LÀM A. Lý thuyết I. Chứng cứ Theo Điều 81 BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 :“ Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu ha sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”. II. Đánh giá chứng cứ Theo Điều 96 BLTTDS 2004 quy định : “1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác; 2.Tòa án phái đánh giá chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị của từng chứng cứ.” Sau khi đương sự đã cung cấp đủ chứng cứ, trên cơ sở tất cả các chứng cứ đã thu thập được thì Tòa án tiến hành xem xét, phân tích, so sánh đánh giá chứng cứ; phỉa tìm được mối liên hệ mật thiết giữa các sự kiện. Quá trình nghiên cứu, xem xét các chứng cứ cũng chính là quá trình đánh giá chứng cứ. Giá trị chứng minh của chứng cứ thể hiện ở chỗ, dựa vào những chứng cứ đó, Tòa an có thể xác định được có hay không có những tình tiết chứng minh cho yêu cầu của đương sự. Những sự kiện, tình tiết không có giá trị chững minh thì sẽ bị loại trong quá trình đánh giá chứng cứ. Khi tiến hành đánh giá chứng cứ, thì phải đánh giá từng chứng cứ để xem kết luận về mức độ chính xác, về giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Một tài liệu chỉ có giá trị cho việc xác định sự thật khi nó phù hợp với các tình tiết vụ án, phù hợp thực tế khách quan. Qua các chứng cứ đó thì Tòa án có thể xác định được sự kiện pháp lí pháp lý nào là đương sự đưa ra là thật. Từ đó, muốn đánh giá chứng cứ được chính xác thì đòi hỏi người thẩm phán phải nắm vững các quy định pháp luật về tố tụng và đúc rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử. B. Nội dung I. Tóm tắt vụ án 1. Những người tham gia tố tụng Nguyên đơn: Ông Trần Anh Đào ( 1964 ) và bà Nguyễn Thị Kim Nhung (1963) cùng cư trú tại : Số 19, ngõ 65, đường Hữu Nghị, tổ dân phố 15, Bắc lý, Đồng Hới, Quảng Bình cả 2 người đều có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Ông Ngô Văn Xảo, Luật sư văn phòng luật sư Phước Linh thuộc đoàn luật sư Quảng Bình, địa chỉ số 58, đường Nguyễn Đình Chiểu, Đồng Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình, có mặt. Bị đơn: Ông Trương Ngọc Hóa (1957) và bà Trần Thị Ngà (1962) cùng cư trú tại: số 02, Ngõ 65, tổ dân phoos15, Bắc lý, Đồng Hới, Quảng Bình. Ông Hóa có mặt, bà Ngà ủy quyền cho ông
Trang 1DÀN BÀI
A Lý thuyết
B Nội dung
BÀI LÀM
A Lý thuyết
I Chứng cứ
Theo Điều 81 BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 :“ Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu ha sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”.
II Đánh giá chứng cứ
Theo Điều 96 BLTTDS 2004 quy định :
“1 Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác;
2.Tòa án phái đánh giá chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị của từng chứng cứ.”
Sau khi đương sự đã cung cấp đủ chứng cứ, trên cơ sở tất cả các chứng cứ đã thu thập được thì Tòa án tiến hành xem xét, phân tích, so sánh đánh giá chứng cứ; phỉa tìm được mối liên hệ mật thiết giữa các sự kiện Quá trình nghiên cứu, xem xét các chứng cứ cũng chính là quá trình đánh giá chứng cứ Giá trị chứng minh của chứng cứ thể hiện ở chỗ, dựa vào những chứng cứ đó, Tòa an có thể xác định được có hay không có những tình tiết chứng minh cho yêu cầu của đương sự Những sự kiện, tình tiết không có giá trị chững minh thì sẽ bị loại trong quá trình đánh giá chứng cứ
Khi tiến hành đánh giá chứng cứ, thì phải đánh giá từng chứng cứ để xem kết luận về mức độ chính xác, về giá trị chứng minh của từng chứng cứ Một tài liệu chỉ có giá trị cho việc xác định sự thật khi nó phù hợp với các tình tiết vụ án, phù hợp thực tế khách quan Qua các chứng cứ đó thì Tòa án có thể xác định được
Trang 2sự kiện pháp lí pháp lý nào là đương sự đưa ra là thật
Từ đó, muốn đánh giá chứng cứ được chính xác thì đòi hỏi người thẩm phán phải nắm vững các quy định pháp luật về tố tụng và đúc rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử
B Nội dung
I Tóm tắt vụ án
1 Những người tham gia tố tụng
- Nguyên đơn: Ông Trần Anh Đào ( 1964 ) và bà Nguyễn Thị Kim Nhung
(1963) cùng cư trú tại : Số 19, ngõ 65, đường Hữu Nghị, tổ dân phố 15, Bắc lý, Đồng Hới, Quảng Bình cả 2 người đều có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
Ông Ngô Văn Xảo, Luật sư văn phòng luật sư Phước Linh thuộc đoàn luật sư Quảng Bình, địa chỉ số 58, đường Nguyễn Đình Chiểu, Đồng Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình, có mặt
- Bị đơn: Ông Trương Ngọc Hóa (1957) và bà Trần Thị Ngà (1962) cùng
cư trú tại: số 02, Ngõ 65, tổ dân phoos15, Bắc lý, Đồng Hới, Quảng Bình Ông Hóa có mặt, bà Ngà ủy quyền cho ông Hóa
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
Ông Nguyễn Văn Hiến, luật sư Công ty luật Văn Hiến, thuộc đoàn luật sư Quảng Trị; địa chỉ: số 146/1, đường Tôn thất Thuyết, Đông Hà, Quảng Trị, có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Phòng công chứng số1 tỉnh Quảng Bình; đường Quang Trung, Hải Đình, Đồng Hới, Quảng Bình; người đại diện theo pháp luật bà Hoàng Thị Lệ Hải trưởng phòng công chứng; người đại diện theo ủy quyền bà Bùi Thị Thu Hằng; cán bộ Phòng công chứng số 1 tỉnh Quảng Bình
- Người làm chứng:
Ông Trần Văn Lê: công tác tai Sở tư pháp Quảng Bình vắng mặt
Ông Trần Anh Lý: tổ dân phố 15, Bắc Lý, Đồng Hới,quảng bình có mặt Ông Trần ĐÌnh Biểu: xóm me, quảng thuận, quảng trạch quảng bình vắng mặt
2 Nội dung vụ án
- Lời khai của nguyên đơn:
+ Vợ chồng ông được bố mẹ cho đất có S= 284,5 m2
Trang 3+ 2009, anh em trong nhà (Hóa anh rễ, Lý em ruột, tôi) bàn bạc nhập tất
cả đất của nguyên đơn vào đất bị đơn (275,8m2) sau đó tách thành 6 thửa
để cho Lý 1 phần đất
Theo thỏa thuận ban đầu: Ông Đào thửa 177, 178
Cho Lý 1 thửa Còn lại 3 thửa của Hóa Sau khi Hội đồng thẩm định đo đất để tách thửa:
177, 178: Của Đào
179, 180, 181, 182 : Của Hóa Mọi thủ tục tách thửa Hóa đứng ra làm
Hóa làm xong GCNQSDĐ của 6 thửa thì chỉ đưa cho Đào GCN của thửa 178; Hóa nói với Đào là khi nào làm xong thửa 177 sẽ đưa sau
Để tạo lòng tin, 1/6/2010, Hóa viết cho Đào giấy: “Ông Đào nhận GCN QSDĐ 181 mang tên ông Hóa và khi nào ông Hóa làm xong GCN
177 sẽ giao lại cho ông Đào, lúc đó ông Đào trả GCN 181 lại cho ông Hóa”
Vì nghi ngờ nên ông Đào đến văn phòng đăng ký QSDĐ tp Đồng Hới hỏi thì được trả lời: Hóa đã lập hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ 177 từ Đào sang cho Hóa
=> Nguyên đơn cho rằng hợp đồng chuyển nhượng được làm giả
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu TA áp dụng K9, Đ25; K1,2Đ32a
BLTTDS để:
1 Hủy hợp đồng chuyển nhượng 177 từ Đào sang Hóa được ký kết và công chứng ngày 4/5/2010
2 Hủy văn bản công chứng của phòng công chứng QB ngày 4/5/2010 đối với hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 177 từ Đào sang Hóa
3 Hủy bỏ GCN QSDĐ 177 của Hóa
4 Công nhận quyền SDD 177 cho Đào; phục hồi GCN QSDĐ 177 do UBND tp.ĐH cấp ngày 14/4/2010
- Lời khai bị đơn:
+ Như nguyên đơn trình bày, bị đơn đi làm thủ tục nhập tách 6 thửa Trong đó, thửa 177, 178 của nguyên đơn; còn lại 4 thửa của bị đơn,
+ Hóa đã đưa Đào GCNQSDĐ thửa 177, 178
+ Sau đó Đào đã chuyển nhượng QSDĐ 177 cho Hóa (Phòng công chứng số 1 tỉnh Quảng Bình công chứng ngày 4/5/2010) Hợp đồng trên không lừa dối Tuy nhiên, Hóa cho rằng hợp đồng bị sai sót 1 thửa ghi
Trang 4thành 2 thửa, màu mực là sai sót do khâu rà soát, lỗi kỹ thuật chứ không phải giả mạo
+ Ông Hóa nhận 6 GCN QSDĐ vào ngày 21/4/2010 chứ không phải 21/6/2010 như Đào trình bày vì khi Hóa nhận GCN có nộp tiền và còn giữ biên lai ghi ngày 21/4/2010
+ Ông Hóa viết cho Đào giấy ngày 1/6/2010 là vì Đào bán 177 lấy tiền cho Lý nhưng không bán được vì mảnh đất bị xéo Đào bàn với Hóa bán
179 của Hóa, Đào chuyển nhượng 177 cho Hóa Nhưng vì chuyển
nhượng rồi mà 179 vẫn chưa bán được nên Đào yêu cầu Hóa viết giấy đó
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn
- Trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Căn cứ vào hồ sơ lưu trữ thì hợp đồng chuyển nhượng 177 từ Đào sang Hóa là hợp pháp Chữ ký đúng là của các bên giao kết
Đối với ý kiến của nguyên đơn về các sai sót trong hợp đồng đều là do lỗi
kỹ thuật Và trước khi ký hai bên đã đọc lại
=> Ý kiến hợp đồng bị làm giả là không có căn cứ
- Ông Lê – người công chứng hợp đồng:
Hợp đồng thực hiện đúng pháp luật
- Ông Lý:
2005, Hóa bán đất cho Biểu 5 năm sau, Hóa đưa Lý 400 triệu để trả lại Biểu và lấy 177 về Đã giải quyết xong và không có tranh chấp gì
- Biểu trình bày: Như Lý
3 Quyết định của hội đồng xét xử
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kí kết và công chứng ngày 4/5/2010, HDDXX nhận thấy tuy có sai sót một số chỗ như một thửa đất thành hai thửa đất nhưng không làm thay đổi đi nội dung hợp đồng Về hình thức
và nội dung hợp đồng các bên đã kí kết theo rình tự các điều 122,124,401,402,405 BLDS và điều 127 luật đất đai 2003 và được phòng công chứng số 1 tỉnh Quảng Bình công chứng đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 35, 36, 37, 38, 39, 40,42 Luật công chứng Cũng được phòng kỉ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình giám định khẳng định đúng chữ kí
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trang 5 Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận quyền
sử dụng thửa 177 cho vợ chồng ông Đào và bà Nhung và yêu cầu phục hồi GCNQSDĐ
Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
vợ chồng ông Hóa là có hiệu lực pháp luật
Án phí : Nguyên đơn chịu phí 200.000đ
4.Bản án tóm tắt bằng sơ đồ
Nguyên đơn: ông Đào bà Nhung
Bị đơn : ông Hóa bà Ngà
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : phòng công chứng số 1 Quảng Bình, người đại diện theo pháp luật Lệ Hải và người đại diện theo ủy quyền bà Hằng
Người làm chứng: Lê, Lý, Biểu
Nội dung
Nhập S(đào) =284,5m2 nhập S(hóa) = 275,8m2
177 178 Cho
Lý
Của Hóa
Nhưng sau khi Hội đồng đo đất thì
(Phần bôi đen của Hóa) Của đào
Các quyết định của tòa án
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Không công nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất 177
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Bị đơn nộp án phí
17
7
178 179 180 181 182
Trang 6II Đánh giá chứng cứ
Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án:
Ông Đào bà Nhung và ông Hóa, bà Ngà kí hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và được chứng thực tại phòng công chứng ngày 4/5/2010
Ngày 1/6/2010 ông Hóa viết giấy biên nhận với nội dung: “sau khi bàn bạc bán thửa đất số 179 mang tên ông Hóa để cho anh Lý ( em trai Đào) lấy tiền làm nhà và ông Đào giữ bìa đỏ thửa đất 181 của ông Hóa, sau khi làm bìa đỏ lô đất còn lại giao cho đông Đào, thì ông Đào giao đất lại bìa đỏ cho ông Hóa Lô đất còn lại là lô đất 177
Và tại mục chuyển trả kết quả cho chủ sử dụng đất ghi ngày trả kết quả do ông Hóa ký nhận là ngày 21/6/2010 được cơ quan Điều tra Công an thành phố Đồng Hới xác định là Ông Hóa nhận 6 GCNQSDĐ Ở đây có mâu thuẫn chưa được làm rõ
Theo như lập luận của bản án phúc thẩm thì
- Nếu đúng ông Hóa nhận 6 GCNQSDĐ vào ngày 21/6/2010 thì trước đó vào ngày 4/5/2010 không thể thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được
- Nếu ông Hóa nhận vào ngày 21/4/2010 thì tại sao trong phiếu trả hồ sơ lại ghi ông Hóa nhận ngày 21/6/2010, và tại sao đến ngày 1/6/2010 ông Hóa còn viết giấy hẹn lúc nào làm xong thì đưa cho ông Đào Và bà Ngà
vợ ông Hóa cam đoan chỉ kí hợp đồng chuyển nhượng đất một lần nhập tách 6 thửa, không có hợp đồng lần 2 và nội dung này chưa được làm rõ
HĐXX phúc thẩm thấy rằng việc chứng minh và thu thập chứng cứ trong ụ
án chưa đầy đủ, các tài liệu trong hồ sơ có nội dung mâu thuẫn nhau nhưng chưa được xác minh làm rõ tại cấp xét xử sơ thẩm và đưa quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm
III Quan điểm của nhóm trong việc đánh giá chứng cứ.
- Nhóm đồng ý với cách đánh giá chứng cứ của tòa án phúc thẩm nêu trên
Trang 7- Nguyên đơn kháng cáo và theo nhóm cách giải quyết của tòa án là hoàn toàn chính xác và nhóm đưa ra một số ý kiến đống góp để làm rõ như sau:
Thứ nhất: Trong quá trình đánh giá chứng cứ tại cấp sơ thẩm thì Tòa án sơ thẩm dựa vào phiếu thu lệ phí là ngày 21/4/2010, bộ hồ sơ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được công chứng ngày 4/5/2010 tại giấy nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tên vợ chồng ông Đào sang tên vợ chồng ông Hóa ngày 6/5/2010 Còn ngày nộp lệ phí khi nhận giấy chứng nhận QSDĐ đã được chuyển đổi là ngày 7/6/2010 Và căn cứ vào các giấy tờ khác trong hai bộ hồ sơ lưu giữ thì khẳng định là ngày nhận GCN QSDĐ không phải ngày 21/6/2010 mà là do nhầm lẫn là không hợp lí vì nếu đúng ông Hóa nhận 6 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 21/4/2010 thì trước đó ngày 4/5/2010 giữa vợ chồng ông Đào và vợ chồng ông Hóa có thể thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 177, vì theo qui định tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng các bên phải xuất trình bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ thì công chứng viên mới thực hiện việc chứng thực hợp đồng.=> Thì lúc đó ông Hóa bà Ngà đã có quyền sử dụng đất 177 rồi nhưng mà ngày 1/6/2010 ông Hóa lại viết cho ông Đào giấy có nội dung “Ông Đào nhận giấy chứng nhận QSDĐ thửa 181 mang tên vợ chồng ông Hóa và khi nào làm xong GCN QSDĐ thửa 177 ông Hóa giao lại cho ông Đào và Ông Đào trả lại thửa 181 cho ông Hóa Thì ở đây có sự mâu thuẫn
Thứ hai, ông hóa khai có giấy ngày 1/6/2010 với nội dung khác với nội dung
mà ông đào khai nhưng tòa lại chưa xác định làm rõ những giấy đó Để xem giấy nào đúng sự thật Với tòa án sơ thẩm lại bỏ qua tình tiết này để vận dụng vào giải quyết để xác minh ai là người có lời khai thật ở đây Cụ thể : Theo bản án sơ thẩm thì ông Hóa khai là ông viết giấy giao GCN thửa 181 để đảm bảo bán 179 Nhưng trong lời trình bày của ông Đào ở bản án sơ thẩm thì ông Hóa viết giấy bảo đảm và giao giấy chứng nhận QSDĐ cho ông thửa 181để khi nào có GCN 177 thì ông Hóa lấy lại 181, điều này cũng chưa được xác minh làm rõ Không biết lời khai nào là chính xác
Thứ ba: Trong bản án sơ thẩm ông Hóa trình bày rằng khi ông nhận 6 giấy chứng nhận có nộp lệ phí và được cấp biên lai thu lệ phí ghi ngày 21/4/2010 nhưng khi giải quyết vụ án không thấy việc công an TP.Đồng Hới xác minh biên lai này
Trang 8mà lại đưa vào làm chứng cứ để xác định ngày cấp 6GCN QSDĐ cho ông Hóa Việc thu thập chứng cứ còn thiếu
Thứ tư: trong bản án sơ thẩm ông Lê người công chứng hợp đồng chuyển nhượng trình bày khi giao kết hợp đồng có chữ ký và và các bên có hành vi dân sự đầy đủ như vậy có thể hiểu khi giao kết hợp đồng có cả 2 bên vợ chồng ông Hóa và
vợ chồng ông Đào tham gia Nhưng vợ chồng ông Đào khẳng định không có việc
vợ chồng ông ký chuyển nhượng thửa 177 cho ông Hóa Và theo lời khai của bà Trần Thị Ngà thì bà Ngà cam đoan chỉ ký hợp đồng chuyển nhượng đất một lần tách và nhập 6 thửa, không có lần 2(BL 163) nội dụng này chưa được phiên tòa sơ thẩm xác minh làm rõ Như vậy có sự mâu thuẫn trong lời khai chưa được làm rõ