1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

77 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ.... Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THỊ THÙY VINH

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, tìm hiểu và hoàn thiện khoá luận, tôi đã nhậnđược sự động viên, khuyến khích và sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo,

cô giáo, bạn bè và gia đình

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầmnon trong quá trình thực hiện khóa luận này đã tạo điều kiện thuận lợi nhấtcho tôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô

giáo: TS Lê Thị Thùy Vinh – Giảng viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư

phạm Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn cô Hiệu trưởng, Hiệu phó cùng toàn thể các

cô giáo của trường mầm non Văn Khê - Mê Linh - Hà Nội đã tạo điều kiện tốtnhất giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Do điều kiện thời gian nghiên cứu, cũng như đây là lần đầu tiên làmkhóa luận, chắc chắn đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rấtmong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài này thật sự

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Khách thể nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ 6

1.1.1 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 6

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.1.2 Những nghiên cứu về nhu cầu phát triển của trẻ mầm non 7

1.1.3 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ 8

1.2 Lí luận về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 8

1.2.1 Một số khái niệm 8

1.2.1.1 Ngôn ngữ là gì? 8

1.2.1.2 Phát triển ngôn ngữ 9

1.2.1.3 Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 10

1.2.2 Bản chất, chức năng và vai trò của ngôn ngữ 10

Trang 6

1.2.2.1 Bản chất của ngôn ngữ 10

1.2.2.2 Chức năng của ngôn ngữ 12

1.2.2.3 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ 13

1.3 Một số vấn đề về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ 15

1.3.1 Sự cần thiết của việc xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 16

1.3.2 Các nguyên tắc xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ 16

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát triển ngôn ngữ của trẻ 17

1.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 18

1.4.1 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 24- 36 tháng tuổi 19

1.4.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3- 6 tuổi) 19

1.5 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và nhu cầu phát triển của trẻ mầm non 20

1.5.1 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triển tâm lí của trẻ 20

1.5.2 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triển sinh lí của trẻ 25

Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG 29

MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON 29

PHÙ HỢP VỚI NHU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG 29

MẦM NON VĂN KHÊ - MÊ LINH - HÀ NỘI 29

2.1 Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non ở trường mầm non Văn Khê 29

2.1.1 Tổ chức khảo sát 29

2.1.1.1 Mục tiêu khảo sát 29

2.1.1.2 Nội dung khảo sát 29

2.1.1.3 Đối tượng khảo sát 29

2.1.1.4 Quy mô, địa bàn, khảo sát 29

2.1.1.5 Phương pháp khảo sát 30

2.1.1.6 Công cụ khảo sát và tiêu chí đánh giá 30

Trang 7

2.1.2 Kết quả khảo sát 30

2.1.2.1.Thực trạng nhận thức của giáo viên về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ và nhu cầu phát triển của trẻ 30

2.1.2.2.Kinh nghiệm thực tế của giáo viên về tìm hiểu nhu cầu phát triển của trẻ để xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 33

2.2 Một số giải pháp xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ 37

2.2.1 Tạo môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 37

2.2.1.1 Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ hoạt động trong phòng, lớp học 37

2.2.1.2 Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ hoạt động ngoài lớp học 40

2.2.1.3 Tổ chức một số hoạt động, trò chơi luyện kỹ năng Nghe - nói 42

2.2.1.4 Một số hoạt động, trò chơi luyện kỹ năng Đọc - viết 44

2.2.1.5 Môi trường xã hội giúp trẻ phát triển ngôn ngữ 46

2.2.1.6 Giáo viên xây dựng môi trường chữ phong phú để tạo cơ hội cho trẻ tự học 47

2.2.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa khuyến khích trẻ tham gia 49

2.2.3 Nâng cao ý thức xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ 50

2.2.4 Tạo điều kiện, tổ chức ôn luyện mọi lúc mọi nơi, ôn luyện thông qua lễ hội 50

2.2.5.Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh 51

2.3.1 Thành tựu 51

2.4 Một số bài học kinh nghiệm 53

2.4.1 Nhận thức 53

2.4.2 Cách làm 53

2.4.3 Kết quả đạt được 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường phát triển ngôn

ngữ cho trẻ 30Bảng 2.2 Mức độ tổ chức xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho

trẻ 31Bảng 2.3 Kết quả quan sát sự phát triển ngôn ngữ của trẻ qua nhu cầu

phát triển của trẻ 32Bảng 2.4 Tầm quan trọng của việc tìm hiểu nhu cầu phát triển của trẻ 33Bảng 2.5 Mức độ tìm hiểu nhu cầu phát triển của trẻ 33Bảng 2.6 GV nhận định về tác dụng của việc tìm hiểu nhu cầu phát triển

của trẻ 34Bảng 2.7 Kinh nghiệm thực tế của giáo viên khi xây dựng môi trường

phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triểncủa trẻ 35

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 10

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người.Ngôn ngữ là công cụ của tư duy và là cơ sở mọi sự suy nghĩ Vốn từ ngữ của

cá nhân phản ánh năng lực tư duy, năng lực trí tuệ của cá nhân đó Trongnhận thức thế giới xung quanh, trẻ em có nhu cầu rất lớn về điều này Khi cóvốn ngôn ngữ ở một mức độ nhất định, trẻ sẽ sử dụng ngôn ngữ của mình nhưmột phương tiện thể hiện nhận thức Qua ngôn ngữ, trẻ sẽ nhận thức được vềthế giới xung quanh trẻ một cách rõ ràng, chính xác và sâu rộng Chính vìvậy, chúng ta càng thấy rõ được vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dụctrẻ

Trẻ giai đoạn từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi là giai đoạn quan trọng trong

sự phát triển của trẻ Việc khám phá và tìm hiểu những nhu cầu phát triển củatrẻ qua ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy, điều chỉnh vàmang lại cho trẻ sự phát triển toàn diện cả về trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và đạođức và trong tương lai

Ở trường mầm non, phát triển ngôn ngữ cho trẻ được xem là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng nhất Hoạt động này vừa có thể giúp trẻ hìnhthành và phát triển năng lực về ngôn ngữ như nghe, nói, tập viết và tập đọc,

mà vừa có thể giúp trẻ phát triển các khả năng nhận thức, tư duy, tình cảm,…Quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ có những đặc điểm khác nhau, tùy thuộcvào từng giai đoạn của trẻ Việc nắm vững những đặc điểm này sẽ giúp chongười giáo viên có được những kiến thức và kĩ năng tốt nhất trong quá trình

hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ, đặt ra những phương pháp linh hoạt và phù hợp

để đạt được những kết quả tốt cho giai đoạn nền móng này

Giáo viên cần chuẩn bị môi trường cho trẻ hoạt động nhằm giúp ngônngữ của trẻ phát triển đạt kết quả cao Môi trường có phong phú, đa dạng vàphù hợp thì mới gây được sự chú ý và thu hút đối với trẻ Đây là một trongnhững nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện họcsinh tích cực” mà Bộ Giáo Dục, Sở GD và ĐT, ngành Giáo Dục Mầm Non đãtiến hành triển khai Xây dựng nên môi trường cho trẻ phát triển ngôn ngữ là

Trang 11

một việc làm hữu ích và giúp nâng cao chất lượng của Chương trình GDMN, đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trungtâm.

Song trong thực tiễn giáo dục trẻ ở trường mầm non hiện nay, việc xâydựng môi trường giúp trẻ phát triển ngôn ngữ còn chưa được quan tâm đúngmức Kết hợp những lý do nêu trên, vốn hiểu biết của mình, cùng với sự tiếpthu thành công của các công trình nghiên cứu khác, tôi mạnh dạn lựa chọn đề

tài “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ” để nghiên cứu.

2 Lịch sử vấn đề

Phát triển ngôn ngữ mầm non là một bộ phận quan trọng của giáo họcmầm non Nó ra đời và phát triển ở nước ta vào những năm 70 của thế kỷtrước Những cuốn giáo trình đầu tiên được tiếp thu từ nền giáo dục Nga Xôviết với các tác giả như: E.I.Chikhieva, F.A.Xokhin, A.M.Tsepsenko đãnhanh chóng được áp dụng tại các trường đào đào tạo giáo viên mầm nonnước ta như những giáo trình chính thức, mặc dù tư liệu chủ yếu của chúngđều từ tực tiễn giáo dục Xô viết bấy giờ Cùng với sự phát triển và tiến bộ củakhoa học giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng ở nước ta, chúng

ta cũng đã có những nghiên cứu đầu tiên trên tư liệu ngôn ngữ trẻ em ViệtNam của Nguyễn Huy Cẩn, Đoàn Thiện Thuật, Lưu Thị Lan,…

Nội dung phát triển ngôn ngữ và đặc điểm nhu cầu phát triển của trẻmầm non được đề cập đến trong những công trình của các nhà nghiên cứu Cóthể nêu ra phương pháp nghiên cứu và nội dung của vấn đề này trong một sốnguồn tài liệu sau đây:

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được Đinh Hồng Thái nghiên cứu tronggiáo trình của mình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” năm 2014

Nguyễn Ánh Nguyệt cũng nghiên cứu đặc điểm, sự hình thành và pháttriển tâm lý của trẻ em trong giáo trình “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non(Từ lọt lòng đến 6 tuổi)”

Trang 12

Tiến sĩ Lê Thanh Vân đưa ra đặc điểm và sự phát triển sinh lí của trẻ

em trong giáo trình “Sinh lí học trẻ em”

Khóa luận của sinh viên khoa giáo dục Tiểu học trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2: Nguyễn Thị Ngọc Anh (2015) cũng đã tìm hiểu vấn đề pháttriển ngôn ngữ cho trẻ trong khóa luận: “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáolớn thông qua việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp” Tác giả Nguyễn Thị NgọcAnh đã kế thừa và tiếp thu các kết quả của tác giả Đinh Hồng Thái về nghiêncứu sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giáo trình “Phát triểnngôn ngữ tuổi mầm non” trong khóa luận của mình

Thông qua việc tổng hợp các nội dung, phương pháp nghiên cứu trongcác nguồn tài liệu trên, có thể thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ haynhu cầu phát triển của trẻ không phải là vấn đề mới, vì đã có nhiều ngườiquan tâm xem xét Tuy nhiên để tìm thấy bài luận luận văn hay các công trìnhnghiên cứu tổng hợp về việc “Xây dựng nên môi trường phát triển ngôn ngữcho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ” về tâm sinh lý hay lứa tuổi thìrất ít hoặc không đi sâu vào vấn đề này

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng những môi trường phong phú, đa dạng và hấp dẫn cho trẻhoạt động, nhằm phát triển ngôn ngữ phù hợp với nhu cầu phát triển, đặcđiểm tâm sinh lí của trẻ mầm non

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan hệ giữa việc “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ” và kếtquả quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non

4.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc “Xây dựng môi trường phát triểnngôn ngữ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ.”

Trang 13

Tìm hiểu thực trạng của việc “Xây dựng môi trường phát triển ngônngữ cho trẻ ở trường mầm non.”

Đề xuất giải pháp “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻmầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ.”

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn nghiên cứu việc xây dựng môi trường phát triển ngônngữ cho trẻ từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

ở trường mầm non Văn Khê - Mê Linh - Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Thu thập tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có

liên quan đến “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm nonphù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ.”

- Tiến hành đọc và phân tích tài liệu đã thu thập được.

- Phương pháp so sánh để tìm hiểu kinh nghiệm trong và ngoài nước,

so sánh chọn lọc những thành tựu lí luận và kinh nghiệm giáo dục phù hợpvới đề tài

- Phương pháp khái quát hóa lí luận để xác định hệ thống khái niệm,

quan điểm, xây dựng khung lý thuyết, làm sáng tỏ cơ sở lí luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

7.2.1.1 Quan sát hoạt động tổ chức

Quan sát việc xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ của cô giáo,nhà trường

7.2.1.2 Quan sát biểu hiện

Quan sát thái độ, sự tiếp thu của trẻ trong môi trường phát triển ngôn ngữ mà cô giáo tạo ra

7.2.2 Phương pháp điều tra

Trang 14

Trao đổi trực tiếp kết hợp với sử dụng phiếu điều tra, trò chuyện vớigiáo viên và trẻ, nhằm tìm hiểu cách thức “xây dựng môi trường phát triểnngôn ngữ cho trẻ” của giáo viên và sự tiếp thu của trẻ trong môi trường đó.

7.2.3 Phương pháp đàm thoại

- Đàm thoại, trao đổi với đồng nghiệp các kinh nghiệm hay trong việc

“xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ”

- Giáo viên trao đổi với phụ huynh trẻ để tìm hiểu sự thay đổi và pháttriển của trẻ khi ở gia đình

- Giao tiếp với trẻ trong quá trình “xây dựng môi trường phát triển ngônngữ cho trẻ”

7.2.4 Phương pháp làm mẫu

Làm mẫu cho trẻ bắt trước, quan sát và thực hành để trẻ luyện tập theogiúp trẻ phát triển ngôn ngữ

7.2.5 Phương pháp thực hành

Giáo viên tạo nhiều môi trường tích cực, năng động và đa dạng để trẻ

có thể phát triển ngôn ngữ trong giao tiếp một cách tích cực

7.3 Phương pháp toán học

Xử lý số liệu, kết quả đã điều tra được để rút ra kinh nghiệm hay choviệc “xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với

sự phát triển của trẻ”

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và kiến nghị, đề tài gồm có haichương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Thực trạng và giải pháp xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ ở trườngmầm non Văn Khê - Mê Linh - Hà Nội

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

1.1.1 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Lý thuyết hành vi chủ nghĩa: O P Skinner trong tác phẩm Hành vibằng lời cho rằng “Ngôn ngữ của trẻ cũng như mọi hành vi khác được hìnhthành do thao tác quyết định, và sự bắt chước là rất quan trọng Những thaotác về ngôn ngữ cùng với sự giúp đỡ của người lớn sẽ cho trẻ nhanh chóngtrưởng thành về ngôn ngữ”

Lý thuyết tự nhiên chủ nghĩa Noam Chomxky cho rằng: “Trẻ em đóngvai trò chính là nhân tố chính trong sự phát triển nhân ngôn ngữ của mình”.Ông coi ngôn ngữ có cơ sở sinh học của nó: “Thành tựu chỉ có ở con người,con người có cơ quan sản sinh ngôn ngữ trong não bộ, chỉ cần có sự tác độngthêm từ bên ngoài (môi trường nói năng) là ngôn ngữ có cơ hội xuất hiện.Dường như suy nghĩ là có sẵn, được tập hợp từ các mô hình tách biệt, được ditruyền từ thế hệ trước, nó sẽ bùng nổ khi có kích thích phù hợp và không cần

có sự dạy dỗ có chủ định của các bậc cha mẹ” Ông còn cho rằng: “ Trẻ cókho chứa ngữ pháp toàn cầu, chỉ cần sử dụng đúng lúc là có thể giải mã đượctiếng mẹ đẻ của nó”

Lý thuyết phát triển của ngôn ngữ là nhận thức của Piaget lại cho rằng:

“Ngôn ngữ không quan trọng lắm đối với sự phát triển của tư duy, theo ông tưduy phát triển được là nhờ trẻ hành động với các vật thể vật chất, phát hiện ranhững thiếu sót trong tư duy hiện có, luyện tập để sáng tạo ra phương thức tưduy phù hợp với hiện thực” Ông cũng cho rằng: “Mọi trẻ em đều trải qua quátrình phát triển như nhau nhưng lại với tốc độ khác nhau, vì vậy giáo viênphải nỗ lực tổ chức hoạt động cho từng trẻ, hoặc nhóm chứ không phải theo

cả lớp”

Trang 16

Trong lý thuyết xã hội hoá của mình Vygotsky lại cho rằng: “Ngônngữ như là một nền tảng của tất cả các quá trình tư duy bậc cao như điềukhiển, ghi nhớ có chủ định, phân loại, kế hoạch hoá hoạt động, giải quyết vấn

đề, trẻ càng lớn càng thấy các hoạt động dễ dần, ngôn ngữ tự điều chỉnh sẽchuyển đần vào bên trong thành lời nói thầm Trong lý thuyết về vùng pháttriển gần Vygotsky đề cập đến một loại bài tập mà trẻ không thể giải quyếtđược nếu không có sự giúp đỡ của người lớn hay bạn bè lớn hơn Khi thamgia vào hoạt động giao tiếp trẻ học được ngôn ngữ của bạn, người lớn và biếnchúng thành ngôn ngữ cá nhân, lại dùng nó để tổ chức hành động của cá nhântheo cách tương tự.”

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ngày càng có nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em Việt Nam,đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giáo dụcMầm non thuộc viện Khoa học Giáo dục, các đề tài khóa luận, luận văn tốtnghiệp của sinh viên, học viên cao học các trường đại học sư phạm, việnnghiên cứu; gần đây đã xuất hiện các luận án tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vựcnày của tác giả như Lưu Thị Lan, Hà Thị Kim Giang, Hồ Lam Hồng, NguyễnThị Oanh, Trương Thị Kim Oanh, Võ Phan Thu Phương, Trần Thị NgọcTrâm, Phan Thị Lan Anh,… Các công trình nghiên cứu trực tiếp trên tư liệutrẻ em Việt Nam ở các độ tuổi, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp, nội dung

và phương pháp phù hợp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hiệu quảnhất

Đinh Hồng Thái nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giáotrình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non”

1.1.2 Những nghiên cứu về nhu cầu phát triển của trẻ mầm non

Theo TS Phạm Thị Mai Chi - Viện IPD: Các công trình nghiên cứu vềgiáo dục trẻ thơ trên thế giới đều cho rằng: “Sự phát triển trong những nămđầu đời quyết định tương lai của cả cuộc đời Chính trong độ tuổi này, trẻ có

Trang 17

thể tiếp thu được mọi thông tin và khối lượng kiến thức khổng lồ vào não bộnếu được học đúng phương pháp”.

Xêsênốp là cha đẻ của ngành Sinh lí học, Tâm lí học Nga cho rằng,tâm lí được hình thành theo con đường phản xạ Chức năng này định hướnghành vi người của tâm lí Đây là quan điểm rất duy vật vì đánh giá đúng vaitrò của môi trường xã hội, là cái quy định quá trình phát triển của trẻ như mộtnhân cách, một con người xã hội Trong đó, gia đình là một thành phần quantrọng của môi trường xã hội

Tiến sĩ Lê Thanh Vân nghiên cứu nhu cầu và sự phát triển sinh lí củatrẻ em trong giáo trình “Sinh lí học trẻ em”

Nguyễn Ánh Nguyệt nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em tronggiáo trình “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non (Từ lọt lòng đến 6 tuổi)”

1.1.3 Những nghiên cứu về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

Hiện nay ở các nước trên thế giới cũng như ngay ở Việt Nam nhữngnghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non và những nghiên cứu vềnhu cầu phát triển của trẻ có rất nhiều như đã kể trên Tuy nhiên nhữngnghiên cứu về “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm nonphù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ” thì rất ít, chủ yếu là những quan điểmhoặc ý kiến về vấn đề đó chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu Vì vậy mà tôi mạnhdạn tìm hiểu sâu về đề tài này

1.2 Lí luận về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Ngôn ngữ là gì?

Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử - xã hội nảy sinh trong hoạt động thựctiễn của con người Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa cónhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm, Nhờ đó đếnmột giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu quy ước chung để

Trang 18

giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dầndần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ.

“Ngôn ngữ là một cơ cấu (toàn bộ các yếu tố hợp thành), một tổ chứcchặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ nóinăng để định hình, để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng tình cảm vớinhau” – TS Trần Thị Mĩ trong “ Bài dẫn luận ngôn ngữ”

“Ngôn ngữ là một h ệ t h ố n g h ết sức phức tạp mà con người sử dụng

đ l i ê n l ạcể h ay gi a o t i ếp v ới nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người

có khả năng sử dụng một h ệ t hố n g như vậy Là hệ thống thông tin liên lạcđược sử dụng bởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể, cách thức hoặc phongcách của một đoạn văn bản hoặc lời nói Ngành khoa học nghiên cứu khoahọc về ngôn ngữ được gọi là n g ô n ng ữ h ọ c ” – Theo Wikipedia

Đó là bàn về khái niệm ngôn ngữ theo nghĩa rộng của khoa học xã hộihoặc theo triết học Tuy nhiên cách hiểu này chưa thích hợp trong giáo dụcmầm non Từ đó, khái niệm ngôn ngữ trong khóa luận được hiểu theo nghĩagiáo dục ứng với lứa tuổi mầm non như sau: “Theo Otto Beverly - mộtchuyên gia lĩnh vực phát triển ngôn ngữ trẻ em của đại học Illinois (Hoa Kì)

đã nhìn nhận ngôn ngữ trẻ em là một sự biểu hiện tích hợp của các thành tốngôn ngữ: ngữ âm, nghĩa của từ và cấu tạo từ, ngữ pháp, ngữ dụng.” [4- tr.26]

1.2.1.2 Phát triển ngôn ngữ

“Phát triển ngôn ngữ sẽ giúp cho tư duy của trẻ ngày càng tiến bộ vàđây được xem là phương tiện nhằm giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhâncách và đạo đức ngay từ khi sinh ra sau đó cùng trẻ đi đến hết cuộc đời.”

[6- tr.26]

Cũng theo bà Otto Beverly: “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là phát triểntừng mặt các đơn vị giao tiếp chỉnh thể là ngôn bản, lời nói mạch lạc mà nóbiểu hiện ở hai dạng là đối thoại và độc thoại Gồm ba cấp độ là biết nói, biếtnói một cách có hiểu biết và bày tỏ bằng lời nói một cách có hiểu biết”

[6- tr.26]

Trang 19

1.2.1.3 Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Thuật ngữ “môi trường” có thể được hiểu: “Môi trường là tập hợp tất

cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới conngười và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước,

độ ẩm, sinh vật, Nói chung môi trường của một khách thể bao gồm cácvật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó

mà chúng bao quanh khách thẻ này hay các hoạt động của khách thể diễn ratrong chúng”

“Môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ” là môi trường giáo viên tạo racho trẻ hoạt động nhằm giúp trẻ hình thành,phát triển và rèn luyện các nănglực ngôn ngữ như nghe, nói, tập đọc, tập viết,

Có thể hiểu khái niệm “Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ chotrẻ mầm non như sau: Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầmnon là việc giáo viên thiết kế, tổ chức và tiến hành các hoạt động để tạo điềukiện, phát triển những kĩ năng ngôn ngữ một cách toàn diện, giúp cho trẻ nóithành thạo trước khi đến trường tiểu học, hơn nữa còn nhằm khắc phục nhữngkhuyết tật của trẻ về mặt ngôn ngữ Môi trường xã hội là điều kiện để pháttriển ngôn ngữ cho trẻ Trẻ muốn nói bình thường thì phải được giao tiếptrong môi trường ngôn ngữ, trẻ học cách thức giao tiếp, học tập ngôn ngữ từnhững người xung quanh mình Vì vậy môi trường xã hội cũng phải là môitrường văn hóa Ngoài ra môi trường tự nhiên cũng góp phần ảnh hưởng đến

sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tính tích cực của bản thân trẻ cũng đóng vaitrò tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ của mình.”

1.2.2 Bản chất, chức năng và vai trò của ngôn ngữ

1.2.2.1 Bản chất của ngôn ngữ

“Trong các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngônngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con người.Ngôn ngữ trở thành một công cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hànhtrình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện cho đến tận ngày nay.Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoácủa nhân loại, theo những xu hướng tiếp xúc văn hoá từ cổ xưa đến tận ngày

Trang 20

nay Ngày nay, hầu như không còn ngôn ngữ nào là chưa có ảnh hưởng nềnvăn hoá ngoại lai Nói cách khác, tất cả các ngôn ngữ đang tồn tại hiện nayđều từng trải qua các quá trình tiếp xúc văn hoá với ngôn ngữ khác.” – Theongonngu.net (Bản chất xã hội của ngôn ngữ).

“- Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt:

Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người Nó chỉ đượchình thành và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu củacon người Bên ngoài xã hội loài người, ngôn ngữ không thể phát sinh

Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, nó tồn tại và phát triển gắn liền với

sự tồn tại và phát triển của xã hội Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội cũng vì

nó phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, góp phần thể hiện ýthức xã hội, đặc biệt là ý thức xã hội của một cộng đồng người Trong Hệ tưtưởng Đức, Mác và Ăng- ghen viết “Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn,ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả những người khác nữa, như vậy là cũng tồn tạilần đầu tiên cho bản thân tôi nữa Và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra

do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác”

Ngôn ngữ là một hiện tượng không thuộc về cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng

Ngôn ngữ không có tính giai cấp Lịch sử hình thành và phát triển ngônngữ đã khẳng định chủ nhân của ngôn ngữ chính là quần chúng nhân dân Vìthế nó ra đời là để phục vụ toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội.” [6- tr.9,10]

“- Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt:

Hệ thống là một thể thống nhất gồm nhiều yếu tố có quan hệ và liên hệlẫn nhau Tín hiệu là một sự vật kích thích vào giác quan của con người, làmcho con người tri giác được và lí giải, suy diễn tới cái gì đó ngoài sự vật đó.Tín hiệu có mặt vật chất, là âm thanh hay nét vẽ Tín hiệu gợi ra hoặc biểu thịcho một cái gì khác với chính nó

Ngôn ngữ là tín hiệu của những tín hiệu Tín hiệu ngôn ngữ hàm chứanhiều mối quan hệ hơn mọi loại tín hiệu khác, tạo ra tính đa trị của tín hiệungôn ngữ.” [6- tr.10]

Trang 21

1.2.2.2 Chức năng của ngôn ngữ

“- Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch

sử xã hội của loài người:

Kinh nghiệm lịch sử của loài người được lưu truyền từ đời này sang đờikhác phần lớn dưới dạng ngôn ngữ Thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệmcủa thế hệ trước biến thành vốn liếng riêng cho bản thân cũng đều phải sửdụng ngôn ngữ làm phương tiện cơ bản nhất

Chúng ta đều biết rằng đầu tiên đứa trẻ sẽ không tự nhận thức được thếgiới xung quanh Để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đứa trẻ đặt ra nhiều câu hỏicho người lớn và những người xung quanh và nhờ những câu trả lời đó mà trẻ

mở rộng dần về nhận thức những vấn đề tự nhiên, xã hội và con người

- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người:

Trong giao tiếp mặc dù con người có sử dụng các phương tiện khácnhưng các cử chỉ, hành động, kí hiệu, dấu hiệu khác nhau, kết hợp màu sắccủa hội họa, kết hợp với các âm thanh của âm nhạc,… nhưng cuối cùng ngônngữ vẫn là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người

Ngôn ngữ cử chỉ sẽ nghèo nàn và hạn chế hơn ngôn ngữ nói Bởi vì cónhững cử chỉ mà chỉ một số người hiểu với nhau, ý nghĩa của cử chỉ nhiều khikhông rõ ràng, rành mạch dẫn đến chỗ người tạo ra cử chỉ với nghĩa này khingười giao tiếp lại được hiểu theo nghĩa khác Nhờ có ngôn ngữ mà trong laođộng hay trong sinh hoạt con người có thể dùng chúng làm phương tiện đểdiễn đạt và làm cho người khác hiểu được mong muốn,trạng thái,tư tưởng,tình cảm, nguyện vọng của mình,… Nhờ đó mà con người sẽ hiểu biết nhauhơn, có thể đồng tâm chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội, giúp chocuộc sống của con người ngày càng phát triển hơn

- Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy:

Có quan điểm đồng nhất tư duy và ngôn ngữ đồng nhất với nhau, cóngười nói rằng ý tưởng là ngôn ngữ không có âm thanh Cũng có quan điểmtách rời ngôn ngữ và tư duy, coi ngôn ngữ và tư duy hoàn toàn độc lập vớinhau Theo quan điểm chủ nghĩa Mác, ngôn ngữ và tư duy thống nhất với

Trang 22

nhau Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và tư duy thể hiện ở chỗ: Ngôn ngữ là vậtchất còn tư duy là tinh thần.Tất cả các đơn vị của ngôn ngữ như từ, âm,câu,… đều là âm thanh, có cái thuộc tính vật chất như độ cao, độ dài Chứcnăng thể hiện tư duy của ngôn ngữ biểu hiện ở hai khía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất: Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng,không có từ nào, câu nào mà không biểu hiện một ý nghĩ, một tư tưởng, mộtkhái niệm Nhưng ngược lại, không có tư tưởng và ý nghĩ nào lại không tồntại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là biểu hiện thực tế của tư tưởng

Khía cạnh thứ hai: Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hìnhthành tư tưởng Mọi tư tưởng và ý nghĩ chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiệnbằng ngôn ngữ

Nói tóm lại, ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau nhưng khôngđồng nhất với nhau Ngôn ngữ có chức năng ban đầu là giao tiếp, là phươngtiện truyền đạt, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người Ngôn ngữ cũng

có chức năng của tư duy, ngôn ngữ là công cụ để biểu đạt kết quả của tư duy

và ngôn ngữ cũng tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành các tư tưởngtrong quá trình tư duy.” – Theo Mầm non thị trấn Thủ Thừa (Chuyên đề pháttriển ngôn ngữ cho trẻ mầm non)

1.2.2.3 Vai trò của ngôn ngữ với sự phát triển của trẻ

“- Ngôn ngữ là một phương tiện hình thành, phát triển nhận thức củatrẻ về thế giới xung quanh:

Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, bởi vì

sự phát triển trí tuệ ở trẻ chỉ diễn ra khi trẻ lĩnh hội những tri thức về sự vật vàhiện tượng xung quanh, song sự lĩnh hội những tri thức đó lại không thể thựchiện được khi không có ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy,trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh Muốn cho trẻphân biệt được sự vật này với sự vật khác, biết được đặc điểm, thuộc tính cơbản của vật thì cần kết hợp cho trẻ quan sát và dùng từ ngữ để giải thích,hướng dẫn và khẳng định kết quả trẻ đã quan sát được Trong khi nhận biết sựvật đó, phải cho trẻ dùng từ để gọi tên sự vật, tên các chi tiết, đặc điểm, tính

Trang 23

chất, công dụng của sự vật Từ đó trẻ biết phân biệt sự vật này với sự vậtkhác.

Khi trẻ đã lớn, nhận thức của trẻ phát triển Trẻ không chỉ có nhận biếtnhững sự vật, hiện tượng gần gũi mà còn muốn biết thêm những sự vật, hiệntượng không trực tiếp nhìn thấy Để đáp ứng nhu cầu đó của trẻ không cócách nào khác là thông qua lời kể của người lớn, các tác phẩm văn học,… kếthợp hình ảnh trực quan

Trẻ sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện biểu hiện nhận thức của mình:trẻ có thể dùng lời để diễn đạt những hiểu biết, những suy nghĩ, những cảmxúc của mình, trẻ hiểu được lời chỉ dẫn của người lớn; trẻ còn dùng ngôn ngữ

để đặt ra muôn vàn câu hỏi, yêu cầu, nguyện vọng, thể hiện tình cảm,… Bêncạnh đó một trong những phương pháp để kiểm tra nhận thức của trẻ là thôngqua ngôn ngữ

Như vậy, ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dụcnhận thức, việc phát triển trí tuệ cho trẻ không thể tách rời việc phát triểnngôn ngữ

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mỹ:

Ngôn ngữ có quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệthống nhằm phát triển ở trẻ năng lực để cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cáiđẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, nghệ thuật Giáo dục trẻ lòng yêucái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm vănhọc, trẻ có thể tìm thấy những hình tượng nhân vật điển hình, mỗi nhận vậtmang một sắc thái riêng, vẻ đẹp riêng; trẻ còn được đắm chìm trong thế giớinghệ thuật ngôn từ

Ví dụ: khi được nghe kể chuyện thạch sanh trẻ tìm thấy ở Thạc Sanh những nét đẹp trong tâm hồn: hiền lành, chịu khó, dũng cảm,… còn Lý Thông thì độc ác, tham lam, hèn nhát, mưu mô,… từ đó trẻ hiểu rằng phải sống đẹp như Thạch Sanh.

Như vậy ngôn ngữ đã góp phần rất lớn vào quá trình giáo dục,bồidưỡng cho trẻ những tình cảm thẩm mỹ cao đẹp

Trang 24

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể chất:

Giáo dục thể chất trong trường mầm non là quá trình tác động chủ yếuvào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổchức tốt chế độ sinh hoạt hợp lí nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triểnhài hòa cân đối, sức khỏe tăng cường và đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặtthể chất Trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, cô giáo và người lớn dùngngôn ngữ để hướng dẫn cho trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình đề ra vàgóp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển

Ví dụ: Trong các giờ thể dục giáo viên sẽ dùng lời, tạo điều kiện để giúp trẻ thực hiện chính xác các động tác làm cho cơ thể trẻ phát triển cân đối hơn Cô dùng ngôn ngữ để thuyết phục trẻ ăn các loại thức ăn khác nhau:

ăn cá sẽ có nhiều chất đạm, ăn rau sẽ có nhiều chất sơ, vitamin, ăn cơm có nhiều tinh bột, ” – Theo 123.doc.org (Giáo trình phương pháp phát triểnngôn ngữ cho trẻ)

“- Ngôn ngữ là phương tiện phát triển nhân cách cho trẻ:

Ở các lứa tuổi mầm non, đặc biệt là đến tuổi mẫu giáo trẻ đã bắt đầuhiểu biết hơn và lĩnh hội những quy tắc,khái niệm và chuẩn mực đạo đức của

xã hội Muốn cho trẻ hiểu và lĩnh hội được những khái niệm nhân cách này,chúng ta không thể chỉ thông qua những hoạt động cụ thể hoặc những sự vật,hiện tượng trực quan đơn thuần mà phải có ngôn ngữ

Ví dụ: Thông qua các hoạt động ở trường mầm non, cô giáo sử dụng ngôn ngữ để giúp trẻ tiếp thu và lĩnh hội những quy tắc, chuẩn mực hành vi đối với thiên nhiên và những người xung quanh: biết giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ môi trường, kính yêu, chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết vâng lời người lớn.

Như vậy ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻhiểu biết về nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức và rèn luyện cho trẻ những tìnhcảm, hành vi, nhân cách phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống.” - Theo Mầmnon thị trấn Thủ Thừa (Chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non)

1.3 Một số vấn đề về xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

Trang 25

1.3.1 Sự cần thiết của việc xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Việc xây dựng môi trường ngôn ngữ một cách hiệu quả, an toàn, thânthiện và phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ sẽ tạo ra những đứa trẻ đầynăng động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin, có suy nghĩ, ham hiểu biết và biết giaotiếp

Môi trường có phù hợp mới gây hứng thú cao cho trẻ và đạt được hiệuquả tốt khi tổ chức các hoạt động về ngôn ngữ cho trẻ

1.3.2 Các nguyên tắc xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

- Tổ chức các hoạt động kể chuyện, đọc thơ giáo viên cần linh hoạt,không gò bó, không áp đặt trình tự các bước như trước đây đã làm, cũngkhông nhất thiết phải kể bao nhiêu lần mà giáo viên đưa ra hoạt động phù hợp

để đạt được mục đích đề ra

- Các hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ ngoài tiết họccho trẻ cần được tiến hành với thời gian phù hợp có sự gợi ý kịp thời của giáoviên

- Tổ chức các hoạt động trò chuyện phù hợp thực tiễn không áp đặt, trẻtrả lời theo ý cô, không theo ngôn ngữ của người lớn

- Tạo tình huống và kích thích trẻ cùng thảo luận, tranh luận về đề tàihoặc câu chuyện để trẻ mạnh dạn nêu ý kiến riêng của trẻ

- Bài thơ, đồng dao, câu đố, chuyện kể cần lựa chọn phù hợp lứa tuổi,

có tính giáo dục và tính nhân văn

- Nói chuyện với trẻ về các chủ đề phù hợp Kiên trì, lắng nghe trẻ khigiao tiếp, cố gắng hiểu trẻ, duy trì chủ đề nói chuyện

- Tạo điều kiện cho trẻ nói về bản thân mình với những trẻ ở nhóm lớpkhác, bạn khác lớp hoặc bạn nơi khác

- Tổ chức cho trẻ giao tiếp trong các cuộc tham quan (siêu thị, cửa hàngsách, thư viện, công viên, sở thú, )

Trang 26

- Đối với hoạt động làm quen chữ viết tìm hiểu mức độ nhận biết vềchữ viết của trẻ trước khi lên nội dung dạy học Không dạy từng chữ cái riêng

lẻ mà trong các từ gần gũi (có thể trong chủ đề trẻ đang học)

- Các từ, chữ phải có hình minh họa đi kèm Dạy phát âm chữ cái bằngcách đọc thơ, đồng dao nhiều lần Không nên dạy phát âm từng chữ riêng lẻ

- Trong cùng một thời điểm giáo viên không nên đưa ra quá nhiều chữ

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát triển ngôn ngữ của trẻ

Theo hongngochospital.vn (5 yếu tố quan trọng cho sự phát triển ngônngữ ở trẻ)

“- Khả năng tiếp nhận ngôn ngữ:

Khi nhìn thấy bài viết, tài liệu, sách báo hay bất kỳ dòng chữ nào thìchúng ta sẽ tự động nhận biết, phân loại và lý giải ý nghĩa của chữ, từ, câutrong dòng chữ đó Đây được gọi là quá trình tiếp nhận ngôn ngữ Nếu nhưquá trình này gặp bất cứ vấn đề hay khó khăn nào thì đồng nghĩa với việc khảnăng đọc chữ, viết chữ và khả năng nói của trẻ cũng sẽ gặp trở ngại

Quan sát, lắng nghe xem trẻ có hiểu rõ nghĩa một số từ thông dụnghoặc có hướng trừu tượng hay không, đồng thời so sánh với nhóm trẻ kháccùng lứa tuổi xem khi nói trẻ có biểu hiện dùng từ không phù hợp, quá đơngiản hay không và khả năng tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ ở mức độ như thếnào

Chú ý quan sát xem trẻ có tỏ ra chậm hiểu hoặc hiểu sai ý một số câuđơn giản thông thường khi nói chuyện với người lớn không, thời gian suynghĩ để phán đoán ý nghĩa câu nói có kéo dài không cũng là cách để nhận biếtkhả năng tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ Nếu trẻ có biểu hiện này thì có thể trẻđang gặp phải vấn đề về thính lực, lúc này nên đưa bé đến gặp các bác sĩchuyên khoa để có biện pháp khắc phục hiệu quả nhất

- Khả năng viết:

Viết và đọc là 2 khả năng có tác động qua lại với nhau Bởi khi viếtchữ, não sẽ ghi nhớ nhanh và lưu giữ ấn tượng về các ký tự đậm nét hơn Khitrẻ tập đọc, bộ nhớ của não trẻ sẽ nhận biết nhanh chóng và dễ dàng cung cấp

Trang 27

thông tin cho trẻ biết đó là chữ gì, từ nào và nó có ý nghĩa ra sao,… Ngượclại, nếu chăm chỉ tập đọc trẻ sẽ tránh được tình trạng hay quên chữ, từ đókhắc phục tâm lý ngại viết và ngại viết chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đếnviệc không biết viết chữ.

Các chuyên gia về giáo dục khuyên trẻ nên đọc và viết bổ sung, hỗ trợcho nhau nhưng không phải vì thế mà các bậc phụ huynh ép con mình phảiluyện viết chữ và tập đọc với thời gian và khối lượng như nhau mà nên lựatheo tâm lý của trẻ, bởi có những trẻ có tâm lí thích đọc hơn là viết hoặc cónhững trẻ lại chỉ tích viết mà không thích đọc

- Môi trường gia đình:

Các chuyên gia cho rằng thông thường nếu bố mẹ có khả năng biểu đạttốt thì khả năng đọc của con cũng không tồi Từ đó có thể thấy môi trường giađình có ảnh hưởng tương đối lớn đối với sự phát triển khả năng này của trẻ

Thứ hai là kiểu gia đình ít có sự giao lưu và trao đổi bằng ngôn từ giữatrẻ và người lớn Những người trong kiểu gia đình này thường ít nói,trầm mặc

và dùng câu từ rất đơn giản Một cách tự nhiên, trẻ sẽ không có được sự kíchthích ngôn ngữ, vốn từ vựng của trẻ không phong phú, trẻ sử dụng câu từkhông linh hoạt Các khảo sát thực tế này cho thấy ở những gia đình này trẻthường đầu tư thời gian vào việc xem tivi, xem phim, chơi game, lướt mạng,nhiều hơn là đọc sách

- Môi trường giáo dục:

Cũng giống như yếu tố gia đình, nếu trẻ được học tập trong môi trườnggiáo dục tiến bộ, có nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp thì thái độ

và khả năng tiếp thu ngôn ngữ sẽ phát triển theo hướng tích cực

Việc tiếp thu kiến thức vượt quá khả năng tư duy trẻ các lứa tuổi sẽkhiến trẻ tự ti và dần dần mất dần hứng thú, thậm chí tỏ ra sợ hãi đối với bộmôn tập đọc ở trường.”

1.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non

Theo truongchuyenbietbuocnho.com (Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ0-6 tuổi)

Trang 28

1.4.1 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 24- 36 tháng tuổi

- Chú ý nghe kể chuyện trong 10 phút

- Phân biệt được nhiều - ít

- Nhận biết từ chỉ sự sở hữu

- Phân biệt không - có

Ngôn ngữ diễn đạt:

- Trẻ biết kết hợp 2 từ với nhau

- Trẻ có thể sử dụng các từ đơn thay đổi, luân phiên với người khác

- Vốn từ của trẻ trong khoảng 50 từ khi trẻ lên 2 tuổi và trong khoảng

200 từ khi trẻ lên 3 tuổi

- Đến 36 tháng tuổi trẻ có thể nói được câu 3 từ

- Trẻ biết duy trì cuộc đối thoại đơn giản bằng câu 2 đến 3 từ

- Biết sử dụng từ chỉ sự sở hữu, đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai, trẻ nóiđược số nhiều.”

1.4.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3- 6 tuổi)

“Ngôn ngữ tiếp nhận:

- Trẻ làm theo yêu cầu của cô 2 - 3 thành phần.

- Nhận biết được các bộ phận trên cơ thể người.

- Nhận biết được giới tính của mình và mọi người xung quanh.

Trang 29

- Biết chọn vật theo nhóm.

- Nhận biết thêm được các từ tương phản với nhau.

- Nhận biết được các thành phần giống và khác nhau của một nhóm.

Ngôn ngữ diễn đạt:

- Sử dụng câu có 3 từ.

- Biết đặt câu hỏi với người khác.

- Nói được họ tên của mình.

- Trả lời các câu hỏi về chức năng của vật.

- Hát được các bài hát đơn giản, phù hợp với lứa tuổi.

Đặc điểm ngữ pháp :

Câu của trẻ sử dụng có cấu trúc hoàn chỉnh hơn,đầy đủ thành phần câuhơn khi ở cuối tuổi mẫu giáo Trong giao tiếp cũng như trong kể chuyện, câunói của trẻ có ngữ điệu rõ ràng, thích hợp ngữ cảnh Trẻ dùng từ cảm thán và

sử dụng câu cảm thán khá nhiều trong các cuộc đối thoại của mình Ngoài cáccâu đơn ra trẻ còn sử dụng các câu phức và câu ghép Sự phức tạp của câucũng tăng dần theo độ tuổi của trẻ.”

1.5 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và nhu cầu phát triển của trẻ mầm non

1.5.1 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triển tâm lí của trẻ.

“- Trẻ năm nhất:

Trang 30

Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn là hoạt động chủ đạo:

Giao tiếp với người lớn là một nhu cầu bức thiết của trẻ Do yêu cầukhách quan của cuộc sống mà trẻ có nhu cầu này, trẻ cần phải được chăm sócthường xuyên của người lớn thì mới thoả mãn được những yêu cầu của cơ thểtrẻ, mặt khác cũng lại do cách cư xử của người lớn đã khơi gợi ở trẻ nhữngxúc cảm ban đầu

Giao tiếp trực tiếp với người lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự pháttriển tâm lý của trẻ, đặc biệt là về mặt xúc cảm

Ở trẻ xuất hiện một hiện tượng mới vào khoảng tháng thứ 6 đến thángthứ 8, đó là khi có người lạ đến gần trò chuyện với trẻ, trẻ sẽ không mỉm cườingay như trước mà sẽ tỏ ra sợ hãi, từ chối không muốn giao tiếp với họ Đây

là một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển cảm xúc của trẻ

Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn và uốn nắn hành vicủa trẻ, bằng con đường đó trẻ sẽ dần dần hình thành được những thói quentốt và học cách ứng xử đúng đắn với người lớn

Hình thành những tiền đề để lĩnh hội ngôn ngữ:

Nhu cầu giao tiếp với người lớn và sự định hướng vào môi trường xungquanh của trẻ ngày càng tăng đã làm nảy sinh khả năng nói ở trẻ Khi giaotiếp, trẻ thường thích thú chăm chú lắng nghe và bắt chước những âm thanhtrong lời nói của những người xung quanh

Những cuộc trò chuyện với người lớn đã khơi gợi ở đứa trẻ nhữngtrạng thái cảm xúc tích cực, sự thích thú được giao tiếp với người lớn và bắtđầu có những phản ứng lại với những sắc thái tình cảm khác nhau trong lờinói của người lớn

Càng về cuối năm, trẻ lại càng thích giao tiếp với người lớn bằngnhững âm bập bẹ Nhưng âm bập bẹ này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sựphát triển ngôn ngữ sau này của trẻ

Sự thông hiểu lời nói của trẻ xuất hiện trên cơ sở của việc phối hợphoạt động của tri giác giữa nhìn và nghe

Trang 31

Ban đầu trẻ hài nhi sẽ nghe ngôn ngữ như những âm thanh nào đó Yếu

tố đầu tiên quyết định thái độ phản ứng của trẻ tức quyết định sự hiểu ngônngữ của trẻ chính là ngữ âm

Ở cuối tuổi hài nhi, mối liên hệ giữa tên đối tượng và chính bản thânđối tượng đã trở nên và phong phú, rõ ràng và rành mạch hơn Đó là hình thứcđầu tiên của sự thông hiểu ngôn ngữ ở trẻ

Như vậy trong quá trình giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn, sựthông hiểu ngôn ngữ của trẻ đang dần dần mang tính tích cực hơn và trở thànhmột trong những phương tiện quan trọng để mở rộng khả năng giao tiếp củatrẻ với những người xung quanh

Tóm lại trong năm đầu sự phát triển tâm lý của trẻ tuy còn đơn sơnhưng rất quan trọng, song song với tiến tới độc lập về mặt sinh học của conngười, ở giai đoạn này chủ yếu là tạo ra những tiền đề cần thiết để sau nàyhình thành nên những chức năng tâm lý của con người

- Trẻ từ 24- 36 tháng tuổi:

Ở giai đoạn này, nhu cầu giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ nảysinh ở trẻ, đồng thời với sự phát triển nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ, việctích luỹ các biểu tượng do hoạt động với đồ vật mang lại có ý nghĩa lớn đốivới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Các biểu tượng đó đã tạo cơ sở để trẻ lĩnhhội nghĩa của các từ và liên kết chúng với hình ảnh của các hiện tượng, sự vậtxung quanh Ngôn ngữ của trẻ phần lớn là phụ thuộc vào sự dạy bảo củangười lớn Để kích thích trẻ nói người lớn cần đòi hỏi trẻ bày tỏ nguyện vọngcủa mình bằng lời nói

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được biểu hiện theo hai hướng chính,

đó là: Hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn và hình thành ngôn ngữtích cực riêng của đứa trẻ

+ Trong khi hoạt động với đồ vật, trẻ thường gặp những tình huống cụthể, trong đó các đồ vật và các hành động với đồ vật chưa thể tách rời nhau

Vì vậy, trẻ sẽ không thể lĩnh hội các từ biểu đạt hành động riêng, đồ vật riêng

mà chỉ có thể lĩnh hội ngôn ngữ biểu đạt ở cả tình huống trọn vẹn ấy

Trang 32

Ví dụ: Trẻ chỉ hiểu được lời nói đánh trống khi trẻ thấy một người đang đánh trống chứ chưa thể hiểu được lời nói đó khi họ đang làm một việc khác.

Để giúp trẻ nhanh chóng hiểu dược lời nói thì người lớn phải kết hợpgiữa lời nói với những tình huống cụ thể, trong đó các hành động với đồ vậtđược thực hiện Sự kết hợp này lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ giúp trẻ hiểu đượclời nói mà không phụ thuộc vào tình huống cụ thể nữa, người lớn có thể dùnglời nói để chỉ dẫn hành động của trẻ và sự phục tùng của trẻ đối với lời chỉcủa người lớn ngày càng vững chắc hơn

Lời nói có tác dụng khởi động sẽ được thực hiện dễ dàng hơn so với lờinói có tác dụng kiềm hãm hành động khi trẻ lên 2 tuổi

Khi trẻ ba tuổi, trẻ có khả năng hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thể,lúc này việc chỉ dẫn của người lớn mới bắt đầu điều chỉnh hành vi của trẻtrong những điều kiện khác nhau Sự thông hiểu lời nói của người lớn đượcbiến đổi về chất, trẻ sẽ hiểu những từ ngữ riêng biệt và có thể thực hiện hànhđộng với đồ vật theo sự hướng dẫn của người lớn, từ đó sẽ giúp trẻ sử dụngngôn ngữ như phương tiện cơ bản để nhận thức thế giới

+ Hoạt động với đồ vật của trẻ càng phong phú thì giao tiếp với ngườilớn càng được mở rộng, thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ và kích thích trẻ nói,đây là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ của trẻ Trẻ sẽ luôn muốn biết tên của đồvật và cố gắng nói để hỏi tên đồ vật đó, khi gọi đúng tên đồ vật hiện tượngxung quanh trẻ rất vui và thích thú,vốn từ của trẻ được mở rộng và phát âmngày càng chính xác hơn

Ở tuổi này, vốn từ của trẻ còn ít, trẻ nói còn lệch âm và chưa nắm vữngngữ pháp Đối với trẻ 3 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển rất mạnh giúp trẻphát triển các hình thức ngữ pháp, trẻ nói được những câu phức tạp hơn Từđây ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện giao tiếp, phát triển các chứcnăng tâm lý của trẻ

- Trẻ mẫu giáo bé:

Trong giai đoạn từ 3 đến 4 tuổi, trẻ có khoảng từ 800 đến 1926 từ

-Nghiên cứu của E.Arkin Trong giai đoạn này những đặc điểm phát triển ngônngữ của trẻ đó là:

Trang 33

+ Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều âm

+ Giọng điệu được thể hiện rõ nét trong ngôn ngữ của trẻ

+ Ngôn ngữ của trẻ thường được kèm theo các hình thức, hoạt động, tư

Trang 34

duy khác nhau và kích thích hành động.

+ Trẻ thường nhắc đi nhắc lại một từ ở câu trọn vẹn

Cảm xúc cũng được biểu hiện rõ nét ở ngôn ngữ của trẻ

Ngôn ngữ của trẻ có ưu thế rõ nét và thể hiện hứng thú của cá nhân,hoạt động cá nhân của trẻ

- Trẻ mẫu giáo nhỡ:

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn mang tính chất hoàn cảnh, tình huống,điều đó có nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với hoàn cảnh, sự vật, con người

và những hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ

Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ bắt đầu nối kết giữa tình huống của hiệntại với quá khứ thành một văn cảnh

Vốn từ của trẻ cũng tăng lên, không chỉ số lượng từ mà điều quan trọng

là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản

Ở trẻ đã hình thành nên những xúc cảm ngôn ngữ qua giọng nói, ngữđiệu, âm tiết, Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc thì trẻ có thể nghe nhầmhay phát âm nhầm

Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đặc biệt trong hoạt động vui chơi ,các tiết kể chuyện, tạo hình, âm nhạc, thể dục, tham quan, và các nhiệm vụ

do người lớn giao cho trẻ, xác định trách nhiệm của trẻ một cách đơn giản, trẻlĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng của chúng, đây là tiền đề quantrọng giúp trẻ hoạt động sau này

- Trẻ mẫu giáo lớn:

Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng:

Trang 35

Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ biết đọcdiễn cảm và còn biết dùng điệu bộ để bổ sung cho ngôn ngữ nói của trẻ.

Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển

Các tính chất ngôn ngữ thường gặp ở trẻ 5 - 6 tuổi là:

Ngôn ngữ giải thích, trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũng thíchgiải thích cho các bạn khác nghe lời nói của mình

Ngôn ngữ tình huống mà trẻ giao tiếp với những người xung quanhbằng thông tin mà trẻ trực tiếp tri giác được trong khung cảnh

Tính mạch lạc thể hiện rõ rệt bởi vì vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh

từ, nên câu nói của trẻ thường ngắn gọn và rõ ràng

Tính địa phương, cộng đồng biểu hiện rõ nét trong ngôn ngữ của trẻnhư nói ngọng, nói mất chữ cái hay nói mất dấu,

Tính cá nhân đã bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ởchức năng ngôn ngữ biểu cảm

Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các tính chất của ngôn ngữ ởtrẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói củangười lớn.” [8- tr.91,230]

1.5.2 Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và sự phát triển sinh lí của trẻ.

Tiến sĩ Lê Thanh Vân có nghiên cứu mối quan hệ này trong giáo trình

“Sinh lý học trẻ em” của mình, ông cho rằng:

- “Sự phát triển của hoạt động ngôn ngữ đã làm phát triển tai âm vị củatrẻ hoặc những sự luyện tập có động cơ, có mục đích có thể làm tăng tínhnhạy cảm của cơ quan phân tích.” [10- tr.6]

- “Vào tháng thứ 6, ở trẻ đã xuất hiện những phản xạ có điều kiện vớikích thích ngôn ngữ, nhưng những kích thích này thường tác động phối hợpvới những kích thích khác như hoàn cảnh xung quanh, tư thế thân mình, nétmặt, nụ cười,…Do đó, bản thân kích thích chỉ có thể gọi là kích thích ngônngữ có điều kiện vì trẻ không phân biệt được từ ngữ với những nghĩa tư duy

Trang 36

của từ ngữ, mà chỉ phân biệt được cao độ và âm sắc của tiếng nói và giọngnói.” [10- tr.48]

- Khi trẻ được 7- 8 tháng bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ trực tiếp Ở trẻxuất hiện mối liên hệ “trực tiếp - ngôn ngữ”

- “Cuối 1 tuổi, hệ thống tín hiệu thứ nhất đã hình thành, bắt đầu có hoạtđộng thần kinh cấp cao ở trẻ nên trẻ đã bắt đầu biết nói và hiểu được nhiềuđiều.” [10- tr.27]

- “Vào lúc 1,5 tuổi trẻ có tể giao tiếp với những người xung quanh bằngngôn ngữ nhờ sự giúp đỡ của người lớn Dần dần vốn từ của trẻ được tăng lênmột cách nhanh chóng Đến 3 tuổi vốn từ của trẻ khá phong phú, có thể đạttới 1000 từ và sự phát âm các từ của trẻ tương đối chính xác Trẻ 4 tuổi ngônngữ của chúng phát triển phong phú vì có them các từ mới Do đó, số lượngcác khái niệm được chúng lĩnh hội cũng tăng lên, trẻ nói đúng ngữ pháp hơn.Trẻ từ 5 - 6 tuổi có vốn từ khá nhiều và có thể dung ngôn ngữ để đáp lại ngôn

ngữ, xuất hiện mối liên hệ ngôn ngữ - ngôn ngữ.” [10- tr.48]

- “Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoạibiên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, sốlượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ cóđiều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh Do đó trẻ có thể nói được những câudài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với những người xungquanh.” [10- tr.28]

- “Đến thời kì mẫu giáo, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo phát triển hơn.Lúc này trẻ đã biết chơi tập thể với nhau, đã học được những bài hát ngắn Vìvậy, tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ.”[10- tr.28]

- “Hệ thống những đường liên hệ thần kinh tạm thời được thành lập do

sự tác động của các tín hiệu thứ hai cùng với các tín hiệu đó được gọi là hệthống tín hiệu thứ hai hay ngôn ngữ.” [10- tr.46]

- “Ngôn ngữ là một vật kích thích có điều kiện như mọi vật kích thích

có điều kiện khác (nghĩa là ta có thể dùng ngôn ngữ để thành lập phản xạ có

Trang 37

điều kiện) Chẳng hạn, chỉ cần nói đến từ “chanh” là ta cũng đủ chảy nước bọtrồi.” [10- tr.46]

- “Ngôn ngữ chỉ đặc trưng cho người Điều này rất quan trọng, vì tiếngnói đối với người có một giá trị tín hiệu mà các con vật khác không thu nhậnđược Ở người, ngôn ngữ là một âm thanh (nếu là ngôn ngữ nói), hay là mộthình ảnh cụ thể (nếu là ngôn ngữ viết).” [10- tr.46]

- “Trong những năm đầu của trẻ diễn ra sự hình thành và phát triển của

hệ thống tín hiệu thứ 2 Giai đoạn trước 3 tuổi là giai đoạn tối ưu cho sự hìnhthành ngôn ngữ của trẻ.” [10- tr.47]

- “Ở trẻ 5- 6 tuổi, cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinhtăng lên Trẻ 6 tuổi có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trongthời gian 15- 20 phút Đồng thời,ở lứa tuổi này, vai trò của hệ thống tín hiệuthứ hai càng tăng lên Tư duy bằng từ càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuấthiện.” [10- tr.48]

Trang 38

Kết luận chương 1

Tổ chức và xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thểthực hiện bằng nhiều con đường và hình thức khác nhau ở các lứa tuổi trẻ.Song dù thế nào thì việc đó cũng phải dựa trên sự thích hợp lẫn nhau giữa nộidung giáo dục, nhu cầu phát triển của trẻ và cách tổ chức hoạt động khi “Xâydựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với nhu cầu phát triểncủa trẻ”

Nhu cầu phát triển của trẻ rất quan trọng, có hiểu được nhu cầu, đặcđiểm tâm sinh lí của trẻ ở các lứa tuổi mới có thể xây dựng được những môitrường phù hợp, đa dạng, kích thích sự hứng thú của trẻ tham gia vào giaotiếp

“Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ” theo cách bìnhthường và theo việc tìm hiểu nhu cầu phát triển của trẻ có những đặc điểmkhác nhau và do đó có những yêu cầu khác nhau Khi áp dụng việc tìm hiểunhu cầu phát triển nhu cầu của trẻ thì khả năng tích hợp mục tiêu, cơ hội hoạtđộng và giao tiếp của trẻ nhiều hơn Tất cả những ưu thế đó bổ trợ cho việcphát triển ngôn ngữ của trẻ trở nên phong phú hơn, sâu sắc hơn và toàn diệnhơn

Ngày đăng: 29/08/2019, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (Chủ biên), Giáo dục học mầm non, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Nhà XB: NXB Đại học QuốcGia Hà Nội
2. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chương trình giáo dục mầm non, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
3. Ngô Công Hoàn, Tâm lý học trẻ em, Bộ giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em
4. Nguyễn Xuân Khoa (Chủ biên), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXB Đạo học Sư phạm, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻmầm non
Nhà XB: NXB Đạo học Sư phạm
5. Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan, Giáo trình Sinh lý học trẻ em, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý học trẻ em
Nhà XB: NXB Giáodục
6. Đinh Hồng Thái (Chủ biên), Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non.NXB Đại học Sư phạm, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
7. Bùi Kim Tuyến (Chủ biên), Các hoạt động phát triển nôn ngữ cho trẻ mầm non, NXB giáo dục Việt Nam, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động phát triển nôn ngữ cho trẻ mầmnon
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
8. Nguyễn Ánh Tuyết (Chủ biên), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: NXBĐại học Sư phạm
9. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Thế giới, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXBThế giới
10. TS.Lê Thanh Vân (Chủ biên), Giáo trình Sinh lý học trẻ em, NXB Giáo dục, 2012.11. Một số tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý học trẻ em
Nhà XB: NXB Giáodục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w