Khóa luận với đề tài “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng Ngữ văn 11 theo hướng phát triển năng lực” chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào.. Với nhữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
KIỀU THỊ HUẾ
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
KIỀU THỊ HUẾ
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS - GVC NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo
ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương, người hướng dẫn em hoàn thành khóa luận.
Tôi cũng xin gửi đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trong tổ Phương pháp
dạy học Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lời để tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận
Kiều Thị Huế
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương Khóa luận với đề tài “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ
văn 11) theo hướng phát triển năng lực” chưa được công bố trong công trình
nghiên cứu nào Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận
Kiều Thị Huế
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến đóng góp 4
9 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Hoạt động trải nghiệm 6
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm 6
1.1.1.2 Quy trình thiết kế và tổ chức triển khai HĐTN 7
1.1.1.3 Những hình thức HĐTN trong nhà trường phổ thông 8
1.1.2 Năng lực 10
1.1.2.1 Khái niệm năng lực 10
1.1.2.2 Phân loại 10
1.1.2.3 Cấu trúc 11
1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh 12
1.1.3.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh 12
1.1.3.2 Biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh 13
1.1.3.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng 13
1.1.4 Văn bản trữ tình và đặc điểm văn bản trữ tình 15
1.1.4.1 Khái niệm văn bản trữ tình (thơ) 15
1.1.4.2 Đặc điểm văn bản trữ tình Xuân Diệu 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
Trang 71.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vội vàng của Xuân Diệu trong nhà trường
THPT hiện nay 19
1.2.2 HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo định hướng phát triển năng lực 20
1.2.2.1 Thuận lợi .20
1.2.2.2 Khó khăn .20
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC .23
2.1 Vị trí văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11 23
2.2 Bố cục và nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11 23
2.3 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực 24
2.3.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học 24
2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc diễn cảm phát triển NL ngôn ngữ 24
2.3.1.2 Hoạt động 2: HS đóng vai chuyên gia phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo 25
2.3.1.3 Hoạt động 3: HS hoạt động nhóm phát triển NL hợp tác 27
2.3.1.4 Hoạt động 4: Tổ chức hoạt động đàm thoại phát triển NL giao tiếp 37
2.3.2 Hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học 39
2.3.2.1 Hoạt động 1: Trình bày nhận thức bản thân cảm nhận được sau khi học văn bản Vội vàng của Xuân Diệu (NL nhận thức về giá trị của thời gian, tuổi trẻ) 39
2.3.2.2 Hoạt động 2: cuộc thi sưu tầm thơ Xuân Diệu phát triển NL tự học 42
2.4 Ý nghĩa của HĐTN qua đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo hướng phát triển năng lực 42
Tiểu kết chương 2 43
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM 44
Tiểu kết chương 3 52
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 91.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và chương trình sách giáo khoa Ngữ văn nói riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhànước và của toàn nhân dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đitrước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [2] Trong bốicảnh hiện nay, đổi mới giáo dục đã và đang là vấn đề đặt lên hàng đầu Nghị quyết
số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ GD-ĐT “Về
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã quán triệt tinh thần đổi mới “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vàvận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý cáchoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy và học” Từ đó hình thành và phát triển phẩmchất, NL cho người học Để làm được điều này đòi hỏi các nhà giáo dục phải tíchcực tìm tòi những hình thức, phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học nhằm tíchcực hóa hoạt động nhận thức của người học, hình thành và phát triển ở người họcnhững NL cần thiết trong cuộc sống
1.2 Trải nghiệm là một hình thức học tập hiệu quả trong việc phát triển năng lực học sinh
Học tập thông qua trải nghiệm là một phương pháp học hiệu quả, tích cực,thích hợp cho mọi môn học đặc biệt là môn Ngữ văn nhằm mục đích phát triểnnhững NL đặc thù môn học cho HS HĐTN là hoạt động giáo dục trong đó, dưới sựhướng dẫn của GV, HS được trải nghiệm trực tiếp trong những tình huống thực tế,vừa hoạt động cá nhân, vừa phải hoạt động theo nhóm, qua đó phát triển NL chungcũng như NL chuyên biệt cho HS Như vậy, HĐTN trong dạy học lấy HS làm trungtâm Phương pháp này lôi cuốn HS vào các hoạt động đòi hỏi tư duy phản biện, giảiquyết vấn đề và ra quyết định trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể Thông quaHĐTN nguồn kiến thức HS thu được không chỉ là kiến thức lý thuyết trên sách vở
Trang 10hay từ thầy cô giáo mà còn từ thực tiễn khiến việc học trở nên gần gũi với cuộcsống Ngoài ra, HĐTN còn tạo nên hứng thú học tập cho HS góp phần mang lạihiệu quả học tập cao.
1.3 Khó khăn trong việc dạy học văn bản thơ
Từ xưa đến nay, thơ ca luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền văn họcdân tộc cũng như trong đời sống tinh thần của nhân dân ta Tuy nhiên việc dạy họcđọc hiểu văn bản thơ trong nhà trường đã và đang là một thách thức lớn đối với cả
GV và HS do đặc điểm ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, “ý tại ngôn ngoại” Chính vìvậy để hiểu sâu sắc nội dung bài thơ, tâm trạng của nhân vật trữ tình, tư tưởng tìnhcảm mà nhà thơ gửi gắm đòi hỏi HS phải có sự trải nghiệm cùng tác phẩm Để làmđược điều này nhà giáo dục cần phải tìm ra những cách thức đọc hiểu mới mẻ tạođược hứng thú học tập cho HS Và đặc biệt HS phải đóng vai trò trung tâm của quátrình đọc hiểu Trong trường hợp này, học qua trải nghiệm chính là biện pháp tối ưunhất Thông qua HĐTN, HS được trải nghiệm trực tiếp cùng tác phẩm, sống trongtác phẩm để phát hiện ra những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật từ đó hình thành vàphát triển NL cho HS
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Hoạt động trải nghiệm
trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận Với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ
góp phần vào việc đổi mới PPDH bộ môn Ngữ văn, đồng thời góp phần rút ngắnkhoảng cách giữa văn bản văn học với HS
2 Lịch sử vấn đề
Trên cơ sở đổi mới PPDH theo hướng hiện đại, việc ứng dụng HĐTN vào tổchức HĐDH đã và đang được đẩy mạnh trong các chương trình dạy học Đã xuấthiện nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tạo nền tảng mở ra những conđường tiếp cận và giảng dạy mới mẻ, phong phú, hiệu quả hơn
Trong bài nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc
tế và vấn đề của Việt Nam” PGS TS Đỗ Ngọc Thống đã giới thiệu kinh nghiệm tổ
chức HĐTN sáng tạo trong chương trình THPT ở Anh và Hàn Quốc
Công trình “Dạy - học Ngữ văn qua trải nghiệm” của cô Hoàng Lan Anh đã
có những đóng góp đáng kể cho việc đổi mới PPDH: “Học tập nên là một trải
nghiệm sống, để kiến thức, kĩ năng, cảm xúc có được sẽ trở thành những ấn tượng không thể nào quên trong mỗi HS Dạy học Ngữ văn qua trải nghiệm là một hoạt động không chỉ khơi dậy những cảm xúc cá nhân trong khám phá tác phẩm văn
Trang 11học, mà còn hình thành và rèn luyện những NL cần thiết đáp ứng yêu cầu của cuộc sống với của các em”[1].
Cô Hoàng Thị Hà cũng đã đóng góp hay trong việc ứng dụng HĐTN vào dạy
học thông qua sáng kiến “HĐTN trong dạy học các văn bản thơ ở nhà trường
THPT theo định hướng phát triển NL HS”.
ThS Bùi Ngọc Diệp trong bài “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, cũng đưa ra quan niệm về HĐTN trong nhà
trường phổ thông: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là các hoạt động giáo dục thực
tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông”
[4]
Trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong quá
trình giáo dục phổ thông mới” PGS.TS Lê Huy Hoàng có đề cập tới quan niệm về
HĐTN sáng tạo là “hoạt động mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục
trong nhà trường để HS tự trải nghiệm trong tập thể qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực” [7 -tr.62]
Đặc biệt, nói tới phương pháp học qua trải nghiệm thì không thể không nhắctới nhà lý luận giáo dục người Mỹ David A.Kolb Các công trình nghiên cứu củaông tập trung vào học tập kinh nghiệm Ông đã đề xuất một công trình về học tập
dựa vào trải nghiệm: “Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi và phát
triển” Trong đó, David A.Kolb cũng chỉ ra rằng “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới đều đề cập đếnvai trò quan trọng của HĐTN trong dạy học Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công
trình nghiên cứu này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Hoạt động trải nghiệm
trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực”.
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới mục đích là xác lập các hoạt động và các biện pháp tổ
chức HĐTN đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) hướng đến hình thành và phát
triển NL cho HS Đồng thời làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức HĐTN
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn
bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực học sinh” chúng tôi
Trang 12- Nghiên cứu tính khả thi trong việc hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Vội
vàng theo hình thức HĐTN.
- Xây dựng các hoạt động phù hợp trong giờ dạy học đọc hiểu văn bản Vội
vàng theo định hướng phát triển NL nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương
- Thiết kế giáo án HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn
11) theo định hướng phát triển NL
5 Đối tượng nghiên cứu
HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng
phát triển NL cho HS
6 Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài chúng tôi xác định khóa luận tập trung nghiên cứu
các HĐTN cho HS trong quá trình đọc hiểu văn bản Vội vàng trong chương trình
Ngữ văn 11, hướng đến hình thành cho học sinh một số NL như NL đọc hiểu vănbản thơ, NL thẩm mĩ, NL hợp tác, NL vận dụng tri thức văn học vào thực tiễn đờisống
7 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để xác định những cơ sở líluận chung cho đề tài nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện chủ yếu ởchương 1 Phương pháp này được thực hiện thông qua các thao tác: phân tích - tổnghợp, thống kê
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được thể hiện thông qua hoạt động thiết
kế giáo án tổ chức các HĐTN vào việc dạy học văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11)
theo hướng phát triển NL
Trang 139 Bố cục khóa luận
Bố cục khóa luận gồm ba phần:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh qua đọc
hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Hoạt động trải nghiệm
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm
Như chúng ta đã biết, chương trình giáo dục phổ thông trang bị cho mỗi cánhân người học sự đầy đủ và toàn diện về kiến thức, kĩ năng và thái độ Những nộidung giáo dục này được triển khai thông qua các hoạt động dạy học và hoạt độnggiáo dục (nghĩa hẹp) Gọi tên hai hoạt động nhưng thực chất chúng luôn đi song
hành với nhau bởi “trong dạy có giáo, trong giáo có dạy” Trong chương trình THPT hiện hành “Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có kế
hoạch, có chủ đích hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện qua những cách thức phug hợp để chuyển tải nội dung tới người đọc nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục” [3, tr72] Còn “hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) gồm: hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh); hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục, hoạt động giáo dục hướng nghiệp…” [3] Trong chương trình THPT mới, các mục tiêu giáo dục chỉ được thực
hiện trong một dạng hoạt động được gọi là HĐTN
Như vậy, căn cứ vào định nghĩa về hoạt động giáo dục trong các chươngtrình THPT hiện hành của Việt Nam, của một số các nước khác như Anh, Mỹ vàHàn Quốc…; căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục và mục tiêu, nhiệm vụ của
HĐTN, có thể khẳng định: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng
dẫn của nhà giáo dục , từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động , qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình” [3, tr.5].
HĐTN là hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông gắn với thực tiễn,thông qua thực tiễn để hình thành những kiến thức mới, những cảm xúc mới vànhững kĩ năng mới, phát triển NL cho HS
HĐTN có thể được hiểu như một hình thức tổ chức giáo dục; một nội dunggiáo dục; bản chất của một hoạt động hay tương đương với một môn học trongchương trình… Nếu coi HĐTN là một hình thức tổ chức HĐDH thì đây là hoạtđộng mà HS được trực tiếp tham gia để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và
Trang 15phát triển NL… Nếu coi HĐTN là một nội dung giáo dục thì HĐTN là tổng hòa cácnội dung được thiết kế theo mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách HS như: đờisống, xã hội, văn hóa - nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, khoa học - kĩ thuậtcông nghệ, lao động hướng nghiệp… Nếu coi HĐTN là một hoạt động thì đây làmột hoạt động trọn vẹn với đầy đủ chủ thể, mục đích, đối tượng và kết quả hoạtđộng; Nếu coi HĐTN tương đương một môn học xuyên suốt trong chương trình thìđây là một môn học có đầy đủ nội dung, phương pháp, đánh giá… được thiết kếnhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh, đây là môn học mà ngườihọc trực tiếp tham gia hoạt động, tự hình thành, bồi dưỡng, phát triển những NLchung và NL đặc thù dưới sự hướng dẫn của GV.
1.1.1.2 Quy trình thiết kế và tổ chức triển khai HĐTN
Theo TS Ngô Thị Thu Dung - Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứuphát triển giáo dục cộng đồng (CCE) việc xây dựng thiết kế các HĐTN được gọi làthiết kế HĐTN cụ thể được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức HĐTN
Công việc này bao gồm:
- Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, GV cần tiến hànhkhảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành
- Xác định đối tượng thực hiện Việc này tạo cơ sở để GV thiết kế HĐTNphù hợp với lứa tuổi HS, đồng thời dự kiến các biện pháp phòng ngừa những rủi ro
có thể xảy ra đối với HS
Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
Đây là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động góp phần làm nổi bật lênđược chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động Đồng thời, nó cũng tạo
ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tâm lý hào hứng cho HS Vì vậy, đòi hỏi nhà giáo dụccần suy nghĩ khi đặt tên hoạt động
Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn
- Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động
- Tạo được ấn tượng ban đầu cho HS
Bước 3: Xác định mục tiêu cho hoạt động
Các mục tiêu của HĐTN cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp;phản ánh được các mức độ khác nhau của mục tiêu cần đạt về kiến thức, kỹ năng,thái độ và định hướng NL
Trang 16Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Để xác định nội dung của hoạt động cần dựa vào chủ đề, mục tiêu đã xácđịnh, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của HS
Từ đó, xác định phương pháp, phương tiện cần để tiến hành hoạt động Sau đó làlựa chọn hình thức hoạt động phù hợp
Bước 5: Lập kế hoạch
Lập kế hoạch chính là bước nhằm mục đích hiện thực hóa các mục tiêu
- Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm nguồn nhân lực,thời gian, không gian… cần thiết cho việc hoàn thành mục tiêu
- Dự kiến chi phí thực hiện hoạt động Đặc biệt chú ý tìm ra phương án chiphí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu
- Đảm bảo tính cân đối của kế hoạch
Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy
Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
- Kiểm tra lại toàn bộ chương trình hoạt động từ nội dung, tiến trình, thờigian thực hiện, đồng thời xem xét tính khả thi của từng hoạt động
- Điều chỉnh những sai sót, những bất cập
- Cuối cùng cụ thể hóa chương trình hoạt động bằng giáo án
Bước 8: Lưu kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh
1.1.1.3 Những hình thức HĐTN trong nhà trường phổ thông
HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức đều cónhững thế mạnh riêng và mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hìnhthức tổ chức HĐTN trong nhà trường phổ thông
- Hoạt động câu lạc bộ
Câu lạc bộ là hình thức tổ chức HĐTN của một nhóm HS có chung sở thích,năng khiếu, nhu cầu…Tổ chức câu lạc bộ nhằm hướng đến mục đích tạo môi trườnggiao lưu học tập tích cực giữa HS với HS, HS với GV… Và hơn hết là giúp HS có
cơ hội chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân Đặc biệt, câu lạc bộkhông chỉ là nơi các em được học tập mà các em còn được thỏa sức vui chơi, thamgia các hoạt động văn hóa văn nghệ… Đối với GV, câu lạc bộ là nơi giúp họ thấuhiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng… của HS Câu lạc bộ được tổ chứcvới nhiều lĩnh vực khác nhau như: câu lạc bộ văn học nghệ thuật, câu lạc bộvăn họcdân gian, câu lạc bộ bóng rổ, câu lạc bộ võ thuật…
Trang 17- Tổ chức trò chơi
Trò chơi là hình thức HĐTN vừa có tính chất giải trí đồng thời cũng là mộtnội dung giáo dục với kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo được bầukhông khí thân thiện, môi trường giao lưu cởi mở, tạo cho các em tác phong nhanhnhẹn, chủ động, tích cực… Một số trò chơi như: trò chơi ô chữ, rung chuông vàng,
đố thơ…
- Tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là một trong những hình thức học tập mang lại hiệu quả thiết thực.Thông qua diễn đàn, HS có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến của bản thân mình về mộtvấn đề, một lĩnh vực nào đó mà các em quan tâm với mọi người Diễn đàn đồngthời cũng tạo cơ hội để các em có dịp lắng nghe và học tập lẫn nhau Diễn đàn tạođiều kiện cho GV, cha mẹ HS… nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và nguyệnvọng của các em để từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp hơn
Sân khấu tương tác
Sân khấu tương tác là một HĐTN được thực hiện thông qua việc trình diễn,biểu diễn Thông thường phần biểu diễn chỉ đưa ra tình huống trong phần mở đầu,phần còn lại sẽ do người tham gia sáng tạo Điều này đã tạo nên một cuộc trao đổi,thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, tức là nó đề cao tính tương táchay sự tham gia của khán giả Hoạt động này thúc đẩy HS đưa ra quan điểm, cáchsuy nghĩ, ứng xử của mình trong các tình huống… Đồng thời qua hoạt động này,
HS có sự so sánh giữa văn bản văn chương với kịch bản sân khấu
- Tham quan, dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn thuhút đông đảo HS tham gia Hoạt động này nhằm mục đích để HS được trực tiếptham quan, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc trực tiếp với các di tích lịch sử,văn hóa, công trình, nhà máy… giúp các em có cơ hội tích lũy những kinh nghiệmthực tế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống
- Tổ chức các hội thi/ cuộc thi
Hội thi/ cuộc thi là hoạt động mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhómhoặc tập thể từ đó kích thích tinh thần học tập tích cực của HS Chính vì vậy, việc tổchức các hội thi, cuộc thi cho HS là việc làm cần thiết của nhà trường, của GV trongquá trình tổ chức HĐTN
Trang 18Hội thi được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: thi vẽ tranh, thiviết, thi đố vui, thi kể chuyện, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi sáng tác thơ, sáng tácbài hát, hội thi học sinh thanh lịch, hội thi bí thư chi đoàn giỏi, hội thi sáng tạoSTEM Tuy nhiên, cần phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện hoạt động.
1.1.2 Năng lực
1.1.2.1 Khái niệm năng lực
Theo PGS.TS Bùi Minh Đức, NL là một khái niệm được sử dụng phổ biến
và có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau Cụ thể:
Theo Tâm lí học: “NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của
nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”.
Theo Wikipedia “NL là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực hiện
một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát, NL là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể”.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì NL có thể được hiểu theo hai nét nghĩa như sau: 1) NL là khái niệm chỉ một “khả năng, điều kiện chủ
quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” 2) NL là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15, tr.660-661].
Chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa trong Dự thảo Chương trình GDPT tổng
thể của bộ GD và ĐT như sau:
“NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy đông tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”
[3, tr.6]
1.1.2.2 Phân loại
Phân loại NL là một vấn đề khá phức tạp Tùy theo quan điểm tiếp cận màngười ta chia NL thành các dạng thức khác nhau Tuy nhiên cách phân loại phổ biếnnhất là chia thành hai loại NL chung và NL riêng.Theo tìm hiểu chương trình giáodục ở nhiều nước trên thế giới ta thấy hầu hết các nhà giáo dục đều lựa chọn cáchphân loại này Cụ thể:
Trang 19- “NL chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần có để
sống, học tập Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và HĐTN), với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các NL chung của HS” [5] Ngoài ra NL này Có tên gọi khác là “NL xuyên chương trình”
bởi nó được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều mônhọc Hệ thống những NL chung bao gồm: “NL tự học, NL giải quyết vấn đề và sángtạo; NL thẩm mĩ; NL thể chất; NL giao tiếp; NL hợp tác; NL tính toán; NL côngnghệ thông tin và truyền thông (ICT)” [5]
- “NL riêng (NL chuyên biệt) là NL cụ thể, chuyên biệt được hình thành và
phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó, là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như NL toán học, văn học, âm nhạc, thể thao…”.
Hai loại năng lực này bổ sung, hỗ trợ cho nhau Bản dự thảo chương trình
cũng đã đưa ra quan niệm: “Việc đánh giá mực độ đạt được các yêu cầu về phẩm
chất và NL chung của HS từng cấp học được thực hiện thông qua nhận xét các biểu hiện chủ yếu của các thành tố trong từng phẩm chất và NL… Từng cấp học, lớp học đều có những yêu cầu riêng, cao hơn và bao gồm cả những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó về từng thành tố của các phẩm chất, NL” [3, tr.8,9] Và “Mỗi môn học đều đóng góp vào việc hình thành và phát triển các phẩm chất và NL chung… Các NL đặc thù môn học thể hiện vai trò ưu thế của môn học được nêu ở các chương trình môn học” [3, tr.9].
- Thái độ là những nhận thức, giá trị sống và định hướng hành vi của HS saukhi học xong một nội dung nào đó
Trang 20
-1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh
1.1.3.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Trong khoảng 50 năm trở lại đây đọc hiểu văn bản là một nội dung nghiêncứu đã thu hút tâm sức của rất nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới Các nhànghiên cứu đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu Song đọc hiểu
văn bản thực chất là “quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó
thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác nhất định Hoạt động đọc hiểu đòi hỏi người học cần tích cực, chủ động khám phá, phải là những độc giả thực
sự (chứ không phải là những thính giả bất đắc dĩ nghe người khác truyền đạt kết quả đọc của họ)” [8, tr19] Muốn làm được điều này cần đảm bảo các nguyên tắc cơ
bản sau:
Thứ nhất, định hướng về người học: Đảm bảo HS là trung tâm của quá trìnhdạy học, chủ động chiếm lĩnh tri thức
Thứ hai, định hướng về người dạy:
GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cho HS,góp phần duy trì, thúc đẩy một môi trường học tập tích cực, tăng cường tính hợp tác
và cạnh tranh giữa các cá nhân HS
Chú trọng nâng cao các phương pháp, cách thức dạy học để HS tích cực, chủđộng tìm kiếm tri thức, thu thập thông tin để tích lũy những tri thức mới, tự tìmnhững cách thức thích hợp để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống
Theo định hướng NL, quan điểm “học đi đôi với hành” rất cần phải được coi trọng, trong đó hoạt động “hành” không chỉ dừng lại ở các tình huống giả định, những bài
tập có tính minh họa thuần túy cho lí thuyết mà đi vào các tình huống thực tiễntrong cuộc sống có liên quan đến kiến thức, kĩ năng của bài học
Đẩy mạnh phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác nhằm mục đích tạomôi trường học tập tích cực để HS có cơ hội hoạt động tư duy nhiều hơn, làm việcnhiều hơn và bộc lộ bản thân qua nhiều hoạt động hơn Điều đó có nghĩa là mỗi HSvừa có cơ hội hoạt động độc lập vừa có cơ hội hợp tác với nhau trong quá trình tiếpcận, tìm tòi, phát hiện kiến thức mới
Ngoài ra GV cũng cần kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới dạy học và đổi mớikiểm tra đánh giá Chú trọng đánh giá quá trình, đánh giá vì sự tiến bộ của HS, đánhgiá như chính việc dạy học; hạn chế đánh giá tái hiện, tăng cường đánh giá vậndụng; đa dạng hóa các hình thức đánh giá kết hợp với đổi mới các đề kiểm tra theohướng mở và gắn với các vấn đề của đời sống
Trang 21Thứ ba, định hướng về chương trình, nội dung và HĐDH: Chương trình, nộidung và HĐDH phải có liên hệ mật thiết với thực tiễn cuộc sống giúp HS tăngcường vận dụng, ứng dụng kiến thức, kĩ năng có được trong giờ học Ngữ văn vàogiải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn cuộc sống.
Thứ tư, định hướng cho nhà trường: Nhà trường cần thiết lập mối liên hệ chặt chẽ
với phụ huynh HS và cộng đồng để chung tay vào quá trình giáo dục
1.1.3.2 Biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh
Để việc đọc hiểu văn bản đạt hiệu quả cao hướng đến phát triển NL HSchúng ta có thể vận dụng một số biện pháp sau:
- Kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Trong toàn bộ quá trình dạy học, việc phối hợp đa dạng các phương pháp,hình thức dạy học là một trong những biện pháp hàng đầu để phát huy tính tích cực,chủ động của HS và nâng cao chất lượng dạy học Bởi mỗi phương pháp, hình thứchọc tập đều có những thế mạnh riêng trong việc phát triển NL cho HS
- Vận dụng dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn.
Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn là dạy học những chủ đề có nội dungkiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học Quan điểm dạy học này có tính thựctiễn cao nên có ưu thế trong việc tạo hứng thú học tập cho HS Học theo hình thứcnày, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tìnhhuống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Qua đó, phát triển NLcho HS
- Hướng dẫn HS vận dụng linh hoạt hệ thống chiến thuật đọc hiểu văn bản.
“Chiến thuật đọc hiểu chính là những biện pháp, những thủ thuật, những cách thức,thao tác nhất định nhằm dẫn dắt quá trình nhận thức của HS để chiếm lĩnh, kiến tạo ýnghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, hiệu quả” [8, tr.57] Hơn nữa mỗichiến thuật đọc hiểu lại có những ưu thế riêng vì vậy có thể vận dụng linh hoạt, sángtạo vào dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
1.1.3.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng
a Năng lực chung
Thực hiện chương trình đổi mới PPDH theo định hướng phát triển NL cho
HS, các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng hướng tới hình thành và phát
triển tổng hợp các NL chung, trong đó chúng tôi chú ý đến hai năng lực sau:
Trang 22Thứ nhất, NL thẩm mĩ Đây được coi là một NL quan trọng, là mục tiêu cơbản của rất nhiều chương trình đào tạo hiện nay nói chung và cũng là thế mạnh đặc
thù của môn Ngữ văn nói riêng Người xưa thường nói “thi trung hữu nhạc”, “thi
trung hữu họa” nghĩa là trong thơ có nhạc, trong thơ có họa Văn bản Vội vàng
(Ngữ văn 11) là một thi phẩm có những cách tân nghệ thuật về hình ảnh, âm điệu vàđặc biệt là ngôn ngữ thơ Có thể nói Xuân Diệu đã tạo ra cho thơ mình một hệ thốngngôn ngữ đầy cá tính, sáng tạo về hình ảnh, nhịp điệu, hình thức tổ chức câu thơcùng những lời lẽ, cách nói năng mà hầu như trước đây người ta chưa thấy xuất hiện
trong thơ ca truyền thống Bên cạnh đó HS còn được tiếp cận với những cách kết
hợp từ ngữ đầy mới mẻ, độc đáo Ngoài ra, Xuân Diệu còn khiến người đọc rungđộng mạnh bởi nhạc điệu trong thơ bằng cách sử dụng linh hoạt các cách ngắt nhịp,nghệ thuật điệp, nghệ thuật chuyển loại từ, đảo ngữ… Việc dạy văn chính là giúpcho các em thấy được cái đẹp trong tác phẩm văn chương, yêu thích cái đẹp, sốngtheo cái đẹp Như vậy, NL thẩm mỹ sẽ giúp các em cảm nhận và có kĩ năng sống tốtphù hợp với cuốc sống hiện đại
Thứ hai, NL hợp tác Đây được xem là một trong những NL quan trọng củacon người thời hiện đại NL hợp tác được hiểu là khả năng tương tác, phối hợp của
cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể trong hoạt động chung của nhóm Dạy họcnhóm nếu được tổ chức tốt sẽ giúp phát huy tinh thần tích cực, chủ động của HStrong quá trình học tập; tạo môi trường học tập sôi nổi, ở đó các em có thể chia sẻkiến thức, hiểu biết của bản thân để giải quyết các nhiệm vụ học tập GV đánh giá
NL hợp tác của HS thông qua sản phẩm nhóm và quát sát hoạt động, thái độ của HSkhi làm việc chung
b Năng lực đặc thù
Văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) chúng tôi tập trung định hướng phát triển
NL đọc hiểu, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo văn bản thơ Đó là những NL quan trọngtrong dạy học văn bản thơ trữ tình cho HS THPT Hình thành NL đặc thù đọc hiểu
văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) với mục đích giúp HS:
- Nắm được tri thức lí luận cơ bản và cách thức đọc hiểu văn bản thơ trữ tình
- Đọc và chỉ ra hình tượng nghệ thuật đặc sắc của bài thơ
- Lí giải, phân tích, cắt nghĩa và cảm nhận về hình tượng nghệ thuật đượcnhà thơ xây dựng trong văn bản
- Rút ra được ý nghĩa tư tưởng và quan niệm mà tác giả gửi gắm trong văn bản
- Bày tỏ được tình cảm, thái độ và cách đánh giá của bản thân về các khíacạnh nội dung và nghệ thuật của bài thơ
Trang 23- Liên hệ, vận dụng nội dung tư tưởng của nhà thơ trong văn bản vào thựctiễn cuộc sống của bản thân.
- Biết tích cực, chủ động làm việc cá nhân và hợp tác với các bạn trong việcgiải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu
1.1.4 Văn bản trữ tình và đặc điểm văn bản trữ tình
1.1.4.1 Khái niệm văn bản trữ tình (thơ)
Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản
ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mãnh liệt bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [6, tr.254].
Nhà thơ Anh Wordsworth (1770 - 1850) nói rằng: “Thơ là sự biểu lộ của
tình cảm mãnh liệt” Nhà thơ Chi Lê Pablo Neruda cũng khẳng định: “Làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt” Lê Quý Đôn lại có nhận định về thơ khá sắc sảo: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” Các ý kiến trên đã khẳng định vai trò quan trọng
của tình cảm trong thơ.Tình cảm là nguồn sống của thơ
Như vậy, xét về mặt nội dung, có thể thấy tác phẩm trữ tình thường đi sâukhám phá thế giới nội tâm, cảm xúc bên trong rất đa dạng, mơ hồ của con người.Xét về mặt hình thức, tác phẩm trữ tình thường có hình thức ngắn gọn mang tínhchất tâm tình, giàu hình ảnh, nhạc điệu, ngôn ngữ mang tính cách điệu, cô đọng, tưtưởng được mã hóa vào những biểu tượng nghệ thuật đầy ý nghĩa
1.1.4.2 Đặc điểm văn bản trữ tình Xuân Diệu
Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận định về thơ Xuân Diệu: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dạt dào chưa từng
có ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” [16, tr.117] Xuân Diệu đã
để lại cho hậu thế một sự nghiệp sáng tác lớn cùng phong cách nghệ thuật độc đáovới ba đặc điểm chính
Thứ nhất, Xuân Diệu - hồn thơ đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thờigian Với Xuân Diệu mỗi khoảnh khắc qua đi là cả một nỗi niềm xót xa, tiếc nuốikhôn cùng Thi sĩ nhận thức được rằng thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại;nhận thức được mâu thuẫn giữa cái vô hạn của trời đất và cái hữu hạn của đờingười Đây là một quan niệm mới mẻ khác với quan niệm thời gian tuần hoàn trongthơ ca gia đoạn trước:
Trang 24“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”.
(Vội vàng)
“Cái bay không đợi cái trôi;
Từ tôi phút trước, sang tôi phút này ”
(Đi thuyền)
Nhà thơ đã cảm nhận được thời gian trôi đi ngay trong từng khoảnh khắc ởhiện tại Thậm chí, ngay trong gặp gỡ đã có mầm mống của sự li biệt:
“Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.”
(Giục giã)
Từ nhận thức đó nên Xuân Diệu luôn thúc giục mọi người hãy mau lên, vộivàng lên để sống thật có ý nghĩa cho mỗi giây phút trôi qua
“Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…”
GS Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận xét về thơ Xuân Diệu “Xuân Diệu là nhà thơ
của niềm giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế đã ban phát cho nhân loại” Nhà thơ
Huy Cận cũng đã từng nói “Xuân Diệu đã sống để mà yêu và yêu để mà sống” Bởi
vì thế nên cảm xúc trong thơ Xuân Diệu bao giờ cũng sôi nổi và mãnh liệt
“Ta ôm choàng, ôm riết bánh thần tiên,
Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn, Làm giây da quấn quít cả mình xuân;
Trang 25Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần, Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất”.
(Thanh niên)
Xuân Diệu là một hồn thơ khát sống, thèm yêu, khát khao giao cảm Ôngluôn khao khát một tình yêu, thứ tình yêu trần thế nhưng không bị trần tục hóa Ông
đã kêu gọi:
“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt”
Từ đó ông khao khát sống mãnh liệt:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”
Không phải ngẫu nhiên Xuân Diệu được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá
là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” và cũng không phải ngẫu nhiên độc
Trang 26giả yêu thơ biết đến một thi sĩ Xuân Diệu như “con chim sơn ca” của thơ mới Bởi
“ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới,thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sángtạo” [11, tr.21] Nhà thơ luôn nhận thức được điều quan trọng và tuyệt vời trongcảm xúc của con người đó là hành trình thức nhọn giác quan để sống một cách
“toàn tâm, toàn trí, toàn hồn”.
Xuân Diệu có những cách tân nghệ thuật trên nhiều phương diện:
Ở phương diện đề tài: tình yêu, tuổi trẻ và thời gian là đề tài quen thuộctrong những sáng tác của Xuân Diệu Cách xử lí đề tài của Xuân Diệu có nhữngđiểm độc đáo so với các thi sĩ khác Chẳng hạn, ở đề tài tình yêu, Xuân Diệu quanniệm khác với những nhà thơ khác Tình yêu trong thơ Xuân Diệu đòi hỏi sự đồngcảm của hai tâm hồn, đòi hỏi cái vô tận, vĩnh cửu Nói như GS Nguyễn Đăng
Mạnh: “Xuân Diệu không quan niệm tình yêu là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự
giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu”.
Xuân Diệu xây dựng được hệ thống hình tượng, hình ảnh và các mô típ nghệthuật đặc trưng: Đó là hình tượng cái tôi độc đáo: Một cái tôi tích cực, thiết tha yêu
đời, yêu cuộc sống; Cái tôi cô đơn ngay chính giữa cuộc đời: “Ta là Một, là Riêng,
là Thứ Nhất/ Không ai chi bạn bè nổi cùng ta”; cái tôi cô đơn vì tình phụ: “Lòng anh là một cơn mưa lũ/ Đã gặp lòng em là lá khoai…” Đó là hình tượng người tình
- một người tình trần thế Ngoài ra, trong thơ Xuân Diệu còn có sự xuất hiện của
hình tượng thế giới với hai diện mạo phổ biến: “mảnh vườn tình ái và sa mạc cô
liêu” [17, tr.52].
Điểm độc đáo nữa ở Xuân Diệu là ông luôn có ý thức làm mới những hình
ảnh đã quen thuộc trong thơ ca Chẳng hạn, hình ảnh giọt lệ - Trái đất: “Trái đất ba
phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung…”
Đặc biệt, Xuân Diệu còn thường xuyên sử dụng những thủ pháp, biện phápnghệ thuật quen thuộc một cách hiệu quả và mang cá tính sáng tạo riêng Đặc biệtXuân Diệu đã sử dụng triệt để biện pháp chuyển đổi cảm giác trong quá trình khámphá những vẻ đẹp của cuộc sống trần thế
Về phương diện ngôn ngữ, Xuân Diệu cho rằng mỗi nhà thơ “phải là nhà kỹthuật lớn về ngôn ngữ” Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu không chỉ mới ở từ ngữ mà cònmới cách tổ chức câu thơ
Trang 27“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”;
(Vội vàng)
“Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò ”
“Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;”
(Đây mùa thu tới)
Thơ Xuân Diệu đã tiếp thu được những mặt tích cực của hai dòng văn họcđông tây, đối với phương Đông ông tiếp thu được cái cảm xúc của lời thơ còn ởphương Tây ông tiếp thu được trường phái thơ tượng trưng Đó là sự tương giao củacảm giác và lời thơ giàu nhạc điệu
“Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn;”
(Huyền diệu)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vội vàng của Xuân Diệu trong nhà trường THPT hiện nay
Xuân Diệu được gọi với những danh hiệu như “ông hoàng thơ tình”,
“hoàng tử của tình yêu”, “đệ nhất tình nhân”… Sở dĩ có những danh hiệu đó là bởi
khối lượng thơ viết về tình yêu ông để lại cho hậu thế Trong số đó Vội vàng là bài
thơ để lại ấn tượng sâu sắc nhất và được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ
văn 11, tập 2 Tuy nhiên, bài thơ Vội vàng nói riêng và môn Văn nói chung đang
đứng trước thực trạng đáng buồn Có thể khẳng định rằng: đây là một bài thơ haynhưng để “truyền lửa” cho HS để các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái mớicủa hồn thơ Xuân Diệu là một thách thức không nhỏ Vì vậy việc giảng dạy của GVcũng như việc tiếp nhận bài thơ của HS còn tồn tại một số hạn chế sau:
- Về phía GV
Chưa hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà một cách cụ thể
Chưa hướng dẫn cách đọc tích cực cho HS
Hầu hết các bài giảng vẫn được xây dựng theo lối truyền thống, rập khuôn,
áp đặt nặng nề Điều này đã bó hẹp tính tích cực, sáng tạo của HS
Trang 28Một bộ phận GV dạy Văn hiện nay chưa thực sự yêu thích bộ môn của mình.Vốn kiến thức đối với thể loại thơ trữ tình được viết theo thể loại tự do còn hạn chếnên một số giáo viên còn lúng túng trong quá trình dạy học.
Ngoài ra cần phải kể đến một số GV còn áp đặt máy móc ý kiến chủ quan củamình cho tác phẩm Bên cạnh đó GV còn nặng về thuyết giảng, khả năng gợi mởchưa tốt nên chưa tạo được không khí học tập tích cực để HS chủ động khám phákiến thức, phát huy NL đọc hiểu một bài thơ trữ tình
- Về phía HS:
Chưa đọc bài thơ theo đúng nhịp điệu nên chưa nắm được mạch cảm xúc củanhân vật trữ tình
Chưa nắm được đặc trưng của một số thể loại mới, đặc biệt là thể loại thơ tự
do như bài thơ Vội vàng.
Một bộ phận các em HS thường có sẵn tâm lý chán nản khi học văn Hơnnữa, cuộc sống hiện đại với rất nhiều điều mới mẻ, thú vị đang thu hút sự quan tâm,chú ý của các em Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, chỉ cầnmột cú nhấp chuột HS đã có thể nhận được hàng trăm bài văn mẫu, sách tham khảo.Điều này đã vô hình đã thủ tiêu óc sáng tạo, tính tích cực chủ động của HS và thayvào đó chính là sự lười biếng, ỉ lại và thụ động trong quá trình học Văn
Để thay đổi thực trạng đáng buồn này đòi hỏi GV - HS chúng ta cùng thayđổi GV phải khơi gợi được niềm say mê, hứng thú cho HS để từ đó các em tíchcực, chủ động chiếm lĩnh tri thức
1.2.2 HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo định hướng phát triển năng lực
1.2.2.1 Thuận lợi
- Học qua trải nghiệm là một hình thức học tập mang lại hiệu quả học tập caođược hầu hết các trường THPT chú trọng và đầu tư
- Đọc hiểu văn bản Vội vàng qua HĐTN giúp HS phát huy tính tự học, tích
cực, sáng tạo, tính tự giác, sự tự tin và đặc biệt tạo hứng thú học tập cho HS
1.2.2.2 Khó khăn
- Khó khăn về thời gian tổ chức: Thời lượng mỗi tiết học theo quy định của
Bộ Giáo dục là 45 phút, thời lượng này là không đủ để GV tổ chực HĐTN cho HS
Trang 29Hơn nữa, GV cần phải tuân thủ thứ tự bài học được in trong sách và phân phối thờilượng ở phân phối chương trình Vì vậy việc sắp xếp quỹ thời gian hợp lí choHĐTN đang là vấn đề khá khó khăn.
- Khó khăn về không gian tổ chức: HĐTN thường được tổ chức ở nhiềukhông gian, địa điểm khác nhau Các địa điểm được lựa chọn cần đảm bảo rộng rãi,
an toàn, là nơi HS vừa có thể học tập trải nghiệm vừa có thể vui chơi giải trí Tuynhiên khoảng cách giữa trường học với các địa điểm này là một chướng ngại lớn đốivới các nhà giáo dục
- Khó khăn về kinh phí thực hiện: HĐTN có thể tổ chức tại nhiều thời gian,không gian khác nhau tùy vào quy mô, nội dung, với những địa điểm xa đòi hỏikinh phí di chuyển, ăn uống… Tuy nhiên kinh phí dành cho HĐTN ở các trườngphổ thông hiện nay còn khá eo hẹp
- Khó khăn từ phía người học: Hình thức học tập qua trải nghiệm vẫn cònkhá mới đối với HS ở nhiều địa phương hiện nay Vì vậy, khi tổ chức các HĐTNnếu không có sự chuẩn bị về tâm lí và phương pháp, các em HS sẽ dễ rơi vào trạngthái thụ động khi tham gia hoạt động
Vì vậy để đạt được mục đích, yêu cầu và hiệu quả của HĐTN cần xây dựngchương trình, kế hoạch và phương pháp tổ chức thực sự khoa học và phù hợp Khixây dựng chương trình học cần chú ý sắp xếp và tổ chức xen kẽ với HĐTN sao chovừa hợp lí vừa hiệu quả
1.2.2.3 Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc tổ chức các hoạt động trải
nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển
năng lực
Học qua trải nghiệm là xu hướng, phương pháp dạy học mới đã và đang thuhút sự quan tâm chú ý của những người làm giáo dục Để tổ chức HĐTN qua dạy
học đọc hiểu văn bản Vội vàng theo hướng phát triển NL người học cần đảm bảo
những yêu cầu có tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tổ chức HĐTN phải đảm bảo được tiến hành theo định hướng pháttriển NL cho HS Trong đó NL đặc thù là NL đọc hiểu văn bản thơ trữ tình GV tổchức các HĐTN hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản cần hướng đến hình thành và pháttriển cho HS khả năng đọc hiểu một văn bản thơ tương tự trong hoặc ngoài chươngtrình
Trang 30Thứ hai, tổ chức HĐTN bám sát đặc trưng thể loại Chương trình SGK Ngữvăn 10, 11, 12 đã lựa chọn những văn bản tiêu biểu cho nhiều thể loại khác nhaunhư:
Trang 31thơ lục bát, thơ tự do, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, khúc ngâm,trường ca, văn xuôi… Từng thể loại đều chứa đựng những đặc trưng riêng cho nên
HS có thể vận dụng tri thức về thể loại để đọc hiểu nhiều văn bản thơ khác cùng thểloại
Thứ ba, đảm bảo bám sát quy trình tổ chức HĐTN trong dạy học đọc hiểuvăn bản thơ GV thay vì việc bình giảng thơ, truyền thụ kiến thức một chiều nhưcách dạy truyền thống thì người GV Ngữ văn hiện nay chỉ có nhiệm vụ là tổ chức,hướng dẫn HS, còn HS giữ vai trò trung tâm của quá trình học tâp
Thứ tư, tổ chức các HĐTN gắn với các tình huống từ thực tiễn đời sống.Mục đích chính của HĐTN là giúp cho HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và pháthuy tối đa khả năng sáng tạo của bản thân Vì thế HĐTN phải gắn với các tìnhhuống trong thực tiễn, điều này đòi hỏi HS phải hòa mình vào tình huống để giảiquyết vấn đề từ đó hình thành và phát triển NL cho HS
Đồng thời, việc gắn HĐTN với đời sống thực tiễn giúp HS thấy được ýnghĩa, giá trị của bài thơ đối với đời sống trong hiện tại, tương lai Đó có thể là bàihọc về đạo lý làm người, về lẽ sống, cách cư xử, kinh nghiệm, trải nghiệm hữu ích,thú vị… Hoạt động thực tiễn chính là thước đo của NL Vì vậy GV cần tăng cườngcho HS trải nghiệm bằng các bài tập tình huống mang tính thực tiễn cao
Thứ năm, chủ đề HĐTN phải nằm trong “tầm với” kiến thức của HS GV
cần xây dựng HĐTN nằm trong phạm vi kiến thức, hiểu biết của HS để các em pháthuy được khả năng của mình
Thứ sáu, không quá ôm đồm kiến thức và phải chọn được nội dung phù hợp
để tổ chức HĐTN Nội dung kiến thức của bài học thường rất phong phú và đa dạngbởi vậy ngay từ khâu thiết kế giáo án đòi hỏi GV phải cân nhắc lựa chọn nội dungphù hợp để thiết kế HĐTN Từ đó HS nắm vững được kiến thức trọng tâm cũng nhưnhững kĩ năng cần thiết của bài học
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một số lí luận chung cho đề tài,liên quan đến HĐTN, NL và việc dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển NL quaHĐTN, ứng với thể loại thơ trữ tình Những cơ sở lí luận và thực tiễn này là nềntảng vững chắc để đề tài đưa ra những biện pháp tổ chức HĐTN hiệu quả nhất trong
dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển NL góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 32CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN
11) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
2.1 Vị trí văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11
Văn bản Vội vàng (Xuân Diệu) được đưa vào giảng dạy trong chương trình
SGK Ngữ văn 11 tập 2 Đây là thi phẩm xuất sắc của pnhong trào thơ mới nóichung, là đại diện tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu nói riêng Bàithơ chứa đựng giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc
Về giá trị nội dung:
Bài thơ Vội vàng giống như một lời kêu gọi, thúc giục hãy sống vội vàng để
tận hưởng mọi vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời Và cùng với đó là sống hết mình đểcống hiến bản thân làm đẹp cho đời, hãy trân quý từng giây phút của cuộc đời mình,nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến mãnh nhiệt
Về giá trị nghệ thuật:
Điểm độc đáo về nghệ thuật trong bài thơ là: sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch
cảm xúc và mạch luận lí, Vội vàng chứa đựng dòng cảm xúc dạt dào của thi nhân
nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhânsinh về lẽ sống vội vàng; giọng điệu say mê, sôi nổi; những sáng tạo độc đáo vềngôn từ và hình ảnh thơ…
Với những nét đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật, văn bản Vội Vàng của
Xuân Diệu ngày càng khẳng định vị trí của nó trong hệ thống chương trình cũngnhư trong lòng những độc giả yêu thơ
2.2 Bố cục và nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn
- Về bố cục của bài thơ:
Vội vàng là một thi phẩm khá dài nhưng dựa theo mạch cảm xúc và sự thayđổi trong giọng điệu khi đọc bài thơ, có thể chia bài thơ làm ba phần:
Trang 33+ Mười ba câu đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.
+ Mười sáu câu tiếp: Quan niệm mới mẻ về thời gian
+ Mười câu còn lại: Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt
- Về nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11:
Sau khi HS đã phát hiện được kết cấu nội tại của bài thơ, GV hướng dẫn HSchiếm lĩnh bài thơ bằng cách phân tích kết cấu nội tại đó Từ đó phát hiện mạchcảm xúc của tác giả: từ mong muốn níu giữ đến sung sướng, ngây ngất trước cảnhsắc trần gian; băn khoăn, lo âu về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người đếnthảng thốt và cuối cùng là sự bùng cháy mãnh liệt của cái tôi đầy ham muốn
2.3 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ
văn 11) theo hướng phát triển năng lực
2.3.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học
2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc diễn cảm phát triển NL ngôn ngữ
- Mục đích
Đọc diễn cảm chính là một phương tiện giáo dục nhằm phát huy tính tíchcực, sáng tạo cho cả GV và HS trong quá trình học văn Đọc diễn cảm (cách gọikhác là đọc hay) là một hình thức giúp bộc lộ khả năng cảm thụ văn bản Vì vậy,
GV có thể đo được mức độ cảm thụ của HS qua việc đọc diễn cảm Kĩ năng đọcdiễn cảm của HS sẽ được hình thành trong quá trình phân tích tác phẩm văn học vàtrong quá trình “biểu diễn” tác phẩm đó Nghĩa là việc rèn luyện đọc diễn cảm sẽ cótác dụng góp phần hoàn thiện NL ngôn ngữ của HS, giúp HS nghe tốt - nói tốt - đọctốt - viết tốt tiếng Việt
- Cách thức tiến hành
Trước khi đọc: GV cần lưu ý cho HS rằng Vội vàng là bài thơ được viết theo
thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn đan xen, ý thơ đa dạng không bị gò bó bởibất kì một khuôn khổ, luật lệ nào mà linh hoạt theo mạch cảm xúc của nhân vật trữtình.Điều này dẫn đến sự thay đổi nhịp điệu trong bài thơ theo mạch cảm xúc củanhà thơ Nhịp điệu bài thơ sẽ chi phối cách đọc bài thơ HS sẽ cảm nhận được cáihay, cái đẹp của bài thơ nếu đọc bài thơ theo đúng nhịp điệu
GV mời ba HS trong lớp đọc ba phân đoạn của bài thơ Các bạn còn lại lắngnghe và nhận xét
Trang 34GV yều cầu HS nêu cảm nhận ban đầu của mình về bài thơ.
Cuối cùng GV nhận xét và kết luận về cách đọc phù hợp với mạch cảm xúctrong bài thơ:
+ Bốn câu thơ đầu: là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn táo bạo củathi nhân cần đọc với giọng nhanh, chất giọng khỏe khoắn, chú ý nhấn mạnh vào các
từ: “muốn”, “tắt”,” buộc”, “đừng” (chữ “đừng” kéo dài hơn một chút tạo cảm
giác như muốn níu giữ), đọc liền mạch, không ngắt nhịp
+ Từ câu 5 đến câu 13: Phần này tác giả đã phơi bày là tất cả những gì đẹp đẽ,ngọt ngào nhất của nhân gian nên cần đọc với giọng hào hứng, hân hoan, say mê, tựtin, khẳng định tràn đầy một niềm lạc quan, yêu đời và cách ngắt nhịp 3/5 Chú ýnhấn mạnh từ “này đây” để thấy được sự đầy đủ, phong phú bất tận những vẻ đẹp
của cuộc sống Riêng hai câu thơ cuối cần lưu ý: câu thơ “Tôi sung sướng Nhưng
vội vàng một nửa:” bị gãy ra ở giữa dòng bởi một một dấu chấm, vì vậy vế đầu vẫn
đọc với giọng hào hứng, còn vế sau hơi hạ giọng nhằm tạo trạng thái hụt hẫng
+ Từ câu 14 đến câu 29: Là sự cảm nhận về sự trôi chảy của thời gian, quyluật của tạo hóa, sự hữu hạn của đời người nên cần đọc với giọng tranh biện, trầm
buồn, nuối tiếc và đọc hơi chậm hơn so với đoạn đầu Nhấn mạnh các từ “nghĩa
là”, “nhưng”, “bâng khuâng”, “tiếc”, “hờn”; cách ngắt nhịp 3/5.
- Phần cuối bài thơ: Khép lại bài thơ là những ham muốn cháy bỏng, mãnhliệt, là khao khát tận hưởng cuộc sống mãnh liệt của nhà thơ Chính vì vậy HS cầnđọc với giọng sôi nổi, cường độ nhanh, mạnh, dứt khoát để diễn tả được cái lòngham sống, khát vọng sống đang trào dâng mãnh liệt trong trái tim rạo rực tình yêu
của thi sĩ Nhấn mạnh điệp ngữ “Ta muốn” và các động từ: “ôm”, “riết”, “say”,
“thâu”, “cắn” Chú ý cách ngắt nhịp thơ không đều nhau.
2.3.1.2 Hoạt động 2: HS đóng vai chuyên gia phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Mục đích
Đóng vai chuyên gia là phương pháp dạy học dựa trên việc giao cho ngườihọc giải quyết một vấn đề cụ thể thông qua hình thức đóng vai Phương pháp đóngvai chuyên gia được sử dụng trong phần này nhằm mục đích mở rộng hiểu biết vànâng cao nhận thức cho HS về tác giả Xuân Diệu Đặc biệt trong thực tế dạy - họchiện nay, người học thường ít khi chủ động đặt câu hỏi hay nêu những thắc mắc của
họ Vì vậy việc vận dụng phương pháp này sẽ khắc phục được điểm yếu đó một
Trang 35cách dễ dàng Điều này giúp cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn, tạo điều kiện để
HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
- Cách thức tiến hành
Để thực hiện hoạt động hiệu quả, trước khi đến lớp HS phải tự nghiên cứu tàiliệu, tự phát hiện, tự nắm bắt một phần kiến thức về chủ đề (tác giả Xuân Diệu).Trên lớp HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành nhóm “chuyêngia” Trên cơ sở đã tìm hiểu bài ở nhà các bạn HS còn lại trong lớp đặt câu hỏi chonhóm “chuyên gia” để từ đó có sự so sánh, đối chiếu, khắc sâu kiến thức Tronghoạt động này GV đóng vai trò là người hướng dẫn để HS tự nghiên cứu tìm ra kiếnthức và tự thể hiện mình trong lớp học GV là người kết luận và kiểm tra kết quảcủa HS Sau khi trao đổi, hợp tác với bạn bè và dựa vào kết luận của GV, HS tự sửachữa, tự điều chỉnh, đồng thời tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách giải quyếtvấn đề cho bản thân
Dự kiến câu hỏi và câu trả lời:
+ Những nét chính về tác giả Xuân Diệu?
Xuân Diệu (1916 - 1985) còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh là NgôXuân Diệu Cha là Ngô Xuân Thọ,một nhà nho, quê ở làng Trảo Nha (nay là xã ĐạiLộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hiệp quê ở Gò Bồi,
xã Tùng Giản, huyện Tùy Phước, tỉnh Bình Định
Với hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Xuân Diệu đã có được
một chỗ đứng nhất định trong phong trào thơ mới Ông được mệnh danh là “ônghoàng thơ tình” “đệ nhất tình nhân”… với những bài thơ viết về tình yêu đượcnhiều người yêu thích
+ Cuộc đời và con người của Xuân Diệu?
Xuân Diệu lớn lên ở quê mẹ Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư vàlàm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viếtvăn, là thành viên của Tự lực văn đoàn (1938 - 1940)
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia Mặt trần Việt Minh Ông hăng say hoạtđộng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Năm 1983, Xuân Diệu được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệthuật cộng hòa dân chủ Đức Tham gia đoàn đại biểu Việt Nam dự “Tuần lễ văn hóaViệt Nam” tại Liên Xô trở về, ông đi thăm miền Nam lần cuối cùng và từ trầnngày
18/12/1985 tại Hà Nội, sau một cơn đau tim đột ngột, thọ 69 tuổi
Trang 36Trong lễ truy điệu của nhà thơ Xuân Diệu vào ngày 21/12/1985 nhà văn HàXuân Trường đã đọc bài điếu văn để bày tỏ sự thương tiếc trước sự ra đi của một
nhà thơ lớn: “Một cây lớn nằm xuống, làm cho cả khoảng trời trống vắng” Sự ra đi
của Xuân Diệu là một tổn thất lớn khó có thể bù đắp được
Ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)Hiện nay, tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội, một conđường ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và cũng được lấy làm tên cho một ngôitrường THPT ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và một trường THCS ở huyệnCan Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Ngoài ra, tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình cũng có mộtcon đường ở phường Nam Lý mang tên Xuân Diệu Bên cạnh đó ở làng Trảo Nha,thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã dựng nhà tưởng niệm, nhà thờ ông.Những địa danh này đã thể hiện sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc của hậu thế đốivới nhà thơ Xuân Diệu
+ Cảm nhận về phong cách thơ và những tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu?
Trước Cách mạng:
Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).
“Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết” [11, tr.21] Ông ca ngợi tình yêu và qua đó ca ngợi sự
sống, niềm vui, tuổi trẻ, mùa xuân…
Sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu tập trung “hướng mạnh vào thực tế đời sống
Các tập văn xuôi: “Phấn thông vàng” (1939), “Trường ca” (1945)
Các tập tiểu luận phê bình, nghiên cứu: “Những bước đường tư tưởng của
tôi” (1958), “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, hai tập (1981, 1982), “Công việc làm thơ” (1984)…
2.3.1.3 Hoạt động 3: HS hoạt động nhóm phát triển NL hợp tác
- Mục đích
Trang 37Tổ chức cho HS làm việc nhóm kết hợp với thảo luận toàn lớp là một trongnhững giải pháp hiệu quả tạo môi trường học tập sôi nổi, tích cực.Ở đó HS đọc,phát hiện, lí giải tác dụng của các biên pháp tu từ nghệ thuật trong việc khắc họahình tượng văn học, cảm nhận về vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật Đồng thờithông qua việc hoạt động nhóm còn giúp HS phát triển ý thức làm việc tập thể, hợptác với các bạn trong việc giải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu Qua đó HS được rènluyện NL hợp tác.
Qua việc sử dụng thảo luận nhóm tìm hiểu văn bản Vội vàng giúp các em
HS cảm nhận được nội dung, tư tưởng mà tác giả gửi gắm thông qua quá trình phântích, cắt nghĩa văn bản
- Cách thức tiến hành
GV chia lớp thành bốn nhóm để giải quyết các nhiệm vụ học tập, có thể lànhiệm vụ chung cho cả bốn nhóm cũng có thể là nhiệm vụ cho từng nhóm Cácnhóm tiến hành thảo luận trong khoảng thời gian quy định Trong quá trình thảoluận GV yêu cầu tất cả các thành viên đều phải tham gia hoạt động, đóng góp ý kiến
để giải quyết nhiệm vụ học tập Lúc này, GV cần quan sát thái độ làm việc của HS;
hỗ trợ, hướng dẫn HS khi cần thiết Kết thúc thời gian thảo luận, kết quả thảo luận
sẽ được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổsung Cuối cùng GV nhận xét và chốt lại vấn đề
Nhiệm vụ 1(Cả 4 nhóm): Tìm hiểu về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong mười ba câu thơ đầu
Mở đầu bài thơ là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn táo bạo củathi sĩ Đó là ước muốn tước quyền của tạo hóa, đoạt quyền vũ trụ:
“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”
Từ “tôi muốn” được điệp lại hai lần như để nhấn mạnh hơn nữa khát khao
cháy bỏng đến ngông cuồng của thi sĩ “Nắng”, “gió” vốn là những hiện tượng vĩnhhằng của tự nhiên, chúng có sức mạnh riêng mà con người không thể chinh phục
nổi Ấy vậy mà Xuân Diệu lại muốn “tắt nắng”, “buộc gió” Đây quả là ước muốn
kì lạ, táo bạo, phi lí và ngông cuồng Ước muốn ấy đã thể hiện một cái tôi đầy khaokhát đoạt quyền năng của tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên để níu giữ vẻ đẹp,
Trang 38hương sắc của cuộc đời Bởi lẽ Xuân Diệu biết rằng sắc thắm nào rồi cũng sẽ tànphai Không muốn những vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời mất đi, Xuân Diệu đã bày
tỏ ước muốn táo bạo Đằng sau ước muốn ấy ta thấy được một trái tim tràn đầyniềm yêu thương vô bờ bến đối với thế giới thắm đượm hương sắc này Biệp pháp
tu từ điệp ngữ, điệp cấu trúc đã nhấn mạnh, làm nổi bật khao khát thiết tha, cháybỏng của nhà thơ
Sau ước muốn táo bạo, Xuân Diệu đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên cuộc sốngnơi trần thế đẹp tựa thiên đường
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa; Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;”
Nếu như bốn câu thơ đầu được viết theo thể thơ năm chữ, âm điệu dõng dạc,dứt khoát thì đến dây các câu thơ được nới rộng ra tám chữ để diễn tả một bức tranhmùa xuân tươi đẹp, tràn trề nhựa sống đang phơi bày, trải rộng trước mặt Bức tranhmùa xuân hiện ra với những hình ảnh tươi sáng, những sắc màu rực rỡ, căng trànsức sống Ong bướm từng đôi, từng cặp bay lượn tình tứ, hạnh phúc như trong tuần
tháng mật ngọt ngào, đong đầy yêu thương Giữa đồng nội “xanh rì” - một màu
xanh mênh mông, màu sắc tươi thắm của những cách hoa càng trở nên nổi bật rực
rỡ Cây cối khi xuân về đâm chồi nảy lộc tạo nên những cành lá tơ non mềm mạiphất phơ mỗi khi có cơn gió nghẹ thoáng qua Cùng tô điểm để làm đẹp thêm chobức tranh mùa xuân ấy là những âm thanh réo rắt, ngất ngây của chim yến, chimoanh với khúc nhạc tình rạo rực, mê đắm Hòa cùng với hình ảnh, âm thanh là ánhsáng của buổi sớm mai rực rỡ, tinh khôi, tươi thắm tràn đầy sinh khí dưới cái nhìntình tứ của Xuân Diệu, không phải được tỏa ra từ vầng dương rực rỡ mà là từ đôimắt huyền ảo, từ hàng mi của người thiếu nữ kiều diễm Bức tranh mùa xuân tươiđẹp, dạt dào sức sống lãng mạn, tình tứ, tràn đầy xuân sắc, rộn rã xuân tình đang trảirộng trước mặt như gọi mời Hương thơm, màu sắc, âm thanh, ánh sáng tất cả hòaquyện tạo nên một vẻ đẹp thật quyến rũ Như vậy Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên
với cặp mắt “xanh non”, “biếc rờn” với lăng kính của tình yêu để rồi thổi vào đó
Trang 39niềm hân hoan, rạo rực, đắm say của lòng mình Một loạt các tính từ với các mức độđậm nhạt khác nhau đã diễn tả được một sức sống căng mọng, tràn trề của cảnh vật.
Sự sống ngập tràn những sắc những hương đang phơi bày, hiển hiện như mời mọc,quyến rũ Ta có cảm giác Xuân Diệu đã mở rộng mọi giác quan để cảm nhận,
thưởng thức mọi sắc hương trong vườn địa đàng ấy Điệp từ “của” cùng điệp ngữ
“này đây” được lặp đi lặp lại trong các dòng thơ cùng với phép liệt kê đã diễn tả
được sự phong phú tuyệt vời của hương sắc Đồng thời gợi ra cảm giác hân hoan,thích thú, vui sướng của nhà thơ khi phát hiện ra một thiên đường thần tiên nơi mặtđất Con người xưa nay cứ mãi tưởng tượng cho mình một thiên đường ở chốn bồnglai, cõi niết bàn, cựa lạc hay chốn hão huyền nào đấy Bị ảnh hưởng bởi quan điểmnày nên rất nhiều nhà thơ trung đại đã thể hiện tư tưởng muốn lánh đời ở ẩn để tìmđược sự bình an trong tâm hồn Một số nhà thơ cùng thời với Xuân Diệu cũng mang
tư tưởng chối bỏ thực tại cho rằng thực tại này không đáng sống Chẳng hạn như
Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời”, Nguyễn Bính với “Chân quê” đã chối bỏ
thực tại bằng cách đi tìm về những vẻ đẹp của một thời xa xưa nay chỉ còn vangbóng; còn Chế Lan Viên, Tản Đà đã chối bỏ thực tại bằng cách tìm đến một cõi giới
khác “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi” Ngược lại,
Xuân Diệu đã có một quan điểm rất mới mẻ, ông phát hiện thiên đường ngay trênmặt đất này, hơn nữa là ngay trong tầm tay của mỗi con người chúng ta, bày ra chào
mời chúng ta… Chính bởi vậy mà Hoài Thanh đã có lời khẳng định rằng: “Xuân
Diệu đốt cảnh bồng lai, xua ai nấy về hạ giới để yêu thương tận hưởng cuộc đời”.
Vậy là hạnh phúc chính là những gì đang hiện hữu xung quanh ta, hãy tận hưởngngay đi Tận hưởng cuộc sống từ những điều bình thường và giản dị nhất Ấn tượnghơn là hai câu thơ
“Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”
Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được nhìn thấy ánh mặt trời là ngàyvui Nhà thơ chào đón mỗi buổi sớm, mỗi ngày mới như chào đón thần Vui gõ cửa
nhà mình với bao bồn chồn, hân hoan, háo hức Chữ “Vui” được viết hoa vừa thể
hiện thái độ tôn trọng của nhà thơ vừa liên tưởng đến vị thần trong thần thoại Hy
lạp xưa Đặc biệt, sáng tạo hơn cả là câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi
gần” và tính từ “ngon” cùng với nghệ thuật chuyển đổi cảm giác đã cụ thể hóa, vật
chất hóa vẻ đẹp, sức hấp dẫn của tháng giêng, của mùa xuân để từ đó gợi lên tronglòng người đọc niềm khát khao tận hưởng Xuân Diệu đã so sánh tháng giêng, thángkhởi đầu của mùa xuân với cặp môi gần của người thiếu nữ Đây thực sự là một
Trang 40hình ảnh so sánh đầy táo bạo, mới mẻ của Xuân Diệu đã diễn tả được vẻ mơn mởn,tươi non đầy quyến rũ của mùa xuân khi mới bắt đầu Tình yêu mùa xuân, tuổi trẻ
đã được nhà thơ thể hiện thật táo bạo qua hình ảnh so sánh nhuốm màu sắc nhụccảm ấy Câu thơ còn thể hiện quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về chuẩn mực củacái đẹp.Nếu như trong thơ ca xưa, các nhà thơ luôn lấy thiên nhiên làm chuẩn mực
cho cái đẹp hoàn hảo Chẳng hạn như trong câu ca dao: “Những người con mắt lá
răm/Lông mày lá liễu, đáng trăm quan tiền” Hay Nguyễn Du khi miêu tả vẻ đẹp
của chị em Thúy Kiều cũng mượn hình ảnh của thiên nhiên để so sánh, ví von:
“Làn thu thủy, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Còn với
Xuân Diệu thì không thế, ông xem con người giữa tuổi trẻ, trong tình yêu mới làchuẩn mực của mọi vẻ đẹp trên thế gian này Quả là một quan niệm thẩm mĩ vừamới mẻ vừa có ý nghĩa nhân bản, nhân văn sâu sắc Ta còn bắt gặp quan niệm nàytrong nhiều bài thơ khác của ông
Đến hai câu thơ tiếp theo giọng thơ bỗng trùng xuống, cảm xúc rạo rực, hânhoan, say đắm đã lắng lại
“Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
Dấu chấm đột ngột xuất hiện giữa dòng thơ khiến câu thơ bị ngắt làm đôitạo nên phút lặng, độ ngưng của cảm xúc và cũng giống như một sự giật mình của
thi nhân trước một niềm vui không trọn vẹn Từ “nhưng” mang ý nghĩa tương phản
đánh dấu sự thay đổi của tâm trạng, cảm xúc Niềm vui sướng lúc trước vẫn cònlắng xuống bởi nhà thơ linh cảm trước về sự phai tàn, chia xa nên phải vội vàng, hối
hả Tâm trạng ấy đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất trong một trái tim luôn nồngnhiệt niềm yêu, vui sướng khi được tận mắt chứng kiến, chiêm ngưỡng, tận hưởng
cả một thiên đường nơi mặt đất… cảnh sắc thiên nhiên trong mùa xuân quả là tươiđẹp, cuộc sống tựa như một trái chín mọng đang gọi mời Nhưng nhà thơ lại thấy âu
lo, tiếc nuối, vội vàng bởi thời gian vẫn đang chảy trôi mà con người lại không thểtước đoạt quyền năng của tạo hóa để thời gian ngừng trôi, để màu sắc, hương vị củacuộc đời còn lại mãi mãi Đây là câu thơ bản lề khép lại cảm xúc si mê, nồng nhiệt,say đắm để chuyển sang nỗi buồn bã, vội vàng, gấp gáp Thông thường mọi ngườichỉ ngậm ngùi, nuối tiếc mùa xuân khi xuân tàn, hạ tới Nguyễn Trãi ngày trước:
“Trong tiếng quốc kêu xuân đã muộn”; hay Nguyễn Khuyến cũng viết “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi” Còn Xuân Diệu, nỗi ám ảnh bởi sự chảy trôi của thời gian,
bởi sự hữu hạn của kiếp người khiến nhà thơ có thái độ sống thật tích cực “không