1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học bài phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (ngữ văn 10)

72 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNBằng cố gắng của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” Ngữ văn 10 Tôi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=== ===

TRẦN THỊ HẢI YẾN

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC

PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC BÀI

“PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”

(Ngữ văn 10) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=== ===

TRẦN THỊ HẢI YẾN

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC

PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC BÀI

“PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”

(Ngữ văn 10) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

Th.S DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng cố gắng của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài

“Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học bài Phong cách ngôn ngữ

nghệ thuật” (Ngữ văn 10)

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học

và các thầy cô trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đặc biệt làgiảng viên - Th.S Dương Thị Mỹ Hằng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhlàm khóa luận này

Vì điều kiện thời gian có hạn nên đề tài có thể còn những hạn

chế nhất định Tôi rất mong được thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để khóa luậnhoàn thiện hơn

Hà Nội ngày 20 tháng 3 năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Hải Yến

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Bài nghiên cứu được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên Th.S Dương Thị Mỹ Hằng Tôi xin cam đoan rằng:

-Khóa luận này là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi Những tư liệu đượctrích dẫn trong khóa luận là trung thực Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không hềtrùng với công trình nghiên cứu của tác giả nào đã công bố trước đó Nếu có sai sóttôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội ngày 20 tháng 3 năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Hải Yến

Trang 5

PCNNNT Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

DHPH Dạy học phân hóa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Dạy học phân hóa 6

1.1.2 Một số lí thuyêt liên quan đến dạy học phân hóa 8

1.1.3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Thực trạng dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” theo quan điểm phân hóa ở trường phổ thông 15

1.2.2 Thực trạng học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” ở trường phổ thông 16

1.2.3 Đánh giá khái quát 16

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA 17

2.1 Mục tiêu dạy học 17

2.1.1 Kiến thức 17

Trang 7

2.1.2 Kĩ năng 17

2.1.3 Thái độ 17

2.1.4 Năng lực 17

2.2 Nội dung bài học “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”trong SGK 17

2.3 Bảng mô tả mức độ nhận thức của bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật21 2.4 Một số phương pháp, hình thức dạy học sử dụng trong dạy học phân hóa 23

2.4.1 Phương pháp dạy học theo nhóm 23

2.4.2 Phương pháp dạy học theo góc 27

2.4.3 Phương pháp dạy học hợp đồng 28

2.4.4 Phương pháp đàm thoại 32

2.4.5 Phương pháp dạy học theo dự án 33

2.5 Quy trình dạy học phân hóa 33

2.5.1 Tìm hiểu đối tượng học sinh, phân loại trình độ học tập 34

2.5.2 Xây dựng các nhiệm vụ học tập phù hợp với trình độ học sinh 35

2.5.3 Đánh giá kết quả học tập và đề xuất cải tiến 36

Chương 3: GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 43

3.1 Mục đích thể nghiệm 43

3.2 Đối tượng thể nghiệm 43

3.3 Kế hoạch thể nghiệm 43

3.4 Nội dung thực hiện 43

3.5 Thiết kế bài giảng 43

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Mỗi học sinh là một cá thể độc lập, các em có nhận thức, khả năng nắm bắt,lĩnh hội các kiến thức khác nhau, cùng một lớp học nhưng học lực của mỗi học sinhcũng có sự khác nhau Nếu giáo viên chỉ truyền đạt kiến thức một cách máy móchay một cách tùy hứng theo ý thích của bản thân mà không chú ý đến năng lực, khảnăng nhận thức, lĩnh hội của từng HS thì hiệu quả giáo dục sẽ thấp Chẳng hạn nhưgiáo viên chỉ đặt ra những câu hỏi hoặc truyền đạt những kiến thức quá khó thìnhững học sinh có học lực kém hoặc trung bình các em sẽ khó có thể trả lời hoặclĩnh hội được, ngược lại, nếu chỉ đặt những câu hỏi quá dễ thì những học sinh cóhọc lực từ khá giỏi trở lên sẽ thấy tiết học rất nhàm chán, các em không có cơ hội đểtiếp thu những tri thức mới, không có cơ hội để thử thách học sinh dễ cảm thấy tiếthọc nhàm chán và không tập trung lắng nghe Thực tế GV mới chỉ mới quan tâm sửdụng các phương pháp dạy học cho mặt bằng HS trong lớp học hay chỉ “Pha chếmột loại thuốc điều trị” cho HS HS có học lực yếu, kém còn ít được GV quan tâmđến, còn các HS có học lực giỏi lại ít được nâng cao kiến thức Trong bài “Phongcách ngôn ngữ nghệ thuật”, ngoài những kiến thức cơ bản cũng có những kiến thứccần nâng cao như các “đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” được thểhiện như thế nào trong một tác phẩm văn học cụ thể, học sinh sẽ sử dụng ngôn ngữnghệ thuật như thế nào khi làm một đề văn tự sự, miêu tả, biểu cảm Do vậy việcphân hóa mức độ kiến thức phù hợp với mỗi học sinh trong một tiết học là rất cầnthiết, cùng một bài học trong một lớp học nhưng giáo viên cũng cần phân hóa cácmức độ kiến thức cần truyền đạt và các câu hỏi, bài tập dành cho các đối tượng họcsinh một cách phù hợp Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi lựa chọn nghiên cứu và

Trang 9

đưa ra một vài định hướng dạy học vào một tiết học cụ thể nhằm giúp giáo viên cómột tiết dạy đạt hiệu quả cao, phù hợp với khả năng tiếp nhận của từng đối tượnghọc sinh Tôi xin lựa chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy

học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.” (Ngữ văn 10)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới đã có nhiều nước nghiên cứu về DHPH, những nghiên cứu vềDHPH được bắt đầu từ thành tựu nghiên cứu trước đó Chúng tôi xin điểm lại một

số nghiên cứu làm cơ sở cho DHPH trên thế giới

Trước hết là “lí thuyết về mặt xã hội học”, lí thuyết này được xây dựng bởinhà tâm lí học người Nga VyGotsky là cơ sở cho một số nhà nghiên cứu và quản lígiáo dục nghiên cứu về quá trình giáo dục, sự thay đổi diễn ra ở trong lớp học và sựphát triển [9] “Lí thuyết về mặt văn hóa xã hội” với những nghiên cứu củaVygotsky và sau đó là Wertsth đã giúp mang lại nhiều ý nghĩa tích cực đối với cácquy trình trong dạy học và giáo dục ở trong nhà trường Những hoàn cảnh xác địnhđược coi là yếu tố quan trọng cho sự phát triển các chức năng ở bậc cao hơn vànhững chức năng ấy được hình thành và phát triển dựa vào các nhân tố xã hội Dovậy nhân tố xã hội chính là cơ sở cho sự phát triển của nhận thức Lí thuyết củaVygotsky còn đưa ra quan điểm “xem giáo dục là một quá trình diễn ra và phát triểnliên tục chứ không phải là sản phẩm của một quá trình” [9]

Vygotsky cũng chỉ ra các quan hệ về “vùng phát triển gần nhất”, vấn đềtrung tâm của lí thuyết đó đề cập đến một mức độ phát triển đạt được khi người họctham gia vào các hoạt động xã hội Các tài liệu cũng cho rằng: “một HS sẽ pháttriển vùng gần nhất của mình và từ đó học tập độc lập được nếu người đó đượchướng dẫn bởi một GV hoặc chuyên gia” Năng lực của người học sẽ được mở rộng

và nâng cao thông qua việc hướng dẫn có mục đích của người GV Vì vậy, GV cóvai trò hướng dẫn, điều khiển có mục đích quy trình dạy học nhằm giúp HS pháthuy vùng gần nhất của bản thân

Một trong những nền tảng của DHPH là các cơ sở đổi mới về quy trình dạyhọc Có nhiều cơ sở để đổi mới quy trình dạy học được đưa ra, trong đó có tính đadạng của HS, những ng hiên cứu về mặt trí tuệ, những vấn đề liên quan đến phongcách học tập của HS

“Thuyết đa trí tuệ” của Gadner (1993) cho rằng “trí thông minh là một đơn vịkhó có thể đo được” Lí thuyết của Gardner tập trung vào 8 năng lực tư duy và nêu

sự cần thiết phải giải quyết vấn đề “Một kĩ thuật dạy học hoặc chương trình phụthuộc rất nhiều vào một trong những năng lực tư duy này” (Amstrong, 2009) Năng

Trang 10

lực tư duy khác nhau của HS được xem như là công cụ để học tập và giải quyết cácvấn đề, từ đó tạo điều kiện, cơ hội cho các em, giúp phát huy các điểm mạnh củacác em DHPH sẽ giúp tập trung vào việc tạo điều kiện cho các em được phát huyđiểm mạnh của mình, giúp các em đạt được sự thành công, kể cả đối với những HStưởng như yếu, kém.

Về “phong cách học tập”, các tài liệu [9] đã chỉ ra mỗi HS có “phong cáchhọc tập” khác nhau Việc GV nắm bắt được “phong cách học tập” của từng HS làmột yếu tố quan trọng giúp các em tiến bộ Mô hình GD chú ý vào phong cách họctập sẽ giúp GV có định hướng lên kế hoạch bài dạy và chương trình giảng dạy phùhợp với HS Xác định được phong cách học tập của HS và có phương pháp giảngdạy phù hợp, GV cải thiện được thái độ học tập của HS

Ở Việt Nam trong “Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trungương khóa XI (Nghị quyết số 29 - NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện về giáodục và đào tạo” đã đưa ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục trung học phổ thông phảinâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bên cạnh việc giáo dục lí tưởng, truyềnthống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học cần hình thành và phát triển cho họcsinh năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Trong phầnnhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết đưa ra cần phải “tích hợp cao ở các lớp họcdưới và phân hóa dần ở các lớp học trên” Cùng với đó DHPH cũng đã đượcnghiên cứu ở nhiều khía cạnh với mức độ khác nhau

Trong cuốn “Phát triển năng lực dạy học tích hợp - phân hóa cho giáo viên các

cấp học phổ thông”, hai tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Nguyễn Thị Diễm My

đã “hệ thống hóa các lý luận chung về sư phạm tích hợp và sư phạm phân hóa,chuẩn nghề nghiệp giáo viên và năng lực dạy học tích hợp - phân hóa” Từ đó, trìnhbày các quan điểm về dạy học phân hóa cho GV tiểu học và trung học [8]

Năm 2007, Trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo “Phân hóa giáodục phổ thông” Hội thảo đã tập hợp nhiều bài viết về các mặt khác nhau của

DHPH, như “Dạy học phân hóa từ góc độ giáo dục học” (Nguyễn Thanh Bình),

“Dạy học phân hóa - khái niệm và các khía cạnh thể hiện” (Nguyễn Thị Kim Dung),

“Dạy học phân hóa - một vài vấn đề lý luận” (Nguyễn Thanh Hoàn), “Vài ý kiếntrao đổi về dạy học phân hóa” ( Đào Thị Hồng), Từ đây, những khái niệm, phạmtrù, yếu tố xoay quanh quan điểm DHPH ở trường THPT được làm sáng tỏ [8]Tiến sĩ Khoa học Giáo dục Nguyễn Đắc Thanh đã nghiên cứu đề tài “Rènluyện kỹ năng dạy học phân hóa cho sinh viên các trường đại học qua tổ chức thựchành sư phạm” Luận án đã trình bày những đề xuất về quy trình rèn luyện kĩ năng

Trang 11

dạy học phân hóa cho sinh viên các trường đại học qua tổ chức thực hành sư phạm,

từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng ở các trường đại học, phù hợp với nhu cầu đổi mới quan điểm dạy học theo hướng phân hóa [8]

Ngoài thể loại sách và luận án, các tạp chí “Tâm lý học và Khoa học giáo dục”cũng quan tâm đến chủ đề DHPH Có thể kể đến “Một số vấn đề dạy học phân hóa”(Tôn Thân) ; “Công bằng xã hội và cơ hội học tập trong phân hóa chương trình giáo

dục phổ thông” (Đặng Thành Hưng), [8]

Các công trình nghiên cứu đã xuất bản cho thấy quan điểm dạy học phân hóa

đã được làm rõ ở một số khía cạnh Trong quá trình nghiên cứu về “Vận dụng quan

điểm dạy học phân hóa vào dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ

văn 10), tôi xem thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước là những tài liệu thamkhảo giá trị

Hiện nay một số giáo viên khi giảng dạy trên lớp đã có ý thức chuẩn bị côngphu bài giảng, tìm hiểu tình trạng học tập và mức độ nhận thức chung của lớp, pháthiện những học sinh khá giỏi, những học sinh còn yếu kém trong học tập, trên cơ sở

đó xây dựng nội dung dạy phù hợp Tuy nhiên việc “dạy học theo quan điểm phânhóa” ở trong lớp họcthì từ trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu Việc nghiêncứu đề tài “dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường THPT” hiện nay rấtcần thiết để nâng cao chất lượng dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy gópphần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội cho giai đoạn mới

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa

vào thực hiện dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” nhằm phát huy tính

tích cực của HS trong học tập Bên cạnh đó đề tài chỉ ra những kiến thức, câu hỏiphù hợp với đối tượng học sinh khi dạy bài: “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” Từ

đó góp phần nhỏ vào việc tìm ra hướng đi của việc dạy học bài “Phong cách ngônngữ nghệ thuật” một cách hiệu quả nhất

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, khóa luận cần giải quyết ba nhiệm vụ:

- Trình bày, hệ thống các lý thuyết được lựa chọn là cơ sở lý luận của đề tài

- Đưa ra một số phương án dạy học theo “quan điểm dạy học phân hóa” phùhợp, để đạt được hiệu quả cao trong dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: “Dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa trong bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10, tập hai)

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung tìm hiểu, vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp nhằmphân hóa HS trong bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (SGK, Ngữ văn 10, tậphai) phù hợp với khả năng tiếp nhận kiến thức của từng đối tượng học sinh lớp 10 ởtrường phổ thông, cụ thể người nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm điều tra thựctrạng dạy học theo “quan điểm dạy học phân hóa” ở trường THPT Quốc Oai (HàNội)

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê - phân loại: được dùng khi phân loại mức độ kiến

thức và học lực của HS

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trên cơ sở phân tích, nhận xét, đánh

giá từ đó xác định các câu hỏi, các mức độ của kiến thức phù hợp với từng đốitượng HS

- Phương pháp xử lí số liệu thống kê: trên cơ sở thống kê được năng lực của

Hs sẽ phân loại được nhóm HS có học lực giống nhau để có định hướng giảng dạyphù hợp

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA

QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Dạy học phân hóa

1.1.1.1 Khái niệm phân hóa, dạy học phân hóa

Khái niệm phân hóa:

Theo Từ điển mở Wiktionary: “Phân hóa là chia một khối thành nhiều phần

có tính chất đối lập nhau” [11] Như vậy, phân hóa là hoạt động phân loại và chiatách các đối tượng

Khái niệm dạy học phân hóa:

Theo nhà giáo dục Hoa Kì Carol Ann Tomlinson: “Dạy học phân hóa là quá

trình đảm bảo nội dung và phương pháp học tập cũng như kiểm tra đánh giá phảiphù hợp với trình độ, sự quan tâm và phương thức học tập quen thuộc của từng

người học” [15]

Dạy học phân hóa là định hướng về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phươngtiện và hình thức kiểm tra đánh giá, trong đó người dạy tổ chức dạy đảm bảo yêucầu giáo dục phù hợp với từng đối tượng người học, từ đó phát triển tối đa tiềmnăng vốn có của mỗi HS nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục

Như vậy, DHPH hiểu đơn giản là cách thức mà người giáo viên tổ chức quátrình dạy học sao cho phù hợp với từng cá nhân hoặc nhóm HS với mục đích pháthuy được năng lực học tập của học sinh

1.1.1.2 Đặc điểm của dạy học phân hóa

- Dạy học phân hóa mang tính hệ thống và tính chủ động

+ Tính hệ thống của DHPH: Khi DHPH thì GV phải cùng một lúc điều khiển

và phải chú ý đến các hoạt động nhiều hơn Khi dạy học cần tương tác, kết hợp vớinhau liên tục giữa GV và HS để GV theo được dõi sự tiến bộ của người học, từ đóđiều chỉnh hoạt động học phù Vì thế một lớp học phân hóa sẽ mang tính hệ thống

và chặt chẽ

Trang 14

+ Tính chủ động của DHPH: DHPH có tính chủ động vì trong quá trình dạy

học, GV sẽ nắm được nhu cầu và năng lực của từng đối tượng HS, từ đó chủ độngthực hiện thành những kế hoạch dạy học cụ thể và phù hợp cho các em

- Vận dụng linh hoạt và hiệu quả các hình thức tổ chức dạy học

Williams (2005) cho rằng DHPH “không phải là một hình thức dạy học

mà là sự kết hợp của các hình thức tổ chức dạy học toàn lớp, dạy học nhóm và dạyhọc cá nhân” Đúng là như vậy, trong quá trình DHPH việc chia sẻ thông tin hoặctạo ra các hoạt động học tập cho cả lớp sẽ đem lại hiệu quả cao Còn đối với dạyhọc cá nhân lại được dựa trên cơ sở phân hóa về trình độ và năng lực học tập của

HS, từ đó GV đưa ra phương pháp dạy học phù hợp tất cả HS trong lớp tiến bộ.Trong DHPH, người GV cần linh hoạt cho HS hoạt động nhóm và hoạt động cánhân sao cho phù hợp và hiệu quả

- Dạy học phân hóa giúp phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Trong DHPH, Khi HS khá, giỏi làm một nhiệm vụ học tập quá dễ các em

sẽ thấy nhàm chán, không hứng thú học tập Ngược lại nếu giao nhiệm vụ học tậpquá khó cho các HS trung bình, yếu, kém sẽ khiến các em không làm được từ đódãn tới nản chí và bỏ qua nhiệm vụ được giao Vì vậy DHPH phải cố gắng để điềuchỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với trình độ và năng lực nhậnthức của HS

- Dạy học phân hóa cung cấp nhiều cách thức tiếp cận với nội dung, phươngpháp tổ chức và đánh giá kết quả học tập của học sinh

Có nhiều cách giúp GV tiếp cận HS như: thông qua quan sát, nói chuyện với

HS, các cuộc làm bài nhóm diễn ra ở lớp, kết quả học tập của HS, từ các cáchthức đó GV có thể đánh giá những thay đổi trong năng lực nhận thức, hứng thú, tíchcực học tập của HS Từ đó giúp GV có các định hướng giảng dạy phù hợp, giúp mỗi

HS phát huy được tối khả năng của mình

Như vậy, trong một lớp học DHPH, GV cần biết cách điều khiển, hướngdẫn HS, đưa ra nhiều cách thức tiếp cận kiến thức khác nhau sao cho phù hợp từngđối tượng HS

1.1.1.3 Vai trò của dạy học phân hóa trong dạy học ở trường THPT

DHPH có hai vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, giúp tạo ra sự phù hợp với các đối tượng HS : Mỗi HS là một cá

nhân độc lập hoàn toàn không giống nhau, có những sở thích, năng lực, sở trườngkhác nhau, với nhưng động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập khác nhau Nhà

Trang 15

trường cần trang bị cho mọi HS những tri thức phổ thông nền tảng, cốt lõi, giúp mỗi

HS phát triển tối đa năng lực của bản thân

Thứ hai, DHPH HS giúp đáp ứng được yêu cầu phân công lao động trong xã hội và phân luồng học sinh: Ngày nay, ngành nghề mới xuất hiện đa dạng, phong

phú, đòi hỏi nguồn lao động phải có trình độ kiến thức và khả năng thực hiện côngviệc thành thục Trước những thay đổi đó yêu cầu nguồn lao động cũng phải đápứng được Vì vậy khi DHPH sẽ giúp các em HS phát huy được các thế mạnh riêng,phù hợp với ngành nghề mình lựa chọn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội

1.1.2 Một số lí thuyết liên quan đến dạy học phân hóa

1.1.2.1 “Lí thuyết vùng phát triển gần” với dạy học phân hóa

Theo “lí thuyết vùng phát triển gần” của Lép Xê-mi-ôn-vich Vư-gốt-xki(sinh ngày 5-11-1896 ở thị trấn Ooc-sa, nước cộng hòa Liên Bang Nga) thì “dạyhọc đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển và trong quá trình phát triển của trẻ

em thường diễn ra hai mức độ: Trình độ hiện tại và vùng phát triển gần nhất” Theo

lí thuyết của ông thì “trình độ hiện tại là trình độ mà ở đó các chức năng tâm lí chưađạt tới mức chín muồi Trong thực tiễn, trình độ hiện tại biểu hiện qua việc trẻ emđộc lập giải quyết nhiệm vụ, không cần bất cứ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, cònvùng phát triển gần nhất được thể hiện trong tình huống, trẻ hoàn thành nhiệm vụkhi có sự hợp tác, giúp đỡ người lớn, thầy cô, mà nếu tự mình làm nó không thểthực hiện được” Như vậy, “hai mức độ phát triển trẻ em thể hiện hai mức độ chínmuồi chức năng tâm lí ở các thời điểm khác nhau Đồng thời, chúng luôn vận động:vùng phát triển gần nhất hôm nay sẽ trở thành trình độ hiện tại và vùng phát triểngần nhất mới” “Vùng phát triển” gần được hiểu là “khoảng cách giữa trình độ hiệntại và nhiệm vụ học tập mà nếu nỗ lực cùng với sự giúp đỡ của thầy cô, học sinh cóthể giải quyết được nhiệm vụ học tập” Để đổi mới phương pháp giảng dạy là làmthế nào tạo ra được “vùng phát triển gần”, tức là kích thích học sinh hoạt động,

“thức tỉnh một loạt các quá trình phát triển nội tại” và “đưa chúng vào các tìnhhuống có vấn đề”, các quá trình phát triển nội tại hiện giờ đang là khả năng chỉtrong phạm vi quan hệ qua lại giữa GV và HS, HS và HS và các quá trình nội tạitrải qua một tiến trình phát triển, sau đó trở thành thành tựu bên trong của chính họcsinh Mục đích của việc dạy học là đem đến sự phát triển toàn diện cho HS, điều đócho thấy giữa việc dạy học và phát triển có mối quan hệ với nhau Nhìn chung việcdạy học bằng nhiều cách khác đều nhằm mang lại sự phát triển kiến thức HS.Nhưng dạy học cần đạt tới yêu cầu của giáo dục đó là đem lại sự phát triển tốt nhất,

Trang 16

toàn diện nhất cho HS Theo Vư-gôt-xki thì: “Dạy học được coi là tốt nhất nếu nó đi

trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển” [9] Quan điểm xuất phát từ cơ sở lí

thuyết “vùng phát triển gần nhất” do ông đề xướng ra Lí luận dạy học chỉ ra rằng:

“Dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học” Vư-gôt-xki

đã chỉ ra “ ở những học sinh khác nhau sẽ có vùng phát triển gần khác nhau, nó phụthuộc rất nhiều vào trình độ và năng lực của người giáo viên, đặc biệt phụ thuộc vàonhiệm vụ học tập đưa ra trước học sinh thông qua nghệ thuật đưa ra các câu hỏi vấn

đề và các câu hỏi gợi ý” Việc giáo viên đưa ra các câu hỏi, định hướng các kiếnthức phù hợp với trình độ nhận thức, năng lực của học sinh sẽ phát huy được nănglực cho học sinh một cách tối đa, đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy Do đó việcdạy học theo quan đểm phân hóa là điều rất cần quan trọng Như vậy có thể thấy líthuyết “vùng phát triển” gần góp phần tạo cơ sở cho phần nghiên cứu về đề tài

nghiên cứu “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học bài Phong cách

ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10)

1.1.2.2 Lí thuyết phong cách học tập với dạy học phân hóa

Khái niệm: “Phong cách học tập là những đặc điểm riêng có tính ưu thế,tương đối bền vững của cá nhân quy định cách tiếp nhận, xử lí và lưu giữ vàphản hồi thông tin trong môi trường học tập” [9]

Trên thế giới hiện nay có hàng trăm mô hình PCHT khác nhau, theo DavidKolb (nhà tâm lí học người Mỹ) có bốn phong cách (kiểu) học tập như sau:

- Diverging (CE/RO)

- Asimilating (AC/RO)

- Accommodating (CE/AE)

- Converging (AC/AE)

Trang 17

Mô tả phong cách học tập

Bốn kiểu PCHT của Kolb được mô tả ngắn gọn như sau:

Diverging (CE/RO): Phong cách (kiểu) phân kỳ

[9]

Kolb miêu tả những người có phong cách phân kỳ như sau: “Những ngườinày có thể nhìn nhận mọi thứ bằng những quan điểm khác nhau Họ rất nhạy cảm,thích xem hơn là làm, chăm sóc để thu thập thông tin và sử dụng trí tưởng tượng để

Trang 18

giải quyết vấn đề một cách hiệu quả Họ có thể xem xét tình huống cụ thể từ một số quan điểm khác nhau rất tốt và đạt được hiệu quả cao.” [9]

Ông gọi “phong cách” này là “phân kỳ” vì “những người này thể hiện tốthơn trong những tình huống yêu cầu tạo ra các ý tưởng, chẳng hạn như động não.Những người có phong cách học tập này quan tâm về các vấn đề văn hóa đa dạng

và muốn thu thập thông tin từ nhiều hướng khác nhau.Họ thường quan tâm đến mọingười, giàu trí tưởng tượng, tình cảm, và giỏi trong lĩnh vực nghệ thuật Nhữngngười có phong cách này thích làm việc theo nhóm, lắng nghe với tâm thế cởi mở

và nhận phản hồi cá nhân một cách tích cực.” [9]

Asimilating (AC/RO): Phong cách (kiểu) đồng hóa

“Những người này thường đòi hỏi những giải thích rõ ràng hơn là một cơhội thực tế.Họ nổi trội trong việc tìm hiểu thông tin trên phạm vi rộng lớn và tổchức nó theo một định dạng đã cho một cách rõ ràng, hợp lý Những người cóphong cách học tập đồng hóa thường ít tập trung vào con người mà quan tâm nhiềuhơn đến ý tưởng và khái niệm trừu tượng Phong cách học tập này có ý nghĩa rấtquan trọng đối với hiệu quả trong lĩnh vực thông tin và khoa học Trong các tìnhhuống học tập chính thức, những người có phong cách này thường thích nghe giảng,nghiên cứu, khám phá các mô hình phân tích và có sự ngẫm nghĩ kỹ lưỡng.” [9]

Accommodating (CE/AE): Phong cách (kiểu) hội tụ

Những người có phong cách học tập hội tụ thường có khả năng giải quyết vấn đề và sẽ sử dụng việc học của mình để tìm ra giải pháp tốt nhất cho cácvấn đề thực tế Họ rất thích các nhiệm vụ có kỹ thuật, ít quan tâm đến mọi người xung quanh và các khía cạnh khác giữa các cá nhân

“Những người có phong cách học tập hội tụ tìm kiếm ứng dụng thực tế chocác ý tưởng và lý thuyết rất tốt Họ có thể giải quyết vấn đề và đưa ra quyết địnhbằng cách tìm giải pháp cho các câu hỏi và vấn đề.Những người có phong cách họctập này thường bị thu hút vào các tình huống có vấn đề, nhiệm vụ kỹ thuật hơn làcác vấn đề xã hội hoặc cá nhân Những người có một phong cách hội tụ họ thích thửnghiệm những ý tưởng mới của mình để mô phỏng, và làm việc với các ứng dụngthực tế.” [9]

Converging (AC/AE): Phong cách (kiểu) thích nghi

“Phong cách học tập” phù hợp là “thực hành”, và dựa vào trực giác hơn là logic Những người có phong cách này có “khả năng sử dụng phân tích của người khác và

Trang 19

thích sử dụng phương pháp tiếp cận thực tế, kinh nghiệm Họ bị thu hút bởi nhữngthách thức, khó khăn và những kinh nghiệm mới, và để thực hiện các kế hoạch họthường hành động theo bản năng hơn là phân tích logic của mình Những người cómột phong cách học tập này sẽ có xu hướng dựa vào những người khác để có thôngtin Phong cách học tập này phổ biến trong dân số nói chung.” [9]

Ý nghĩa giáo dục

Từ bốn phong cách học tập khác nhau mà Kolb đưa ra có thể thấy phongcách học tập của mỗi người không giống nhau Vì vậy người GV cần chú ý thiết kếcác hoạt động học tập cho HS phù hợp và cung cấp kiến thức cho mỗi người họcmột cách hiệu quả, giúp người học có cơ hội tham gia theo cách phù hợp nhất với

họ Có như vậy mới phát huy được năng lực của các em học sinh một cách phù hợp

và hiệu quả nhất Như vậy, từ “lí thuyết về phong cách học tập” của Kolb, có thểthấy việc áp dụng dạy học theo quan điểm phân hóa vào dạy học bài “Phong cáchngôn ngữ nghệ thuật” là điều rất cần thiết trong việc đáp ứng nhu cầu, “phong cáchhọc tập” riêng biệt của mỗi HS

1.1.2.3 Lí thuyết thang đo nhận thức của Bloom với dạy học phân hóa

Benjamin Bloom - Giáo sư của trường Đại học Chicago đã đưa ra thang đo

về các cấp độ tư duy 1956 Tài liệu [14] đã nêu rằng “thang đo này đã được sử dụngtrong hơn năm thập kỷ qua và đã khẳng định được ưu điểm của phương pháp dạyhọc nhằm khuyến khích và phát triển các kỹ năng tư duy của học sinh ở mức độ caonhất”

Thang đo nhận thức của Bloom

Trang 21

Nhớ (remember)

[14]

“Nhớ là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin Nhớ là khả năng cần thiết

cho tất các mức độ tư duy Nhớ ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã họcmột cách máy móc và nhắc lại các kiến thức đó” [9]

Để biết được mức độ nhớ của học sinh, GV có thể đặt câu hỏi kiểm tra có

dùng những động từ như: nêu, liệt kê, xác định, nhận biết, gọi tên, đối chiếu, phân

loại, mô tả, định danh, định vị, lấy ví dụ, phân biệt quan điểm từ thực tế,

Các câu hỏi đặt ra sao cho phù hợp với năng lực của từng đối tuợng học sinh

Hiểu (understand)

“Hiểu là khả năng hiểu, diễn giải, giải thích, diễn dịch hoặc suy diễn (dự

đoán được kết quả hoặc hậu quả) Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó màngười học phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của họ một cách rõ ràng,lưu loát” [9]

Để biết được HS hiểu bài đến đâu, GV có thể dùng các động từ trong câu hỏi

kiểm tra như: phân biệt, chứng tỏ, trình bày lại, viết lại, lấy ví dụ, diễn dịch, hình

dung, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng, diễn giải, tóm tắt, giải thích …

Vận dụng (apply)

Trang 22

“Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạngnày sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới) Vậndụng là vận dụng những kiến thức đã học, đã biết vào đời sống hoặc một tình huốngmới để giải quyết một vấn đề nào đó” [9]

Để biết được khả năng vận dụng của HS, GV có thể sử dụng các câu hỏi có

các động từ như: phân loại, sửa đổi, chứng minh, ước tính, vận hành, giải quyết,

minh họa, áp dụng, tính toán, diễn dịch, thao tác, đưa vào thực tế, dự đoán, bày tỏ…

Phân tích (analyze)

“Phân tích là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phậncấu thành của thông tin hay tình huống Mức độ này đòi hỏi người học có khả năngphân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó.”[9]

Để biết được khả năng phân tích của từng đối tượng HS, GVcó thể đặt các

câu hỏi kiểm tra sử dụng các động từ: chỉ ra sự khác biệt, phác thảo, phân tích, tổ

chức, thao tác, suy luận, lựa chọn, vẽ biểu đồ,đối chiếu, phân biệt, phân loại, liên

hệ thực tế, …

Tổng hợp (evaluate)

“Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần, kiến thức để tạo thành một

tổng thể/sự vật lớn Ở mức độ này HS phải biết sử dụng những gì đã học để tạo rahoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ.” [9]

Một số động từ có thể được dùng cho câu hỏi kiểm tra với mục đích đánh giá

khả năng tổng hợp của HS như: thảo luận, so sánh, tạo mới, sắp đặt, sáng tác, tổ

chức, thiết kế, hỗ trợ, viết ra, báo cáo, hợp nhất, tuân thủ, xây dựng, phát triển, lập

kế hoạch, giả thiết, …

Đánh giá (ceate)

“Đánh giá là khả năng phán xét các giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các

tiêu chí thích hợp nhất Để sử dụng đúng mức độ này thì HS phải có khả năng giảithích tại sao lại sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm của mình.” [9]

Trang 23

Trong câu hỏi kiểm tra ở mức độ đánh giá có thể sử dụng một số động từ

như: phê bình, tranh luận, kết luận, định lượng, đánh giá, lựa chọn, xếp loại, ước

tính, phán xét, bảo vệ, định giá, giả thiết, …

Kết luận

Như vậy, để đạt được hiệu quả cao trong dạy học và kiểm tra đánh giá thìngười GV cần phải xác định được mục tiêu bài học mà HS cần đạt đến và đánh giáđược mức độ nhận thức của từng đối tượng HS Từ đó mới có thể xác định đượccách đặt câu hỏi trong kiểm tra đánh giá cho phù hợp Từ lí thuyết “thang đo nhận thức của Bloom”, tôi nhận thấy việc “dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa” rấtcần thiết, cụ thể là trong bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, có thể vận dụng líthuyết thang đo nhận thức của Bloom để GV nắm bắt các khả năng nhận thức củatừng học sinh để từ đó có các định hướng giảng dạy phù hợp với từng đối tượng HSnhằm đạt hiệu quả giảng dạy cao nhất

1.1.3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.3.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

“Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu và là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Nóiđến tín hiệu là nói đến chức năng chứa đựng và truyền tải thông tin của chúng Khácvới ngôn ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật là một hệ thống tín hiệu hết sứcphức tạp và chặt chẽ Tính phức tạp thể hiện ở hai bình diện: “tính đa trị” và “tính

đa phong cách” Ta có thể khám phá rất nhiều lớp nghĩa trong những đơn vị (một

từ, một câu hay một văn bản) mang thông tin Trong một tác phẩm văn chươngcũng có thể tìm thấy các phong cách ngôn ngữ đan xen nhau một cách hài hòa tạothành một bản hòa tấu không có chi tiết thừa Với đặc điểm đó đòi hỏi người thưởngthức và người tìm hiểu nó phải có năng lực tổng hợp về các loại tri thức và các thaotác để mổ xẻ và khai thác nó một cách khoa học Mỗi một tác phẩm là một tồng thểkhông thể tách rời Tất cả các yếu tố của một hệ thống đều là những dấu hiệu hướngvào sự thể hiện một thông điệp thống nhất” [15]

Tóm lại “ngôn ngữ ngệ thuật là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, chủ yếu đượcdùng trong văn bản nghệ thuật” [1, tr98]

Những hiểu biết này là tiền đề quan trọng giúp người nghiên cứu khóa luận ápdụng phân hóa mức độ kiến thức phù hợp trong việc nghiên cứu đề tài của mình

1.1.3.2 Đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 24

Ngôn ngữ nghệ thuật có ba đặc điểm cơ bản: “Tính hình tượng”: Để tạo rahình tượng ngôn ngữ, người viết thường dùng rất nhiều phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh…Ngôn ngữ nghệ thuật có tính đa nghĩa vàhàm súc “Tính truyền cảm”: “Tính truyền cảm” trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện

ở chỗ làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích như chính người nói(viết) Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút,gợi cảm xúc về vẻ đẹp vô hình mà tưởng như hiển hiện trước mắt “Tính cá thểhóa”: Ngôn ngữ nghệ thuật khi sử dụng có khả năng thể hiện một giọng riêng, mộtphong cách riêng Giọng thơ Tố Hữu không giống giọng thơ Chế Lan Viên, giọngthơ Xuân Diệu, giọng thơ Huy Cận Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở cách dùng từ,cách đặt câu và ở hình ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết [1, tr98,99,100]

Từ lí thuyết về các “đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”trên, người nghiên cứu khóa luận có thêm hiểu biết về các kiến thức trong bài

“Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, xác định, phân loại kiến thức để từ đó áp dụngvào việc nghiên cứu đề tài: “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học bàiPhong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10) sao cho phù hợp và kết quả cao

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” theo quan điểm phân hóa ở trường phổ thông.

1.2.1.1 Cách thức khảo sát

Ở Việt Nam, dạy học theo quan điểm DHPH dù đã và đang được nghiên cứu

và áp dụng Tuy nhiên năng lực tổ chức, quản lý cũng nhờ các điều kiện để tổ chức quản lý dạy học theo quan điểm DHPH trong các trường THPT còn nhiều hạn chế

Để đánh giá tình hình dạy học của giáo viên, tôi đã thực hiện khảo sát thông qua việc phát phiếu thăm dò ý kiến đối với giáo viên trường THPT Quốc Oai ( Hà Nội)(Bảng 2 - Phụ lục)

1.2.1.2 Nội dung khảo sát

- Khảo sát thực trạng dạy học theo quan điểm phân hóa ở trường THPT QuốcOai (Hà Nội)

- Khảo sát thực trạng học tập của học sinh khi được học theo “quan điểm dạy học phân hóa” ở trường THPT Quốc Oai (Hà Nội)

1.2.1.3 Kết quả khảo sát

Bảng 2 - Phụ lục

1.2.1.4 Nhận xét chung

Trang 25

Qua hai bảng khảo sát có thể thấy việc vận dụng “quan điểm dạy học phânhóa” vào giảng dạy còn hạn chế, ít giáo viên chú trọng hướng đến vận dụng quanđiểm dạy học này, có giáo viên thực hiện “vận dụng quan điểm dạy học phân hóa”vào bài dạy của mình nhưng còn chưa hợp lí, hiệu quả đạt được còn chưa cao Cụthể đối với bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, giáo viên còn hạn chế dạy họcphân hóa vào bài.

1.2.2 Thực trạng học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” ở trường phổ thông.

1.2.2.1 Cách thức khảo sát

Khảo sát tình hình tập của HS khi được học theo quan điểm dạy học phân hóa

ở lớp 11A2 trường THPT Quốc Oai (Hà Nội) thông qua việc tham khảo nhận xétcủa GV về thái độ, kết quả của HS khi được dạy theo quan điểm phân hóa

1.2.2.2 Nội dung khảo sát

Khảo sát tình hình học tập của học sinh khi được học theo quan điểm dạy họcphân hóa ở trường THPT Quốc Oai (Hà Nội)

1.2.3 Đánh giá khái quát

Có thể thấy việc DHPH là một quan điểm dạy học mới, đối với giáo viên vàhọc sinh việc vận dụng quan điểm dạy - học phân hóa là một việc còn rất nhiều khókhăn Đổi mới quan điểm dạy học là một trong những hoạt động tích cực trong đổimới giáo dục Mục đích của đổi mới giáo dục đó là phù hợp với học sinh, đạt đượchiệu quả cao trong giáo dục Trước thực trạng daỵ - học đó, giáo viên cần chú trọnghơn vào việc giảng dạy của mình, có phương pháp giảng dạy, sử dụng quan điểmdạy học phân hóa sao cho phù hợp để đạt được hiệu quả giảng dạy cao nhất

Trang 26

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA

2.1 Mục tiêu dạy học

2.1.1 Kiến thức

- Nêu được các kiến thức, khái niệm: “ngôn ngữ nghệ thuật”, “phong cáchngôn ngữ nghệ thuật”, “các đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”,nội dung kiến thức, yêu cầu này ở mức độ hết sức cơ bản, đơn giản, phù hợp với các

HS có học lực trung bình, yếu, kém

- Từ việc hiểu các lí thuyết cơ bản cần nêu được các ví dụ minh họa về “phongcách ngôn ngữ nghệ thuật” ứng với các đặc trưng sẽ nêu được các ví dụ, phân tíchđược ví dụ, liên hệ, so sánh giữa các văn bản nghệ thuật với nhau, viết được cácđoạn văn, miêu tả, biểu cảm, nội dung kiến thức, yêu cầu này đòi hỏi Hs phải cókhả năng vận dụng vào các bài tập cụ thể, phù hợp với những HS có học lực khá,giỏi

2.1.2 Kĩ năng

- Nói được các kiến thức cơ bản về “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” nhưkhái niệm, các đặc trưng, lấy được ví dụ đơn giản, viết được đoạn, bài nghị luận ởmức độ dễ phù hợp với HS có học lực trung bình, yếu, kém

- Cảm thụ, phân tích được ngôn ngữ nghệ thuật một cách hiệu quả, viết cácđoạn văn, bài văn nghị luận có yêu cầu khó hơn, sử dụng các biện pháp tu từ hiệuquả, dành cho những HS khá, giỏi

2.1.3 Thái độ

Yêu mến và có ý thức giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt, có ý thức trau dồi vốn từvựng

2.1.4 Năng lực

Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác,

2.2 Nội dung bài học “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”trong SGK

Bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (SGK Ngữ văn 10, tập hai) cung cấpmột số nội dung cơ bản về “ngôn ngữ nghệ thuật”, “phong cách ngôn ngữ nghệthuật”, phần “luyện tập” với mức độ kiến thức dễ, khó khác nhau Vì vậy GV cầncăn cứ vào đặc điểm nội dung kiến thức để triển khai dạy học cho phù hợp với từng

Trang 27

đối tượng HS Chẳng hạn với nội dung kiến thức về “khái niệm ngôn ngữ nghệthuật”, “phạm vi sử dụng”, “chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật” là những kiếnthức HS đã biết qua phần học ở phần phân môn đọc hiểu, những kiến thức này phùhợp với HS có học lực trung bình, yếu, kém Còn đối với phần nội dung kiến thức

về các “đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, ngoài việc cung cấp

về kiến thức lí thuyết, GV cần yêu cầu HS biết vận dụng vào các ví dụ, bài tập cụthể để phân tích, chứng minh rõ hơn, nội dung này phù hợp với HS có học lực khá,giỏi Từ việc xác định đó GV tiến hành dạy học theo quan điểm DHPH để đạt đượchiệu quả dạy học cao nhất

I Ngôn ngữ nghệ thuật

Theo nguồn [1, tr97,98], ở mục này cung cấp các kiến thức sau:

- Khái niệm “ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, được sử dụng trong văn bản nghệ thuật” [1, tr97]

- Phạm vi sử dụng :

+ Trong lời nói hàng ngày

+ Trong các văn bản thuộc những phong cách ngôn ngữ khác

Trang 28

- Phân loại: có 3 loại:

[1,tr97]

+ Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự…VD: “Hồi trống

cổ thành” (trích “Tam quốc diễn nghĩa” - La Quán Trung)

+ Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ…VD: “Tình cảnh lẻ loi của ngườichinh phụ” (trích “Chinh phụ ngâm”)

+ Ngôn ngữ sân khấu trong kịch, chèo, tuồng, VD: “Quan âm Thị Kính”

[1, tr97]

- Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật:

+ Chức năng thông tin

+ Chức năng thẩm mỹ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ nơingười đọc, người nghe, có được nhờ sự lựa chọn, xếp đặt, tinh luyện của người sửdụng theo các mục đích thẩm mỹ khác nhau

[1, tr 98]

Trang 29

II Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1 Tính hình tượng

- “Là đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ nghệ thuật, có được nhờ việc sửdụng các biện pháp tu từ Qua đó, xâydựng được những hình ảnh mang ý nghĩa sâu

xa, được gọi là hình tượng nghệ thuật”

- “Tính hình tượng khiến cho ngôn ngữ nghệ thuật trở nên đa nghĩa”

- “Tính đa nghĩa cũng có quan hệ mật thiết với tính hàm súc: lời ít mà ýnhiều”

Trang 30

- “Trong chính một tác phẩm của một tác giả, việc lựa chọn hình ảnh, ngônngữ cho các nhân vật khác nhau cũng rất khác nhau Chính tác giả cũng không thểlặp lại mình”

- Tác dụng: tạo nên sự mới lạ, sáng tạo, không trùng lặp ở ngôn ngữ nghệthuật

[1, tr99]Như vậy, có thể thấy trong bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” nội dungcác phần cũng có mức độ dễ khó khác nhau, vì vậy khi giảng dạy giáo viên cần chú

ý phân hóa HS, phân loại kiến thức, câu hỏi để truyền đạt đến từng đối tượng họcsinh cho phù hợp để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy

Đối với những HS có học lực trung bình, yếu, kém GV cần truyền đạt cho các em các kiến thức ở mức độ dễ hơn như khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật, lí thuyết

Trang 31

về các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, các ví dụ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với từng nội dung kiến thức.

Đối với những HS có học lực khá, giỏi GV cần chú ý bổ sung thêm các kiếnthức sâu hơn trong các kiến thức về đặc trưng của PCNNNT, từ đó vận dụng vàocác ví dụ, bài tập khó hơn, phức tạp hơn

III Luyện tập.

Bài tập 1: “Hãy chỉ ra những phép tu từ thường được sử dụng để tạo ra tính

hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật” [1, tr101] Đây là câu hỏi dễ, học sinh có họclực dưới trung bình cũng có thể trả lời được, giáo viên nên dành cho những học sinh

có học lực dưới trung bình để các em hứng thú, sôi nổi học tập

Bài tập 2: “Trong ba đặc trưng (tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá

thể hóa), đặc trưng nào là tiêu biểu của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật? Vì sao?”[1, tr101] Đây là câu hỏi thông hiểu, học sinh từ trung bình trở lên có thể trả lờiđược

Bài tập 3: “Hãy lựa chọn từ thích hợp cho trong ngoặc đơn để đưa vào chỗ

trống trong các câu văn, câu thơ cho sẵn và giải thích lí do lựa chọn từ đó” [1,tr101]

Ở vế chọn từ, đa số học sinh đều có thể chọn từ phù hợp với chỗ trống, tuy nhiênphần lí giải lí do tại sao sẽ có học sinh lí giải được cặn kẽ, có học sinh sẽ không lígiải được Giáo viên có thể gọi học sinh bất kì, kể cả học sinh có học lực yếu chocác em chọn từ, sau đó lí giải lí do chọn từ ngữ đó, nếu cách lí giải chưa hợp lí giáoviên sẽ gọi học sinh có học lực tốt hơn giải thích, bổ sung để tạo không khí sôi nổicho lớp học

Bài tập 4: “Có nhiều bài thơ của tác giả khác nhau viết về mùa thu, nhưng

mỗi bài thơ mang những nét riêng về từ ngữ, nhịp điệu và hình tượng thơ, thể hiệntính cá thể trong ngôn ngữ Hãy so sánh để thấy những nét riêng đó trong ba đoạnthơ đã cho” [1, tr102]

Đây là câu hỏi mang tính vận dụng cao, dành cho học sinh khá, giỏi

Như vậy, có thể thấy trong bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” nội dungcác phần cũng có mức độ dễ khó khác nhau, vì vậy khi giảng dạy giáo viên cầnphân loại kiến thức, câu hỏi để truyền đạt đến từng đối tượng học sinh cho phù hợp

để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy

Trang 32

2.3 Bảng mô tả mức độ nhận thức của bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” Mức độ

Nội dung kiến thức tương ứng nhận thức

Nhận biết Các văn bản nghệ thuật: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ ca,

Thông hiểu - Khái niệm “ngôn ngữ nghệ thuật, phạm vi sử dụng của ngôn ngữ

nghệ thuật, phân loại, chức năng”

- Phân biệt “ngôn ngữ nghệ thuật” với “ngôn ngữ sinh hoạt”

- “Đặc điểm, biểu hiện, tác dụng của tính hình tượng, tính truyềncảm, tính cá thể hóa Lấy ví dụ”

Trang 33

Vận dụng cao - Vận dụng lí thuyết đã học vào giải quyết các bài tập với yêu cầu

cao như: Viết đoạn văn theo yêu cầu của đề bài như phân tích, so sánh, nêu cảm nghĩ,

Trang 34

2.4 Một số phương pháp, hình thức dạy học sử dụng trong dạy học phân hóa

2.4.1 Phương pháp dạy học theo nhóm

2.4.1.2 Cách phân hóa trong phương pháp dạy học theo nhóm

- Phân hóa theo trình độ: Trong một bài học, với những câu hỏi/bài tập phâncấp từ dễ đến khó, có thể cho nhóm HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau để đảmbảo tính vừa sức

Ví dụ: Với đơn vị kiến thức tìm hiểu “tính truyền cảm” của “Phong cáchngôn ngữ nghệ thuật”, GV xây dựng thành ba vấn đề:

(1) Đặc điểm của “tính truyền cảm”

(2) Tác dụng của “tính truyền cảm” Lấy ví dụ

Trang 35

(3) “Tính truyền cảm” biểu hiện như thế nào ở đoạn thơ mà em đã học trongchương trình: “Đau đớn thay phận đàn bà/ lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”(Trích “Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

GV cho HS trung bình, yếu, kém giải quyết vấn đề số 1 (chủ yếu vấn đề đã

có trong SGK) Nhóm HS khá giải quyết vấn đề số 2 (đòi hỏi khả năng vận dụng,trên cơ sở đã giải quyết được vấn đề số 1) Nhóm Hs giỏi giải quyết nhiệm vụ số 3(vận dụng cao hơn so với vấn đề số 2)

- Phân nhóm theo quan điểm: Những HS có cùng quan điểm trước một vấn

đề sẽ được tổ chức thành một nhóm để tiếp tục bàn luận, bảo vệ ý kiến chung củacác em

Ví dụ: Theo em “ngôn ngữ nghệ thuật” có được sử dụng trong đời sống hàngngày không? Lấy ví dụ

GV tổ chức cho HS tự hình thành nhóm trên cơ sở đồng quan điểm Nhóm 1 đồng ý

“ngôn ngữ nghệ thuật” có được sử dụng trong đời sống hàng ngày Nhóm 2 phảnđối “ngôn ngữ nghệ thuật” có được sử dụng trong đời sống hàng ngày HS sẽ dùng

lí lẽ, dẫ chứng để bảo vệ quan điểm của mình

- Phân nhóm theo nhu cầu học tập:

+ Là hình thức phân nhóm trên cơ sở tổ hợp những HS có nhu cầu trùng hoặcgần nhau trước một vấn đề học tập

+ Cách thức tiến hành: GV cho mỗi HS một phiếu yêu cầu HS điền thông tin.Sau đó GV thu hồi và tiến hành phân loại Thực tế, mỗi HS có vốn kiến thức khácnhau, do đó nhu cầu cũng hết sức đa dạng Số lượng nhóm về lí thuyết là không giớihạn Nhưng cần tính đến không gian và khả năng tổ chức của GV GV tổ chức cho

HS làm việc theo nhóm, chỉ dẫn nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nhóm quantâm, hỗ trợ nếu có yêu cầu

Phiếu điều tra nhu cầu học tập của học sinh

C (Điều đã học được)

“Sau khi học xong bàihọc, chủ đề, người họcđiền những điều đã họcđược”

[4]

Trang 36

Việc phân nhóm theo nhu cầu cho GV biết được trình độ và mong muốn của

HS để có định hướng tổ chức hoạt động phù hợp với từng nhóm, giúp HS bù đắpkhoảng trống kiến thức, kĩ năng của mình Đó là cách thức hiệu quả, thiết thực, tiếtkiệm thời gian cho người học, tránh sự nhàm chán, thừa thãi không cần thiết

- Phân nhóm hỗn tạp: Trong quá trình dạy học, bên cạnh hình thức phânnhóm có sự phân hóa đối tượng theo các tiêu chí trên nên đan xen phân nhóm hỗntạp Mục đích của việc phân nhóm này là để các em chia sẻ, học tập, giúp đỡ nhautrong giải quyết các vấn đề học tập

Khi giảng dạy GV cần lựa chọn cách chia nhóm cho phù hợp với nội dungkiến thức và khả năng học tập, lĩnh hội kiến thức, giải quyết vấn đề của HS Nhất làchú ý tới việc phân hóa sao cho đạt hiệu quả cao

2.4.1.3 Vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm vào dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10)

Giáo viên có thể phân nhóm hỗn tạp để học sinh tìm hiểu nội dung phần “II.Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” Ở các nhóm sẽ có các học sinh có học lực khácnhau, học sinh có học lực tốt có thể giúp đỡ các bạn học lực yếu hơn Người dạy cóthể chia lớp thành ba nhóm bất kì rồi giao nhiệm vụ học tập cho các nhóm tìm hiểu

về các “đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”

Nhóm 1: Tìm hiểu về “tính hình tượng”

- Nêu đặc điểm của tính hình tượng

- Tính hình tượng được biểu hiện như thế nào ở đoạn thơ:

“Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh”

Ngày đăng: 29/08/2019, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2015), Ngữ văn 10, tập hai, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập hai
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dụcViệt Nam
Năm: 2015
2. Đồng Thị Chiến (2018), Quản lý dạy học phân hóa ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dạy học phân hóa ở trung tâm giáo dụcnghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Đồng Thị Chiến
Năm: 2018
3. Lê Hoàng Hà (2012), Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Quản lý GD, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ởtrường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Hoàng Hà
Năm: 2012
4. Hoàng Thị Hạnh (2017), Một số cách thức dạy học phân hóa cho sinh viên Ngữ văn ở trường cao đẳng sư phạm, Nghiên cứu, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách thức dạy học phân hóa cho sinh viênNgữ văn ở trường cao đẳng sư phạm
Tác giả: Hoàng Thị Hạnh
Năm: 2017
5. Lê Ngọc Hùng (5/2009), Phân hóa trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam - Một cách nhìn từ góc độ xã hội học, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam -Một cách nhìn từ góc độ xã hội học
6. Lê Thị Thu Hương (2015), Tổng quan một số vấn đề cơ sở lí luận của Dạy học phân hóa, Kỷ yếu hội thảo Dạy học tích hợp, dạy học phân hóa ở trường trung học đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan một số vấn đề cơ sở lí luận của Dạyhọc phân hóa
Tác giả: Lê Thị Thu Hương
Năm: 2015
7. Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Nguyễn Diễm Thị My (2016), Phát triển năng lực dạy học tích hợp - phân hóa cho giáo viên các cấp phổ thông, nxb Đại học Sư phạm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nănglực dạy học tích hợp - phân hóa cho giáo viên các cấp phổ thông
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Nguyễn Diễm Thị My
Nhà XB: nxb Đại học Sưphạm TP HCM
Năm: 2016
8. Nguyễn Đắc Thanh (2015), Sơ lược một số yêu cầu cơ bản về năng lực dạy học phân hóa nội tại của người giáo viên trung học, Kỷ yếu hội thảo Dạy học phân hóa ở trường trung học đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015, ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược một số yêu cầu cơ bản về năng lực dạyhọc phân hóa nội tại của người giáo viên trung học
Tác giả: Nguyễn Đắc Thanh
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w