Trong khi đó, dân tộc Tày đang sinh sống ở tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là một bộ phận người Tày ở huyện Nà Hang thì các dạng thức văn hóa, trong đó có nghi lễ trong chu kỳ đời người thườn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HOA MAI
NGHI LỄ TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI CỦA
NGƯỜI TÀY HUYỆN NA HANG,
Trang 2Luận án đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI – VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Hoan
Phản biện 1: PGS.TS Khổng Diễn
Phản biện 2: PGS.TS Lâm Bá Nam
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
Vào hồi giờ phút ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại :
Thư viện Quốc gia
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân tộc Tày là một dân tộc thiểu số đông dân nhất ở nước ta hiện nay chỉ sau người Kinh, có một bản sắc văn hóa đặc thù, phong phú Họ sống tập trung tại một số tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang Cho đến nay đã có nhiều công trình về người Tày, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước chủ yếu tập trung nghiên cứu về người Tày ở các tỉnh miền núi biên giới, nơi mà người Tày có điều kiện được giao lưu, tiếp xúc và trao đổi với nhiều nền văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục khác nhau Trong khi đó, dân tộc Tày đang sinh sống ở tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là một bộ phận người Tày ở huyện Nà Hang thì các dạng thức văn hóa, trong đó có nghi lễ trong chu kỳ đời người thường chậm biến đổi hơn so với người Tày ở một số tỉnh khác Người Tày ở huyện
Nà Hang hiện nay vẫn được coi là người Tày cổ, còn bảo tồn được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống, nhất là trong các nghi lễ chu kỳ đời người của họ Việc nghiên cứu nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, sẽ giúp chúng ta biết được những bảo lưu, cũng như những biến đổi của nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, qua
đó phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp, phù hợp và hạn chế được những biểu hiện tiêu cực, không phù hợp của nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, để có những giải pháp góp phần giúp người Tày ở Nà Hang phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của mình
Kết quả đạt được của đề tài cũng có đóng góp cho việc cung cấp những luận cứ khoa học cho việc thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc, chính sách phát triển văn hóa dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) và Nghị quyết Trung ương IX (khóa XI), đồng thời góp phần thực hiện trực tiếp chương trình xây dựng nông thôn mới
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Luận án đi sâu tìm hiều đời sống văn hóa của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người bao gồm nghi lễ sinh đẻ, hôn nhân và tang ma Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số kiến nghị và giải pháp phục vụ công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của tộc người nhằm góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan tới nghi lễ trong chu kì đời người (quan niệm và thực hành nghi lễ gồm sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) của người Tày ở huyện Nà Hang trong truyền thống;
- Làm rõ những biến đổi trong nghi lễ chu kì đời người của người Tày ở huyện Nà Hang hiện nay và phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó;
- Từ các kết quả đạt được, luận án đề xuất một số kiến nghị, giải phápnhằm bảo tồn và phát huy các giá trị phù hợp của tín ngưỡng của người Tày tại huyện Nà Hang trong tình hình mới hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày huyện
Nà Hang, Tuyên Quang
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Để thực hiện luận án này, tác giả dựa trên quan điểm của nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, văn hóa dân tộc để luận giải các sự vật, hiện tượng trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày trong hệ thống và bối cảnh cụ thể, có sự tác động qua lại lẫn nhau và luôn luôn có sự vận động biến đổi Luận án sử dụng các cơ sở lý luận chuyên ngành, các lý thuyết tiếp cận phù hợp để làm sáng tỏ các vấn đề trong văn hóa tộc người thông qua hệ thống các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang, dưới góc nhìn Dân tộc học/Nhân học
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Thu thập, tổng hợp và kế thừa các tài liệu sẵn có;
- Phương pháp điền dã Dân tộc học/ Nhân học;
- Phương pháp điều tra thực tiễn: Ở phương pháp này, NCS đã tiến hành các đợt điền dã từ năm 2015 - 2018 tại Thị trấn Nà Hang; các xã: Sinh Long; Thượng Giáp; Côn Lôn; Hồng Thái; Khau Tình
Tại địa bàn, NCS tập trung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các đối tượng cụ thể như: Cán bộ lãnh đạo thị trấn/ xã; cán bộ lãnh đạo thôn và tổ dân phố; người dân là dân tộc Tày ở thị trấn và xã; thày mo
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp so sánh
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành Nhân học về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang Trên cơ sở các tư liệu có được, luận án góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về những đặc trưng văn hoá của người Tày ở huyện Nà Hang, thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người Luận án đã cho thấy được sự biến đổi nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang, dưới tác động của quá trình Đổi mới hội nhập và giao thoa văn hóa Đồng thời qua hệ thống các nghi lễ trong chu kỳ đời người, luận án cung cấp cứ liệu để người Tày và chính quyền địa phương thấy được các giá trị văn hóa cần được bảo tồn
và phát huy Luận án đề xuất được một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp, hạn chế những mặt bất lợi, không phù hợp của nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày huyện Nà Hang, Tuyên Quang hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Trang 5Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Việt Nam, chỉ ra được những biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến các nghi lễ này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tại các cơ sở đào tạo hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là tài liệu tham khảo cho lãnh đạo địa phương có dân tộc Tày sinh sống, trước hết là cán bộ quản lý ngành văn hóa để phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, hạn chế những biểu hiện tiêu cực không phù hợp trong các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang, Tuyên Quang
nói riêng và ở khu vực phía Bắc nói chung
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu; Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con; Chương 3: Nghi lễ hôn nhân của người Tày; Chương 4: Nghi lễ tang ma của người Tày; Chương 5 Biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người và một số nhận xét
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Tày
Đã từ lâu, sử sách Trung Quốc có đề cập tới các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, trong đó có tộc người Tày ở Việt Nam Thời kỳ cận hiện đại, các học giả Trung Quốc tập trung chủ yếu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của các tộc người, trong khi lại ít quan tâm đến các khía cạnh văn hóa tộc người cũng như sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người Từ đầu thế kỷ XX, một số học giả phương Tây đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về các khía cạnh như lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa,… của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Choang - Đồng ở Trung Quốc và nhóm Tày - Thái ở Việt Nam Đáng chú ý là vào những thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, các nhà Dân tộc học Xô Viết như IU Bromlei, N Cheboksarov, M Kriucov… đã tiến hành các nghiên cứu và công bố một số ấn phẩm, trong
đó có đề cập đến tộc người Tày
1.1.2 Các nghiên cứu của tác giả trong nước về người Tày
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà dân tộc học Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu sâu về tộc người Tày từ những góc nhìn chuyên ngành khác nhau Có thể phân chia các nghiên cứu này theo các hướng chủ yếu như sau:
- Hướng nghiên cứu tổng hợp về người Tày: Các công trình nghiên cứu này đề cập khá toàn
diện về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của người Tày của các tác giả Bế Viết Đẳng, Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, Nguyễn Chí Huyên
- Nghiên cứu về ngôn ngữ của tộc người Tày: Có thể đưa ra một số công trình tiêu biểu nghiên
cứu về tiếng Tày - Nùng và mối quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng và tiếng Việt của Nguyễn Hàm Dương và Nguyễn Thiện Giáp, Nông Quốc Chấn, Ma Thế Dân, Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí, Triều Ân, Hoàng Quyết, Phương Bằng,…
Trang 6- Nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân gian Tày, Nùng của Hoàng Quyết và
các cộng sự; Triều Ân, Phương Bằng, Lục Văn Pảo, Hoàng Văn Páo, Nguyễn Huy Hồng,
Nguyễn Thị Yên Vi Hồng,
1.1.3 Những nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày
Khi nghiên cứu về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, một số tác giả đã quan tâm đến nghi lễ tang ma của dân tộc này Đó là các nghiên cứu của các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Anh Ngọc, Hà Văn Thư, Hoàng Quyết, Đỗ Thúy Bình, Hà Văn Viễn, Lương Văn Bảo, Lâm Xuân Đình, Triệu Kim Văn, Bàn Tuấn Năng, Đàm Thị Uyên, Hoàng Thị Lan, Hoàng Tuấn Nam, Nguyễn Thị Ngân, Hoàng Lương, Nguyễn Thị Yên, Vương Hùng, Nông Vĩnh Tuân, La Công Ý, Nguyễn Ngọc Thanh, Ngô Thị Trang, Phạm Thị Hằng, Nguyễn Linh Hương, Lục Mạnh Hùng, Hoàng Thị Hỏi, Hồ Sỹ Lập, Trần Đức Tùng, Nguyễn Mạnh Tiến,… Từ phân tích những công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
Có khá nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến văn hóa, trong đó có các nghi lễ vòng đời của các dân tộc thiểu số phía Bắc, trong đó có dân tộc Tày Những nghiên cứu này chủ yếu của các tác giả Việt Nam, rất ít các công trình nghiên cứu nước ngoài Nhiều nghiên cứu tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa, điều kiện sống và sinh hoạt của dân tộc Tày Một số nghiên cứu lại tìm hiểu một khía cạnh của đời sống văn hóa của dân tộc Tày, một nghi lễ trong vòng đời của người Tày Rất ít nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ các nghi lễ trong vòng đời của dân tộc Tày
Những nghiên cứu về người Tày ở Tuyên Quang còn rất khiêm tốn, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu từ góc độ khoa học nhân học về các nghi lễ vòng đời của dân tộc Tày tại huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang Đây là khoảng trống để luận án nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Trong khuân khổ luận án, NCS đã luận giải, làm rõ nội hàm một số khái niệm như: Nghi lễ;
Nghi lễ chu kỳ đời người; Nghi lễ trong chu kỳ đời người; Sinh đẻ; Nghi lễ sinh đẻ; Hôn nhân,
Tập quán hôn nhân; Tang ma, Nghi lễ tang ma
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu
Trong luận án NCS đã sử dụng ba lý thuyết chính đó là: Lý thuyết về Nghi lễ chuyển đổi, Lý thuyết về Biến đổi và tiếp biến văn hóa, Lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người
Những lý thuyết này đã được vận dụng một cách phù hợp trong các chương của luận án
1.3 Khái quát về Tuyên Quang, về Nà Hang và người Tày ở Nà Hang, Tuyên Quang
1.3.1 Khái quát về Tuyên Quang, dân tộc Tày ở Tuyên Quang
Tuyên Quang nằm ở miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa lý từ 21°29' đến 22°42’ độ
vĩ Bắc, từ 104°50' đến 105°36' độ kinh Đông Địa hình Tuyên Quang bị chia cắt lớn bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, núi đồi trùng điệp, thung lũng sâu
Về người Tày ở Tuyên Quang: Tày là tộc người cư trú lâu đời nhất ở Tuyên Quang
Người Tày ở Tuyên Quang có dân số đứng thứ hai sau người Kinh Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, tổng số người Tày ở Tuyên Quang là 185.464 người, chiếm 25,5% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày ở Việt Nam Người Tày cư trú ở hầu khắp các huyện trong tỉnh
Tuyên Quang, trong đó, huyện Nà Hang và Sơn Dương có số lượng người Tày tương đối đông 1.3.2 Khái quát về Nà Hang và dân tộc Tày ở Nà Hang
Trang 7Nà Hang là huyện vùng cao phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là
146.368 ha, trong đó có 7.257,42 ha đất nông nghiệp; 85.665,38 ha đất lâm nghiệp, còn lại là núi đá, sông suối và các loại đất chuyên dụng khác Địa hình của Nà Hang khá hiểm trở, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông, suối Nà Hang là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Tính đến năm 2010, dân số của huyện là 60.151 người sinh, sống tại 17 xã, thị trấn, trong đó dân tộc Tày chiếm 55,18%, Dao 25,72%, Kinh 10,11%, Hmông 7,52%
Tiểu kết Chương 1
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến văn hóa, trong đó có các nghi lễ vòng đời của các dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta, trong đó có dân tộc Tày Những nghiên cứu này chủ yếu của các tác giả Việt Nam, rất ít các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Nhiều nghiên cứu tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa, điều kiện sống và sinh hoạt, một nghi lễ trong vòng đời của người Tày nói chung Tuy nhiên lại không có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ các nghi lễ trong vòng đời của dân tộc Tày Những nghiên cứu
về người Tày ở Tuyên Quang, trong đó có huyện Nà Hang còn chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ nhân học về các nghi lễ vòng đời của người Tày ở huyện
Nà Hang, Tuyên Quang Đây là khoảng trống để luận án đi sâu nghiên cứu
Luận án đã xác định và làm rõ nội hàm một số khái niệm công cụ liên quan, cũng như đã lựa chọn và vận dụng một số lý thuyết nghiên cứu: Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi; Lý thuyết biến về đổi và tiếp biến văn hóa; Lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người
Trong bức tranh đa dạng về thành phần tộc người ở Tuyên Quang, người Tày ở Nà Hang được hình thành từ những bộ phận khác nhau, cư trú tại các vùng cảnh quan thung lũng, ven các con sông, suối Họ sinh sống chủ yếu dựa vào trồng trọt ruộng nước, kết hợp với chăn nuôi gia cầm, gia súc, làm các nghề thủ công, khai thác các nguồn lợi trong rừng, dưới sông, suối Ngoài ra, họ còn trồng một số cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản ở vùng lòng hồ thủy điện Nà Hang
Cho đến nay, người Tày ở Nà Hang vẫn luôn có ý thức bảo tồn các yếu tố văn hóa tộc người trong cách bố trí làng bản, xây dựng nhà ở, chế biến món ăn, đồ uống, thực hành các lễ, hội, nghi
lễ, tín ngưỡng truyền thống Tất cả những nét văn hóa đó đã và đang tạo nên sắc thái riêng của cộng đồng người Tày và để phân biệt với các tộc người khác ở Tuyên Quang cũng như các tộc người khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Chương 2 NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ NUÔI DẠY CON 2.1 Quan niệm của người Tày về con cái
2.1.1 Quan niệm của người Tày về con cái nói chung
Cũng giống như các dân tộc khác ở Việt Nam, người Tày nói chung, người Tày ở Nà Hang nói riêng đánh giá cao ý nghĩa của con cái trong đời sống gia đình Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy người Tày ở Nà Hang cho rằng, một trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình là sinh đẻ Sinh đẻ để duy trì nòi giống
Do đó, người Tày không chỉ quan niệm hôn nhân là phải có con, mà còn phải có đông con, đông cháu Trong quan niệm truyền thống của người Tày, tư tưởng có "con đàn cháu đống" là vinh quang, đại phúc
2.1.2 Quan niệm của người Tày về con trai
Trang 8Đối với các gia đình người Tày ở Nà Hang, quan niệm về con trai trong gia đình có ý nghĩa đặc biệt Kết quả phỏng vấn sâu các gia đình người Tày ở Nà Hang cho thấy, có con trai không chỉ để duy trì nòi giống mà còn để khẳng định vị trí ngang bằng của gia đình mình trong xã hội
2.2 Cơ sở tín ngƣỡng của nghi lễ sinh đẻ
2.2.1 Tập quán chăm sóc phụ nữ trong thời kỳ mang thai
2.2.1.1 Đoán định về việc sinh con và chăm sóc bà mẹ mang thai
Trong thời kỳ người phụ nữ mang thai, các gia đình người Tày ở Nà Hang thường quan
tâm đến việc đứa trẻ sinh ra là con trai hay con gái Sở dĩ vấn đề này vẫn còn tồn tại vì trong nhiều gia đình vẫn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng sinh con trai, tư tưởng trọng nam trong đời sống xã hội người Tày
Cùng với việc xem xét người mẹ sinh con trai hay con gái thì các gia đình người Tày ở
Nà Hang cũng rất quan tâm đến sức khỏe của đứa trẻ ngay từ khi nó mới được hình thành trong bụng mẹ Người Tày cho rằng, đứa trẻ cần được chăm sóc ngay từ khi người phụ nữ mang thai Quan niệm này phù hợp với yêu cầu chăm sóc đứa trẻ và người mẹ theo khoa học
hiện đại
2.2.1.2.Tập quán chăm sóc người phụ nữ mang thai
Việc chăm sóc thai nhi cũng như người phụ nữ mang thai của người Tày được bắt đầu trước hết từ chính người phụ nữ Người phụ nữ Tày khi mang thai cũng phải kiêng cữ rất nhiều trong ăn uống hay công việc hàng ngày Trong thời gian có thai, người phụ nữ thường để ý xem nhà ai đông con đông cháu, dễ sinh, dễ nuôi thì tìm đến nhà họ rút trộm dải rút ở cạp váy về thắt vào bụng mình, cầu mong đến ngày đến tháng sinh nở thuận lợi, nuôi con nhẹ nhàng Trước khi sinh một thời gian ngắn, họ thường đến xin người nào dễ đẻ, con khỏe mạnh mập mạp một cái áo, cái tã, mũ để lấy hơi cho con, mong con sau này ăn ngoan, chóng lớn
2.2.1.3 Tập quán kiêng kỵ với người phụ nữ mang thai
Khi người phụ nữ Tày mang thai, họ không chỉ phải chú ý đến việc ăn uống để đảm bảo tốt cho thai nhi, mà còn phải cẩn thận khi làm các công việc trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Khi mang thai người phụ nữ Tày tránh làm những công việc nặng nhọc như mang, vác Nếu có đám tang, thai phụ kiêng đến để tránh hơi lạnh ám vào người gây ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi
2.2.2 Tập quán và nghi lễ sinh đẻ của người Tày
2.2.2.1.Nghi lễ cầu an cho bà mẹ và đứa trẻ
Qua khảo sát thực tế cho thấy, ngoài sự chuẩn bị về mặt vật chất, gia đình và bản thân
người phụ nữ mang thai cũng có sự chuẩn bị chu đáo về tinh thần để phòng tránh rủi ro
Thường trước khi đến tháng đẻ, gia đình sẽ chuẩn bị lễ troi tón bương (cúng đón tháng) để
cầu an cho mẹ và bé Nghi lễ cầu an cho bà mẹ và đứa trẻ được thực hiện tại nhà riêng Lễ vật gồm có xôi, rượu, gà, hai bát nước màu vàng và màu xanh (bát nước vàng tượng trưng cho con gái, bát nước xanh tượng trưng cho con trai), hai bông hoa một màu trắng và một màu đỏ (bông màu trắng tượng trưng cho con trai, bông màu đỏ tượng trưng cho con gái) Ở mỗi vùng khác nhau lại có sự khác biệt về lễ vật cúng
Thầy cúng là người thực hiện nghi lễ cầu an cho bà mẹ và đứa trẻ Thầy cúng lên then và trình tổ tiên, bà Mụ cầu cho việc sinh nở được an toàn và ban cho con trai hoặc con gái
2.2.2.2 Tập quán, nghi lễ cho người phụ nữ trước, trong và sau khi đẻ
Người Tày ở Nà Hang trước đây có phong tục chỉ nhờ người có kinh nghiệm đỡ đẻ đến giúp Người đỡ đẻ trực suốt ở gần bà đẻ cho tới khi đứa trẻ chào đời
Trang 9Khi người phụ nữ bắt đầu đau bụng, mẹ chồng hoặc chị chồng đun một nồi nước sôi để
ấm (không pha nước lã), chuẩn bị một que nứa dài 20cm vót phần cật thật sắc để cắt rốn cho
em bé, một sợi chỉ tơ vàng dài cỡ gang tay Người Tày không cắt rốn trẻ bằng dao vì sợ sau này đứa trẻ lớn lên cứng đầu cứng cổ, khó dạy bảo
Nghi lễ sau khi đẻ:
- Nghi lễ cắt rốn cho đứa trẻ
Sau khi ra đời, trẻ được cắt rốn bằng que nứa Trong quan niệm dân gian của người Tày,
phần rốn là nơi trú ngụ linh hồn đứa bé, vì vậy việc cắt rốn và giữ gìn cuống rốn rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của đứa trẻ sau này Rốn được cắt dài để tránh đứa trẻ mắc bệnh đái dầm Sau khi cắt rốn xong, trẻ được lau người bằng nước ấm và quấn giấy bản Trong văn hóa của người Tày, nhau thai có ý nghĩa rất quan trọng vì thếNgười Tày rất kiêng kỵ việc vứt bỏ nhau thai Các gia đình người Tày thường rất cẩn thận trong việc cất giữ nhau thai
- Nghi lễ thông báo về việc ra đời của đứa trẻ: Sau khi đứa trẻ được sinh ra, các gia đình
người Tày thực hiện nghi lễ thông báo việc ra đời của đứa trẻ với ý nghĩa thông báo cho người khác biết nhà có người ở cữ, không cho người ngoài, người lạ vào nhà để tránh người ngoài mang vía độc vào làm cho đứa trẻ quấy khóc, ốm đau
- Nghi lễ chăm sóc bà mẹ và đứa trẻ sau sinh: Ngay sau khi sinh con xong, người mẹ
phải uống một bát nước thuốc sắc bằng rễ cây rau răm và ăn một bát cơm nóng với thịt gà nấu gừng, nghệ, một bát canh rau ngót để bồi bổ cơ thể và tránh bệnh hậu sản Bữa cơm đầu tiên sau sinh chỉ được ăn cơm tẻ để tránh nặng người, những bữa cơm sau người mẹ dùng cơm nếp để có nhiều sữa Thịt gà cho sản phụ ăn phải là thịt gà mái còn non và chỉ dùng thịt nạc, tránh ăn thịt gà mái già, gà trống thiến vì quan niệm sẽ bị đau lưng Cơm canh của sản phụ được nấu riêng và ăn lúc nóng
2.2.2.3 Nghi lễ ra cữ, lễ cúng bà Mụ và lễ đặt tên cho đứa trẻ: Hết thời gian 40 ngày ở
cữ, vào ngày cuối cùng của ngày hết cữ được coi là ngày tốt nhất của cháu bé Vào ngày này gia đình thực hiện nghi lễ ra cữ cho đứa trẻ Gia đình phải đón bà then về làm lễ và xông nhà, xông bàn thờ với mục đích nhằm xua đuổi hết uế tạp ra ngoài, nhổ cây nêu vứt đi và trình báo tổ tiên nhà mình có thêm 1 đứa cháu, để tổ tiên phù hộ, che chở cho cháu khỏe mạnh, hay ăn mau lớn Để làm lễ ra cữ, gia đình phải chuẩn bị 1 nồi nước đun lá bưởi, lá mận, lá đào cho bà then làm các nghi lễ cần thiết Gia đình cũng phải lấy vải thổ cẩm, vải nhuộm đen về cắt khâu hoặc may và làm địu Nếu người nhà không biết đan thì nhờ anh, chị
em, họ hàng thân thích đan hộ Bắt đầu hết 40 ngày, mẹ đứa trẻ hoặc người nhà có thể dùng địu này để địu đứa trẻ ra ngoài, đi chơi các nhà khác trong làng,bản
- Lễ cúng bà Mụ và lễ đặt tên cho đứa trẻ: Đối với người Tày lễ cúng bà Mụ là một
nghi lễ hết sức quan trọng, nhà nào có người đẻ sau ở cữ cũng phải làm nghi lễ cúng Đây cũng là lễ tạ ơn Mẹ Hoa đã ban phát con cái cho gia đình và nâng đỡ để bà mẹ và đứa trẻ được mẹ tròn con vuông và đồng thời là lễ đặt tên cho đứa trẻ Do vậy, lễ cúng bà Mụ được
tổ chức rất linh đình với sự tham gia của nhiều người trong đại gia đình và bạn bè, hàng xóm,… Người thực hiện lễ cúng bà Mụ là thầy cúng, thầy cúng đến nhà riêng để làm các
nghi lễ cúng bà Mụ Việc chuẩn bị các lễ vật cúng bà Mụ khá cầu kì và cẩn thận
2.2.2.4.Nghi lễ cho phụ nữ khó sinh: Trong trường hợp đẻ khó, nhau thai khó ra người Tày
xử lý như sau: Trước đây khi chưa có trạm xá, bệnh viện, người Tày hầu hết là tự đỡ đẻ cho mình mà không cần bà đỡ Khi sinh con đầu lòng hay trường hợp khó đẻ mới mời bà đỡ có kinh nghiệm đến
Trang 10giúp hoặc mời các ông thầy mo cao tay đến làm bùa
2.3 Chăm sóc và nuôi dạy trẻ
Ở người Tày, việc chuẩn bị quần áo trước cho con lại là điều không may mắn, nên sau khi em bé ra đời bình an được ba ngày tuổi gia đình mới bắt đầu cắt may tã lót, quần áo Đứa trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong những năm tháng đầu tiên của cuộc đời Người Tày không cai sữa sớm cho con mà cho bú tới khi trẻ được ba tuổi
Lễ đầy tháng được làm cho cả bé trai và bé gái, nhưng lễ đầy năm thường chỉ tổ chức cho
bé trai Giai đoạn trẻ từ 3 đến 12 tuổi là khoảng thời gian trẻ học hỏi và tự mình khám phá thế giới Trẻ em Tày 6 - 7 tuổi đã được bố mẹ dạy cho cách trông em, gánh nước, hái rau Bé gái 9-10 tuổi biết theo mẹ đi cấy hay giúp bố chăn trâu Trong quan niệm của người Tày, trẻ 12 tuổi là hết tuổi mụ, 14 tuổi được coi là người lớn Thời kỳ những năm 1980 trở về trước, nhiều
gia đình lo dựng vợ gả chồng cho con cái từ khi con 13 -14 tuổi Vì thế, việc dạy dỗ cách đối
nhân xử thế, cách làm ăn cho con cái trong thời kỳ này được coi trọng
Tiểu kết chương 2
Người Tày ở Nà Hang có những quan niệm về con cái vừa mang tính truyền thống của người Việt Nam vừa có những nét riêng, đặc trưng riêng của dân tộc mình Đó là, người Tày cho rằng đã kết hôn, xây dựng gia đình thì phải sinh con đẻ cái Việc người phụ nữ kết hôn không
có con được xem là một điều không bình thường, một điều bất hạnh Điểm đáng chú ý là, các gia đình người Tày đều mong muốn có đông con, cho rằng, đây là một điều hạnh phúc của gia đình, giòng họ
Trong quan niệm của người Tày về con cái có một ý nghĩa quan trọng đối với người phụ nữ
Nó được coi là một điều kiện tiên quyết để người phụ nữ trở thành một thành viên chính thức của gia đình, khẳng định được vị thế trong gia đình, dòng họ và cộng đồng Người Tày quan niệm rằng, các gia đình phải có con trai Con trai là người để nối dõi tông đường, nối dài sự phát triển của dòng họ Chính vì vậy, trong cuộc sống của người Tày, đặc biệt là trong truyền thống đã tạo ra một áp lực khá lớn đối với nhiều người phụ nữ không sinh được con trai
Người Tày rất quan tâm đến các tập quán, nghi lễ trong quá trình mang thai và sinh đẻ của người phụ nữ Ngay từ khi người phụ nữ mang thai đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của gia đình đối với việc chăm sóc thai nhi cũng như đối với sức khỏe của bà mẹ
Các gia đình người Tày trong quá trình sinh nở, chăm sóc và nuôi dạy con thực hiện nhiều phong tục tập quán và nghi lễ, những nghi lễ ấy chứa đựng các giá trị văn hóa của cộng đồng tộc người với mục đích để cho người mẹ sinh nở an toàn “mẹ tròn, con vuông”, những đứa trẻ sinh ra và lớn lên được khỏe mạnh Bên cạnh những nghi lễ thông thường bắt buộc những đứa trẻ phải trải qua như lễ cúng mụ, lễ đặt tên, còn có các nghi lễ đặc biệt đối với phụ nữ mang thai có biểu hiện không khỏe mạnh, đứa trẻ sinh ra không khỏe mạnh và cần đến sự phù hộ của một thế giới siêu nhiên, đó là mẹ Hoa - người mà người Tày quan niệm là mẹ sinh sản, có vai trò quan trọng trong việc quyết định có con và những đứa con ấy như thế nào Vì thế, vai trò của những người thầy mo, thầy cúng, ông bà then được xem là quan trọng
Các nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy trẻ của người Tày hiện nay đã có những thay đổi nhất định Những phong tục, nghi lễ không phù hợp đã được thay đổi để thích ứng với cuộc sống hiện tại
Trang 11Chương 3 NGHI LỄ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY 3.1 Quan niệm của người Tày về hôn nhân
Trong quan niệm của người Tày, hôn nhân không chỉ là yếu tố để duy trì và phát triển nòi giống, thể hiện tình cảm giữa nam và nữ mà còn phản ánh những giá trị đạo đức tộc người Việc lấy vợ, lấy chồng được người Tày coi là một dấu mốc quan trọng chứng tỏ chàng trai, cô gái đã trưởng thành, có quyền tham gia các cuộc hội họp của làng bản, dòng
họ, có quyền đưa ra ý kiến cá nhân của mình Một cuộc hôn nhân tốt đẹp, một đôi vợ chồng hạnh phúc theo quan niệm của người Tày là phải đăng đối về gia đình, dòng họ, cả hai đều khỏe mạnh, có trình độ tương xứng, trong cuộc sống hàng ngày làm gì cũng phải bàn bạc và đoàn kết trong mọi việc
3.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người Tày
- Tiêu chuẩn chọn vợ:
Tiêu chuẩn chọn vợ của người Tày ở Nà Hang là phải chọn người con gái khỏe mạnh,
chăm chỉ làm ăn, ăn nói nhẹ nhàng, tháo vát Tiêu chuẩn này xuất phát từ thực tiễn môi trường cư trú ở vùng đồi núi và hoạt động sản xuất của các gia đình Bên cạnh tiêu chuẩn về sức khỏe, chăm chỉ thì người con gái còn cần một số phẩm chất khác như: nói năng lễ phép, biết ứng xử với bố mẹ chồng và họ hàng, làng bản Một phẩm chất khác cần thiết của người vợ
tương lai là biết thêu dệt, may vá
-Tiêu chuẩn chọn chồng: Về tiêu chuẩn lựa chọn người con rể, chọn chồng cũng được
các gia đình người Tày ở Nà Hang quan tâm, chú ý Việc lựa chọn người rể xuất phát từ vai trò của người đàn ông trong cuộc sống gia đình Trong xã hội truyền thống của người Tày, người chồng lý tưởng là người khỏe mạnh, cần cù, chịu khó làm ăn, biết thương vợ con, biết đối xử tốt với họ hàng, bố mẹ, anh chị em nhà vợ Gia đình người Tày theo chế độ phụ hệ, nên vai trò của người đàn ông trong gia đình là rất lớn Đàn ông là trụ cột của gia đình Do
đó khi chọn kén con rể gia đình nhà gái cũng lựa chọn rất kỹ xem chàng trai nào có đức tính tốt, hiền lành, chăm chỉ sẽ đồng ý cưới gả con gái cho họ Đối với các cô gái thì chàng trai
đó cũng phải là người mà họ yêu thương và kính trọng thì mới có thể chung sống với nhau hạnh phúc được
- Tiêu chí về tuổi kết hôn: Trước đây, người Tày ở Nà Hang, cũng như người Tày nói chung
quan niệm mỗi người khi đến một độ tuổi nhất định sẽ phải lấy vợ, lấy chồng Những người không tuân theo quy luật đó của cuộc sống thường là những người "không bình thường" Người Tày thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, hôn nhân thủy chung Có thể nói, đây là một quan niệm thực sự nhân văn của người Tày Đặc tính sống vị tha, chan hòa, bình đẳng đã giúp các cặp vợ chồng yêu thương, cảm thông và chia sẻ cuộc sống với nhau nhiều hơn Hầu hết đàn ông người Tày cũng không gia trưởng, sống trách nhiệm, còn người phụ nữ thì chăm chỉ, đảm đang, quán xuyến mọi việc gia đình
Hình thức hôn nhân chủ đạo ở người Tày lâu nay vẫn là hôn nhân sắp đặt Ngày nay, hình thức hôn nhân này đã có nhiều biến đổi nhưng nếu xem xét kỹ thì về cơ bản vẫn tuân thủ hình thức kết hôn trên mặc dù trai gái được tự do tìm hiểu
3.2 Nguyên tắc kết hôn của người Tày
3.2.1.Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ
Những người được gọi là máu mủ, họ hàng không được phép kết hôn Trường hợp con gái đi lấy chồng thì phải sau 5 đời các con cháu của họ mới được phép kết hôn Để tránh vi
Trang 12phạm quy tắc ngoại hôn dòng họ, khi con cái lớn lên, cha mẹ và họ hàng có trách nhiệm chỉ bảo con cái biết ai có thể kết hôn được và ai không được phép lấy Người Tày ở Nà Hang đã gắn vấn đề kết hôn cận huyết thống với vấn đề tâm linh Do vậy, nếu xảy ra hôn nhân giữa các thành viên cùng dòng họ thì việc xử phạt áp dụng đối với những trường hợp này là rất nặng
3.2.2 Nguyên tắc cư trú sau khi kết hôn
Người Tày ở Nà Hang, thường có hai hình thức cư trú sau kết hôn như: Hình thức cư trú
riêng (bên nhà chồng): Sau khi cưới, đôi vợ chồng trẻ không ở bên nhà chồng và cũng không ở bên nhà vợ mà tách ra ở riêng; Hình thức cư trú hẳn bên nhà vợ (ở rể đời) Trường hợp này chỉ xảy ra đối với trường hợp người con trai đến nhà vợ ở rể cả đời khi bên nhà vợ không có anh
em trai hoặc gia đình vợ muốn lấy rể đời để có thêm người làm ăn Với trường hợp này, người con rể và vợ mình sẽ sinh con và làm ăn sinh sống bên họ hàng nhà vợ, nghĩa là trở thành gia
đình thành viên của dòng họ của vợ, bất kể sống chung cùng bố mẹ vợ hay tách riêng
3.3 Phong tục và các nghi lễ hôn nhân của người Tày
Tất cả các nghi lễ trong hôn nhân của người Tày như: Nghi lễ ở nhà gái trước khi cưới: dạm hỏi, xin số, ăn hỏi; Nghi lễ trong đám cưới: trình lễ dẫn cưới ở nhà gái; xin dâu, rước dâu, cúng trình gia tiên và lễ nhập cô dâu về nhà chồng; Nghi lễ sau đám cưới như: nghi lễ lại mặt, Nghi lễ hôn nhân của người Tày vẫn được thực hiện theo lối truyền thống, tức là các nghi lễ hôn nhân của người Tày vẫn tuân thủ đầy đủ các thủ tục nghi lễ truyền thống Các thủ tục trong nghi lễ hôn nhân của người Tày được thực hiện theo một khuân mẫu nhất định với các quy định cụ thể mà mọi người phải tuân thủ khi thực hiện Các nghi lễ này được thầy cúng thực hiện tại gia chủ trong nhiều giờ Do vậy, thờ cúng tổ tiên thể hiện trong nghi
lễ hôn nhân chính là bản sắc riêng trong văn hóa của người Tày
3.3.1 Các nghi lễ hôn nhân của người Tày
Đối với người Tày ở Nà Hang thì hôn nhân là một việc được xem là hệ trọng của đời người Do vậy, người Tày vô cùng chú trọng tới các nghi lễ hôn nhân
3.3.2.1 Nghi lễ ở nhà gaí trước khi cưới
- Nghi lễ dạm ngõ, xem mặt, xin số
Theo phong tục truyền thống, người Tày có tục lệ dạm ngõ, xem mặt, xin số Tục lệ này cũng là tục lệ chung của người Tày ở Tuyên Quang Việc đi dạm ngõ, xem mặt, xin số là một việc làm bình thường của hai gia đình có quan hệ quen biết nhau từ trước Việc gả con
là việc của hai gia đình tự thỏa thuận và đồng ý ngầm với nhau Việc đi hỏi vợ cho con là việc chủ động của gia đình có con trai
Trong văn hóa của người Tày dạm ngõ, xem mặt và xin lá số thường được tiến hành vào buổi tối Bởi lẽ, đồng bào cho rằng lúc chưa biết ý kiến của cô gái và gia đình nhà cô gái như thế nào nên lễ dạm ngõ thông thường sẽ tổ chức đi vào buổi tối để làng xóm không biết, tránh việc bị mang tiếng cho cả cô gái và chàng trai sau này bởi số mệnh có vai trò quyết định khá lớn Nghi lễ này không có thời gian cố định mà có thể thực hiện quanh năm bất cứ thời gian nào khi gia đình muốn, chỉ tránh vào những ngày xấu trong năm
3.4.2.Lễ ăn hỏi, thách cưới của người Tày: Theo tập quán của người Tày, sau khi đối
chiếu ngày, tháng, năm sinh thấy hợp nhau và xây dựng quan hệ vợ chồng của hai đứa trẻ Nhà trai chủ động sang nhà gái để tiến hành lễ ăn hỏi và chính thức thiết lập quan hệ thông
gia (lệ thó mầu) Lễ ăn hỏi của người Tày ở Nà Hang thường chỉ có một người đại diện,
cũng có nhiều trường hợp lễ ăn hỏi tổ chức đi nhiều người gồm các thành phần như: cùng vai với bố mẹ, anh chị, em, cháu, bạn bè Lễ vật tối thiểu để tiến hành lễ ăn hỏi gồm có 2 con
Trang 13gà trống thiến, 2 lít rượu, 2kg gạo tẻ, trầu cau, chè thuốc lá, thuốc lào, bánh kẹo Sau lễ ăn hỏi, gia đình nhà trai và nhà gái tiến hành lễ thách cưới Nhà gái đưa ra ý kiến lấy bao nhiêu
đồ vật như lợn, gà, bánh trưng, bánh dày, rượu, gạo tẻ để tiến hành làm lễ cưới
3.4.3 Tổ chức lễ cưới: Người Tày thường tổ chức lễ cưới từ tháng 8 đến hết tháng Chạp
(âm lịch) vì họ cho rằng, đây là thời điểm khí hậu mát mẻ, không oi bức đồng thời công việc rảnh rỗi vì mùa màng đã thu hoạch xong mà ít khi tổ chức từ tháng 3 đến tháng 7 Trước khi tiến hành lễ cưới, nhà trai phải chuẩn bị đầy đủ lễ vật trong thời gian từ 2 - 3 năm, có những
hộ khá thì chỉ chuẩn bị trong năm Khi đã có đầy đủ lễ, nhà trai sẽ báo trước cho nhà gái khoảng từ 15 ngày đến 1 tháng để chuẩn bị cho đám cưới Trong thời gian này, nhà trai sẽ phải nộp đầy đủ sính lễ như đã thỏa thuận từ trước cho nhà gái
Các nghi lễ trước đám cưới được tổ chức sau lễ ăn hỏi của người Tày ở Nà Hang gồm có: Lễ nhận thông gia, chú rể ra mắt họ hàng, những lễ vật và số lượng phải có trong ngày cưới (gọi là bản kê khai) Việc chuẩn bị cho đám cưới của người Tày ở Nà Hang được chuẩn
bị chu đáo với sự góp sức của nhiều người trong gia đình, họ hàng
3.4.4.Tổ chức ăn uống trong đám cưới : Đám cưới người Tày trong truyền thống cũng như ngày
nay vẫn duy trì được nhiều món ăn khá đặc biệt, phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của cư dân bản địa Đây cũng là các món ăn truyền thống của người Tày như: canh củ đao, nộm hoa chuối rừng, canh hoa chuối, canh gừng, măng cuốn, măng nhồi, đậu chao, lợn quay, khau nhục Các món biểu trưng cho âm dương ngũ hành và một phần không thể thiếu trong cỗ cưới của đồng bào người Tày là rượu Rượu là một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc và gắn bó với cuộc sống của đồng bào từ lâu đời Vì vậy, người Tày nói đi ăn cưới là đi uống rượu (pây kin lẩu)
Tiểu kết chương 3
Lễ cưới của người Tày thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa tộc người, thể hiện rõ qua những nghi lễ truyền thống Trong hôn nhân có nhiều nghi lễ tổ chức với nhiều ý nghĩa đặc biệt quan trọng chứa đựng quan niệm sống, lịch sử văn hóa của tộc người Bên cạnh các yếu
tố tín ngưỡng, các nghi lễ trong hôn nhân còn thể hiện ý nghĩa giáo dục sâu sắc
Hôn nhân của người Tày ở huyện Nà Hang, có nhiều nghi lễ được tiến hành cả hai bên gia đình nam và nữ, mỗi nghi lễ thể hiện các giá trị văn hoa của người Tày Qua các nghi lễ hôn nhân, các mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình, của cộng đồng được bộc lộ và thể hiện, nó minh chứng cho một mối quan hệ cộng đồng, xã hội bền chặt và có trách nhiệm, tương trợ lẫn nhau
Hiện nay, nghi lễ trong hôn nhân của người Tày có những biến đổi phù hợp với sự phát triển của cuộc sống hiện đại Tuy nhiên, chính vì vậy mà nhiều đôi nam nữ không thể đến được với nhau Do vậy, hiện nay các nghi lễ cũng giản lược đi nhiều, việc thách cưới ở nhiều gia đình chỉ mang tính thủ tục Tuy nhiên, các nghi lễ trong hôn nhân của người Tày vẫn được giữ gìn và bảo lưu những nét riêng mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Đó chính là những nét đẹp trong văn hóa tộc người cần được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hiện đại ngày nay
Chương 4 NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY 4.1 Quan niệm về sự sống, cái chết và linh hồn
Dân tộc Tày ở Nà Hang quan niệm rằng con người sinh ra có linh hồn, thể xác và linh hồn kết hợp, tồn tại gắn bó khi còn sống, khi chết linh hồn tách biệt rời khỏi thể xác, thể xác hòa vào cát bụi về với đất mẹ, nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại và chuyển sang thế giới khác (thế giới vô hình) hay còn gọi là cõi ma, cõi âm phủ Người Tày tin rằng thế giới có linh hồn,