1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản chí phèo (ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực

81 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ===o0o=== NGUYỄN THỊ THU HẰNG VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHÍ PHÈO NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ơKHÓA LUẬN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY

VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

CHÍ PHÈO (NGỮ VĂN 11) THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY

VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

CHÍ PHÈO (NGỮ VĂN 11) THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

ơKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS Nguyễn Thị Mai Hương

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo ThS GVC Nguyễn Thị Mai

Hương,

người hướng dẫn em trong suốt quá trình làm và hoàn thành khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trong tổ

Phương pháp dạy học Ngữ văn đã giúp đỡ em thực hiện khóa luận.

Con xin bày tỏ lòng biết ơn ông bà, bố mẹ đã luôn động viên, ủng hộ tiếp thêmsức mạnh cho con trong học tập và cuộc sống

Em mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương, tôi xin

cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứutrong khóa luận là trung thực và chưa công bố trong một công trình nào

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 5

SĐTD: Sơ đồ tư duy

SGK: Sách giáo khoa

THPT: Trung học phổ thôngThS: Thạc sĩ

Tr: Trang

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến đóng góp 4

9 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lý luận về sơ đồ tư duy trong dạy học 6

1.1.1 Tư duy và sự phát triển tư duy của con người 6

1.1.2 Giới thiệu chung về SĐTD 9

1.2 Cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng lực 12

1.2.1 Năng lực của con người 12

1.2.2 Dạy học phát triển năng lực 14

1.2.3 Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực 14

1.2.4 Ý nghĩa của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực 16

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy bài Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực 16

1.3.1 Điều tra, thăm dò ý kiến và dự giờ giáo viên 16

1.3.2 Điều tra, thăm dò ý kiến học sinh 18

1.3.3 Đánh giá chung về thực trạng, tình hình dạy đọc hiểu văn bản Chí Phèo có vận dụng sơ đồ tư duy theo hướng phát triển năng lực 19

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍ PHÈO THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÓ VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY 20

2.1 Vị trí của bài Chí Phèo 20

2.2 Mục tiêu của dạy học văn bản Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực

21 2.3 Nội dung bài Chí Phèo 22

Trang 7

2.4 Thiết kế các sơ đồ tư duy vào dạy bài Chí Phèo theo hướng phát triển

năng lực 26

2.4.1 Thiết kế các sơ đồ tư duy sử dụng khi dạy bài Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực 26

2.4.2 Thời điểm sử dụng các sơ đồ tư duy 30

2.5 Định hướng dạy bài Chí Phèo có vận dụng sơ đồ tư duy theo hướng phát triển năng lực 31

Tiểu kết chương 2 33

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 34

Tiểu kết chương 3 51

KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống đem lại niềm vui, hứng thú chohọc sinh.

Trong nhà trường, Ngữ văn được xem là một môn học có tầm quyết định quan

trọng M.Gorki - nhà văn nổi tiếng người Nga đã nói “Văn học là nhân học” Môn

văn mang đến cho chúng ta nhiều kiến thức bổ ích về cuộc sống, thế giới xungquanh hay đi sâu tìm hiểu cả nội tâm của con người Những tâm tư tình cảm đượcbộc lộ rõ hơn nhờ sự tác động trực tiếp của văn học đồng thời nó góp phần tạo nên

sự yêu đời, lạc quan cho mỗi người Mỗi văn bản văn học như: một truyện ngắn,một văn bản trữ tình… trong chương trình phổ thông như nguồn sữa tinh thần nuôilớn tuổi thơ mỗi con người Kiến thức văn học góp phần bồi dưỡng và hoàn thiệnnhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh trong quá trình trưởng thành Tuy nhiên,

do đặc trưng riêng của môn học mà khi học tập nhiều học sinh có thái độ khôngthích học, thậm chí xảy ra tình trạng bỏ học, bỏ thi văn và coi đọc văn, học văn làviệc không cần thiết Đã đến lúc cần đổi mới phương pháp trong giờ học để học sinhđược phát triển năng lực của mình trong giờ học Ngữ văn

Một số bài học có lượng kiến thức khá lớn, học sinh lại tiếp thu một cách thụđộng, máy móc Để giải quyết điều này thì việc sử dụng sơ đồ tư duy theo hướngphát triển năng lực ngắn gọn, mạch lạc được xem là biện pháp hay và hiệu quả giúpcác em chủ động học tập, phát triển khả năng tư duy sáng tạo Khi học bằng sơ đồ tưduy, HS sẽ không phải ghi chép nhiều mà các em có thể ghi nhớ kiến thức logic,khoa học phù hợp với tư duy của học sinh theo từng độ tuổi

Chí Phèo - văn bản văn học nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn từ, là

kiệt tác của văn học nhân loại, hàm chứa những giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc

Trang 9

mà Nam Cao muốn gửi gắm đến bạn đọc Mục đích của việc dạy học Chí Phèo

không

Trang 10

chỉ cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về nhà văn Nam cao, sự thành công

về nội dung và nghệ thuật đặc sắc của văn bản Chí Phèo mà còn rèn luyện cho học

sinh năng lực tư duy và cách xử lí tình huống, giải quyết các vấn đề được đặt ra Líthuyết nêu ra như vậy nhưng ngoài thực tế việc dạy học của các thầy cô ở trườngcòn gặp không ít khó khăn với lượng kiến thức truyền đạt khá nhiều Ngày nay với

sự phát triển không ngừng đã có nhiều phương pháp dạy học hiệu quả nhưng phầnlớn nhà giáo vẫn chọn cách dạy truyền thống: Dạy chay, thầy đọc trò ghi đầy vởkhiến người học càng cảm thấy môn văn khô khan, nhàm chán và khó học Chínhvậy mà chất lượng của các tiết dạy học Ngữ Văn không đem lại hiệu quả như mongmuốn

Đọc hiểu là một phân môn quan trọng của bộ môn Ngữ Văn Nhận thức đượcviệc đổi mới phương pháp, cách thức dạy học môn học Ngữ văn trong đó có phân

môn đọc hiểu ở THPT, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng sơ đồ tư

duy vào dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo (Ngữ Văn 11) theo hướng phát triển năng lực” Đây sẽ là một hướng đi mới trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ Văn.

2 Lịch sử vấn đề

Vào những năm 1960 của thế kỉ XX, sơ đồ tư duy theo hướng phát triển tư duyhiện đại đã bắt đầu xuất hiện trên thế giới Nó được sáng chế và phát triển bởi một vịgiáo sư nổi tiếng người Anh tên là Tony Buzan

Khi nói về thành tựu của SĐTD, Tony Buzan là người khiến cho cả thế giớiphải khâm phục và biết đến với nhiều sản phẩm công trình nghiên cứu nổi bật như:

“Sơ đồ tư duy trong công việc”, “Lập sơ đồ tư duy”, “Sơ đồ tư duy trong kinh doanh: Cách mạng hóa tư duy và lề lối kinh doanh của bạn”,… Trong đó, SĐTD với

bộ não có sự tương đồng, thích ứng với nhau về cấu tạo, công dụng và hoạt động.Ngoài ra còn khá nhiều quyển sách hay, giá trị với các tác giả nổi tiếng giúp chongười đọc hiểu rõ về quá trình, vai trò của SĐTD như: Bobide Porter với 2 quyển:

“Phương pháp học tập siêu tốc”, “Phương pháp tư duy siêu tốc”, Adamkho có

“Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”,… Từ năm 1975, Joyce Wycoff cùng hợp tác với Buzan

để tìm cách đưa sơ đồ tưduy thành một công cụ giúp phát triển năng lực tư duy, sáng tạo Trong cuốn sách cótên “Ứng dụng bản đồ tư duy” Wycoff đã nêu ra những bước chi tiết cụ thể qua việctìm hiểu khả năng của bộ não đồng thời cung cấp những ý tưởng có thể vận dụngngay, giúp ích cho việc bạn học tập, giảng dạy, làm việc trong mọi lĩnh vực dướidạng lập SĐTD

Trong những năm gần đây, SĐTD được con người tìm hiểu sử dụng rộng rãitrong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam Việc tiến hành nghiên cứu và đưa nó vào sử dụng

Trang 11

trong quá trình dạy học phải kể đến hai tác giả đầu tiên là TS Trần Đình Châu vàTS.

Trang 12

Đặng Thị Thu Thủy Khi nói về SĐTD trong dạy học, TS Đặng Thị Thu Thủy làngười đã tham gia nghiên cứu rất nhiều đề tài, sáng kiến kinh nghiệm khoa học vàđang được áp dụng triển khai tại một số trường học phổ thông giúp đưa lí thuyết vàothực tế Ngoài ra, còn có một số luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học có sử dụng

SĐTD, phát triển năng lực môn Ngữ văn đạt hiệu quả tích cực như : “Sử dụng bản

đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT Ngọc Hồi” của cô giáo Lê Thị Anh

Nguyệt, “Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lập dàn ý cho bài văn nghị luận

chứng minh ở THCS” của cô giáo Lương Thị Ngọc Bích, “Dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh”

của cô giáo Cao Thị Phương Thúy…

Tác giả Trần Kiều có bài viết “Một vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy

học trong nhà trường phổ thông ở nước ta” được in trong tạp chí nghiên cứu giáo

dục số 5 – 1995 đã nhấn mạnh rằng cần phải thay đổi, đổi mới phương pháp dạy

học Hay nhà viết Bùi Mạnh Hùng với “Về định hướng đổi mới chương trình và

sách giáo khoa môn Ngữ Văn” Trong dự thảo phương án đổi mới căn bản hệ thống

giáo dục và SGK phổ thông đã nêu cụ thể một trong những điểm nổi bật đó là thiết

kế chương trình, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực người học Nănglực được hiểu là khả năng làm việc, biết cách vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩmchất, kiến thức, kĩ năng) vào việc giải quyết một loạt các kế hoạch dựa trên hànhđộng của mỗi cá nhân

Kế thừa thành tựu rực rỡ của các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học cùngvới việc tiếp nhận những góp ý của nhiều người đi trước để lại trong việc tìm hiểu

về SĐTD, phát triển năng lực và ý nghĩa của nó đối với quá trình dạy học ở trường

THPT Chúng tôi những người tìm hiểu khoa học tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vận

dụng sơ đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo (Ngữ Văn 11) theo hướng phát triển năng lực” nhằm thay đổi phương pháp dạy đọc hiểu văn bản văn

học đạt hiệu quả cho các em học sinh

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích hình thành năng lực tóm tắt, ghi nhớ, tưduy, cảm thụ một cách hệ thống bằng sơ đồ tư duy những đơn vị kiến thức trongmỗi bài học Ngữ Văn

Phát huy được tính tự giác, chủ động, tích cực cho học sinh trong khả năng sáng

tạo, tư duy; tạo niềm say mê học tập trong mỗi giờ học Ngữ Văn

Đề tài còn đáp ứng được với yêu cầu đổi mới cách học, phương pháp dạy họcNgữ văn trong giáo dục hiện nay

Trang 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với nội dung khóa luận này, chúng tôi hướng đến giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Trình bày khái quát các vấn đề lý thuyết về SĐTD, PTNN cho người học và

các kiến thức trọng tâm của bài Chí Phèo (Ngữ văn 11).

- Đưa ra cách “vận dụng SĐTD vào dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo (Ngữ

Văn 11) theo hướng phát triển năng lực”

- Thực nghiệm sư phạm để bước đầu kiểm tra kết quả đã đề xuất

5 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là SĐTD được vận dụng theo hướngphát triển năng lực người học trong quá trình dạy học dựa trên nội dung đề tàinghiên cứu thực hiện

6 Phạm vi nghiên cứu

Với yêu cầu, mục đích, nội dung đề tài trên chúng tôi nhận thấy cụ thể khóaluận tập trung nghiên cứu về việc “vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn

bản Chí Phèo (Ngữ Văn 11) theo hướng phát triển năng lực”.

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Chúng tôi đã tìm hiểu các sách vở, tư liệu có liên quan đến nghiên cứu đề tài

để làm cơ sở lý luận như: Các tư liệu hướng dẫn giảng dạy, các bài viết tham khảo

về SĐTD, PTNN và ứng dụng SĐTD theo hướng phát triển năng lực …

7.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Khảo sát, thăm dò, điều tra, tìm hiểu cụ thể thực tiễn tại trường THPT về việctriển khai và sử dụng SĐTD theo hướng phát triển năng lực học sinh trong quá trìnhdạy học trong đó có môn Ngữ văn với phân môn đọc - hiểu văn bản văn học

Khóa luận “vận dụng SĐTD vào dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo theo

hướng phát triển năng lực”, chúng tôi muốn góp một phần công sức nhỏ vào ýtưởng đổi mới phương pháp dạy học, hiệu quả giáo dục nước nhà

Ngoài ra còn làm tăng hiệu quả các giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học trong

nhà trường THPT nói chung và văn bản Chí Phèo nói riêng.

Trang 14

Phần nội dung được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Tổ chức dạy học văn bản Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực

có vận dụng sơ đồ tư duy

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận về sơ đồ tư duy trong dạy học

1.1.1 Tư duy và sự phát triển tư duy của con người

1.1.1.1 Giới thiệu chung về quá trình phát triển tư duy con người

Khi chúng ta sinh ra trong cuộc đời này thì bản thân mỗi người đã có sẵn haiyếu tố quan trọng thứ nhất là tính cách và thứ hai là tư duy Trong mọi lĩnh vực, hoạtđộng của con người có liên hệ mật thiết, chặt chẽ với tư duy, họ liên tục vận độngnão bộ để tìm ra cách làm việc, giải quyết vấn đề, trải qua được những khó khăn,thử thách trước mắt và hoàn thành tốt nhất mục đích cuối cùng của bản thân Mỗingười đều đã có những ý tưởng, kế hoạch vạch sẵn ra ở trong đầu Nó được hìnhthành tạo nên bởi khả năng trình bày, suy nghĩ và tư duy sau đó mà thao tác tư duydần được con người phát hiện ra Bên cạnh đó, hoạt động chủ yếu của mỗi cá nhân

là tư duy - giải quyết các vấn đề Tư duy luôn là một trong những vấn đề lớn mà conngười quan tâm, chú trọng đến Nhưng cho đến nay tư duy là gì thì mỗi người lại cócác cách hiểu khác nhau.Vậy, theo các bạn tư duy là gì?

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi

sâu vào nhận thức và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức, như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý.” [7-tr.1011]

Khi nhắc đến tư duy trong phạm trù triết học là để nói về hoạt động tinh thầnmang lại cảm giác của mỗi người khi sửa đổi, cải tạo mọi thứ dựa trên cơ sở hoạtđộng của vật chất, giúp họ có một cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về sự việc,hiện tượng Từ đó, người ta có thái độ, cách xử sự tích cực, phù hợp với nó

Theo Từ đi ể n Bách k h oa toàn thư V i ệt N a m , tập 4 (Nhà xuất bản Từ điển báchkhoa, Hà Nộ i , 200 5 ): “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất đ ược tổ chức m ột cách đặc biệt - bộ não con n g ườ i Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái ni ệ m, sự phán đoán, l ý l u ậ n,…”

Nhà triết học, nhà toán học nổi tiếng Rene Descarters khẳng định: “Tôi tư duy,

vậy tôi tồn tại” Bộ não người là một cơ quan quan trọng quyết định việc hình thành

khả năng tư duy mỗi người Họ đã trải qua các thực nghiệm thực tế nhận thấy được

sự linh hoạt, vai trò của các bán cầu não Trong đó, ngôn ngữ, tính toán, phân tích vàphán đoán là do bán cầu não trái đảm nhiệm; còn bán cầu não phải cho thấy khảnăng cảm thụ âm nhạc, nghệ thuật, cái đẹp và sự sáng tạo Tiến hành tìm hiểu vềđiều này, các nhà khoa học đã chỉ ra được những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 16

Trước hết, tư duy có “tính gián tiếp” - đây là một trong những đặc điểm cơ

bản, nổi bật của sự tư duy Con người sử dụng thành thạo ngôn ngữ để tư duy, biếtvận dụng các quy định, định nghĩa, công thức,… vào việc thực hiện kết quả nhậnthức Từ đó lí giải bằng ngôn ngữ trên cơ sở kinh nghiệm của mình để thấy rõ đượcbản chất bên trong, cụ thể của mọi thứ đang diễn ra xung quanh

Thứ hai là tính “có vấn đề” của tư duy Không phải lúc nào, ở đâu cũng có thể

nảy sinh ra tư duy được, tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, tình huống

“có vấn đề” và phải được cá nhân nhận thức, được chuyển giao thành nhiệm vụ tưduy của cá nhân Khi con người không thể giải quyết được những vấn đề đó vớinhững hiểu biết sẵn có, những cách thức đã từng sử dụng thì lúc đó họ sẽ phải vậndụng não để tư duy tìm ra biện pháp, hướng đi mới

Thứ ba, một đặc điểm hoạt động của tư duy nữa đó là “tính trừu tượng và khái

quát của tư duy” Sự vật, hiện tượng không được tư duy nhận thức theo kiểu cụ thể

và tách rời Khi chúng có thuộc tính là đặc trưng chung ta có thể tổng hợp lại thànhmột nhóm, một loại, một phạm trù chung nhất từ sự riêng lẻ ban đầu Hay hiểu khác

đi thì nó có tính trừu tượng và khái quát Qua đó, đề xuất hướng đi cho những nhiệm

vụ trong tương lai gần ngoài những nhiệm vụ hiện tại

Nghiên cứu tìm hiểu về tư duy của con người, các nhà khoa học còn nhận

thấy “tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ” Các kết quả của quá trình tạo

nên tư duy đều được diễn đạt bởi ngôn ngữ Ngôn ngữ - hệ thống tín hiệu thứ haitrở thành công cụ giao tiếp của con người với nhau Chúng có mối quan hệ hỗ trợ,gắn chặt Quá trình phát triển tư duy của con người cần có phương tiện là ngôn ngữgiao tiếp thì mới diễn ra được

Cuối cùng, “tư duy được đặt trong mối quan hệ với nhận thức cảm tính” Tư

duy phải thông qua dựa vào nhận thức cảm tính, những hiểu biết của bản thân để tạođiều kiện cho tình huống “có vấn đề” phát triển Nó là một khía cạnh trong mối liên

hệ trực tiếp để sâu chuỗi liên kết giữa tư duy với cuộc sống thực tiễn, là tiền đề tổnghợp những kinh nghiệm của con người qua việc trình bày những khái niệm, quy

định,… Lênin nói rằng: “Không có cảm giác thì không có quá trình nhận thức nào

cả” Ví dụ xảy ra một vụ cháy nhà mà ta được chứng kiến thì mỗi người sẽ tự hỏi

mình qua các câu hỏi: Nguyên nhân nhà lại bị cháy? Ai là người gây ra vụ cháy?Như vậy việc nhìn, nghe là những nhận thức cảm tính có trước rồi tư duy sẽ dần có.Khi con người nhận thức hay làm việc trong thực tế thì mỗi hành động tư duy lạitương đương với một nhiệm vụ chúng ta phải giải quyết ngay Tư duy xuất hiện khicon người nhận thức rõ về vấn đề và muốn trình bày cụ thể nó Trong khi thựchiện, tư

Trang 17

duy luôn hoạt động liên tục, suy nghĩ sâu sắc hơn.

Từ việc tìm hiểu khát quát về tư duy ở trên, chúng ta đi đến những kết luận sưphạm cần thiết, có ích cho bản thân mỗi người Trong các giờ dạy học, GV cần chútrọng tới việc hình thành, phát triển tư duy cho HS và muốn làm được điều đó chúng

Trang 18

Cần rèn luyện năng lực quan sát, nhận biết tình hình ngoài thực tế và khắc sâutrí nhớ để tăng tính nhạy cảm, nâng cao nhận biết cảm tính có cơ sở khoa học hơn.Như vậy, SĐTD được xem là giải pháp tối ưu, giúp học sinh ghi nhớ bài họcnhanh có hệ thống mạch lạc, rõ ràng trên cơ sở của quá trình hoạt động tư duy nãobộ

1.1.1.2 Đặc điểm tư duy của học sinh trung học phổ thông

Học sinh THPT còn gọi là lứa tuổi thanh niên tính từ khi bắt đầu dậy thì chođến lúc bước sang tuổi người lớn Tuổi thanh niên nằm trong độ tuổi từ 15 đến 25tuổi gồm hai thời kỳ: Tuổi đầu thanh niên (15 đến 18 tuổi) và giai đoạn hai của tuổithanh niên (từ 18 đến 25 tuổi) Tuổi của các em THPT thuộc giai đoạn đầu Đây làlứa tuổi có nhiều sự thay đổi về mọi mặt, hoạt động học tập vẫn được coi là quantrọng hàng đầu Mỗi HS sẽ có tính độc lập trí tuệ, sự tích cực và sáng tạo cao hơn

Để tiếp nhận được lượng kiến thức lớn của từng bài học đòi hỏi các em phải có khảnăng tư duy, tổng hợp đủ cao

Khi ở độ tuổi này chúng ta cần tập trung kích thích, mở mang đầu óc, trí tuệcho HS Cơ thể các em trong giai đoạn này đã được hoàn thiện gần như đầy đủ với

hệ thần kinh phát triển mạnh Từ đó mà có các quá trình tư duy, năng lực phân tích,giải thích, tổng hợp, cảm thụ ở các em Mọi khái niệm, bài tập trừu tượng, phức tạpđều được các em lĩnh hội dễ dàng hơn qua quá trình tư duy, quan sát, nhận thức thực

tế Ngoài hình thức học theo kiểu máy móc các kiến thức thì HS đã biết khám phá

sử dụng nhiều phương pháp học khác nhau

Quá trình hình thành phát triển tư duy ngày được hoàn thiện và phát triển mạnh

Trang 19

đối với lứa tuổi học sinh THPT Các hoạt động nhận thức trí tuệ, khả năng quan sátđầy linh hoạt nhạy bén Việc giải quyết nhanh chóng một vấn đề không còn khó đốivới các em nữa Tuy nhiên ở lứa tuổi “mới lớn” một số các em còn mải vui chơi,thụ động không thực sự tập trung vào nhiệm vụ chính là học tập nên chưa có phươngpháp học đạt hiệu quả cao Vì vậy mà các em có tình trạng chán học, dẫn đến nhữngsai lệch trong suy nghĩ, hành động Để giải quyết những hạn chế đó, đòi hỏi mỗingười GV cần phải có những phương pháp, cách tổ chức giờ dạy mới mẻ, tích cực đểphát huy được khả năng tự học, tư duy sáng tạo ở mỗi em Một công việc quan trọngcủa GV là giúp hình thành phát triển kĩ năng nhận thức, tư duy của HS trong giờdạy.

Với nhận thức trên, chúng tôi đưa ra kết luận rằng trong dạy học việc vận dụngSĐTD theo hướng phát triển năng lực sẽ giúp HS tập trung, yêu thích việc học tậphơn ở lứa tuổi này Vì vậy, cần thường xuyên đưa sơ đồ tư duy vào dạy học Ngữvăn

1.1.2 Giới thiệu chung về SĐTD

1.1.2.1 Sơ đồ tư duy - một phương tiện dạy học thiết thực

Sơ đồ tư duy (mind map) - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, do TonyBuzan (sinh năm 1942), chuyên gia hàng đầu của thế giới về tìm hiểu nghiên cứuhoạt động não bộ thiết lập và sáng tạo ra Phương pháp tư duy của ông được trên

500 tập đoàn, đơn vị các trường học khắp thế giới tiếp nhận thành chương trìnhchính thức, với hơn

250 triệu người đã áp dụng nó đem lại hiệu quả cao trong các lĩnh vực nhất là trong

hệ thống giáo dục

Với mỗi nhà khoa học khi nghiên cứu về những vấn đề mà họ tâm huyết thì họ

sẽ bảo vệ ý kiến của mình đến cùng Cũng giống vậy, SĐTD có rất nhiều cách hiểuđịnh nghĩa khác nhau đến từ các nhà nghiên cứu Có người nghiên cứu cho rằng:SĐTD là một sơ đồ giới thiệu cho chúng ta ngắn gọn, mạch lạc những ý tưởng, suynghĩ chứa đựng dự định, kết quả của một người hay một tập thể về một đề tài haychủ đề nào đó SĐTD được trình bày trên khá nhiều phương tiện như: Giấy trắng,bảng hay trên máy tính một công cụ thông minh Một nhà nghiên cứu khác phátbiểu: SĐTD là một dạng nhánh cây vẽ ra thể hiện ý tưởng, nội dung, yêu cầu…Chúng được kết nối và lan tỏa xung quanh từ khóa hay ý trung tâm (ý chính)…Mặc dù mỗi người có những cách hiểu khác nhau nhưng họ vẫn chưa chochúng ta thấy rõ được đầy đủ nhất những đặc trưng cơ bản về sơ đồ tư duy Cha đẻcủa SĐTD Tony Buzan nhận định: bộ não tư duy lan tỏa theo cách giống như hệthống các dây thần kinh trong cơ thể con người hay những đường gân tỏa ra từ chiếc

Trang 20

lá cây Đây chính là kiểu hệ thống tư duy mạch lạc của não bộ theo hướng pháttriển năng lực SĐTD - một phương tiện kỹ thuật dạy học mới lạ, tiện ích Nó tổngkết các chủ

Trang 21

đề, kiến thức bằng các từ khóa, ý chính trọng tâm có kết hợp sử dụng hình ảnh,đường nét, màu sắc và chữ viết Qua việc tìm hiểu trên ta rút ra: SĐTD là một dạngghi lại ý tưởng, tóm tắt kiến thức dưới sự liên kết giữa các nhánh trước với nhánhsau khiến SĐTD bao quát được toàn bộ bài thông qua các từ khóa Việc cho thêmhình ảnh, màu sắc, đường nét sinh động, hấp dẫn vào giúp người học hứng thú hơn.

Để giúp mỗi người có lối suy nghĩ mạch lạc, cụ thể thì SĐTD là sự lựa chọn,giải pháp tối ưu Quá trình học tập có sự hỗ trợ của SĐTD thì GV sẽ giúp các emphát huy được khả năng tìm tòi, làm chủ kiến thức, tăng tính sáng tạo khi tìm hiểubài học Tuy nhiên không phải phần nào của bài học cũng đưa SĐTD vào được màchúng ta phải cân nhắc sử dụng nó phù hợp, không để quá nhiều SĐTD sẽ làm bàihọc không hay, HS cảm thấy nhàm chán

1.1.2.2 Cấu tạo và phân loại sơ đồ tư duy

Theo Tony Buzan: “SĐTD là một hình thức ghi chép dùng đa dạng màu sắc,hình ảnh để mở rộng và đào sâu ý tưởng, ý nghĩ trong đầu con người” Cấu tạo hếtsức đơn giản, dễ hiểu: Hình ảnh, từ khóa trọng tâm, khái quát nội dung được đặt ởgiữa sơ đồ; lan tỏa xung quanh là các nhánh nhỏ ý chính thứ nhất Làm rõ cho nó sẽ

là nhánh nhỏ hơn 2,3,,4… gọi là nhánh mang ý phụ Khi nào đến các nhánh nhỏnhất không phát triển ý được nữa thì dừng lại Càng nhiều nhánh được vẽ ra xahình ảnh, từ khóa trọng tâm thì các ý sẽ càng rõ, chi tiết

Để thiết kế một SĐTD mạch lạc, sinh động theo hướng phát triển năng lựccần thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Xác định từ khóa hay hình ảnh chính - là những từ ngữ, hình quan

trọng, tập trung khái quát cao nên phải ngắn gọn, súc tích, mang ý bao quát toàn bộ

Bước 2: Vẽ hình ảnh, từ khóa trọng tâm, khái quát nội dung được đặt ở giữa tờ

Trang 22

Bước 3: Vẽ tiếp các nhánh nhỏ ý chính thứ nhất tỏa ra từ hình ảnh, từ khóa

trọng tâm Nó sẽ giúp liên kết chặt chẽ các thông tin, sự kiện lại với nhau

Bước 4: Vẽ tiếp các nhánh nhỏ thứ 2, 3, 4,… triển khai rõ nội dung, ý tưởng

hơn của các nhánh trước Để dễ phân biệt thì các nhánh phụ sẽ được vẽ với nhữnghình dạng, kích thước, màu sắc khác đi Nếu cần có thể thêm chú thích các từ quantrọng vào Các nhánh liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống cấu trúc mạchlạc

Bước 5: Hoàn thiện SĐTD Để tạo điểm nhấn cho ý chính, từ khóa ta có thêm

các hình ảnh minh họa tạo sự hấp dẫn, sinh động

Từ việc tìm hiểu, chúng tôi minh họa cấu tạo của SĐTD qua hình ảnh sau:

Trang 23

Hình 1.1 Cấu tạo của bản đồ tư duy

Bên cạnh việc tìm hiểu về cấu tạo của SĐTD, những nhà nghiên cứu khoa họccũng đã tìm hiểu cách phân loại SĐTD Do lượng kiến thức trong mỗi bài dạy họccủa GV dài hay ngắn khác nhau nên việc phân loại SĐTD là điều cần thiết, giúp íchlớn cho người học trong việc sử dụng thuận lợi phương tiện dạy học tiện ích này.Theo Adam Khoo, SĐTD được phân làm 3 loại:

Thứ nhất, SĐTD theo đề cương (SĐTD tổng quát): Cung cấp cho người học

nhận biết tổng quát chung về toàn bộ môn học, nội dung phải học hay chuẩn bị chokiểm tra, thi cử

Thứ hai, SĐTD theo chương: Khái quát cụ thể những kiến thức phải học của

các chương nhỏ hơn trong chương trình Những chương có độ dài từ 10 – 15 trang tatrình bày nó trong cùng một SĐTD Còn trên 20 trang thì chọn cách lập nhiều sơ đồtrên nhiều trang giấy khác nhau

Thứ ba, SĐTD theo đoạn văn: Chúng ta vẽ SĐTD đối với mỗi đoạn văn nhỏ của

văn bản trong SGK để tóm lại các ý chính và mở rộng thêm các ý nhỏ cho đoạn văn.Như vậy, SĐTD ngày càng có một vị trí, vai trò quan trọng trong học tập ởtrường THPT Nó không chỉ là phương pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theohướng phát triển năng lực mà còn giúp HS ghi bài nhanh, nhớ kiến thức ngay và lâuhơn Qua SĐTD các em được tự do phát triển trí tuệ, sáng tạo tư duy, thẩm mĩ củabản thân

1.1.2.3 Vai trò của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo dục

Sơ đồ tư duy được mệnh danh là “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương

pháp ghi chép một cách ngắn gọn, mạch lạc, đầy sáng tạo, đã và đang đem lại những

Trang 24

tác dụng to lớn đối với công tác giáo dục Do vậy, đổi mới cách học với SĐTD là sáng kiến hay và có ích.

Thứ nhất, SĐTD - một công cụ học tập hiệu quả cho việc trình bày và giảngdạy các mục, ý tưởng trong bài học SĐTD giúp giáo viên tập truyền đạt kiến thứccho học sinh không bị lan man, giảng dạy những nội dung chính không để thông tin

bị thừa hay thiếu Không chỉ vậy, trong SĐTD lại chứa những thông tin ngắn ngọn,màu sắc, hình ảnh cùng với cách bố trí, sắp xếp hấp dẫn, sinh động sẽ cuốn hút các

em HS vào bài dạy ngay lập tức

Thứ hai, các thông tin trong bài dạy của thầy cô sẽ ghi lại bằng SĐTD Nó đưa

ra cho chúng ta cách viết, chép thông tin dưới dạng từ khóa trọng tâm và có sự liênkết giữa các nhánh ý chính và ý phụ lại một cách khoa học, mạch lạc Cách học vớicông cụ hữu ích này luôn tạo điều kiện giúp HS đạt thành tích học tập tốt hơn, pháttriển khả năng nhớ nhanh và lâu đồng thời tiết kiệm thời gian của bản thân mình.Thứ ba, SĐTD còn là phương tiện ôn tập kiến thức dễ dàng sau mỗi bài họchay chuẩn bị cho các kì thi, nó giúp người học hệ thống hóa toàn bộ những kiếnthức đã học một cách đầy đủ, nhanh chóng, dễ dàng hơn

Thứ tư, SĐTD là công cụ để phát triển khả năng, năng lực sáng tạo của GV và

HS Nó là một công cụ tổng hợp kiến thức bài học và phát triển năng lực, khái quáthóa cho người dạy và người học Bên cạnh đó, SĐTD còn giúp cho mỗi cá nhân tự

do thể hiện sự tư duy thẩm mĩ, sáng tạo của mình

Thứ năm, SĐTD giúp đánh giá, nhận xét được các học sinh Đây được coi làgiải pháp có nhiều tính năng giúp GV thấy ngay HS có bao quát được kiến thức, chủ

đề trung tâm hay không cũng như các ưu điểm và hạn chế chủ yếu của mỗi HS Vớihình thức kiểm tra đánh giá hiệu quả này giúp GV tiết kiệm được rất nhiều thờigian

Như vậy, thông qua những vai trò, lợi ích to lớn, khả năng vận dụng, chúng tathấy SĐTD là một thiết bị sáng tạo mới, có nhiều ưu điểm giúp chúng ta mở rahướng đi mới trong việc tìm kiếm phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chấtlượng và đổi mới giáo dục trong chương trình phổ thông nói chung và các môn họcnói riêng

1.2 Cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng lực

1.2.1 Năng lực của con người

Năng lực là một vấn đề từng được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong mọi mặtcủa cuộc sống, xã hội Đã có rất nhiều ý kiến, kết luận khác nhau về năng lực Kháiniệm năng lực có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”

Trang 25

Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996,

trang 693), năng lực mang nghĩa gốc: “a, Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự

nhiên

Trang 26

sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b, Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”.

Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của hội đồng Châu Âu, F.E

Weinert kết luận như sau: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự

thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” Cũng tại diễn đàn này, J.Coolahan (UB Châu Âu 1996, p

26) nhận định rằng: Năng lực là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức,

kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục”.

Từ đó, cho thấy rằng năng lực gồm những đặc tính về tâm lí và sinh lí tươngđương với nhiệm vụ, yêu cầu của một hoạt động đặt trong một không gian, thời giannhất định Tuy nhiên, năng lực của mỗi người không phải tự nhiên khi bố mẹ sinhthành ra đã có sẵn mà muốn hình thành nó phải trải qua quá trình hoạt động học tập,làm việc và giao tiếp Qua việc tìm hiểu các định nghĩa khác nhau chúng tôi trình

bày cách hiểu chung nhất về năng lực như sau: “Năng lực là khả năng vận dụng

những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để thực hiện hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của việc học tập và cuộc sống” Năng lực của con người là một cấu trúc mang tính động, mở, chứa

nhiều tầng bậc; kiến thức, kỹ năng chỉ là một phần nhỏ bên cạnh đó còn có cả sự tintưởng, giá trị, trách nhiệm xã hội trong đó Nó biểu hiện ở việc chủ động, hăng háilàm và thực hiện hoạt động của các em tại ngôi trường đang theo học và cả ngoài xãhội, cuộc sống đang thay đổi

Năng lực chung và năng lực đặc thù là hai năng lực chủ yếu, quan trọng củacon người Năng lực chung là năng lực chính, rất cần thiết cho bản thân mỗi người

để sinh sống và tham gia làm việc trong các lĩnh vực, hoạt động và địa điểm khácnhau như: Năng lực nhận thức, năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, giải quyết vấnđề Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền củacon người, quá trình trải nghiệm và giáo dục trong cuộc sống Còn năng lực đặc thù

là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theohướng chuyên sâu, riêng biệt hơn chẳng hạn như: Các môn học khác nhau với đặcđiểm sẵn có đều tạo nên năng lực đặc thù của môn học riêng, không lẫn với nhau.Mỗi HS Việt Nam đều cần có những năng lực chung chủ yếu và năng lựcriêng đặc thù để tồn tại trong xã hội Mỗi lĩnh vực, môn học lại giúp phát triển cácnăng lực khác nhau Đối với các môn học phổ thông đặc biệt là bộ môn Ngữ Văn

sẽ tạo điều kiện cho HS phát triển các năng lực như sau: Năng lực tìm kiếmthông tin,

Trang 27

năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mĩ…

1.2.2 Dạy học phát triển năng lực

Dạy học phát triển năng lực người học được xem là một nội dung, một phươngpháp giáo dục tốt và hiệu quả như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương phápdạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Điểm khác nhau giữa cácphương pháp này là ở chỗ dạy học phát triển năng lực người học có yêu cầu cao,mức độ khó hơn đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chungcao hơn rất nhiều Dạy và học luôn đi liền với nhau trong quá trình giáo dục Muốnhình thành nhân cách đầy đủ cho HS thì ngoài việc dạy chữ GV còn phải dạy cả đạođức, lối sống cho các em Chính vì thế, mà dạy học theo hướng phát triển năng lực

sẽ giúp người GV làm tốt hơn nữa nhiệm vụ này

Việc dạy học từ trang bị kiến thức chủ yếu sang dạy học theo hướng phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học ngày càng được chuyển đổi mạnh Học

đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường luôn phải kết hợpvới giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chương trình dạy học theo lối truyền thốnglấy GV làm trung tâm mọi hoạt động đều được thực hiện bởi người giảng dạy chínhcòn HS chỉ nghe ghi chép lại kiến thức từ thầy cô của mình Ngày nay, chương trìnhgiáo dục theo hướng phát triển năng lực nhằm tạo cơ hội để các em tư duy, sáng tạođồng thời lấy người học làm trung tâm trong các giờ học của chính mình

1.2.3 Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực

Theo Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo đã cho chúng ta thấy rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ

phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích

tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Từ đó, để đẩy mạnh yêu

cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW chúng tacần tìm hiểu mạnh dạn, thay đổi các phương pháp dạy học theo hướng phát triểnnăng lực người

học

Dạy học đang được chuyển dần từ giáo dục tiếp cận nội dung kiến thức khôkhan sang tiếp cận năng lực, phát triển trí tuệ của người học, nghĩa là quan tâm đếnmục đích cuối cùng học sinh học được những gì và vận dụng cái thầy cô dạy đó vào

Trang 28

trong thực tiễn đời sống ra làm sao Để đạt được điều đó đồng nghĩa với việc phảithay đổi phương pháp học tập cho các em trong mỗi bài không nên học theo lối

"truyền thụ một chiều" nữa Ngày nay cũng có nhiều phương pháp học tập mới giúpphát triển năng lực Tùy vào mỗi bài học GV có thể tổ chức cho các em làm việcnhóm, tạo cơ hội để các em thể hiện khả năng trình bày, giao tiếp Việc tổ chức dạyhọc liên môn cũng đang được đẩy mạnh Một giờ học các em cũng có thể kết hợpnhững kiến thức, chủ đề tích hợp nhiều môn học với nhau để giúp hoàn thiện nănglực giải quyết vấn đề phức tạp hơn

Người học có một vị trí quan trọng quyết định nhiều đến hiệu quả của giờ dạy.Các em phải là người làm chủ kiến thức để hình thành và phát triển cho bản thânnăng lực tự học qua việc đọc SGK, tìm các ý, ghi chép lại, trả lời các câu hỏi Trên

cơ sở đó tiếp tục bồi dưỡng các năng lực, phẩm chất khác trong bài học Tuy nhiên,việc sử dụng bất kỳ phương pháp, biện pháp dạy học nào cũng phải giữ vững

nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến

thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

Áp dụng phương pháp dạy học này cần thiết thực, luôn chú ý đến hình thức tổchức dạy học nhằm phát triển được các năng lực cho người học Các hình thức được

tổ chức trong bài dạy thì cần linh hoạt, phù hợp trách xa rời mục tiêu, nội dung một

số hình thức dạy học như: học nhóm, tự học, học trực tuyến, học trên lớp, học thựchành ngoài lớp… Khi đã xác định cho HS rèn luyện, thực hành vào trong thực tế đờisống thì có phương pháp dạy học đúng lại càng quan trọng Để hình thành và pháttriển năng lực của HS, GV cũng nên linh hoạt, đa dạng các phương tiện dạy học, kếthợp sử dụng công nghệ thông tin hiện đại phù hợp để kích thích sự tư duy, sáng tạo,thông minh của

HS

Như vậy, chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu về bốn đặc trưng cơ bản của việc đổi mới

căn bản toàn diện phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực:

Đầu tiên, trong giờ dạy GV phải thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập,giúp các em chủ động tự mình tìm hiểu kiến thức, trả lời các câu hỏi, thực hành luônnhững điều đã học vào các tình huống chứ GV không đọc ghi Nhiệm vụ chính của

GV là quan sát, hỗ trợ và nhận xét kết quả làm được của HS

Hai là, tạo cơ hội để học sinh tìm hiểu những phương pháp học hữu ích biếtcách phát hiện các chi tiết, hình ảnh, từ ngữ của văn bản trongSGK, tự nhớ lạinhững kiến thức đã được học từ trước, từ đó suy luận, phân tích để tìm tòi và pháthiện kiến thức mới hướng dẫn học sinh sử dụng thành thạo các thao tác tư duynhư: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá,… để các em phát triển toàn diện

Trang 29

Ba là, tăng cường cho HS trong lớp trải nghiệm hợp tác nhóm thảo luận trao

đổi trình bày kiến thức theo phương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn,

làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” giúp HS biết cách đoàn kết, tương trợ nhau

giải quyết các vấn đề chung khi làm việc tập thế mà GV giao cho

Cuối cùng là, theo dõi kiểm tra kết quả học tập dựa trên mục tiêu bài học trongsuốt thời gian học thông qua hệ thống các câu hỏi, bài tập ở cuối bài Đồng thời, vớinhiều hình thức phong phú, đa dạng như: xem lời giải của GV, đáp án mẫu của sáchtham khảo để có thể rút ra nhận xét đánh giá đối với mỗi nhiệm vụ mà các em vừathực hiện, giúp HS tự nhận xét, đánh giá chính bản thân mình và người khác được

Từ đó đưa ra các biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho họcsinh THPT như: đổi mới, kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống với cácphương pháp dạy học hiện đại; tăng cường cho HS tự giải quyết vấn đề được đặt ra;dạy học theo cốt truyện tình huống; tăng cường sử dụng phương tiện, kĩ thuật dạyhọc và công nghệ thông tin phát huy tính tích cực tư duy và sáng tạo…

1.2.4 Ý nghĩa của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực

Thế giới đang thay đổi và phát triển từng ngày với công cuộc hiện đại hóa,công nghiệp hóa, đổi mới căn bản và toàn diện trên mọi lĩnh vực Ở Việt Nam, vấn

đề dạy học theo hướng tiếp cận và phát triển năng lực cho học sinh sớm được đưavào giáo dục trong trường học như: Học luôn phải gắn với thực hành, lí thuyết phải

đi đôi với thực tế, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn, kết hợpgiữa giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội Tuy nhiên, chương trình giáo dụccủa chúng ta được thực hiện chưa hẳn đã bám sát nội dung, phương pháp mới

Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông, dạy học theo hướng phát triểnnăng lực người học dựa trên sự phát triển cân đối, toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm

mĩ sẽ giúp cho các em HS phát triển một cách tốt nhất về thái độ, năng lực và tínhcách cá nhân Từ đó, góp phần hoàn thiện mục tiêu giáo dục, nhân cách con người,đáp ứng việc đào tạo những con người có đủ phẩm chất, đủ năng lực đáp ứng nhucầu của xã hội mới, thời đại mới

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy bài Chí Phèo theo

hướng phát triển năng lực

1.3.1 Điều tra, thăm dò ý kiến và dự giờ giáo viên

Để có nhận xét về kết quả của cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã thực hiện điều tra

thực tế công tác dạy học đọc hiểu môn Ngữ Văn nói chung và văn bản Chí Phèo

nói riêng có vận dụng SĐTD theo hướng phát triển năng lực trong nhà trườngTHPT hiện nay Đối tượng là các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Ngữ văn tạitrường THPT

Trang 30

Câu 2: Theo các thầy cô có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu

văn bản “Chí Phèo” (Ngữ Văn 11) theo hướng phát triển năng lực nói riêng và

phân môn đọc hiểu nói chung không?

Trang 31

Có thể sử dụng ở mọi điều kiện 1/8

Sau khi có kết quả, chúng tôi nêu ra một số nhận xét sau:

Các thầy cô vẫn sử dụng chủ yếu là cách dạy học thầy đọc trò ghi, thuyết trìnhchưa mạnh dạn áp dụng đổi mới các phương pháp học tập Việc sử dụng SĐTD mớibắt đầu được các thầy cô sửa dụng ít trong các giờ dạy ở những năm gần đây do họchưa quen với loại hình SĐTD thông qua phần mềm học tập mindmap

Một số thầy cô cho nhận xét, phản hồi rất tốt về SĐTD Họ thấy nó mang lạihiệu quả tốt với ưu điểm là dễ dàng ghi nhớ một cách ngắn gọn, nhanh - việc cầnthiết khi học tập của HS

Trên thực tế, nếu GV thường xuyên sử dụng SĐTD để dạy học theo hướngphát triển năng lực thì hiệu quả giờ học sẽ cao hơn so với lối giảng chay Vì vậy,việc học Văn có sử dụng SĐTD đặc biệt là đối với phân môn đọc hiểu là hoàn toànlợi ích, giúp nâng cao giờ học với lượng kiến thức lớn đồng thời phát triển các nănglực hợp tác, tư duy, sáng tạo, thẩm mĩ của học sinh nhanh nhạy, ghi nhớ tốt hơn cáckiến thức

1.3.2 Điều tra, thăm dò ý kiến học sinh

Không chỉ lấy ý kiến thăm dò của giáo viên, chúng tôi còn tiến hành hỏi đápngười tiếp nhận trực tiếp - HS Chúng tôi đã gặp trao đổi và lấy ý kiến các em HSlớp

11C1 - Trường THPT Đồng Đậu (Yên Lạc - Vĩnh Phúc) qua ý kiến của 35 HS vềviệc học tập SĐTD theo hướng PTNN trong môn Ngữ Văn với hệ thống 5 câu hỏicho kết quả:

Phần lớn HS của trường không thích học môn Ngữ Văn trong đó có phần họcđọc hiểu Chỉ có 20,99% các em khá thích thú, đam mê với giờ học của môn NgữVăn vì có những tác phẩm hay, ý nghĩa Những số liệu còn lại cho thấy một tìnhtrạng đáng báo động đang xảy ra Số lượng HS thấy môn văn khô và khó, khôngmuốn học cao (36,67%), số học sinh còn lại học vì đây là môn học, môn thi không

bỏ được

Thực trạng này vẫn liên tục diễn ra thường xuyên trong các năm gần đây dokhông tạo được không khí học tập hứng thú, mới lạ cho HS từ các thầy cô Vì vậy,khơi gợi lại hứng thú, sự yêu thích, đam mê đối với môn Văn là điều cần làm ngayđối với mỗi thầy cô trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn.Vận dụng SĐTD trongdạy học theo hướng phát triển năng lực là một phương pháp hữu ích, quan trọng HS

đã được nhìn thấy, nghe giới thiệu từ thầy cô và thực hành trong học tập nhưng mới

ở mức độ thấp Đây là cơ hội thuận lợi để đưa phương tiện này vào dạy học đối vớimỗi thầy cô

Trang 32

Qua đây, SĐTD có rất nhiều lợi ích và các em HS thì đã biết đến nó như mộtngười bạn học tập hiệu quả, GV có thể sử dụng SĐTD trong dạy học theo hướngphát

Trang 33

triển năng lực để hướng dẫn HS chủ động tìm hiểu vấn đề, ôn thi nhanh với SĐTDđồng thời giúp các em hình thành và phát triển các năng lực tư duy, sáng tạo, thẩm

mĩ của bản thân

1.3.3 Đánh giá chung về thực trạng, tình hình dạy đọc hiểu văn bản Chí Phèo

có vận dụng sơ đồ tư duy theo hướng phát triển năng lực

Sau khi kết thúc công việc lấy ý kiến của GV và HS ở trường THPT, chúng tôi

nhận thấy rằng “dạy đọc hiểu văn bản Chí Phèo có vận dụng sơ đồ tư duy theo

hướng phát triển năng lực” có thể được sử dụng một cách hiệu quả vào dạy học.

Bên cạnh những ưu điểm vượt trội còn có cả những khó khăn nhất định đến từ phíangười dạy và người học khi dùng SĐTD:

Về phía GV: Nhìn chung tất cả các GV ở THPT đều có ý thức tìm hiểu và dầnđưa SĐTD vào giờ dạy theo hướng phát triển năng lực cho HS Tuy nhiên, họ vẫnchưa thực sự dám sử dụng nó vào các hoạt động của quá trình giảng dạy, học tập

Về phía HS: Các em đều nhận thức được đúng đắn và thấy được ưu điểm lớncủa việc học tập thông qua SĐTD theo hướng phát triển năng lực trong học đọc hiểuvăn bản nhưng được ứng dụng nó với các em là chưa thường xuyên Bên cạnh đó,còn nhiều em HS còn ngại khó, thụ động chờ GV đọc chép mà chưa thực sự chămchỉ, chủ động, tích cực tìm hiểu bài học

Qua đó, chúng tôi luôn tin rằng với những hiệu quả, lợi ích mà SĐTD đem đếntrong quá trình dạy học đặc biệt là dạy học môn Văn thì người dạy và người học văn

sẽ quan tâm, tìm hiểu và ứng dụng nó nhiều hơn nữa

Tiểu kết chương 1

Dựa vào những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cùng thực tế dạy học ở trườngphổ thông nói trên, chúng tôi nhận thấy rằng công tác giáo dục ngày nay cần phảilấy HS làm trung tâm để các em được chủ động tìm hiểu, khám phá những hiểu biết,giải đáp những thắc mắc của mỗi bài học hay những vấn đề trong cuộc sống Qua

đó, GV sẽ là cầu nối đưa các em đến với quá trình hình thành và phát triển các nănglực cần thiết cho bản thân Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu nghiên cứu

thiết kế kế hoạch dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo có vận dụng SĐTD theo

hướng phát triển năng lực Việc nghiên cứu này sẽ tạo điều kiện cho người dạykhông đi sai mục tiêu bài giảng đồng thời giúp đưa chất lượng người học ngày càngcao hơn, tốt hơn phù hợp với yêu cầu đổi mới, sánh ngang với các nước bạn bè trênthế giới

Trang 34

Chương 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍ PHÈO THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC CÓ VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY

2.1 Vị trí của bài Chí Phèo

Chí Phèo là tác phẩm nổi tiếng trong chương trình Ngữ văn THPT Theo phân

phối dạy học, văn bản Chí Phèo được dạy 3 tiết như sau: tiết 51 dạy phần một về tác giả Nam Cao, tiết 52 và tiết 53 dạy về phần hai tác phẩm Chí Phèo trong SGK Ngữ

văn 11 tập một Tên nhân vật chính được lấy để đặt tên cho tác phẩm Qua văn bảnthì các em sẽ được nhắc lại các thông tin về thể loại truyện ngắn đã học, biết thêm

về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo.

Nam Cao viết rất nhiều truyện ngắn hay trong đó có Chí Phèo Tác phẩm được

sáng tác vào tháng 2 năm 1941 Với phong cách viết độc đáo tác phẩm đem đếnthành công lớn cho nhà văn giúp văn học Việt Nam có thêm một kiệt tác Qua đây,Nam Cao cũng vẽ ra cho bạn đọc bi kịch về hình ảnh người nông dân nghèo bị thahóa đẩy vào bước đường cùng

Qua văn bản Chí Phèo người GV sẽ giảng dạy cho người học những thông tin

kiến thức trọng tâm, cung cấp nội dung đầy đủ của bài học thông qua SĐTD Vớitiết học đọc hiểu này, việc truyền đạt kiến thức cho HS chỉ là một nhiệm vụ của bàihọc Điều quan trọng hơn đó là GV phải hướng dẫn HS tiếp thu theo hướng pháttriển năng lực đọc hiểu Khi GV giao nhiệm vụ học tập, HS sẽ giải quyết các cáchỏi, bài tập đó bằng sự tư duy Qua đây, giúp HS vừa tiếp thu bài học lại vừa hìnhthành, rèn luyện được các năng lực phẩm chất cần thiết

Dạy học văn bản Chí Phèo cung cấp cho HS những hiểu biết về hình ảnh

người nông dân lao động hiền lành bị tha hóa mất hết tính người, sự độc ác, tànnhẫn của giai cấp thống trị; thái độ tình cảm của nhà văn gửi gắm qua văn bản đồngthời bồi đắp tâm hồn, nuôi dưỡng tình cảm trước cái đẹp, cái thiện, lên án cái xấucái ác

2.2 Mục tiêu của dạy học văn bản Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực

Trong chương trình Ngữ văn, việc triển khai dạy đọc hiểu văn bản Chí Phèo

theo hướng phát triển năng lực hướng tới các mục tiêu sau:

Về kiến thức: Giúp HS tìm hiểu khái quát về tác phẩm, về thể loại truyện

ngắn Hiểu và phân tích các nhân vật: Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến mối quan hệ giữacác nhân vật phản ánh cái nhìn về xã hội cũ, những mâu thuẫn giữa các tầng lớp,trân trọng trước ước mơ, khát vọng lương thiện của người nông dân qua đó thấyđược giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm

Giúp HS nắm rõ được các quan điểm nghệ thuật, những đề tài chủ yếu; phong

Trang 35

cách nghệ thuật của nhà văn Nam Cao.

Bên cạnh đó, cho ta thấy được những đặc sắc về nghệ thuật như: điển hình hóanhân vật, miêu tả tâm lí nhân vật, trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật

xưa

Về hình thành năng lực cho HS:

Thời đại ngày càng tiến bộ, công tác giáo dục cũng phải đổi mới về mọi mặttrong đó đặc biệt chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triểnnăng lực Hiểu được tác dụng to lớn của nó để đưa vào dạy học trong môn NgữVăn với phân môn đọc hiểu văn bản văn học Từ đó, chất lượng giáo dục sẽ thayđổi với diện mạo mới hơn

Từ nội dung của tác phẩm Chí Phèo ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản HScòn phải có những năng lực cần thiết khi học tác phẩm này

Trước hết đó là năng lực nhận thức: Nhận thấy được bi kịch của người nôngdân bị tha hóa đến bước đường cùng, tình người đáng quý của Thị Nở dành cho ChíPhèo, sự độc ác tàn nhẫn của giai cấp thống trị tiêu biểu là Bá Kiến Đó là sự mâuthuẫn giữa giai cấp thống trị với bị trị, giữa người giàu có, độc ác với người nghèobần cùng, tha hóa

Thứ hai là năng lực giải quyết vấn đề cho người học: giải quyết được mối quan

hệ mâu thuẫn giữa các nhân vật: Bá Kiến – Chí Phèo, Chí Phèo – Thị Nở Truyệnngắn với kết thúc, điểm dừng đầy bất ngờ Phần này cũng đặt ra nhiều câu hỏi khiếnngười học phải suy nghĩ tư duy để tìm ra cách giải quyết, lí giải cho điều bất ngờ đókhi tin dữ Chí Phèo tự tử , Thị nhìn nhanh xuống bụng mình đầu tưởng tượng về cái

lò gạch cũ…

Năng lực giao tiếp: Giúp HS trình bày cảm nhận, nêu suy nghĩ về hình tượngcác nhân vật: Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở; nêu ý kiến nhận xét về hình ảnh bát cháohành

Trang 36

Năng lực hợp tác nhóm và năng lực trình bày: GV Tổ chức cho HS trao đổithảo luận nhóm về: tiểu sử, sự nghiệp nhà văn Nam Cao; các chặng trong cuộc đờicủa Chí Phèo qua các giai đoạn trước khi hắn vào tù, giai đoạn sau khi ra tù, giaiđoạn hồi sinh, thức tỉnh và bi kịch của Chí.

HS trao đổi nhóm và ghi vào phiếu học tập Sau đó, cử đại diện trình bày trướclớp kết quả vừa thảo luận xong

Năng lực tư duy sáng tạo: Thể hiện qua việc sáng tạo viết tiếp kết truyện của

tác phẩm Chí Phèo của bản thân.

2.3 Nội dung bài Chí Phèo

Theo chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, văn bản Chí Phèo được học

ba tiết ở học kỳ I, đi vào các nội dung kiến thức sau đây:

Ở tiết một, SGK trình bày những thông tin cơ bản về tiểu sử, con người, sựnghiệp, phong cách nghệ thuật của tác giả Nam cao Tiết hai, cung cấp kiến thức về

tác phẩm Chí Phèo và nhân vật Chí với nguồn gốc xuất thân, con đường lưu manh

tha hóa, cuộc gặp gỡ với Thị Nở và diễn biến tâm trạng Chí Phèo (Giai đoạn hồisinh, thức tỉnh) Tiết ba, GV tiếp tục cho HS tìm hiểu về hình tượng Bá Kiến, giá trịhiện thực và nhân đạo của tác phẩm Ở cuối SGK có các câu hỏi tìm hiểu bài học và

hệ thống bài tập

Trước hết, đó là tác giả Nam Cao qua tiểu sử, con người ông:

Nam Cao (1917-1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở Hà Nam Xuất thângia đình nông dân Khi học hết bậc thành chung, ông vào sài gòn kiếm việc, dự định

đi nước ngoài nhưng do bệnh tật lại về quê làm nghề dạy học tại một trường tư thục.Sau trường đóng cửa vì Nhật kéo vào Nam Cao phải sống chật vật với nghề viết văn

và làm gia sư Năm 1943, Nam Cao tham gia nhóm văn hóa cứu quốc Đến năm

1946, theo đoàn quân Nam Tiến vào Nam Trung Bộ, một năm sau lên Việt Bắc làmcông tác báo chí tuyên truyền Năm 1951, trên đường vào liên khu III, bị giặc Phápbắt và sát hại

Về con người của Nam Cao, bề ngoài lạnh lùng, vụng về, kiệm lời nhưng đờisống nội tâm phong phú, tâm tư sôi nổi, sống nhân hậu, giàu yêu thương, luôn daydứt không yên về đời sống con người, luôn nghiêm khắc với bản thân để thoát khỏicuộc sống ích kỉ, nhỏ nhen và vươn tới những giá trị chân chính của cuộc đời

Thứ hai, sự nghiệp sáng tác của ông phong phú, đa dạng Với kinh nghiệmtừng trải thì mỗi tác phẩm ra đời đều chứa đựng những quan điểm đầy nhân văn sâusắc mà ông gửi gắm qua đó Trước hết Nam Cao cho rằng, văn chương nghệ thuậtphải biểu hiện rõ được hiện thực của cuộc sống Thứ hai, văn chương nghệ thuậtphải có

Trang 37

tính sáng tạo Thứ ba, văn chương nghệ thuật phải chứa đựng giá trị nhân đạo đểgiáo dục con người Thứ tư, nhà văn phải thực sự nghiêm khắc với chính bản thânmình Cuối cùng, Nam Cao quan niệm sống đã rồi hãy viết Bên cạnh đó, trước vàsau cách mạng các đề tài của ông cũng đa dạng Trước cách mạng tháng Tám, NamCao tập trung vào hai mảng đề tài chính đó là người nông dân và người trí thức Cáctác phẩm chính như: Lão Hạc, Chí Phèo, một bữa no, giăng sáng, đời thừa, nướcmắt… Với hai đề tài trên Nam Cao luôn day dứt không yên về số phận con ngườiđau đớn, cuộc sống con người bị hủy hoại Nhưng thời gian sau cách mạng thángTám, Nam Cao viết văn để phục vụ kháng chiến, cứu nước với hai tác phẩm lớnnhư: Nhật kí ở rừng và truyện ngắn đôi mắt.

Trong sự nghiệp sáng tác không thể không nhắc đến phong cách nghệ thuật củanhà văn Nam Cao Đó là con người luôn hướng về số phận nghèo khổ, có biệt tàiphân tích tâm lí nhân vật, cách kể chuyện thì tài hoa, biến hóa linh hoạt, ngôn ngữtrong sáng, bình dị, gần gũi, dễ hiểu

GV nhắc lại kiến thức lý thuyết đã học về khái niệm truyện ngắn, đặc điểmtruyện ngắn với nội dung này, HS cần nhớ được:

Khái niệm truyện ngắn: Là một thể loại văn học thuộc hình thức tự sự loạinhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ, tập trung mô tả một mảnhcuộc sống, một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhânvật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội”.Đặc điểm của truyện ngắn: Thường có ít nhân vật và sự kiện, tình tiết, sự kiệntruyện diễn ra trong không gian, thời gian hạn chế Nó chỉ “chọn lấy những khoảnhkhắc, những lát cắt của cuộc sống để thể hiện, kết cấu truyện ngắn thường là sự sắpđặt những đối sánh, tương phản để làm nổi bật nội dung, ý chính”

Tiếp đó, GV hướng dẫn HS đi sâu tìm hiểu chi tiết, cụ thể văn bản:

Tác phẩm Chí Phèo là truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao về đề tài người

nông dân trước cách mạng Tên nhân vật chính được đặt cho toàn bộ nội dung vănbản, sáng tác năm 1941 Lúc đầu tên là “Cái lò gạch cũ” sau gửi đến nhà xuất bảnđổi tên là “Đôi lứa xứng đôi”, sau khi cho in lại trong tập “Luống cày” Nam Cao

đổi lại là Chí Phèo Đây là một kiệt tác của Nam Cao thuộc nền văn học Việt Nam

hiện đại

Tóm tắt văn bản:

Tác phẩm kể về một nhân vật có tên là Chí Phèo, bị bỏ rơi từ nhỏ tại một cái lògạch cũ bỏ hoang và được người ta nhặt đem về nuôi Lớn lên, làm người ở cho hếtnhà này sang nhà khác để tự nuôi mình Khi tròn 20 tuổi, hắn chuyển đến làm canhđiền cho nhà Bá Kiến Việc ghen tuông vô cớ của Lý Kiến đẩy Chí phải vào tù

Trang 38

Bảy tám năm ở tù về đã biến Chí Phèo trở thành con quỷ dữ của cả làng VũĐại Hắn dường như biến đổi từ bộ dạng bên ngoài đến tính cách con người Lúcnào cũng trong tình trạng say và bị Bá Kiến lợi dụng thành tay sai cho hắn Ngườidân trong làng ai ai cũng khiếp sợ khi nhìn thấy hắn.

Một đêm trăng sáng, trong một cơn say, Chí Phèo gặp Thị Nợ, người đàn bàxấu ma chê quỷ hờn bị mọi người hắt hủi, họ ở với nhau như vợ chồng Sáng hômsau, Thị tự tay nấu một bát cháo hành cho Chí Chính vậy, hắn mong muốn khaokhát lương thiện, được mọi người chấp nhận và được sống hạnh phúc bên Thị Nở.Nhưng không như mơ, hắn bị bà cô Thị Nở và cái xã hội phong kiến đã không chấpnhận Chí làm người, tuyệt giao với hắn

Chí Phèo tuyệt vọng, lại uống và xách dao ra đi, vừa đi hắn vừa chửi Chí đithẳng đến nhà Bá Kiến đòi sự lương thiện Hắn giết Bá Kiến rồi tự tử Nghe tin ChíPhèo đã chết, Thị nhìn xuống bụng và nghĩ đến lò gạch cũ

Giải thích ý nghĩa nhan đề Chí Phèo:

Cho ta thấy hình ảnh một con người nông dân hiền lành, một số phận cụ thể, côđơn, cô độc bị tha hóa đến đường cùng

Khái quát được nội dung của tác phẩm Chí Phèo là hậu quả của xã hội phongkiến bị đẩy vào "bước đường cùng" trở thành tên côn đồ, bị tha hóa, mất hết tínhngười

Góp phần tô đậm bức tranh giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.Sau đó, GV cho HS tìm hiểu về ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo ở đầu đoạn.Hắn vừa đi vừa chửi, chửi trong lúc say, chửi từ cái lớn đến cái nhỏ một cách hệthống như một thói quen, mọi người trong làng đều nghĩ hắn trừ mình ra Qua đó,gây sự tò mò, tạo được sự dộc đáo cho người đọc Là cái cớ để nhà văn lần trở lại lailịch nhân vật một cách tự nhiên Làm cho nhân vật xuất hiện bất ngờ, gây tò mòhơn Tiếng chửi còn là kết quả của sự dồn nén tâm lí ấm ức, tuyệt vọng đồng thời làcách để nhân vật phản ứng với đời

Về Nhân vật Chí Phèo: Có nguồn gốc xuất thân gắn với số không tròn trĩnh :không gia đình, người thân, bị bỏ rơi, không một tấc đất, ngôi nhà Hai mươi nămtrời trong kí ức tuổi thơ, Chí là một con người hiền lành, lương thiện Do ghentuông vô cớ, Lí Kiến đã tìm cách bắt Chí Phèo đi ở tù biến hắn thành một tên lưumanh, côn đồ, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại Sau bảy, tám năm ở tù về, xuấthiện một tên Chí Phèo hoàn toàn khác về cả nhân hình: cái đầu thì trọc lốc, cái răngcạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng… Khinh khủng hơn là sự thay đổi

về nhân tính Ngày hôm trước ở tù về hôm sau đã ra chợ uống rượu xong hắn tìmđến nhà Bá Kiến

Trang 39

rạch mặt ăn vạ, chửi bới Chỉ vài lời ngon ngọt với vài đồng bạc hắn bị Bá Kiếndùng làm tay sai chuyên kiếm sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ, đâm thuê chémmướn Chí Phèo sống chìm trong những cơn say, mất phương hướng, ý niệm vềthời gian chưa bao giờ anh tỉnh để nhận ra mình “đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đạpnát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nướcmắt bao nhiêu người lương thiện” Vì tha hóa biến chất nên cả làng Vũ Đại ruồng

bỏ, sợ hắn, tránh mặt hắn Nhưng không, cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã khiến Chí thứctỉnh, hồi sinh Vào một đêm trăng sáng, Chí Phèo say rượu, họ đã gặp và ăn nằmchung sống cùng nhau Sáng hôm sau, với sự chăm sóc giản dị, ân cần từ bát cháohành Thị nấu cho Chí đã đánh thức bản chất lương thiện của người lao động vốn đãchìm sâu trong tâm hồn con quỷ dữ Chí bắt đầu hồi sinh, hắn cảm thấy “bângkhuâng, mơ hồ buồn”, thấy sợ; lần đầu tiên Chí Phèo nghe được những âm vangquen thuộc từ cuộc sống và rồi hắn bắt đầu nhớ lại quá khứ, thấy lòng mơ hồ buồn,thấy tiếc quá khứ, xót xa với hiện tại, thấy lo sợ khi mình đã đến cái dốc bên kia củacuộc đời Hắn xúc động vì đây là lần đầu tiên trong cuộc đời được một người đàn bàcho không rồi thấy hối hận về những hành động tàn ác của mình trước đây thấy

“thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người” Mọi thứ với Chí lại không hề tốtđẹp như vậy, giữa lúc Chí Phèo hi vọng nhiều nhất Thị sẽ mở đường đưa mình vềlại cuộc sống lương thiện thì cũng là lúc Thị Nở làm cho Chí tuyệt vọng nhất Bà côThị không đồng ý, ủng hộ cho cháu mình qua lại và lấy một con quỷ dữ làm chồng.Khi bị tước bỏ quyền làm người cao quý, ý thức được sự thiệt thòi, bất hạnh của đờimình, Chí lại lao vào uống rượu định xách dao đi đâm chết Thị và con cọm già nhàThị Đó là tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc khi muốn sống cho ra một con người màkhông được Sau khi ra khỏi nhà, Chí Phèo không đến nhà Thị, hắn đi thẳng tới nhà

Bá Kiến để lấy lại lương thiện, quyền làm người Chí giết Bá Kiến rồi tự tử Đó làcái chết không có lối thoát, chết vì không thể tiếp tục sống cuộc đời con quỷ dữ Qua

đó, cho thấy Chí Phèo là hình tượng điển hình nhất về người nông dân lao động bầncùng thời đó

Về nhân vật Bá Kiến: Nhà bốn đời đã làm chức tổng lí, con trai Lí Cường giờđang giữ chức làm lí trưởng Ở làng Vũ Đại, hắn leo lên đỉnh cao danh vọng có phecánh mạnh, luôn đối đầu với bọn cường hào, địa chủ khác Bản chất của Bá Kiến làmột người thủ đoạn, nham hiểm trong cách dùng người, là người đầy khôn lỏi, gianxảo, ném đá giấu tay, mượn dao giết người Không chỉ vậy còn là người đầy đểucáng, tàn bạo dâm ô đồi bại Hắn là hình tượng tiêu biểu cho giai cấp thống trị ởnông thôn Việt Nam những năm trước cách mạng đồng thời cũng là nguyên nhângây nên những mảnh đời bi kịch như Chí Phèo

Trang 40

Một phần khá quan trọng trong tìm hiểu nội dung văn bản Chí Phèo chính là

việc khám phá ra những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc mà tác giả gửigắm Về giá trị hiện thực, nói đến bi kịch tha hóa của người nông dân lao động bịdồn vào bước đường cùng; mối quan hệ đối kháng giữa giai cấp thống trị và giai cấp

bị trị; người nông dân chưa tìm được ra lối thoát cho cuộcđời mình Từ giá trị hiệnthực Nam Cao đã cho ta thấy những giá trị nhân đạo cao quý Tấm lòng cảm thông,yêu thương, sẻ chia đối với số phận bất hạnh như Chí Phèo; phát hiện trân trọngtình người đáng quý (Mối tình Thị Nở, Chí Phèo) Nhà văn để cho nhân vật tự đi tìmcông bằng, quyền làm người; tố cáo tội ác của giai cấp thống trị

Cuối cùng, GV hướng dẫn HS củng cố, tổng kết lại toàn bộ văn bản Chí Phèo

2.4 Thiết kế các sơ đồ tư duy vào dạy bài Chí Phèo theo hướng phát triển năng

lực

2.4.1 Thiết kế các sơ đồ tư duy sử dụng khi dạy bài Chí Phèo theo hướng phát triển năng lực

Từ những lượng đơn vị kiến thức trong văn bản Chí Phèo, chúng tôi xác định

việc sử dụng SĐTD trong dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng phát triển năng lực

ở những hoạt động, công việc sau:

2.4.1.1 Sơ đồ tác giả Nam Cao phát triển năng lực hợp tác

Trong phần tác giả này, GV cho HS vận dụng SĐTD theo hướng phát triểnnăng lực giúp người học biết phân tích và tìm hiểu tác phẩm rành mạch, cụ thể hơn;

HS nắm rõ các kiến thức về sự nghiệp, con người Các nét chính về cuộc đời củaNam Cao sẽ được nhận ra ngay khi nhìn vào SĐTD Từ đó, thay lối ghi chép cũ theokiểu gạch từng đầu dòng để nêu các ý chính, ý phụ thì chúng ta sử dụng SĐTD sẽgiúp HS tìm hiểu đầy đủ những kiến thức cơ bản về tác giả giúp hình thành năng lựchợp tác nhóm, trình bày

Ngày đăng: 29/08/2019, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ Văn cấp THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánhgiá theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ Văn cấp THPT
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2014
2. Nguyễn Thái Hòa (2004), Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu, Thông tin khoa học Sư phạm số 5, Viện nghiên cứu Sư phạm - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Năm: 2004
3. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình sách và giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình sách vàgiáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
4. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (1999), Phương pháp dạy học Văn, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Văn
Tác giả: Phan Trọng Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia
Năm: 1999
5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2015), Ngữ văn 11 (Tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 (Tập 1)
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dụcViệt Nam
Năm: 2015
6. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 - Sách giáo viên (Tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 - Sách giáo viên (Tập 1)
Nhà XB: NxbGiáo dục Việt Nam
7. Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
8. Trịnh Văn Quỳnh, Đột phá mindmap - Tư duy đọc hiểu môn Ngữ văn bằng hìnhảnh - Lớp 11, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đột phá mindmap - Tư duy đọc hiểu môn Ngữ văn bằng hình"ảnh - Lớp 11
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn THPT, bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội, (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn THPT
11. Tony Buzan (2007), Bản đồ tư duy trong công việc, Nxb Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2007
12. Tony Buzan (2007), Lập bản đồ tư duy, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập bản đồ tư duy
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2007
13. Tony & Bary Buzan (2008), Sơ đồ tư duy, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ đồ tư duy
Tác giả: Tony & Bary Buzan
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
14. Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, Nxb đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hìnhthành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội
Nhà XB: Nxb đại học sưphạm
Năm: 2016
15. Joyce Wycoff, Ứng dụng bản đồ tư duy để khám phá tính sáng tạo và giải quyết vấn đề, Nxb Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng bản đồ tư duy để khám phá tính sáng tạo và giảiquyết vấn đề
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
10. Đỗ Ngọc Thống (2011), Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w