ngôi chùa cũng đóng một vai trò quan trọngtrong việc điều hướng giáo dục quần chúng nhân dân Có thể nói chùa là cáinôi là cái lò rèn luyện chuyên đào tạo cho mọi người hướng thiện tu hành
Có những ngôi chùa trở thành như một ngôi trường làng, đề ra chươngtrình giáo dục thực tiễn nhằm xây dựng đạo đức nhân bản cho con người.Mục đích là nhằm đào tạo con người có được đời sống tâm linh phong phú và
Trang 14trên hết là chất liệu văn hóa tình người Ðó là con đường hướng đến Chân,Thiện, Mỹ, mà những vị tăng ni đóng vai trò chủ chốt trong việc đào tạo này.Một học giả đã viết: “Thời Giao Châu đô hộ phủ, các lò huấn dục nhân tài ắtphải ở tại các ngôi chùa Phật giáo cổ xưa, vốn thân cận với nhân dân bị trị,nơi quy tụ tín ngưỡng của nhân dân” (Phật giáo Việt Nam, Nguyễn ÐăngThục, T, 284)
Ngoài ra, ngôi chùa còn là một hình ảnh thân thương rất quen thuộc gầngũi với nếp sống hiền hòa của những người dân quê mộc mạc Câu nói: “Ðấtvua, Chùa làng” đã cho ta thấy cái giá trị tín ngưỡng thiêng liêng trong tình tựhài hòa gắn bó thể hiện trong nếp sống tình cảm chân chất đơn thuần củangười dân quê Vì chùa là mái ấm che chở ấp ủ nuôi dưỡng đời sống tâm linhcủa họ Họ xem ngôi chùa như là một mái ấm gia đình chung Do đó, nên họcùng nhau quyết tâm đóng góp xây dựng bảo vệ và phát huy mạnh mẽ Máichùa là niềm an ủi xoa dịu những nỗi buồn u uất đè nặng trong tâm hồn của
họ Và vì thế nên họ không thể nào quên được
“Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa”.
Bỏ quê bỏ cả gió trăng nhưng niềm đau nhất là phải bỏ chùa Làm sao cóthể quên được! Vì chùa là nơi mà họ đã từng tới nơi yêu thương tràn đầynhững kỷ niệm yêu thương Ðã thế, bảo sao họ có thể quên lãng cho được Ðó
là một tình cảm thật thân thiết đậm đà nồng nàn, chứng tỏ hình ảnh của ngôichùa nó đã ăn sâu trong lòng người Việt như là một dấu ấn sâu đậm không thểnào phai nhòa trong tâm trí của họ Chính vì lẽ đó, nên chúng ta cũng không
lạ gì, khi thấy bất cứ nơi đâu có đông đảo đồng hương Phật tử sinh sống, thìchắc chắn nơi đó sẽ có những ngôi chùa mọc lên
“Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông”.
Trang 15“Chùa là một biểu tượng thiêng liêng thấm sâu vào lòng dân tộc Việt từ ngànxưa Như nước thắm sâu vào lòng đất Dù đã trải qua mấy ngàn năm thăngtrầm, thịnh suy, vinh nhục, vật đổi sao dời, qua phân ly tán, nhưng hình ảnhcủa ngôi chùa vẫn mãi mãi hiên ngang hiện hữu tồn tại trong lòng người dânViệt”.
Đúng như lời thơ của Vũ Hoàng Chương đã viết:
“Dân tộc ta không thể nào thua Ðạo Phật ta đời đời sáng lạn Dầu trải mấy qua phân ly tán Nhưng vẫn còn núi còn sông Còn chót vót mãi ngôi chùa”.
Ðây cũng còn là nơi để chúng ta tôn thờ hướng lòng tri ân và báo ân đốivới các bậc tiền nhân, những vị đã có công lao dựng nước và giữ nước, gầnnhất là các đấng sinh thành đã dày công khó nhọc giáo dưỡng chúng ta nênngười
Về giá trị đạo đức, “ngôi chùa còn có tác dụng trực tiếp hướng dẫn conngười hướng thiện Nền luân lý đạo đức của Phật giáo dạy người Phật tử phải
ăn ở hiền lành” Năm giới cấm của người Phật tử tại gia, đó là 5 nguyên lýđạo đức căn bản mà người Phật tử phải giữ gìn cẩn thận Ðồng thời phải ýthức và áp dụng lý nhân quả vào đời sống Có thế thì người Phật tử mới tránhđược những điều tội lỗi Ðó là hướng tiến thăng hoa đạo đức của người Phật
tử trong việc tu thân tề gia và đem lại nhiều lợi ích cho nhân quần xã hội Thửhỏi được thế do đâu? Nếu không có ngôi chùa, thì làm sao người Phật tử cóthể quy tụ công phu thực tập tu học thành công như thế
Như vậy, ngôi chùa ngoài hình thức ngoại diện như lối kiến trúc thẩm
mỹ mang tính chất nghệ thuật tuyệt hảo biểu trưng đầy đường nét hoa văn dântộc tính ra, nó còn có nhiều chức năng nhằm nuôi dưỡng đời sống tâm linh vàđóng góp xây dựng nếp sống đạo đức hiền hòa cao đẹp cho con người theo
Trang 16chiều hướng thánh thiện Ðồng thời, nó cũng còn đáp ứng được những nhucầu tín ngưỡng, thờ phụng, lễ bái, tu học, sinh hoạt xã hội của mọi tầng lớpdân chúng.
1.1.3 Khái quát cấu trúc chùa Việt
Theo cấu trúc chùa, người ta chia ra thành 04 kiểu cấu trúc: Chùa chữĐinh, chùa chữ Công, chùa chữ Tam, chùa kiểu Nội công ngoại quốc
Chùa chữ Đinh
Là chùa có thường định hay còn gọi là chính điện (nơi đặt bàn thờ phật)được nối thẳng góc với nhà Bái đường hay còn gọi là tiền đường Tiêu biểucho kiểu kiến trúc này phải kể tới: Chùa Bích Động (Ninh Bình), chùa TrămGian (Hà Nội), chùa Dư Hàng (Hải Phòng)…
Trang 17Là kiểu chùa có 03 nếp nhà song song thường gọi là chùa Hạ – chùaTrung – chùa Thượng Chùa Tây Phương, chùa Kim Liên (Hà Nội) tiêu biểucho kiểu kiến trúc này.
Chùa kiểu Nội công ngoại quốc
Là kiểu chùa có 02 hành lang dài nối nhà tiền đường ở phía trước vớinhà hậu đường (còn gọi là nhà tổ hay nhà tăng) phía sau tạo thành một tổngthế hình chữ nhật bao bọc lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện và các côngtrình kiến trúc khác ở giữa Về mặt bằng, bố cục chùa phía trong có dạng chữCông, phía ngoài có khung bao như chữ Khẩu hoặc chữ Quốc
1.1.4 Khái quát kiến trúc chùa Việt
Trong khuôn viên chùa, người ta xây dựng các hạng mục công trìnhtheo hai cách Một là cấu trúc theo mô hình chữ “quốc”, hai là cấu trúc theo
mô hình chuôi vồ và phân chia thành năm khu vực kiến trúc trung tâm, tiền,hậu, tả, hữu Tại khu vực trung tâm, công trình kiến trúc được ưu tiên là tòatiền đường, thiêu hương, tòa tam bảo, hai tòa hành lang và nhà tổ Hai tòahành lang được dựng vuông góc với tòa tiền đường và nối từ hai đầu nhà tiềnđường và hai đầu nhà tổ, tạo thành khố kiến trúc khép kín
Trang 18Thông thường, tòa tiền đường của những ngôi chùa thuộc Phật giáo Bắctông của các làng hầu hết là hướng Tây hoặc Tây – Nam, Tây – Bắc núi.Người ta chỉ chọn hướng khác khi không chọn được ba hướng trên Ngôi chùacũng có chiều cao vừa phải, không cao quá.
Tại kiến trúc trước (mặt tiền) có tam quan và gác chuông
Tam quan: đơn giản chỉ là có cái cổng có ba cửa để vào chùa Trước đây
và cả hiện nay có người nhận nhầm tam quan là tam quán và giải thích đó làbiểu tượng ba phép quán của Phật giáo là Không quán, Giả quán và Trungquán Thực ra tam quan chỉ là tam quan, tức là cái cổng có ba cửa Trong sáchQuan Âm thị Kính, sư thầy khuyên tiểu Kính tâm khi tiểu bị bắt vạ, có câu:
“Dù oan hay con không oanThì con hãy ở tam quan mái ngoài”
Cũng có chùa, tầng trên của tam quan được dùng làm gác chuông
Gác chuông thông thường được làm hai tầng Tầng trên dùng để treochuông, tầng dưới được cổng vào chùa ( nêu tam quan đồng thời là gác
chuông) Nhưng thông thường , tam quan và gác chuông là hai đơn nguyên xây dựng khác nhau, và như vậy, tầng dưới của gác chuông, người ta bày tượng tứ trấn với hình dáng đâù đội mũ trụ, người mặc võ phục, tay cầm võkhí, đứng ở bốn góc, hướng vào trung tâm
Khu vực phía sau (mặt hậu): thường là nhà hậu, nhà tổ, vườn tháp, nơi
an vị xá lị, các vị tăng ni đã từng trụ trì, hành đạo tại chùa qua các thời kì.Khu vực bên phải, có thể là nhà mẫu, am thờ,
Khu vực bên trái: có thể là nhà trai, nhà khách, nhà tạo soạn, các côngtrình phụ khác
Ở hai khu vực này (khu tả và khu hữu), tùy theo địa thế khu đất và sởthích người trụ trì, có thể người ta xây dựng nhà mẫu, am thờ ở khu vực bêntrái xây dựng nhà trai, nhà khách, nhà tạo soạn ở khu vực bên phải của khuvực trung tâm
Trang 19Ngoài công trình xây dựng trên đây trong khuôn viên chùa, một số chùacòn có các công trình kiến trúc khác Chẳng hạn, tại chùa Dâu (Thuận Thành,bắc Ninh) còn có tòa Tam bảo hậu, có hành lang tiền, có tháp Hòa phong, tòanghinh khách; chùa Bút tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh) còn có tòa Tích thiện
am, phủ thờ, nhà bia; chùa Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), chùa Thầy (SócSơn, Hà Nội) còn có tòa thủy đình; chùa Hàm Long (Bắc Ninh) và một sốchùa khác còn có tòa Ly trần điện
Đặc biệt trong kiến trúc chùa Dâu và chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, người
ta đều lấy con số 9 để xây dựng chùa Nếu tính theo mặt bằng xây dựng từngoài vào có 9 lớp: cầu, tháp, tiền đường, thiêu hương, thượng điện, tích thiện
am, nhà khách, phủ thờ , hậu đường (chùa Bút Tháp) Nếu tính theo phươngthẳng đứng một công trình kiến trúc của các chùa này cũng có 9 bậc, đó làtháp Hòa Phong ở chùa Dâu (thời Trần, tháp Hòa Phong có 9 tầng, sau khi bị
đổ, thời Nguyễn xây lại còn 3 tầng), và tòa Cửu phẩm liên hoa ở chùa BútTháp cũng có 9 tầng
Tất cả các công trình kiến trúc có mục đích thờ tự trong khuôn viênchùa, người ta đều treo các bức hoành phi, câu đối, có một số nơi còn có cácbức cuốn thư bằng chữ Hán (hoặc chữ Nôm) với nhiều thể chữ khác nhau, rấtsinh động Các bức hoành phi, câu đối, cuốn thư đó, một mặt, giới thiệu chongười đến thăm chùa biết nơi thờ đó gọi là gì, vị được thờ đó là ai, hành trạngcủa vị đó như thế nào, mặt khác cũng tạo không gian thờ tự thêm phong phú
về phương diện văn hóa
Vật liệu được dùng để xây dựng chùa, ở buổi ban đầu là tranh tre, trìnhtường đất, sau mới dùng đá ong (nơi có núi) Sau này mới có khung gỗ, xâytường gạch, lợp ngói
Khác với nhiều ngôi chùa ở Trung Quốc, các ngôi chùa cổ ở Miền BắcViệt Nam không có các tòa: điện Văn Phù, điện Phổ Hiền, điện Già lam vàcũng không có lầu trống (đối diện với lầu chuông), quy mô xây dựng các tòa
Trang 20nhà cũng nhỏ hơn nhiều, khuôn viên chùa cũng không mở rộng như nhiềuchùa ở Trung Quốc (trừ một số ngôi chùa mới được xây dựng gần đây)
1.2 Hệ thống chùa thờ Tứ Pháp tại Việt Nam
1.2.1 Tứ Pháp là gì?
Theo Bách khoa toàn thư mở (https://vi.wikipedia.org ) “Tứ pháp là một
ngưỡng Việt Nam g ồm: Mây – Mưa – Sấm – Chớp, đại diện cho các hiệntượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp Sau nàykhi Phật giáo vào Việt Nam thì xuất hiện tín ngưỡng Tứ pháp với truyềnthuyết về Phật M ẫu M an Nươn g ” Tuy cai quản các vấn đề tự nhiên nhưVân - Vũ - Lôi - Điện (mây, mưa, sấm, chớp) nhưng khái niệm Tứ Pháp khácvới các Thần trong tín ngưỡng dân gian ở chỗ: nếu chư thần là cái gì đó thuộc
vê tự nhiên có quyền năng ban phúc giáng họa thì Tứ Pháp là do Phật, Bồ Tát
vì tâm đại bi hóa hiện ra để thỏa mãn các mong cầu của chúng sinh, tức TứPháp cũng là giả danh mà bản thể căn bản là Từ Bi, Trí tuệ Như vậy TứPháp là sự "Phương Tiện" biến hóa các Bồ Tát ra các Vị cai quản các hiệntượng tự nhiên để cho nhân dân cầu mưa, cầu mát chứ không phải các thần tựnhiên thâm nhập vào Phật giáo, tuy là có điểm chung nhưng ý nghĩa lại khác
xa nhau
Liên quan đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn có hệ thống các chùa gọi là
Tứ pháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đ ồng bằng B ắc B ộ Các vị đó gồm
Pháp Vân (chủ quản mây)
Pháp Vũ (chủ quản mưa)
Pháp Lôi (chủ quản sấm)
Pháp Điện (chủ quản chớp)
Tuy được dân gian gắn cho vai trò như các thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp
tự nhiên nhưng tên gọi có chữ "Pháp" đứng phía trước cho thấy các vị vẫnthuộc về Phật giáo Phật giáo quan niệm "chư Pháp do duyên sinh" tức các
Trang 21khái niệm, sự vật như sông, núi cây cỏ, thần mây, ý tưởng Là các pháp vốn
do nhiều nhân duyên tạo thành dựa trên nền tảng chung của các pháp là TánhKhông (đại diện bởi Thạch Quang Phật), và các vị Phật, bồ tát muốn tạo lợiích cho vô lượng chúng sinh có thể hóa ra cả các vị thần, trời, vua, để giúp
đỡ họ Được sinh ra từ Phật giáo nên họ được gọi là Tứ Pháp chứ không ai gọi
là Tứ Thần Ngay tên gọi bốn ngôi chùa Thiền Định – Thành Đạo – PhiTướng – Trí Quả cũng nêu biểu các giai đoạn tu tập Phật giáo chứ không phảitín ngưỡng thần linh
Các tượng Tứ Pháp rất đặc biệt, tuy các tượng còn tồn tại đa số là tạc lạivào thế kỷ XVII - XVIII, được gọi là các "bà" nhưng tượng không hề ảnhhưởng của tín ngưỡng Mẫu bản địa vốn phát triển giai đoạn này mà vẫn giữđược những nét cổ kính như khuôn mặt của phụ nữ Ấn độ, dáng cao to (Phápvân) và điểm chung là đầu tượng là đầu "bụt ốc'' tức tóc xoăn bện lại như cácpho tượng Phật Đây là hình ảnh khác xa với tên gọi các "bà" hay hình ảnhmẫu, nữ thần đương thời Tượng Tứ Pháp lại không bao giờ tạc bầu ngực củaphụ nữ thay vào đó cơ thể mang đậm phong các Nam giới, có lẽ cách gọi các
"bà" và tượng tạc thân nam là dạng kết hợp Từ Bi – Trí Tuệ của nhà Phật(trong Phật giáo người nam biểu thị cho phương tiện, từ bi, người nữ biểuhiện cho trí tuệ, các Phật, bồ tát là các vị viên mãn hay tích lũy hai phẩm tínhnày) Mặc dầu phần đầu các pho tượng Tứ Pháp được tạc giống như chư Phậtnhưng các tượng này thường là tượng sơn son chứ không thếp vàng nhưtượng Phật
Trong bốn vị Tứ Pháp thì Pháp Vân, Pháp Vũ là hai vị được thờ cúng rộng rãi nhất Thông thường Pháp Vân được coi là vị đại diện cho cả Tứ
Pháp.Ở bất cứ tôn giáo nào, ngoài những ý tưởng xây nên học thuyết, bên cạnh đó là cả một hệ thống kiến trúc minh họa cho ý tưởng trên, các công trình kiến trúc hoàn thành dựa trên nhận thức, thói quen, sở thích xây dựng
Trang 22của mỗi dân tộc, cho nên khó mà nói rằng các công trình kiến trúc bằng đá đãhơn các dạng kiến trúc được dựng từ các chất liệu khác.
1.2.2 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm tín ngưỡng là gì?
Tín ngưỡng “là một phương diện quan trọng của đời sống tinh thần conngười, đồng thời còn là một hiện tượng văn hóa độc đáo, phản ánh được niềmtin, ước vọng của con người từ xưa cho đến nay” trích bài Tìm hiểu hiểu kháiniệm tín ngưỡng từ góc nhìn văn hóa Việt Nam (http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn) Cho nên, tín ngưỡng nhận được sự quan tâm của các nhànghiên cứu ở nhiều chuyên ngành khác nhau như văn hóa dân gian, tôn giáohọc, nhân học,… có thể nói tín ngưỡng được hiểu theo nhiều góc nhìn khácnhau
Đầu tiên “ tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thế mang tínhđộc đáo và biểu hiện khá rõ được đời sống vật chất, tinh thần của conngười, nhất là trong hoàn cảnh riêng của văn hóa và người dân Việt”.Ngoài ra, tín ngưỡng còn đóng góp vào việc hình thành nên các giá trịtruyền thống của văn hoá và tính cách dân tộc, kết nối cả cộng đồng lại vớinhau
Thứ hai “ tín ngưỡng còn là hệ thống những niềm tin và cách thức thểhiện những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của con người đốivới một hiện tượng siêu nhiên, xã hội, thậm chí là một sự vật nào đó, hoặc
cá nhân có liên quan đến cuộc sống thực tại của họ đã được thiêng hóa đểcầu mong sự che chở, giúp đỡ”
Thứ ba, “từ quan điểm của trường phái Tương đối luận văn hóa, chorằng mỗi nền văn hóa đều có tính độc đáo riêng, không phân biệt cao,thấp, cho nên tín ngưỡng cũng vậy, như việc thực hành tín ngưỡng phụthuộc vào những bối cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng nhưtrình độ nhận thức của chủ thể sáng tạo ra các nền văn hóa đó” Ở một góc
Trang 23khác, cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, qua việc nghiên cứu tín ngưỡng sẽgiúp cho nhận diện rõ được trình độ nhận thức, không gian và thời gian,phương thức sống, chiều sâu của một nền văn hóa mà cá nhân và cộngđồng đó đang tồn tại Như GS.Ngô Đức Thịnh đã có một nhận xét rằng:
“Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên
đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa
mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ”.
Thứ tư “tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn tồn tại vớinhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của con ngườibằng các hành vi cụ thể” Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh thì cócách nhìn cụ thể hơn: “Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hìnhthức văn hoá đặc thù, đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và pháttriển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nónhững hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” Thực chất, tínngưỡng thực ra còn là môi trường sản sinh và bảo tồn nhiều sinh hoạt vănhoá dân gian Con người muốn chuyển đạt nguyện vọng của mình lên thầnlinh thì phải cần có các công cụ, phương tiện như: Múa hát, tượng thờ,nghi lễ, phẩm vật, nơi thờ cúng… Đặc biệt, một ví dụ hết sức xác thực,
điển hình mà Ngô Đức Thịnh đã đưa ra là: “ Từ nhân lõi tôn giáo tín
ngưỡng này, đạo Mẫu đã sản sinh và tích hợp nhiều yếu tố, giá trị văn hoá: Văn học đạo Mẫu, diễn xướng đạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trí, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng gắn với đạo Mẫu”.
Thứ năm, bên cạnh sự giống nhau, đó là “niềm tin vào cái thiêng củacon người, tín ngưỡng và tôn giáo còn có sự khác biệt ở các yếu tố thuộc
về tôn giáo như: Giáo chủ, giáo lý, giáo điều và giáo hội mà tín ngưỡngkhông có Ngoài ra, ở nước ta, tín ngưỡng và tôn giáo còn có sự giao thoa
Trang 24lẫn nhau, do đặc tính dung hòa - một đặc điểm truyền thống của văn hóadân tộc” Chính vì thế, không thể không quan tâm tìm hiểu đến sự hiệndiện của các yếu tố tôn giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng và ngược lại Ởgóc độ khác, trong thực tiễn, các tín ngưỡng dân gian và tôn giáo lại có sựlồng ghép với nhau trên một số nguyên lý, từ đó, thống nhất về mặt lịch sửcác niềm tin của người dân, tránh những xung đột, tạo ra những sức mạnh
cố kết cộng đồng mới, có tính hiệu quả mạnh mẽ Đây là chức năng quantrọng của tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng mà không thể không nhắcđến khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng, tác động của vấn đề này đối với cuộcsống con người
Thứ sáu “việc giao lưu và hội nhập với nhiều nền văn hóa trên thếgiới là một nét đặc trưng quan trọng của văn hóa Việt Nam qua hàng ngànnăm lịch sử Vậy nên, trong nghiên cứu tín ngưỡng thì cần chú ý đến hìnhthức tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng ngoại nhập” Tín ngưỡng bản địa làtín ngưỡng được hình thành bởi cư dân bản địa ở một quốc gia hay mộtvùng đất, địa phương nào đó Ví dụ, tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ, Tứbất tử, Thành Hoàng bổi cảnh là các loại hình tín ngưỡng bản địa, riêng cócủa người Việt Nam Khác với loại tín ngưỡng này, tín ngưỡng ngoại nhập
là các hình thức tín ngưỡng được du nhập từ bên ngoài qua quá trình di cưcủa tộc người, sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá lẫn nhau Chẳng hạn, tínngưỡng thờ Quan Công và Thiên Hậu ở Việt Nam thuộc loại hình tínngưỡng ngoại nhập, do cộng đồng người Hoa di dân từ vùng Hoa NamTrung Quốc mang đến và đã được người Việt tiếp thu
1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại Việt Nam
Có thể nói Tứ Pháp là “một hình tượng duy nhất xuất hiện trên ban thờcủa người Việt trong tư cách vừa là thần vừa là Phật” Và cũng có thể nói,Phật giáo Tứ Pháp là Phật giáo dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộcViệt - dân tộc mà nguồn sống chủ yếu dựa trên nền nông nghiệp lúa nước
Trang 25Nhìn vào ban thờ và hệ thống lễ nghi của tôn giáo tín ngưỡng này, có thể nhưthấy rõ người nông dân Việt đã thể hiện khát vọng truyền đời của một cách cụthể thiết thực và đặc sắc như thê nào.
Trong quan sát của người xưa, để có được một trận mưa phải có ít nhất 4hiện tượng thiên nhiên hợp lại đó là mây, mưa, sấm, gió Và họ cho rằng mỗihiện tượng này được làm bởi “phép của một vị thần nào đó”: Phép làm ra mây
do thần Mây Pháp Vân đảm trách, phép làm ra Mưa do Pháp Vũ đảm nhiệm,phép làm Chớp do Pháp Điện phụ trách, phép làm ra Sấm do Pháp Lôi đảmtrách Chắc chắn là trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta, người nông dânViệt có sẵn các thần mây, mưa, sấm, gió mang tính bản địa của mình, bởitrong thế giới quan của những cư dân trồng lúa nước không thể vắng bóngnhững lực lượng siêu nhiên có khả năng tác động đến sự thành bại của một vụgieo trồng, nhất là điều kiện canh tác của người Việt khi ấy còn phụ thuộc rấtnhiều vào thiên nhiên Trong một một chu kì phát triển thì nước và ánh sángrất cần cho sự phát triển của cây lúa theo từng giai đoạn Vậy việc lựa chọnđúng thời điểm để gieo trồng là điều kiện cần thiết cho từng giai đoạn pháttriển của cây lúa và ứng biến linh hoạt với từng loại thời tiết nhất định, chính
vì vậy là lượng nước cũng như ánh sáng tự nhiên sẽ cung cấp cho cây lúarong những giai đoạn nhất định Nhưng trên thực tế thì chọn đúng thời điểmgieo trồng cũng chưa đủ, bởi những nét khí hậu của vùng châu thổ sông Hồng
là nhiệt đới ẩm gió mùa đây là khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa nước thìthời tiết ở đây lại luôn biến đổi theo cái nền cơ bản đó, không phải năm nàothời tiết cũng chiều lòng người (mưa thuận gió hòa) mà còn mưa nắng thấtthường tùy vào lượng mưa và thời điểm mưa nữa, đến lúc cây lúa cần nướcthì thời tiết lại khô hạn, còn những lúc cây lúa chuẩn bị được gặt thì mưatrắng đồng Nên lúc này đòi hỏi con người với thiên nhiên không chỉ dừng ởmức đủ nước và ánh sáng nữa mà còn nâng lên đến mức lượng nước và ánhsáng phải thích hợp với vụ gieo trồng (tức là mưa nắng phải thì) bởi trong chu
Trang 26trình của người Việt việc thích ghi tận dụng các yếu tố thời tiết cũng chính làmột biện pháp kĩ thuật Trước sự thất thường của thời tiết trong hoàn cảnh màcon người chưa làm chủ được thiên nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến việc ngườiViệt sẽ sùng bái các hiện tượng mây, mưa, sấm, gió rồi từ đó trên cở sở ướcvọng của họ mà các thần linh có “khả năng” điều hòa được mưa nắng đã rađời Tuy nhiên do thần thoại Việt đến nay chỉ còn lại những “mảnh vụn” rờirạc nên diện mạo của những thần linh nông nghiệp bản địa này chỉ còn hiệnlên chớp nhoáng trước mắt chúng ta, đủ để chúng ta biết rằng, trước khi chịuảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, người Việt đã có đời sống tâmlinh khá phát triển, với hệ thống tín ngưỡng dân gian mang đậm bản sắc tộcngười Nhờ vào cái nôi này, những thần linh của tín ngưỡng bản địa đã nhưmột “cây gốc” khỏe mạnh đủ nuôi sống “cành ghép” khi tôn giáo này du nhậpvào nước ta giúp nó dễ dàng thích ghi với “ khí hậu thổ nhưỡng” của vùng đấtmới Và “hoa trái” của sự thích ghi này chính là sự ra đời của Phật giáo TứPháp, một hình thức Phật giáo dân gian chỉ có của người Việt Cùng với đó,
sự dung hội giữ Phật giáo và tín ngưỡng dân gian này đã tạo điều kiện để thầnlinh nông nghiệp bản địa theo hào quang của Phật mà “ nâng” quyên thiêngliêng của mình lên một tầm và diện mạo cao hơn
Phật giáo ra đời vào khoảng những thế kỉ đầu Công nguyên (ĐCN), ởvùng đất Bắc Ninh cũ (tức gồm cả Văn Lâm – Hưng Yên và Gia Lâm – HàNội hiện nay) Theo truyền thuyết Tứ Pháp là kết quả của cuộc “hôn phối”thần kì giữ Khâu Đà, một nhà sư Ấn Độ đến truyền đạo ở thành Luy Lâu/Dâu(Thuận Thành – Bắc Ninh) và Man Nương một thiếu nữ bản địa Khâu Đà Latuy là một nhà sư nhưng mà lại biết phép thuật mang yếu tố phù thủy thíchhợp với tín ngưỡng của dân tộc, nên đã nhanh chóng cử dân bản địa chấpnhận tin theo “Nhà sư có phép màu, có thể rút gắn khoảng cách, bay lênkhông trung, đi chỉ bằng một chân Sư có phép làm hết hạn hán, làm tạnhmưa, giúp người chết, cứu người sống, chữa bệnh và loại trừ thiên tai Nhà sư
Trang 27có tài phép phi thường về mọi mặt Dân kính yêu nhà sư như một vị cao tăngvào kéo đến đông như chợ để học đạo” Trong những phép thuật của Khâu Đà
La yếu tố quyết định giúp ngài thu phục lòng người nơi đây, chính là khảnăng, “ Nhà sư đứng dậy nhón chân lên và thể là chỉ trong nháy mắt trời đổmưa to” hay “ Vì nhà sư đó được kể là một trong những năm trăm vị La Hán,được đức Phật phái xuống để điều chỉnh lượng mưa xứ này” Còn ManNương cho dù sau này đã được Phật giáo hóa để trở thành Phật Mẫu thì tronggốc gác Ngài vẫn còn nhiều biểu hiện là thần nước - mẹ nước (bởi khả nănggiúp dân chống hạn hán của Ngài, cũng như việc sinh ra các nữ thần có khảnăng làm mưa), không những thế Ngài còn mang bóng dáng của một “bà mẹ
xứ sở” của người Việt, khi trên đường Đông tiến, hộ đã “dừng chân” lại BắcNinh, trước khi tiếp tục và xuống khai phá những dải đất thấp và vùng venbiển Như vậy có thể thấy cặp đôi “ cha – mẹ” tinh thần của cư dân ở đâytrong giai đoạn này, chính là những thần linh liên quan đến việc điều tiếtnguồn nước, điều này chững tỏ ở môi trường điều kiện tự nhiên ở một khônggian địa lý nhất định sẽ là yếu tố đầu tiên liên quan đến đời sống tâm linh (bộmặt tính chất thần linh) của cộng đồng người Nói một cách cụ thể thì địa bàngốc của Phật giáo Tứ Pháp chính là ở Dâu/ Luy Lâu nay thuộc xã ThanhKhương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có vị trí “nằm ở giữa châu thổBắc Bộ và nằm giữ đồng bằng màu mỡ huyên Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh,Luy Lâu là điểm gạch nối giữ vùng đồng bằng cao Tây Bắc và vùng trũng ởphía Đông Nam, giữ lưu vực sông Hông ở phía Tây và hạ lưu sông Thái Bình
ở phía Đông” Nếu mở rộng ra thì cả tỉnh Bắc Ninh có vị trí tương tự nhưDâu/ Luy Lâu, cũng là giáp ranh giữ châu thổ cao và châu thổ thấp (vùngchâu thổ mang tính chất đầm lầy), là bậc thềm tiếp nối giữ vùng đồi núi vàvùng đất lầy trũng Như vậy Bắc Ninh sẽ là vùng đất cuối của vùng châu thổcao phần đất đầu tiên (ở Phía Đông) của châu thổ thấp, vị thế này trong điềukiện không có đê cũng vẫn bị lũ sông Hồng nhấn chìm (không kể những gò
Trang 28đống , thì cao trình đồng ruộng, làng xóm và đường xá vùng Thuận Thành chỉvào khoảng 3 – 4m cho đến 5 – 6m trong khi mực nước lũ sông Hồng, theonhư Péytavin kỹ sư Sở Trị thủy Bắc Kì của Pháp trong điều kiện không có đê
sẽ ở cốt 7m cho đến 8 – 9m Do vậy vào ĐCN, để trở thành lỵ sở đô hộ củaphong kiến phương Bắc, chắc chắn Thuận Thành được bảo vệ bởi những con
đê nếu không “những vùng đất thấp như vậy trong điều kiện tự nhiên của lũsông Hồng hàng năm, thường xuyên bị ngập vài ba mét trở lên trong vòngmột đến hai tháng” Nhưng sau khi đê được đắp nữa, những vùng trũng (cũngchính là những phần đất giữ hai sóng dất được tạo nên trong hành trình vươn
ra biển của sông Hồng) trong lòng châu thổ không được phù sa bồi đắp nêngiữ nguyên hiện trạng cho tới bây giờ, tạo thành những địa hình buộc conngười nếu muốn sử dụng được hết khả năng của đất phải thích ứng với từngthế đất trong cùng một trũng Từ sự thích ghi tối đa và tối ưu (theo GS TrầnQuốc Vượng) này của người nông dân Việt mà các chân ruộng cao, trũng,chiêm, mùa khác nhau ra đời, cùng với nó là các loại làng khác nhau: làngĐông Chiêm nằm ở rốn trũng, làng Đồng Mùa thì nằm trên biển trũng, bêncạch đó có những làng nửa chiêm nửa mùa Theo cách phân loại tương đối
và tự nhiên như vậy, thì phần lớn các làng thuộc Luy Lâu xưa đều là làngđồng mùa: “ Từ xa xưa vụ mùa đã trở thành khâu quan trọng nhất trong đờisống của cư dân Luy Lâu nếu không nói quá thì toàn bộ đời sống kinh tế , vănhóa, sinh hoạt cộng đồng, phong tục tập quán của họ đều bị chi phối bởi vụmùa” Ở những làng đồng mùa, vấn đề nước cho lúa sẽ được đảm bảo trongmùa mưa với điệu kiện diễn biến thời tiết vụ gieo trồng đó bình thường , cácchu kì, mưa, nắng , gió diễn ra tương ứng với nhịp điệu vụ mùa Tuy nhiên,không bao giờ trời đất cũng chiều lòng người mà cho “mưa thuận gió hòa” ,nhiều khi cũng xảy ra hiện tượng “ trái nắng trở trời” Và khi đó hậu quả màcon người phải hứng chịu thật khó tả, do vậy với người ở làng đồng mùa việc
có đủ nước mưa theo từng giai đoạn của cây lúa là vấn đề mà họ phải quan
Trang 29tâm hàng đầu Phải chăng mà thực tiễn này mà cư dân Luy Lâu xưa “ lựachọn Man Nương và Tứ Pháp – những thần linh có thể đem nước mưa đếncho con người, làm những vị phúc thần bảo trợ cho cuộc sống của họ” Saukhi đã hình thành từ Bắc Ninh tín ngưỡng thờ Tứ Pháp đã theo chân ngườiViệt tỏa ra nhiều nơi thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ, thể hiện ước vọng điều hòanguồn nước “trời ban” của nông dân Trong hành trình mở rộng không gianthiêng này bên cạch việc duy trì những đặc điểm chung mang tính đặc trưng,tín ngưỡng thờ Tứ pháp đã có những chuyển hóa, biến đổi nhất định để ngàycàng phù hợp với nhau cầu tâm linh của người Việt ở từng môi trường haytừng “vị địa hình” cụ thể.
Đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ Tứ pháp được thể hiện ở hình thức
và màu sắc các pho tượng thờ: “ Là một tượng Phật, song không có màu áo cà
sa, mà lộ thân, khiến cho một số nhà nghiên cứu cho là biểu hiện của sự “bộclộ” bầu trời mây Còn màu của tượng? Thường người ta nghĩ tới màu củanước, thực ra đây là màu đặc biệt hợp bởi màu đỏ và đen Có thể chấp nhậnmàu đen gắn với nước còn màu đỏ? Nhiều người nghĩ ngay tới nghĩa âmdương, cho rằng nước có lửa Nhưng còn một nghĩa khác đã tồn tại trong ýthức người Việt là màu đỏ gắn với hạnh phúc, sự phồn thịnh lo đủ, sức sống,khỏe mạnh Phải chăng sự hỗn hợp giữa đen và đỏ mang ý nghĩa biểu tượngcủa việc cầu phồn thực Một điểm cần lưu ý đó là hầu hết các tượng Tứ phápkhông chỉ ngự trên đài sen như các tượng Phật thông thường mà còn đượcngồi trên ngai đặt trong khám, hiện tượng này chỉ càng nhấn mạnh đến nguồngốc “thần” của các ngài, hay là biểu hiện cho sự kết hợp giữa Phật giáo và tínngưỡng dân gian một cách rõ rệt Ngoài những nét chung cơ bản này , sựchuyển hóa biến đổi trong tín ngưỡng thờ Tứ pháp trước hết cũng được thểhiện ở hình thức tạo, tạc tượng Theo nhà mỹ thuật học Trần Lâm Biền thìtượng Tứ pháp ở vùng Bắc Ninh cũ (như Dâu, Thái Lạc) được tạo hình theophong cách tượng Phật: “ Tượng tuân thủ những nguyên tắc của một pho
Trang 30tượng Phật thông thường, cũng với khối tượng trưng cho trí tuệ vô biên, vẫntóc xoắn ốc biểu hiện cho chữ thánh chứa đầy quyền lực ” , nhưng khi đãvượt sông Hồng sang bờ bên này (bờ Nam) thì các Ngài đã hóa Bồ Tát bởiđầu tượng đã đôi Thiên quan Bồ Tát (chùa Sét - Hoàng Mai, chùa Đậu –Thường Tín) Sự biến hóa này (từ Phật sang Bồ Tát) đã phản ánh một sự thậtlịch sử: tôn giáo tín ngưỡng muốn tồn tại luôn phải biến đổi để thảo mãn đượcnhững đòi hỏi của các tín đồ Theo Phật thoại, Bồ Tát đã đủ hạnh nguyện đểnhập Niết bàn, thành Phật, nhưng do từ tâm, ngài quay trở lại thế nhân để cứugiúp chúng sinh, ngài vì đời hiện tại mà nhập thế nên dân gian thờ ngài làmong có một sự giúp đỡ gần gũi hơn mang tính thực dụng hơn Có thể là khikhai phá xong vùng châu thổ Bắc Bộ, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước củangười Việt phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng nước mưa trong sản xuất và sinhhoạt đã định hình thành tập quán, nên nhu cầu điều hòa nguồn nước (mưa)theo từng thời điểm của vụ gieo trồng trở thành một nhu cầu bức thiết củangười nông dân Trong hoàn cảnh xã hội đương thời, ngoài việc sử dụngnhững iện pháp kĩ thuật, người ta vẫn phải viện đến sự “ hỗ trợ” của thần linh
và hiện tượng chuyển hóa từ Phật sang Bồ Tát trong tín ngưỡng thờ Tứ pháp
ở bên phía bờ Nam sông Hồng phải chăng cũng nhằm mục đích này?
Các lễ hội thường niên thuộc hệ thống Tứ pháp đều được tổ chức trongkhoảng thời gian từ sau tết Nguyên Đán cho đến tháng Tư (âm lịch), theonông lịch của người Việt cổ, đây chính thời gian bắt đầu bước vào một chutrình sản xuất mới, chuẩn bị bước vào vụ gieo trồng lúa mới, nên ý nghĩa củanhững lễ hội này thường để cầu “mưa thuận gió hòa” cho cả năm Trong tiếntrình lễ hội đều có các ghi thức rước nước, cướp nước, (tùy từng lễ hội),những lễ thức này được diễn ra với nhiều hình thức khác nhau , ý nghĩa khởinguyên của những của những nghi lễ đó không hề khác nhau, đều là để cầu “hòa cốc phong đăng” Tuy nhiên điểm đặc biệt trong tín ngưỡng thờ Tứ pháplại nổi nên các lễ cầu đảo, bởi đây chính là những lễ thức thể hiện rõ nhất ước
Trang 31vọng điều hòa được nguồn nước của người nông dân Việt Hiện nay khi tiếpxúc với các truyền thuyết hay thần tích về Tứ pháp, phần lớn các bản kể đểchỉ nói đến sự linh ứng của các Ngài trong việc chống hạn hán và làm mưa,chứ không thấy nhắc đến khả năng dừng mưa của các Ngài Nhưng cho đếnthời Lý, chính sử đã nghi nhận việc rước Phật Pháp Vân để cầu tạnh: “QuýSửu, Thái Ninh năm thứ hai, Tống Hy Ninh năm thứ sáu Bấy giờ mưa dầm,rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh” Có thể cho rằng một hoặc nhiều vịthần có khả năng làm mưa và làm cả tạnh vẫn còn tồn tại trong dân giantrước khi Phật giáo du nhập vào nước ta và thể hiện trong hình tượng bàDâu – nữ thần nông nghiệp của người Việt cổ Việc triều đình đình nhà Lýrước tượng Pháp Vân để cầu tạnh chỉ là tiếp thu ý nghĩa về quyền năng thiêngliêng của bà Dâu trở thành Pháp Vân, đền Dâu trở thành chùa Dâu hay PhápVân tự (vào khoảng thế kỉ II SCN), những cảnh quan tự nhiên của vùng đồngmùa Thuận Thành – Bắc Ninh và rộng ra cả châu thổ sông Hồng từ sản xuấtđến sinh hoạt, con người chủ yếu trông chờ vào nước mưa, trong bối cảnh ấy,chống hạn sẽ là vấn để nổi nên hàng đầu Có lẽ vậy mà các thần tích, truyềnthuyết về Tứ pháp (chỉ mới ra đời từ thời điểm này về sau) mới đặc biệt chú ýđến khả năng làm mưa của các Ngài nhiều hơn, nên cho đến nay, những lễthức cầu tạnh gắn với Tứ pháp đã nhạt nhòa trong kí ức dân gian Nhìn vàonhững lễ cầu mưa (đảo vũ) vẫn được thực hiện ở các chùa thờ Tứ pháp chođến trước năm 1945, có thể nhận thấy một số vấn đề sau:
Những lễ cầu mưa được thực hiện theo yêu cầu về nước của cây lúatrong từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau, từ lúc gieo mạ cho đến khi làmđòng, trổ bông Nghĩa là những lúc mà cây lúa cần có nước nhưng trời lạikhông mưa, chưa mưa thì cho dù tốn kếm như thế nào đi nữa người nông dânvẫn phải thực hiện lễ đảo vũ
Tuy đã được phật giáo hóa, nhưng tín ngưỡng thờ Tứ Pháp của ngườinông dân Việt vẫn bảo lưu được yếu tố bản địa, từ việc thờ phụng thần, Phật
Trang 32cho đến thực hành các các lễ thức Cụ thể như ở chùa Đậu (Thành Đạo Tự)thờ pháp Vũ (làng Nguyễn Trãi - xã Gia Phúc - huyện Thường Tín - thànhphố Hà Nội), trước đây người dân cũng gọi kiến trúc này là đền Theo TS.Nguyễn Văn Huyên thì trong đền, chùa có cả ban thờ Long thần (thần rồng)
và “một trống đồng hạng trung mà người ta vẫn dùng trong nghi lễ cầu thầnmưa mỗi khi có hạn hán” Hiện nay những di vật miêu tả của TS NguyễnVăn Huyên đã không còn, nhưng cũng có thể hiểu ước vọng cầu mưa củangười dân đã được thể hiện ở những linh vật trên (rồng , trống đồng) và linhvật này cũng không gắn với Phật giáo Còn những lễ cầu mưa tuy được thựchiện trong không gian chùa nhưng lại hội tụ khá nhiều lễ thức có tính chất mathuật, như lễ Thổ long, rước Sô long ở làng Văn Giáp (Thường Tín, Hà Nội)
có hai ngôi chùa thờ Pháp Vân và Pháp Lôi; lễ rước rồng lấy nước hay tròđánh trăng trong lễ đạo vũ ở hệ thống chùa Tứ pháp xã Lạc Hồng, huyện VănLâm, tỉnh Hưng Yên Và có một điều đặc biệt không thể bỏ qua đó là chỉ cótrong các lễ hội Tứ pháp (từ lễ hội thường niên cho đến lễ hội cầu đảo), tượngthần mới được đem ra rước, hành động này có vẻ gần gũi với việc mangtượng thánh ra phơi nắng trong lễ đảo vũ ở chùa Bối Khê Hoặc có thể đưa ramột giả thiết làm cho hiện tượng này như sau: nếu có nhà nghiên cứ đã chorằng tượng Phật Tứ pháp với màu cánh gián đậm, thường được tạc trong hìnhdạng lộ thân (không mặc áo) là biểu hiện của sự bộc lộ bầu trời mây vần vũtrước cơn mưa, thì hành động rước tượng trong các lễ hội hay lễ cầu đảo phảichăng là cách mà con người bày tỏ “nguyện vọng” của mình lên đấng tối cao:nhìn vào “bầu trời mây vần vũ trước cơn mưa” thể hiện trực tiếp trong tượng
Tứ pháp được rước ra ngoài chùa, ông trời có thể hiểu được những sinh linhnhỏ bé dưới trần gian kia đang gợi ý cho mình phải làm gì
Ở khu vực Dâu , không thấy có lễ đảo vũ vào những khi hạn hán, mà chỉ
có lễ hội thông thường, phải chăng vì ở đây là yếu tố Phật giáo mạnhhơn – Dâu là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta – nên các lễ thức dân
Trang 33gian mang yếu tố ma thuật bản địa chỉ còn tồn tại rất hạn chế, khi ra khỏivùng gốc, tạm xa vòng “kiềm tỏa” của giáo lý nhà Phật và có cả Nho giáonữa, thì những lễ thức này đã “ sâu rễ bền gốc” trong tâm thức người nôngdân Việt mới được dịp sống dậy và tiếp tục tham gia vào sinh hoạt tín ngưỡngcủa xã hội đương thời?
Phật giáo Tứ pháp là một sáng tạo đặc sắc mang tính bản địa cao củangười nông dân Việt, tuy đã được bao quanh bằng những vòng hào quang củaPhật giáo, nhưng chúng ta vẫn nhìn thấy trong đó ước vọng, khả năng hòađiệu với thiên nhiên và cả sự lựa chọn cách khai thác tự nhiên (sử dụng nướcmưa) của một tộc người Vì hình ảnh của những thần linh là sự thăng hoa từchính cuộc sống lao động vất vả nhưng không kém phần vĩ đại với sức mạnhmang tính thần kì của cộng đồng người Việt, trong quá trình khai phá vùngđất và ranh giới giữa châu thổ cao và châu thổ thấp.
1.2.2.3 Hệ thống chùa thờ Tứ Pháp tại Việt Nam
Tứ pháp là “danh từ để chỉ các nữ thần trong tín ngưỡng” Việt Namgồm: Mây –Mưa – Sấm – Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vaitrò quan trọng trong xã hội nông nghiệp Sau này khi Phật giáo vào Việt Namthì nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ pháp với truyền thuyết về PhậtMẫu Man Nương
Liên quan đến tín ngưỡng thờ thần còn có hệ thống các chùa gọi là Tứpháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ Các vị nữa thần đó gồm:Pháp Vân (nữ thần Mây)
Pháp Vũ (nữ thần Mưa)
Pháp Lôi (nữ thần Sấm)
Pháp Điện (nữ thần Chớp)
Hệ thống chùa thờ tứ pháp còn ở một số vùng Bắc Bộ như sau:
Đầy đủ và quan trọng nhất là ở thuận Thành – Bắc Ninh:
Trang 34Chùa Dâu (tên chữ Hán là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định) thờ PhápVân nên gọi là bà Dâu.
Chùa thờ Pháp Vũ, nên gọi là chùa bà Đậu
Chùa Tướng (chùa Phi Tương) thờ Pháp Lôi, nên gọi là bà Tướng
Chùa Dàn (chùa Xuân Quang) thờ Pháp Điện nên gọi là Dàn Chùa Đậu
ở Bắc
Ninh đã bị phá hủy, nên pho tượng Pho tượng Pháp Vũ Mang về thờ tại chùaDâu Ngoài 4 chùa trên, còn có chùa Tổ Mãn Xá (chùa Phúc Ngiêm) thờ ManNương
Ở Hà Nội:
Chùa Keo (Sùng Nghiêm) Gia Lâm thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Keo Chùa Nành (Ninh Hiệp) xã Ninh Hiệp thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Nành.Chùa Sét (Đại Bi) thờ cả Tứ pháp
Ngoài Thanh Trì có chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ
Ở Hưng Yên:
Xã Lạc Hồng:
Chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân
Chùa Hồng Cầu thờ pháp Vũ
Chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi
Chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện
Xã Lạc Đạo:
Chùa Lạc Đạo thờ Pháp Vân
Chùa Hoằng thờ Pháp Vũ
Chùa Hướng Đạo thờ Pháp Lôi
Chùa Tân Nhuế thờ Pháp Điện
Ở Hà Tây (Hà Nội bây giờ):
Chùa Pháp Vân thờ Pháp Vân
Chùa Đậu (Thành Đạo Tự) thờ Pháp Vũ