Tài liệu gồm các đề bài và phần gợi ý cách giải quyết sau mỗi đề tương đối chi tiết, bám sát đề thi học sinh giỏi Văn các tỉnh. Tài liệu rất hữu ích cho giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 10 và học sinh thi HSG Văn cấp tỉnh.
Trang 1Nhà văn Nhữ Bá Sĩ cho rằng: Thơ là để nói chí, nhưng biểu hiện ở nơi tình.
Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của mình về hai bài thơ Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) và Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), hãy làm sáng tỏ.
1 Giải thích
* Cắt nghĩa ý kiến:
- Chí: ý chí, khát vọng, mục tiêu, quan điểm, lí tưởng… con người muốn hướng tới Thơ
là để nói chí: Khẳng định mục đích của thơ ca là để bày tỏ ý chí, khát vọng, lí tưởng,quan điểm sống… của nhà thơ trước cuộc đời
- Tình: tình cảm, cảm xúc, tấm lòng của người viết Biểu hiện ở nơi tình: Thơ ca nói chí,
tỏ lòng nhưng không thể hiện một cách khô khan mà thông qua con đường tình cảm, làmlay động cảm xúc, trái tim người đọc
=> Nhận định của Nhữ Bá Sĩ khẳng định: nói chí là mục đích của thơ ca nhưng biểu hiện
ở nơi tình là đặc trưng, là cội nguồn, là gốc của thể loại thơ
- Xuất phát từ khát vọng của người viết: nhà thơ bao giờ cũng muốn gửi gắm vào trongtác phẩm những tư tưởng, triết lí, lí tưởng, cảm xúc… của mình và truyền đến cho ngườiđọc để được chia sẻ, thấu hiểu
- Xuất phát từ đặc trưng của thơ: là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt Vì thế, thơ ca nóichí, chở đạo theo con đường riêng, đó là cách thể hiện giàu cảm xúc với những rungđộng tình cảm mãnh liệt (khác văn xuôi thiên về kể, tả sự việc…)
- Xuất phát từ thực tiễn: trong sáng tác thơ ca từ xưa tới nay, những tác phẩm có giá trịđều là những tác phẩm có tư tưởng sâu sắc được tạo nên từ trái tim giàu cảm xúc củangười cầm bút
2 Chứng minh qua Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) và Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
* Chứng minh qua Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Thơ là để nói chí: Bài thơ thể hiện khát vọng, lí tưởng của Nguyễn Trãi là làm sao chomuôn dân được ấm no, hạnh phúc (Dân giàu đủ khắp đòi phương)
- Biểu hiện ở nơi tình: Khát vọng ấy của Nguyễn Trãi không nói một cách khô khan màđược thể hiện gián tiếp thông qua tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống, con người, cùngmong ước của ông:
+ Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, đầy âm thanh, màu sắc (Hòe lục đùn đùn tán rợpgiương/Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/Hồng liên trì đã tiễn mùi hương…) cùng bứctranh sinh hoạt đời sống sôi động (Lao xao chợ cá làng ngư phủ) đã gián tiếp cho thấy
Trang 2tình cảm thiết tha của Nguyễn Trãi về một cuộc sống no đủ cho nhân dân, yên bình chođất nước.
+ Ước mong tha thiết có chiếc đàn của vua Ngu Thuấn để gảy khúc Nam phong cho mưathuận, gió hòa, nhân dân làm ăn no đủ, khắp mọi người, khắp mọi nơi
- Nghệ thuật thể hiện chí và tình: ngôn ngữ trong sáng, giản dị; hình ảnh thơ sinh động;giọng điệu giàu cảm xúc; sự cách tân ở câu lục ngôn xen lẫn câu thất ngôn tạo nên sựdồn nén cảm xúc của bài thơ,… tất cả đã góp phần thể hiện cái chí của tác giả một cáchrất tình khiến người đọc xúc động
* Chứng minh qua Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Thơ là để nói chí: Bài thơ thể hiện quan niệm sống, triết lí sống nhàn, lánh đục về trongcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm Đây là cái chí của những nhà nho sống trong thời loạn, họ coitrọng nhân cách, hành đạo bằng việc giữ gìn lối sống thanh cao, không chấp nhận conđường công danh, phú quý mà giành giật, hãm hại nhau, hay áp bức, bóc lột nhân dân
- Biểu hiện ở nơi tình: Quan niệm sống, triết lí sống ấy của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũngđược thể hiện đầy cảm xúc qua sự an nhiên, phong cách thư thái khi hòa hợp với tựnhiên, cùng thái độ vượt lên mọi cám dỗ danh lợi của một nhà nho ưu thời mẫn thế:+ Sự ung dung, nhàn tản khi trở về với cuộc sống thuần hậu, nguyên thủy (Một mai, mộtcuốc, một cần câu/Thơ thẩn dầu ai vui thú nào)
+ Thái độ xa lánh nơi phồn hoa, cửa quyền (Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/Người khôn,người đến chốn lao xao)
+ An nhiên hòa hợp với tự nhiên (Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/Xuân tắm hồ sen, hạtắm ao)
+ Xem công danh, phú quý tựa như giấc chiêm bao (Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống/Nhìnxem phú quý tựa chiêm bao)
- Nghệ thuật thể hiện chí và tình: Thể thơ thất ngôn bát cú; ngôn ngữ trong sáng; hìnhảnh giản dị, gần gũi với cuộc sống hàng ngày; cách ngắt nhịp độc đáo; sử dụng điển tíchchọn lọc; giọng thơ nhẹ nhàng, thâm trầm, sâu sắc; chất trữ tình kết hợp chất triết línhuần nhuyễn đã khiến cái chí của tác giả được thể hiện rất tình, có khả năng tác độngsâu sắc đến tâm hồn người đọc
3 Đánh giá, nâng cao vấn đề
- Ý kiến đã đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa chí và tình trong thơ: quan hệ tác độngqua lại, bổ sung hỗ trợ cho nhau
+ Cái chí nâng tầm vóc, vai trò của thơ ca trong đời sống
+ Cái tình làm cho cái chí tỏa sáng, đọng lại trong trái tim người đọc
- Hai bài thơ Cảnh ngày hè và Nhàn được viết nên từ chí và tình của những nhà nho có tưtưởng tiến bộ là minh chứng tiêu biểu cho quan điểm của Nhữ Bá Sĩ Cảnh ngày hè vàNhàn cũng như tên tuổi của hai tác giả luôn bất tử với thời gian
- Ý kiến là bài học ý nghĩa:
Trang 3+ Với người sáng tác: tác phẩm văn học chỉ đọng lại nơi người đọc khi nó chứa đựngnhững tư tưởng, triêt lí sống đáng quý cùng một tình cảm thiết tha, mãnh liệt của ngườisáng tạo; chí và tình cần được thể hiện bằng những phương tiện nghệ thuật phù hợp + Với người tiếp nhận: cần thông qua các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm và bằngtấm lòng đồng cảm, tri âm với người viết để hiểu được giá trị tư tưởng của tác phẩm; trântrọng tài năng của tác giả; bồi dưỡng tâm hồn vươn đến Chân - Thiện - Mĩ
- Ý kiến không chỉ đúng với thơ mà còn đúng với các thể loại văn học khác (khuyếnkhích)
Bình luận nhận định: Không gian trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hóa, mang tâm trạng, tình cảm chung của nhiều người
1 Giải thích
- Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, có thể kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng để diễn
tả đời sống tình cảm, nội tâm của người bình dân
- Không gian nghệ thuật là một phương diện của thi pháp văn học, nó là hình thức tồn tạicủa thế giới nghệ thuật, không có hình tượng nào không có không gian, không có mộtnhân vật nào không có một nền cảnh nào đó
- Nhân vật trữ tình là chủ thể trực tiếp bộc lộ, giãi bày thể hiện nội tâm, cảm xúc, tâmtrạng…
- Nhận định đề cập đến một đặc trưng thi pháp ca dao, đó là không gian đời thường, gắn
bó gần gũi với cuộc sống lao động sinh hoạt hàng ngày của người bình dân Việt Namxưa, ứng với không gian ấy, là những nhân vật trữ tình phiếm chỉ, mang tính phổ quát,đại diện cho những kiểu tâm trạng, cảm xúc…của đời sống nội tâm con người muônthuở
2 Bình luận
2.1 Đặc điểm không gian nghệ thuật trong ca dao
a Các hình thức không gian của ca dao
- Không gian trần thế, đời thường gắn với làng quê, thân thuộc, gần gũi như mái đình,cây đa, bến nước, dòng sông, con đò…
- Không gian gắn với tên đất tên làng, với những địa danh của quê hương đất nước
- Không gian gắn với môi trường lao động, sản xuất…
-> Đó là những không gian mang tính chung chung, phiếm chỉ có thể phù hợp với nỗilòng, trạng huống, hoàn cảnh…của nhiều đối tượng khác nhau
b Ý nghĩa
- Không gian nghệ thuật ấy thể hiện những đặc trưng hoàn cảnh ra đời của ca dao: nảysinh từ cuộc sống lao động hàng ngày của người bình dân; gắn với những cuộc hát giaoduyên của những đôi lứa…
Trang 4- Không gian nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân xưa: yêu và gắn bóvới quê hương, đất nước; tâm hồn nghệ sĩ biết phát hiện những vẻ đẹp phong phú củathiên nhiên, của mảnh đất nơi mình sinh ra…;
- Không gian nghệ thuật thể hiện hồn quê, màu sắc dân tộc, tính chất thuần Việt của cadao trữ tình, tạo nên những giá trị thẩm mĩ mang đặc trưng truyền thống, làm tiền đề cho
sự phát triển của nền thơ ca trữ tình của dân tộc…
- Cùng một không gian, sắc cảnh, sự vật… nhưng có thể gắn với nhiều sắc thái tình cảm,cung bậc nội tâm khác nhau của con người, thể hiện những quan niệm, tư tưởng khácnhau của con người…Điều này thể hiện ở việc tồn tại các mô típ không gian: bến nước-con đò, thuyền- bến, muối- gừng, mái đình- cây đa…Rõ ràng có rất nhiều câu dao có sựlặp lại của những hình ảnh không gian này nhưng ở mỗi câu lại thể hiện những vẻ đẹpriêng biệt, độc đáo, khác biệt…
2.2 Nhân vật trữ tình trong ca dao
a Một số đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao
- Nhân vật trữ tình xuất hiện trong những không gian trần thế, bình dị, phiếm chỉ, họ lànhững người bình dân trong cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày với những vất vả,
lo toan, những yêu thương, hờn giận, buồn tủi…
- Nhân vật trữ tình đồng thời là chủ thể sáng tạo của ca dao không phải là một nhân vật
cá biệt cụ thể mà là mà nhân vật phiếm chỉ, đại diện cho một kiểu người, kiểu thân phận,kiểu tâm trạng…Ví dụ: kiểu người phụ nữ bé nhỏ, tội nghiệp là nạn nhân của chế độphong kiến bất công; kiểu chàng trai, cô gái lỡ duyên, bi kịch trong tình yêu; nhữngngười chồng, người vợ nghĩa tình sâu nặng; những người nông dân chân lấm tay bùn,nghèo đói nhưng lạc quan, hóm hỉnh,…
b Ý nghĩa
- Tính phiếm chỉ của nhân vật trữ tình thể hiện một đặc điểm của ca dao nói riêng và văn
học dân gian nói chung, đó là tính tập thể Ca dao cũng như các thể loại văn học dân giankhác, nó được ra đời từ môi trường diễn xướng và không phải là sản phẩm của cá thểriêng lẻ mà là của nhân dân lao động qua nhiều thế hệ Nó được gọt giũa, sáng tạo, trauchuốt thêm qua nhiều thế hệ để trở nên hoàn thiện, đẹp đẽ như bây giờ
- Nhân vật trữ tình với các nét tâm trạng tâm lý, sắc thái cảm xúc thể hiện vẻ đẹp tâmhồn, phẩm chất, nhân cách… của người bình dân Việt Nam Ca dao trở thành thơ của vạnnhà, là tấm gương soi tâm hồn dân tộc chính là vì vậy
- Nhiều hình tượng nhân vật trong ca dao trở thành điển hình của kiểu nhân vật trữ tìnhdân gian, tạo nên đặc trưng giá trị thẩm mĩ mang đậm bản sắc dân tộc, trở thành chủ đề,chất liệu sáng tác cho nền thơ trữ tình Việt Nam…
- Thế giới cảm xúc nội tâm vô cùng phong phú tinh vi, cũng đầy bí ẩn nên ca dao khôngnhững khái quát được những kiểu dạng, mô tip tâm lý chung, phổ biến nhất mà còn diễn
tả, gọi tên được những trạng thái xúc cảm mong manh, mơ hồ trong tâm hồn con người,ứng với các tình huống cụ thể của cuộc sống con người Điều này làm nên tính khái quátnhưng cũng rất cụ thể, sinh động của tâm trạng nhân vật trữ tình trong ca dao
Trang 5- Không gian nghệ thuật trong ca dao không chỉ là bối cảnh, phông nền để nhân vật xuấthiện mà có khi còn hiện lên như những khách thể thẩm mĩ với những vẻ đẹp tự nhiên,sinh động được những người nghệ sĩ bình dân khám phá, phát hiện…
- Không gian không chỉ phản ánh thế giới hiện thực, môi trường hoàn cảnh sống mà còn
là không gian tâm tưởng tưởng tượng, phi hiện thực được sáng tạo nhằm thể hiện mộtquan niệm, tình cảm nào đó của nhân dân…
- Mặc dù tồn tại những kiểu tâm trạng, cảm xúc chung chung, phổ biến nhưng với tàinăng, sự sáng tạo, tài hoa của người nghệ sĩ bình dân, nên ca dao vẫn tồn tại nhiều vẻ đẹpđộc đáo riêng biệt Ví dụ có hàng trăm câu ca dao diễn tả những trạng thái tâm lý rấtquen thuộc phổ quát như nỗi tương tư, hay tỏ tình trong tình yêu, nhưng câu nào cũng có
vẻ đẹp riêng, không trộn lẫn…
- Mỗi không gian nghệ thuật ứng với một kiểu nhân vật khác nhau Không gian nghệthuật trần thế, bình dị gắn với nhân vật là những người lao động bình dân, chân lấm taybùn; không gian phiếm chỉ ứng với nhân vật chưa được cá thể hóa, mang tình cảm, tâmtrạng chung của nhiều người…
Thơ vẫn là sự sống, nhưng đây là sự sống đọng lại, biến thành cái đẹp.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ bài thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngữ văn 10, tập một, NXBGD Việt Nam 2018) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
=> Ý kiến đề cập đến bản chất của thơ ca nói riêng và văn chương nghệ thuật nóichung Cái đẹp trong thơ bắt rễ từ cuộc đời, từ chiều sâu của tâm hồn và tài năng sáng tạocủa thi nhân
* Lí giải ý kiến
- Sự sống và cái đẹp trong thơ có mối quan hệ biện chứng với nhau: Cái đẹp phải bắtnguồn từ sự sống và cảm xúc của thi nhân Nói như R.Gamzatop “chỉ có niềm vui củachính anh, nỗi buồn trong chính trái tim anh mới khiến anh cầm bút” Cái đẹp của nghệthuật sẽ nâng sự sống lên tầm cao mới
- Khởi nguyên từ sự sống, qua sự rung động tâm hồn nhà thơ và thăng hoa trong cái đẹpcủa nghệ thuật, trở thành tiếng lòng chung, rung động lòng người
Trang 62 Cảm nhận bài thơ Nhàn để làm sáng tỏ ý kiến
a Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ Nhàn
- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491– 1595) là người có học vấn uyên thâm, trí tuệ hơn người,sáng suốt thông thái Bao trùm thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ khi về trí sĩ ở quê nhà là cảmhứng thanh nhàn, tự tại, gắn bó với thiên nhiên, không bon chen phú quý
- Bài thơ Nhàn trích trong Bạch Vân quốc ngữ thi Với lời thơ tự nhiên, giản dị, bài thơNhàn thể hiện một cách sâu sắc ý nghĩa triết lí về lối sống nhàn mà tác giả đã lựa chọn
Đó là quan niệm sống hoà hợp với thiên nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên danh lợi
b Cảm nhận bài thơ Nhàn
* Bài thơ Nhàn là cuộc sống đọng lại biến thành cái đẹp với lối sống nhàn được thể hiệnxuyên suốt bài thơ, nổi bật là tâm trạng thảnh thơi, tự do lựa chọn cách sống cho mình-hòa mình với thiên nhiên
- Nguyễn Bỉnh Khiêm mở rộng tấm lòng, hòa mình với cuộc sống nơi thôn dã Theo đó,cái “dại” của “ta” là cái “dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vongtồn của cuộc đời, sống thanh thản Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi
có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành Còn “người khôn” chọn “chốn laoxao”, nghĩa là nơi con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra
=>Xét trong hoàn cảnh cụ thể của nhà thơ, việc về nhàn là cách duy nhất để giữ trọn khítiết, là nét đẹp của tâm hồn giữa cuộc sống tranh đua danh lợi
* Bài thơ Nhàn thể hiện sâu sắc quan niệm nhân sinh coi công danh phú quý tựa chiêmbao Đó như là biểu hiện tập trung cho bản lĩnh cứng cỏi, nhân cách cao đẹp, gần gũi vớinhân dân, được nhân dân tôn trọng của một người trí thức chân chính:
R¬ượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
- Mượn tích xưa, một người nằm ngủ dưới gốc cây hòe chiêm bao thấy mình được làmquan, giàu có, tỉnh dậy thấy vẫn nằm dưới cây hòe, mới biết chỉ là chiêm bao Tác giảmượn tích xưa để bộc lộ thái độ xem thường phú quý công danh, qua đó khẳng địnhthêm một lần nữa sự lựa chọn phương châm sống, cách sống thực sự thoải mái về tinhthần cũng như thể xác
- Phú quý đi với chức quyền, đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọnngười bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xemphú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ
Trang 7vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xãhội đương thời Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sốnglành vững tốt đẹp của nhân dân
* Về mặt nghệ thuật, qua bài thơ Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa chữ Nôm trở thànhngôn ngữ nghệ thuật giàu sức biểu cảm Tác giả đã thành công trong việc sử dụng nghệthuật đối lập, ngôn từ giản dị nhưng không kém phần tinh tế, nhịp thơ linh hoạt Ôngcũng đưa vào thơ những hình ảnh dân dã, gần gũi, bình dị, rất đỗi Việt Nam như hìnhảnh cuốc, cần câu, măng trúc, giá, là những nét hiện thực dân dã mà văn chương trungđại thường kiêng kị Đó chính là điểm mới, những cách tân về nghệ thuật của NguyễnBỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn
c Đánh giá về bài thơ Nhàn
- Thơ vẫn là sự sống, nhưng ở bài thơ Nhàn sự sống đọng lại, biến thành cái đẹp với lờitâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với thiên nhiên,giữ được cốt cách thanh cao, khí tiết cương trực, vượt lên những danh lợi tầm thường,gắn bó với nhân dân
- Từ quan niệm sống nhàn, coi thường công danh phú quý, bài thơ thể hiện chân dungmột con người giản dị, mộc mạc, một nhân cách cao quý, vẻ đẹp trí tuệ của một nhà nho
ẩn dật- kiểu nhân vật trữ tình thường thấy trong văn học trung đại Cả bài thơ toát lênmột vẻ đẹp hoàn mỹ trong thế giới của tao nhân mặc khách, triết lý nhân sinh hướng tớiviệc thoát khỏi vòng luẩn quẩn trước những cám dỗ cuộc đời
3 Bình luận ý kiến
- Văn chương phải gắn bó với đời sống và có những tác động tích cực đến đời sống conngười và xã hội Nghệ sĩ là người sáng tạo nghệ thuật chân chính, đem tài năng, tâmhuyết, khát vọng trải nghiệm “cuộc sống” để sáng tạo ra cái đẹp, ra những tác phẩm nghệthuật có ý nghĩa
- Ý kiến đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác và định hướng đối với người tiếp nhận.Đối với người sáng tác cần phải “sống đã rồi hãy viết”, hiểu được giá trị cuộc sống để tạonên những tác phẩm có giá trị chứa đựng tính nhân văn cao cả để góp phần “thanh lọctâm hồn người đọc” Đối với người tiếp nhận cần phải nhạy cảm với cuộc đời, nuôidưỡng cho mình những tình cảm thẩm mĩ để cảm thụ và khám phá được những cái hay,cái đẹp của thơ văn Ý kiến này và cách sống nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có ýnghĩa thời sự trong cuộc sống hiện nay
“Các tác giả văn học trung đại, đặc biệt là những tác giả tài năng, một mặt tuân thủ tính qui phạm, mặt khác lại phá vỡ tính qui phạm, phát huy cá tính sáng tạo trong cả nội dung và hình thức biểu hiện”.
(Ngữ văn 10, Tập 1, NXB Giáo dục, 2011, tr 110)
Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào ?
Trang 8Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - bài 43) của Nguyễn Trãi
để làm sáng tỏ vấn đề.
1 Làm rõ nội dung nhận định:
a Giải thích khái niệm:
- Văn học trung đại: Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, là nền vănhọc tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến
- Tính qui phạm: Một đặc điểm nổi bật của văn học trung đại, là sự qui định chặt chẽtheo khuôn mẫu Tính qui phạm thể hiện ở một số phương diện cơ bản sau:
+ Quan niệm văn học: Đề cao chức năng xã hội của văn học, coi trọng mục đích giáo
huấn, thơ dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo.
+ Tư duy nghệ thuật: Lối tư duy trừu tượng, gián tiếp, quen nghĩ và phải nghĩ theo mộtkiểu mẫu nghệ thuật có sẵn đã thành công thức gắn với tính ước lệ, tượng trưng, bút phápgợi hơn tả…
+ Quan niệm thẩm mĩ: Cái đẹp của quá khứ là chuẩn mực, tạo nên tính sùng cổ, sử dụngnhiều điển tích, điển cố, nhiều thi liệu truyền thống…
+ Thể loại: Sử dụng những thể loại có kết cấu định hình
+ Ngôn ngữ: uyên bác, trang trọng, đề cao phép đối, điển tích, điển cố…
- Sự phá vỡ tính qui phạm thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau:
+ Quan niệm văn học: hướng vào đời sống cá nhân, mô tả hiện thực khách quan…
+Tư duy nghệ thuật: Xuất hiện lối tư duy trực quan cụ thể, đưa những hình ảnh chân thựccủa cuộc sống vào thơ
+ Thể loại: những thể thơ mới, thay đổi tiết tấu, nhịp điệu…
+ Ngôn ngữ: Vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày, câu thơ mang ngữ điệu nói…
- Cá tính sáng tạo: Là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái cá biệt, cáikhông lặp lại trong tài năng của người nghệ sĩ Cá tính sáng tạo biểu hiện tập trung ở cáinhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm, cách nghĩ riêng của nhà văn…
b Ý cả câu: Các tác giả trung đại, đặc biệt là các tác giả tài năng đã phá vỡ những qui
định chặt chẽ, theo khuôn mẫu của văn học trung đại để thể hiện những nét riêng, mới
mẻ trên phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
+ Tính qui phạm khiến cho văn học bị hạn chế trong việc phản ánh hiện thực, coi trọngthuyết minh cho đạo lý gắn với con người bổn phận Nhà văn sáng tác không bằng conmắt quan sát của cá nhân mà bằng những hình thức có tính cố định, hạn chế tối đa sựsáng tạo cua người nghệ sĩ
Trang 9+ Nhà văn tài năng là những người có bản lĩnh, có cá tính sáng tạo mạnh mẽ, khôngchấp nhận cái cũ, sự rập khuôn, khao khát sáng tạo, khao khát thể hiện cái tôi, thể hiệnbản sắc riêng.
- Việc phá vỡ tính qui phạm của văn học trung đại có ý nghĩa như thế nào
+ Văn học mang hơi thở của cuộc sống, thúc đẩy văn học trung đại phát triển theo theohướng dân tộc hóa, hiện đại hóa, thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc
+ Bài học sáng tạo cho người cầm bút: trong sự chi phối của tính qui phạm vẫn thể hiệnđược cá tính sáng tạo với cách nhìn, cách miêu tả riêng
+ Đối với người đọc, khi tìm hiểu văn học trung đại, cần chú ý đến việc phá vỡ tính quiphạm để nhận thức được đặc sắc của mỗi tác phẩm, đóng góp của mỗi tác giả
3 Phân tích “Cảnh ngày hè”để làm sáng tỏ nhận định
- Qua phân tích, thí sinh cần làm nổi bật được những khía cạnh mà nhận định đã đề cập.Bài viết có nhiều cách triển khai, song cần đảm bảo các yêu cầu nội dung như phần giảithích, bàn bạc vấn đề, với những định hướng cơ bản sau:
- Tính qui phạm trong Cảnh ngày hè:
+ Quan niệm văn học: Nói chí tỏ lòng - lý tưởng dân giàu đủ khắp đòi phương
+ Tư duy nghệ thuât: Miêu tả cảnh ngày hè bằng những hình ảnh ước lệ (ngày hè, lựu,sen, lầu tịch dương…)
+ Sử dụng điển tích, điển cố gắn với quan niệm thẩm mĩ cái đẹp của quá khứ là chuẩnmực
+ Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
- Sự phá vỡ tính qui phạm, thể hiện cá tính sáng tạo:
+ Nằm trong mục Bảo kính cảnh giới (gương báu răn mình) nhưng bài thơ này không
nặng về giáo huấn, khuyên răn mà thể hiện cảm nhận tinh tế của một tâm hồn rất thi sĩ + Sử dụng thể thơ thất ngôn đường luật phá cách, câu thơ thất ngôn xen lục ngôn, nhịpthơ, cấu trúc bài thơ thay đổi
+ Thi nhân xưa đến với thiên nhiên bằng bút pháp vịnh, Nguyễn Trãi thiên về bút pháp
tả Hình tượng nghệ thuật là những gì gần gũi với cuộc sống thường ngày
+ Sử dụng ngôn ngữ tài tình, vừa giản dị, quen thuộc mà gợi cảm với những động từmạnh, tính từ gợi tả
- Trong quá trình phân tích cần làm nổi bật:
+ Vẻ đẹp độc đáo của bức tranh thiên nhiên, cuộc sống
+ Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi: Tâm hồn yêu thiên nhiên, tâm hồn yêu đời, yêucuộc sống; tấm lòng ưu ái với dân với nước
Bàn về thơ, tác giả Xuân Diệu có ý kiến:
"Người đọc thơ muốn rằng, thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo càng hay"
Trang 10Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích"Chinh phụ ngâm" -
Đặng Trần Côn, dịch giả: Đoàn Thị Điểm).
1 Giải thích
- “Thơ": là thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình nghiêng về thể hiện thế giới nộitâm của con người, được tổ chức qua hình thức ngôn ngữ đặc biệt gợi hình, gợi cảm, giàunhạc điệu
- “Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống": thơ ca phải bắt nguồn từ hiện thực đờisống Hiện thực cuộc đời vừa là nơi cung cấp chất liệu vừa là mạch nguồn nuôi dưỡngthơ ca
- “Đi qua một tâm hồn, một trí tuệ”: thơ ca phải in dấu tình cảm và tư tưởng của tác giả.Thơ ca khác với văn xuôi ở chỗ thể hiện rõ cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ
- “Càng cá thể, càng độc đáo, càng hay”: nhấn mạnh yêu cầu sự sáng tạo của người nghệ
sĩ
=> Một tác phẩm thơ cần bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, có giá trị tư tưởng sâu sắc.Nhưng tác phẩm thơ muốn độc đáo cần thể hiện rõ những dấu ấn riêng của tác giả trênphương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
2 Lí giải
- Cuộc sống là điểm xuất phát, là đích đến của văn học nghệ thuật nói chung và thơ canói riêng Thơ ca nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên vớiđời sống xã hội
(Học sinh vận dụng kiến thức về mối liên hệ giữa văn học và hiện thực đời sống để lígiải ngắn gọn)
- Cái riêng của thơ ca là luôn in đậm tình cảm, tư tưởng của người nghệ sĩ (Học sinh vậndụng kiến thức lí luận về đặc trưng nội dung của sáng tác thơ để lí giải)
- Thơ ca cũng khác các thể loại khác ở hình thức thể hiện Mọi yếu tố hình thức của thơ
ca (thể loại, ngôn ngữ, nhịp điệu, thanh điệu,…) đều cần đến sự cách điệu, độc đáo riêngbiệt (Học sinh vận dụng kiến thức lí luận về đặc trưng hình thức của thơ ca để lí giải)
3 Phân tích chứng minh
3.1 Cả hai văn bản Đọc Tiểu Thanh kí và Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đều xuất phát từ thực tại, đời sống: phản ánh số phận bất hạnh của những người phụ nữ, phơi bày hiện thực đời sống của xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.
- Hai văn bản cùng phản ánh số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:
+ Đọc Tiểu Thanh kí dựa trên một câu chuyện có thật về cuộc đời nàng Tiểu Thanh,người phụ nữ tài sắc hơn người nhưng số phận bi kịch
+ Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ phản ánh thân phận đáng thương củangười phụ nữ có chồng ra trận, vì chiến tranh phi nghĩa mà hạnh phúc bị chia lìa
- Hai văn bản còn phản ánh khái quát một giai đoạn xã hội phong kiến với nhiều bất công
Trang 11+ Đọc Tiểu Thanh kí mượn câu chuyện nàng Tiểu Thanh phản ánh những bất công của
xã hội phong kiến nước ta thế kỉ XVIII Từ số phận nàng Tiểu Thanh tác phẩm còn kháiquát bi kịch chung của thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến và bi kịchcủa người tài hoa
+ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ phản ánh mặt trái của chiến tranh phi nghĩa giữacác tập đoàn phong kiến Vì chiến tranh mà tuổi xuân của con người bị đánh mất, hạnhphúc bị tước đoạt
(Học sinh chọn phân tích những câu thơ tiêu biểu)
3.2 Hai văn bản in dấu tâm hồn, trí tuệ của hai tác giả với những nghệ thuật biểu đạt đặc sắc.
- Đọc Tiểu Thanh kí:
+ Bài thơ thể hiện sự xót thương của tác giả với những người phụ nữ tài hoa nhưng sốphận ngang trái Cái mới trong tư tưởng của bài thơ là không chỉ bàn về những hiệntượng hồng nhan đa truân mà tác giả còn nói đến bi kịch tài tử đa cùng Cái mới của bàithơ còn ở chỗ từ nỗi thương người nhà thơ tự thương mình, từ chỗ khóc người nhà thơ tựkhóc chính mình Bài thơ vì thế đã manh nha thể hiện ý thức cái tôi cá nhân của một cátính sáng tạo, đồng thời mang đến những giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ
+ Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú hàm súc, cô đọng với những hình ảnhthơ ẩn dụ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, nghệ thuật tương phản đối lập, những câu hỏi
tu từ day dứt,… Với khả năng ngôn ngữ bậc thầy, bài thơ thể hiện tầm tư tưởng của mộtthi nhân có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời
(Học sinh chọn và phân tích những dẫn chứng tiêu biểu)
- Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:
+ Đoạn trích thể hiện sự đồng cảm của tác giả với số phận của những người phụ nữ cógia đình mà không được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn Thông qua nỗi đau củangười phụ nữ có chồng ra trận, Đặng Trần Côn đã có sự sáng tạo trong việc thể hiệntiếng nói phản chiến Chiến tranh không chỉ gây nỗi đau cho người ra trận mà còn gâythương tổn cho những người ở lại Cái mới của đoạn trích còn nằm ở sự quan tâm tớiquyền sống, thấu hiểu sâu sắc những nỗi đau và khát vọng về hạnh phúc của con người,đặc biệt là người phụ nữ
+ Đoạn trích được dịch giả Đoàn Thị Điểm thể hiện bằng thể thơ song thất lục bát với âmhưởng mênh mang, dàn trải đầy réo rắt Đoạn trích cũng đặc biệt thành công với nghệthuật miêu tả tâm lí, cách sử dụng những từ láy, những phép so sánh độc đáo, phép điệpliên hoàn,…(Học sinh chọn lọc và phân tích những dẫn chứng tiêu biểu)
4 Bàn luận, mở rộng
- Ý kiến của Xuân Diệu đã nêu lên đặc trưng của một tác phẩm văn học, cũng là yêu cầuđặt ra cho tác phẩm thơ ca Một tác phẩm có giá trị phải gắn bó với hiện thực cuộc sống,phải chứa đựng những tâm tư tình cảm mãnh liệt, có những đóng góp mới mẻ vể tưtưởng, nghệ thuật
- Bài học đối với người sáng tác và tiếp nhận thơ ca:
Trang 12+ Nhà thơ: phải gắn bó, có những trải nghiệm phong phú với cuộc sống, sống sâu sắc vớithế giới nội tâm của mình; cần trau dồi vốn sống, lao động công phu, nỗ lực khôngngừng trong hoạt động sáng tạo.
+ Người đọc: cần có sự đồng cảm sâu sắc, mãnh liệt với thế giới cảm xúc của tác giả, từ
đó thấu hiểu giá trị tư tưởng, nghệ thuật mới mẻ, độc đáo của tác phẩm
Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim.
Bằng việc lựa chọn một số tác phẩm thơ trung đại Việt Nam trong chương trình
Ngữ văn 10, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định.
1 Giải thích
Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim.
- Thơ cần có hình: Thơ cần có hình ảnh (thiên nhiên, cuộc sống, con người…) để biểu
hiện cảm xúc, tư tưởng của nhà thơ Đây là phương diện hình thức thơ
- Thơ cần có ý: ý nghĩa nội dung, tư tưởng; có tình: tình cảm, cảm xúc Đây là phương
diện nội dung thơ
=> Ý nghĩa: tác phẩm thơ cần có sự kết hợp hài hòa giữa hình, ý, tình (hình ảnh, tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc…) Hay nói cách khác, bài thơ cần kết hợp cả hai phương diệnnội dung và hình thức
2 Cơ sở lí luận.
- Đặc trưng của văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là phản ánh, biểu
đạt thông qua hình tượng nghệ thuật Không có các hình tượng, thế giới tinh thần khôngthể biểu hiện cụ thể, nhà thơ không thể truyền dẫn thông điệp nội dung, tư tưởng, tìnhcảm một cách trọn vẹn, ấn tượng đến người đọc
- Thơ ca thuộc phương thức trữ tình, thiên về biểu hiện thế giới chủ quan của con ngườibằng nhiều cách thức khác nhau nhằm biểu đạt những trạng thái tư tưởng, tình cảm và ýnghĩa phức tạp, đa dạng Mỗi tác phẩm đều mang một ý nghĩa tư tưởng, thông điệp nhất
định đòi hỏi người đọc phải căn cứ vào hình, ý, tình mới cảm nhận được.
- Biểu hiện, yêu cầu về hình, ý, tình trong thơ:
+ Hình ảnh (thiên nhiên, cuộc sống, con người…) những hình ảnh đó phải chọn lọc, đặcsắc, có sức khái quát, chân thực, đa nghĩa, nhằm để lại ấn tượng, dấu ấn sâu sắc
+Ý, tình (tư tưởng, cảm xúc, tình cảm ) phải trong sáng, tiến bộ, có tính nhân văn,hướng con người tới các giá trị Chân - Thiện - Mĩ…
+ Cảm xúc trong thơ phải mãnh liệt, chân thành, nhà thơ phải lựa chọn được những hìnhảnh phù hợp để biểu đạt nội dung tư tưởng, cảm xúc một cách tự nhiên, sâu sắc có sứclay động lớn lao
=> Tác phẩm văn học nói chung, thơ ca nói riêng chỉ hay khi có sự kết hợp hài hòa giữa
hình, ý, tình (nội dung và hình thức).
3 Làm sáng tỏ qua một số tác phẩm thơ trung đại Việt Nam trong chương trình
Trang 13- Ý nghĩa của vấn đề đối với người sáng tác và người tiếp nhận:
+ Với người sáng tác: trong sáng tạo nghệ thuật mỗi nhà thơ phải có thực tài, thực tâm để
tạo nên những tác phẩm hài hòa về hình, ý, tình (nội dung và hình thức).
+ Với người tiếp nhận: cần cảm thụ, đánh giá cái hay, cái đẹp của thi phẩm trên cả haiphương diện, tạo nên sự đồng cảm giữa tác giả và người đọc
- Đánh giá các tác giả, tác phẩm được lấy làm dẫn chứng
Bàn về thơ, tác giả Xuân Diệu có ý kiến:
"Người đọc thơ muốn rằng, thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải
đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo càng hay".
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du)
và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích"Chinh phụ ngâm" - Đặng
Trần Côn, dịch giả: Đoàn Thị Điểm)
1 Giải thích
- “Thơ": là thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình nghiêng về thể hiện thế giới nộitâm của con người, được tổ chức qua hình thức ngôn ngữ đặc biệt gợi hình, gợi cảm, giàunhạc điệu
- “Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống": thơ ca phải bắt nguồn từ hiện thực đờisống Hiện thực cuộc đời vừa là nơi cung cấp chất liệu vừa là mạch nguồn nuôi dưỡngthơ ca
- “Đi qua một tâm hồn, một trí tuệ”: thơ ca phải in dấu tình cảm và tư tưởng của tác giả.Thơ ca khác với văn xuôi ở chỗ thể hiện rõ cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ
- “Càng cá thể, càng độc đáo, càng hay”: nhấn mạnh yêu cầu sự sáng tạo của người nghệ
sĩ
=> Một tác phẩm thơ cần bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, có giá trị tư tưởng sâu sắc.Nhưng tác phẩm thơ muốn độc đáo cần thể hiện rõ những dấu ấn riêng của tác giả trênphương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
2 Lí giải
Trang 14- Cuộc sống là điểm xuất phát, là đích đến của văn học nghệ thuật nói chung và thơ canói riêng Thơ ca nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên vớiđời sống xã hội.
(Học sinh vận dụng kiến thức về mối liên hệ giữa văn học và hiện thực đời sống để lígiải ngắn gọn)
- Cái riêng của thơ ca là luôn in đậm tình cảm, tư tưởng của người nghệ sĩ (Học sinh vậndụng kiến thức lí luận về đặc trưng nội dung của sáng tác thơ để lí giải)
- Thơ ca cũng khác các thể loại khác ở hình thức thể hiện Mọi yếu tố hình thức của thơ
ca (thể loại, ngôn ngữ, nhịp điệu, thanh điệu,…) đều cần đến sự cách điệu, độc đáo riêngbiệt (Học sinh vận dụng kiến thức lí luận về đặc trưng hình thức của thơ ca để lí giải)
3 Phân tích chứng minh
3.1 Cả hai văn bản Đọc Tiểu Thanh kí và Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đều xuấtphát từ thực tại, đời sống: phản ánh số phận bất hạnh của những người phụ nữ, phơi bàyhiện thực đời sống của xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
- Hai văn bản cùng phản ánh số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:
+ Đọc Tiểu Thanh kí dựa trên một câu chuyện có thật về cuộc đời nàng Tiểu Thanh,người phụ nữ tài sắc hơn người nhưng số phận bi kịch
+ Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ phản ánh thân phận đáng thương củangười phụ nữ có chồng ra trận, vì chiến tranh phi nghĩa mà hạnh phúc bị chia lìa
- Hai văn bản còn phản ánh khái quát một giai đoạn xã hội phong kiến với nhiều bất côngphi lí, nhiều biến động dữ dội:
+ Đọc Tiểu Thanh kí mượn câu chuyện nàng Tiểu Thanh phản ánh những bất công của
xã hội phong kiến nước ta thế kỉ XVIII Từ số phận nàng Tiểu Thanh tác phẩm còn kháiquát bi kịch chung của thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến và bi kịchcủa người tài hoa
+ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ phản ánh mặt trái của chiến tranh phi nghĩa giữacác tập đoàn phong kiến Vì chiến tranh mà tuổi xuân của con người bị đánh mất, hạnhphúc bị tước đoạt
(Học sinh chọn phân tích những câu thơ tiêu biểu)
3.2 Hai văn bản in dấu tâm hồn, trí tuệ của hai tác giả với những nghệ thuật biểu đạt đặc sắc.
- Đọc Tiểu Thanh kí:
+ Bài thơ thể hiện sự xót thương của tác giả với những người phụ nữ tài hoa nhưng sốphận ngang trái Cái mới trong tư tưởng của bài thơ là không chỉ bàn về những hiệntượng hồng nhan đa truân mà tác giả còn nói đến bi kịch tài tử đa cùng Cái mới của bàithơ còn ở chỗ từ nỗi thương người nhà thơ tự thương mình, từ chỗ khóc người nhà thơ tựkhóc chính mình Bài thơ vì thế đã manh nha thể hiện ý thức cái tôi cá nhân của một cátính sáng tạo, đồng thời mang đến những giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ
+ Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú hàm súc, cô đọng với những hình ảnhthơ ẩn dụ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, nghệ thuật tương phản đối lập, những câu hỏi
Trang 15tu từ day dứt,… Với khả năng ngôn ngữ bậc thầy, bài thơ thể hiện tầm tư tưởng của mộtthi nhân có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời.
(Học sinh chọn và phân tích những dẫn chứng tiêu biểu)
- Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:
+ Đoạn trích thể hiện sự đồng cảm của tác giả với số phận của những người phụ nữ cógia đình mà không được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn Thông qua nỗi đau củangười phụ nữ có chồng ra trận, Đặng Trần Côn đã có sự sáng tạo trong việc thể hiệntiếng nói phản chiến Chiến tranh không chỉ gây nỗi đau cho người ra trận mà còn gâythương tổn cho những người ở lại Cái mới của đoạn trích còn nằm ở sự quan tâm tớiquyền sống, thấu hiểu sâu sắc những nỗi đau và khát vọng về hạnh phúc của con người,đặc biệt là người phụ nữ
+ Đoạn trích được dịch giả Đoàn Thị Điểm thể hiện bằng thể thơ song thất lục bát với âmhưởng mênh mang, dàn trải đầy réo rắt Đoạn trích cũng đặc biệt thành công với nghệthuật miêu tả tâm lí, cách sử dụng những từ láy, những phép so sánh độc đáo, phép điệpliên hoàn,…(Học sinh chọn lọc và phân tích những dẫn chứng tiêu biểu)
Lưu ý: Học sinh có thể chọn cách phân tích, chứng minh khác nhau nhưng cần nêu đượcnhững yêu cầu cơ bản trên
4 Bàn luận, mở rộng
- Ý kiến của Xuân Diệu đã nêu lên đặc trưng của một tác phẩm văn học, cũng là yêu cầuđặt ra cho tác phẩm thơ ca Một tác phẩm có giá trị phải gắn bó với hiện thực cuộc sống,phải chứa đựng những tâm tư tình cảm mãnh liệt, có những đóng góp mới mẻ vể tưtưởng, nghệ thuật
- Bài học đối với người sáng tác và tiếp nhận thơ ca:
+ Nhà thơ: phải gắn bó, có những trải nghiệm phong phú với cuộc sống, sống sâu sắc vớithế giới nội tâm của mình; cần trau dồi vốn sống, lao động công phu, nỗ lực khôngngừng trong hoạt động sáng tạo
+ Người đọc: cần có sự đồng cảm sâu sắc, mãnh liệt với thế giới cảm xúc của tác giả, từ
đó thấu hiểu giá trị tư tưởng, nghệ thuật mới mẻ, độc đáo của tác phẩm
Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học không bao giờ chỉ là sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng mà gắn liền với cảm xúc mãnh liệt.
(Dẫn theo Lí luận văn học – Phương Lựu chủ biên, NXB Giáo dục, tr.268)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi và Đọc Tiểu Thanh Kí (Độc Tiểu Thanh Kí) của Nguyễn Du.
1 Giải thích
- Tác phẩm văn học là những sáng tác nghệ thuật dùng chất liệu ngôn từ để xây dựnghình tượng và phản ánh đời sống, qua đó gửi gắm tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ
Trang 16- Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học: là sự kết tinh sâu săc nhất những cảm nhận,suy tư, kiến giải của nhà văn về hiện thực cuộc sống Những điều ấy không phải đượcnói ra, viết ra một cách dửng dưng, lạnh lùng mà luôn gắn liền với cảm xúc mãnh liệt -những tình cảm dạt dào, sâu sắc, những khát vọng lớn lao của người viết về cuộc sống vàcon người.
> Ý kiến trên đã khẳng định: nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học luôn luôn là sựhòa quyện giữa yếu tố khách quan và chủ quan, phản ánh, lí giải hiện thực và cảm xúcmãnh liệt, tư tưởng và tình cảm, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố tình cảm,cảm xúc của tác giả trong tác phẩm văn học Đây cũng là đặc trưng cơ bản của văn học
2 Bàn luận Ý kiến hoàn toàn xác đáng, thuyết phục.
a Cơ sở lí luận.
- Nội dung tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn học
- Đối tượng nhận thức và phản ánh của văn học là hiện thực đời sống con người Mộttrong những yêu cầu quan trọng đối với văn học là phải đảm bảo tính khách quan, trungthực Nhưng không có nghĩa là văn học sao chép hiện thực một cách máy móc, lạnh lùng,dửng dưng vô cảm
- Hiện thực của cuộc sống con người luôn được phản ánh, lí giải thông qua lăng kính chủquan của người nghệ sĩ, nó gắn liền với những tình cảm, những cung bậc cảm xúc mãnhliệt như vui buồn, hờn giận, căm ghét và khát vọng
- Tình cảm, cảm xúc chính là động lực thúc đẩy quá trình sáng tác của tác giả Điều ấy cóthể được bộc lộ dưới những dạng thức khác nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp), tùy theo thểloại (thơ, văn xuôi, kịch), tùy theo phong cách tác giả
> Nội dung tư tưởng của một tác phẩm văn học không bao giờ chỉ có hiện thực đượcphản ánh, lí giải đơn thuần mà thiếu tình cảm, cảm xúc mãnh liệt
b Cơ sở thực tế
- Nhiều tác phẩm văn học là minh chứng cho tính đúng đắn, thuyết phục của ý kiến trên
- Học sinh có thể phân tích hai bài thơ: Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi và Đọc TiểuThanh Kí (Độc Tiểu Thanh Kí) của Nguyễn Du theo nhiều cách khác nhau nhưng khôngđược xa rời, trái lại phải có tác dụng soi tỏ làm rõ cho những vấn đề lí luận:
b.1 Bài Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)
*.Nội dung khách quan của tác phẩm
- Bức tranh thiên nhiên ngày hè sinh động, đầy sức sống và khát vọng của thi nhân về
Trang 17- Hình thức nghệ thuật bài thơ: có nhiều cách tân: thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, ngắtnhịp linh hoạt, hình ảnh gần gũi, bình dị, ngôn ngữ gợi cảm: đùn đùn, giương, phun, tiễn,biện pháp tu từ: đảo ngữ, dùng điển tích, điển cố.
b.2 Bài ĐọcTiểu Thanh Kí (Độc Tiểu Thanh Kí) của Nguyễn Du
*.Nội dung khách quan của tác phẩm - Hiện thực mà Nguyễn Du đã phản ánh, lí giảitrong tác phẩm
- Số phận trái ngang, trớ trêu, bất hạnh của nàng Tiểu Thanh: cái chết oan khuất, cuộcđời dở dang, đứt đoạn, bi kịch tài hoa, bạc mệnh
- Số phận, bi kịch của bao người phụ nữ tài hoa trong xã hội cũ (HS có thể liên hệ vớinhững sáng tác khác của Nguyễn Du)
- Số kiếp oan nghiệt của những con người tài hoa, tài tử trong đó có nhà thơ
* Tình, cảm xúc của đại thi hào trong bài thơ
- Đau đớn, xót thương, đồng cảm cho nàng Tiểu Thanh và những người phụ nữ nhỏ bé,bất hạnh trong xã hội
- Đặc biệt thương cảm những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh
- Tự nhận mình cùng hội, cùng thuyền với những người tài tử, tài hoa
- Lo lắng, băn khoăn cho số phận của mình ở tương lai và khao khát có được sự tri âm,đồng điệu
- Oán hận trước hiện thực đen tối, bất công của xã hội
> Cả bài thơ là tiếng khóc lớn, khóc vì thương người, tiếc tài, khóc cho mình và bao sốkiếp tài hoa, tài tử trong xã hội phong kiến Từ đó mà cất lên tiếng nói đòi quyền sốngcho những người nghệ sĩ, những người đã cống hiến cho cuộc đời những giá trị tinh thầncao quý Đó chính là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm
- Hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú hàm súc, cô đọng, ngôn từ chính xác,biểu cảm, nghệ thuật đối, câu hỏi tu từ được khai thác hiệu quả
3 Mở rộng.
Trang 18- Đối với người sáng tác: khi viết phải luôn có ý thức tôn trọng hiện thực, trau dồi nhâncách để định hướng đúng cho tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm Quan trọng nhất là tìnhcảm nhân văn nhằm hướng đến mọi người, vì con người Đây là điều quyết định sự sốngcòn của một tác phẩm văn học.
- Đối với người tiếp nhận: khi tiếp cận tác phẩm văn học là tiếp cận một thế giới mở, thếnên phải ý thức khám phá cái hay cái đẹp, lắng nghe những thông điệp tư tưởng, tìnhcảm sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
Bàn về “Truyện Kiều”, giáo sư Trần Đình Sử khẳng định: “Truyện Kiều là tiếng nói thương thân, xót thân vào bậc nhất trong văn học trung đại Việt Nam”.
Anh /chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua hai đoạn trích “Trao duyên” và “Nỗi thương mình” (Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du), anh /chị hãy làm sáng tỏ nhận
Tiếng nói thương thân, xót thân này chính là biểu hiện của “con người tự ý thức” trong
“Truyện Kiều”, là dấu hiệu cho thấy sự trỗi dậy của con người cá nhân trong văn học, là
một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Du thể hiện trong tácphẩm
=> Ý kiến khẳng định giá trị mới mẻ, lớn lao, sâu sắc của “Truyện Kiều” trong việc cất lên “tiếng nói thương thân, xót thân” của con người cá nhân tự ý thức.
b, Tại sao?
- Tại sao GS Trần Đình Sử có thể khẳng định: “Truyện Kiều là tiếng nói thương thân, xót
thân vào bậc nhất trong văn học trung đại Việt Nam”:
+ Thực ra, trong VHTĐ Việt Nam, đây đó ta cũng đã bắt gặp vài ba tiếng nói thương
thân, xót thân của Hồ Xuân Hương, song không nhiều Chỉ đến “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du, tiếng nói ấy mới trở nên tập trung, cô đọng và rõ nét nhất
+ Lí do: Truyền thống nhân đạo của VHVN, XHPK thời Nguyễn Du sống, vấn đề thânphận, quyền sống của con người- đặc biệt là người phụ nữ- trở nên nhức nhối…, sự nhạy
Trang 19cảm của một thiên tài, tất cả kết đọng tạo nên một áng Kiều bất hủ, tạo nên tiếng nói
thương thân, xót thân vào bậc nhất trong văn học trung đại Việt Nam.
c, Biểu hiện:
- Trong “Truyện Kiều”, rất nhiều lần người đọc bắt gặp nhân vật hoặc Nguyễn Du kêu
lên cho thân xác, thân phận con người bị chà đạp phũ phàng Ví dụ:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi!
Những là oan khổ lưu ly
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!”
hoặc:
“ Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến thân!”
hay:
“Thân ta ta phải lo âu”
“Thân lươn bao quản lấm đầu”
“Xót thay đào lý một cành
Một phen mưa gió tan tành một phen”
- Cùng với việc xuất hiện dày đặc từ “thân”, những từ thể hiện sự tự ý thức của con người cá nhân trong “Truyện Kiều” cũng rất nhiều Đó là những từ như: “phận”,
“mình”, “riêng” VD:
Đau đớn thay phận đàn bà
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình
Phận dầu dầu vậy cũng dầu
Lòng riêng lớp lớp sóng dồi
Trang 20Có thể nói con người cá nhân tự ý thức về nỗi đau thân phận là một trong những điểm
mới mẻ, sâu sắc trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.
2, Chứng minh:
“Trao duyên” và “Nỗi thương mình” là hai đoạn trích rất tiêu biểu thể hiện tiếng nói
thương thân, xót thân vào bậc nhất trong văn học trung đại Việt Nam.
- Biểu hiện của tiếng nói tự thương thân, xót thân trong “ Trao duyên ”:
+ Kiều tự xót xa cho thân phận mình, tự thấy mình là “người mệnh bạc”, tự thấy mình còn sống mà như đã chết, đã “mất người”:
“Dù em nên ngày xưa”
+ Hình dung ra một tương lai không xa: Thúy Vân hạnh phúc bên Kim Trọng, còn linh
hồn nàng trở về trong ngọn gió, không siêu thoát được vì còn “mang nặng lời thề” Kiều thấy rõ nỗi đau khổ của mình- “người thác oan”:
“người thác oan”, “phận bạc như vôi” Tiếng nói thương thân, xót thân gắn liền với bikịch tình yêu tan vỡ, trao duyên nhưng không thể trao tình, thậm chí duyên đã trao đi màtình càng thêm nặng Vậy mới càng thấy bi kịch tình yêu, vậy mới càng thấy rõ tấm lòng
vị tha, đức hi sinh và tình yêu sâu nặng của Kiều dành cho Kim Trọng
- Đánh giá:
Người xưa thường không trọng thân, xót thân, thậm chí có xu hướng xem thân thể cha
mẹ cho là một cái gì đó rất phù du Trong VHTĐ, khi nhân vật làm việc nghĩa, họ thường
có cảm giác thanh thản, hạnh phúc, thậm chí không biết đến nỗi đau thể xác hay tinh thần(VD: Ngọc Hoa cắt thịt dâng mẹ mà không thấy đau ) Song Kiều của Nguyễn Dukhông có được niềm hạnh phúc ấy Chính nỗi đau thân phận, tiếng nói thương thân, xótthân đã làm cho Kiều của Nguyễn Du gần gũi, rất người với chúng ta Chính tiếng nóithương thân, xót thân mới càng làm cho phẩm chất của Kiều ngời sáng hơn bao giờ hết,bởi biết tự “thương thân, xót thân” là thế nhưng nàng vẫn hi sinh tất thảy vì hạnh phúccủa người mình yêu
- Biểu hiện của tiếng nói tự thương thân, xót thân trong “Nỗi thương mình”:
Trang 21+ Tự thức tỉnh, tự xót xa, thương cảm cho thân phận mình:
“Khi tỉnh rượu xót xa”
+ Nuối tiếc quãng thời gian tươi đẹp trong quá khứ, xót xa cho thân xác bị chà đạp, nhânphẩm bị đọa đày trong hiện tại:
“Khi sao bấy thân”
+ Thương thân mình không có niềm vui, hạnh phúc trong cảnh ngộ phải mua vui chokhách làng chơi:
Biết thương thân, xót thân trên cả hai khía cạnh: thân thể và thân phận, thân xác và nhân
phẩm của bản thân, đó là điều mới mẻ chưa từng có trong VHTĐ Việt Nam Nó chứng tỏ con người cá nhân tự ý thức rất cao của nhân vật, và cũng chính là cái nhìn nhân đạo sâu
sắc, mới mẻ của Nguyễn Du Lần đầu tiên trong văn học, một người đàn ông và lại là
người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình bày tỏ tấm lòng đồng cảm, xót thương chongười phụ nữ làm thân phận kĩ nữ nhục nhằn Lần đầu tiên một người đàn ông quan tâm,nâng niu, xót xa khi thân xác con người bị đày đọa, nhân phẩm con người bị chà đạp
Tiếng nói thương thân, xót thân ấy thực ra xuất phát từ thái độ trọng thân, đề cao thân
(thân xác, thân thể, thân danh, thân phận con người)- một biểu hiện của tấm lòng nhân
đạo “nghĩ suốt nghìn đời” của Nguyễn Du.
3, Bình luận:
- Khẳng định ý kiến đúng đắn
- Mở rộng: Ý nghĩa của tiếng nói thương thân, xót thân với nhân vật (làm nên kiểu nhân vật nếm trải, con người tự ý thức, báo hiệu sự trỗi dậy của ý thức cá nhân); với tác phẩm (làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc), với nhà văn (dấu hiệu của một nhà “nhân đạo từ trong cốt tủy”); với nền văn học (tạo nên “một lỗ thủng” tấn công vào thành trì “phi ngã” đang
sẵn lung lay)
- Bài học với người sáng tác và nghệ sĩ
Khi bàn về ngôn ngữ Truyện Kiều, trong bài “Nguyễn Du, một nghệ sĩ lớn”, Hoài Thanh có viết :
Trang 22“Người đọc xưa nay vẫn xem Truyện Kiều như một hòn ngọc quí cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một lần nào lỡ nhịp ngang cung”
Bằng cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích “Trao duyên”, trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, anh/ chị hãy trình suy nghĩ của mình về ý kiến trên
về thế giới, về cuộc đời, về con người, người nghệ sĩ thường tìm đến hình thức nghệthuật độc đáo, mới mẻ Có như thế, tác phẩm văn chương mới có thể diễn tả được những
cung bậc cảm xúc, suy ngẫm tìm được những tâm hồn đồng điệu của người đọc xưa nay.
- Ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò hết sức quan trọng trong Truyện Kiều, góp phần làmnên sức sống Truyện Kiều và giúp cho thiên truyện mãi trường tồn với thời gian
2 Chứng minh tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong trích đoạn “Trao duyên” trích Truyện Kiều
a Ngôn ngữ đoạn trích được chọn lọc chính xác, hình tượng, biểu cảm, hàm súc…tới mức hoàn thiện
+ Ngôn ngữ giàu tính hình tượng tái hiện sống động khung cảnh Trao duyên, khiến nhân
vật hiện lên sinh động như hiện hữu ngoài đời: ngồi lên, lạy, sẽ thưa… … gợi không
gian, thời gian, tư thế, thể hiện tình huống đặc biệt, bất thường- trao duyên “khó xử- khó
nói- khó trao”, gợi lên dáng điệu mảnh mai, yếu ớt, đau khổ của Kiều Ngôn ngữ hàm
súc, dồn nén, chỉ vẻn vẹn bốn câu đầu đoạn trích đã tái hiện đầy đủ có cả công việc cầnphải bàn giao, cả người nhận bàn giao và hoàn cảnh éo le mà Thuý Kiều cần nhờ cậy…
+ Ngôn ngữ biểu cảm làm sống dậy những cung bậc cảm xúc của nhân vật: của chung,
của tin, xót lòng, ắt lòng, phận sao, đã đành, ơi, hỡi…, thể thơ lục bát tạo âm hưởng trầm
lắng xót xa, nhịp ngắt như giằng đi xé lại thể hiện sự dày vò vì tình yêu bị chia rẽ, nỗi xót
xa vì tình yêu tan vỡ, sự hoảng hốt vì tương lai bất trắc, đớn đau Đồng thời ngôn ngữbiểu cảm còn thể hiện cảm xúc của tác giả Nguyễn Du dường như nhập thân vào Kiều,
“cảm thông lạ lùng” với từng cung bậc tâm trạng đớn đau của nhân vật khi phải Trao
Trang 23+ Vẻ đẹp ngôn ngữ của đoạn trích còn thể hiện ở tính cá thể hóa Mỗi trường đoạn tâm
trạng một kiểu ngôn ngữ riêng Ban đầu là ngôn ngữ tự sự, lý tính: Kiều đã rất can đảm
và nghị lực, thông minh khéo léo, cố nén nỗi đau tỉnh táo thuyết phục em Nhưng sau đóngôn ngữ mang tính trữ tình, thậm chí đầy mâu thuẫn thể hiện tâm trạng Kiều bị giằng xé
dữ dội, xót xa ân hận, day dứt giày vò Khi nỗi đau lên đến đỉnh điểm, Kiều rút hết sứclực cuối cùng ngất đi trong tiếng kêu não nùng, tiếng kêu như mê sảng “ Ôi Kim Lang!Hỡi Kim Lang/ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
b Ngôn ngữ đoạn trích sáng tạo biến hóa:
- Sự kết hợp nhuần nhuyễn sáng tạo ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân:
+ Ngôn ngữ bác học: Nguyễn Du sử dụng từ Hán Việt, điển tích điển cố nhuần nhuyễn,
tự nhiên như: keo loan, tương tư, mệnh bạc, bồ liễu, dạ đài, thác, …
+ Ngôn ngữ bình dân: từ thuần Nôm gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân
lao động: cậy, chịu, lạy, của chung…; vận dụng ca dao tục ngữ, thành ngữ( tơ duyên
ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi…) các thán từ, từ chỉ số nhiều( ôi, hỡi, trăm nghìn gửi lạy…) sử dụng những câu thơ chủ yếu là hư từ như Mai sau dù có bao giờ,…
=> Sự kết hợp hài hòa giữa ngôn từ bác học và ngôn từ bình dân (như: Giữa đường đứt
gánh tương tư, Hồn còn mang nặng lời thề,…) khiến màn Trao duyên vừa thiêng liêng
trang trọng, vừa thể hiện thế giới tâm trạng của Kiều chân thực sống động
- Sử dụng linh hoạt sáng tạo ngôn ngữ đối thoại, độc thoại Nếu như màn Trao
duyên trong “Kim Vân Kiều truyện” (Thanh Tâm Tài Nhân) là cuộc đối thoại của hai chị
em Thúy Vân- Thúy Kiều thì màn Trao Duyên trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), Thúy
Vân không nói một lời nào, chỉ có Kiều bộc bạch nỗi lòng
+ Ban đầu, Kiều tâm sự và thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim: Kiều sử
dụng ngôn ngữ đối thoại
+ Sau đó, Kiều trao kỉ vật cho Vân: Kiều sử dụng ngôn ngữ nửa đối thoại, Kiều nói với
Vân mà cũng là nói với mình.
+ Kết thúc, Kiều đối diện với tình yêu tan vỡ: ngôn ngữ của Kiều chuyển sang độc
thoại.
=> Sự linh hoạt trong ngôn ngữ đã diễn tả sinh động nỗi niềm tâm trạng đau đớn củaKiều Sự chuyển đổi này tạo ra một ngôn ngữ trữ tình đa âm, đa giọng, một điều rất hiếmthấy trong văn học Trung đại Đây chính là một sáng tạo nghệ thuật truyện tuyệt vời củaNguyễn Du so với truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và so với văn chương đương thời
3 Đánh giá, bài học :
- Đoạn trích Trao duyên nói riêng và Truyện Kiều nói chung có thể coi là tuyệt bút, thể
hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du Nguyễn Du đã học tập, trau
Trang 24dồi và vận dụng sáng tạo lời ăn tiếng nói của nhân dân, nâng ngôn ngữ Tiếng Việt lênmột tầm cao mới như “ hòn ngọc quý”, “tiếng đàn lạ” Không rèn câu, luyện chữ thìkhông thể tạo ra những tác phẩm có giá trị Chính tinh thần dân tộc, tình yêu tiếng Việt
và quan trọng hơn là tài năng nghệ thuật qua quá trình khổ luyện của Nguyễn Du đã làmnên giá trị bất hủ và sức sống Truyện Kiều
- Nhưng đằng sau những con chữ phải là “con mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt
cả nghìn đời”, “ máu rỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” ( Mộng liênđường chủ nhân) Chính vì vậy, để ngôn ngữ Truyện Kiều thăng hoa trở thành “hòn ngọcquí”, “tiếng đàn lạ” cần đến cái “tài” nhưng quan trọng hơn hết là cái “tâm”của ngườinghệ sĩ vĩ đại- nhà nhân đạo từ trong cốt tủy
Nhà văn Anh, A.L Huxley cho rằng:
Văn học giống như ánh sáng, nó có thể xuyên thấu mọi thứ.
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên Bằng hiểu biết về kiệt tác Truyện Kiều của thi hào dân tộc Nguyễn Du hãy làm sáng tỏ quan điểm của mình.
1 Giải thích:
- Ánh sáng: là gợi ra vẻ đẹp lung linh, kì diệu và có khả năng soi rọi, chiếu tỏ.
- Văn học giống như ánh sáng, nó có khả năng xuyên thấu mọi thứ: “Ánh sáng”
của văn học là vẻ đẹp của cảm xúc, tư tưởng, hình thức nghệ thuật…mà nhà văn đãchuyển hóa vào trong tác phẩm Ánh sáng ấy có khả năng kì diệu trong việc soi sángnhận thức, thắp sáng niềm tin, nâng cao hiểu biết của con người; để lại những ấn tượngsâu sắc và có giá trị lâu dài Luồng ánh sáng của văn học có thể “xuyên thấu”, chiếu tỏ,soi rọi vào mọi phương diện, mọi ngóc ngách của đời sống
Như vậy, bằng lối diễn đạt so sánh, ý kiến đã đề cập đến chức năng của văn học đốivới đời sống con người
2 Bàn luận:
- Văn học là hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mĩ Vì thế, thẩm mĩ là mộttrong những chức năng cơ bản nhất của văn học Nó được biểu hiện khi tác phẩm vănhọc đem lại cho người đọc khoái cảm trước cái đẹp của đời sống mà nhà văn khám phá,thể hiện Đó là cái đẹp được chọn lọc, chưng cất, nhân lên nhiều lần như một thứ “ánhsáng” diệu kì, đầy sức hấp dẫn.Văn học không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của conngười, mà còn giáo dục thẩm mĩ, giúp con người có khả năng hành động và sáng tạo theoquy luật của cái đẹp
- Văn học nghệ thuật tồn tại với tư cách là một hình thái nhận thức, có tác dụng soisáng, mở rộng sự hiểu biết cho con người Văn học đưa ta tới những chân trời hiểu biết
Trang 25mới, giúp ta hiểu hơn về cuộc sống con người ở mọi không gian và thời gian Từ đó giúp
ta soi chiếu, liên hệ, nhận thức về chính bản thân mình
- Văn học thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, làm bừng sáng nhận thức của con ngườicũng chính là văn học đang mở đường cho đạo đức, giúp con người hướng thiện và hoànthiện nhân cách
- Về nội dung tư tưởng, Truyện Kiều là kết tinh những cảm xúc, suy tư của một
người nghệ sĩ có trái tim nhân ái, bao dung đã cầm bút viết lên những trang thơ có tác
động mạnh mẽ đến tâm hồn người đọc Đến với Truyện Kiều, con người được thỏa mãn
nhu cầu thẩm mĩ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn, tài năngcủa con người Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong tác phẩm còn có khả năng soi sáng,giúp cho người đọc nhìn lại mình để hoàn thiện những phẩm chất tốt đẹp như: hiếu thảo,
thủy chung, vị tha Truyện Kiều còn đưa ta trở về quá khứ, hiểu hơn về cuộc sống của
con người trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, cảm thông với những nỗi đau khổ,
đồng cảm với ước mơ và khát vọng công lí của họ Truyện Kiều còn chứa đựng một thứ
ánh sáng đặc biệt có thể chiếu rọi đến những chỗ sâu kín nhất của tâm hồn con người,phát hiện ra những góc khuất, những bi kịch giằng xé, mâu thuẫn nội tâm không dễ nói racủa con người…
- Về nghệ thuật, Truyện Kiều đạt được nhiều thành tựu đặc sắc, độc đáo: nghệ thuật xây
dựng nhân vật, kết hợp hài hòa yếu tố tự sự và trữ tình, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng
ngôn ngữ Nói như Nguyễn Đình Thi thì “ngôn ngữ của Truyện Kiều là thứ ngôn ngữ
của ánh sáng”, nó không chỉ đẹp mà còn hàm chứa những tầng ý nghĩa sâu sắc…
4 Mở rộng, nâng cao vấn đề:
- Chỉ những nhà văn có trách nhiệm với cuộc đời, với ngòi bút mới luôn ý thức vềchức năng cao quý của văn học mỗi khi sáng tạo Mỗi tác phẩm của họ ra đời cũng vì thế
mà có tư tưởng sâu sắc, có ý nghĩa lớn lao đối với con người và cuộc đời
- Ý kiến khẳng định tác dụng kì diệu của văn học đối với con người và cuộc sống
Nó cũng nhắc nhở mỗi nhà văn về thiên chức và sứ mệnh cao cả của người cầm bút trongquá trình sáng tạo
5 Đánh giá tổng kết vấn đề bàn luận
Trang 26“Xuyên qua ngôn ngữ, người ta có thể khám phá, cảm nhận được hiện thực” (Cao Hành Kiện – Xích lại gần với hiện thực)
Anh/ chị hiểu ý kiến trên thế nào Hãy chọn một tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn 10 làm sáng tỏ.
a Giải thích
- Cao Hành Kiện là một trong những nhà văn nổi tiếng Trung Quốc sống tại Pháp Năm
2000, ông đã được Viện Hàn Lâm Thụy Điển chọn để trao giải thưởng Nobel văn học.Tác phẩm của ông được đánh giá “mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểuthuyết và sân khấu Trung Quốc” Bằng những trải nghiệm sâu sắc về nghệ thuật vànắm vững lý luận sáng tác, ông cho rằng: “Xuyên qua ngôn ngữ, người ta có thể khámphá, cảm nhận được hiện thực” Câu nói đã khái quát đặc trưng về mặt chất liệu củavăn học và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với hiện thực đời sống
- Xuyên qua ngôn ngữ: ngôn ngữ chính là chất liệu thứ nhất của văn học Nếu như hộihọa lấy chất liệu là đường nét, màu sắc; âm nhạc lấy chất liệu là âm thanh, giai điệu thìvăn học lấy chất liệu phản ánh là ngôn ngữ Ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ đờisống nhưng đã được chắt lọc, gọt giũa thành những hạt bụi vàng Ngôn ngữ văn họcmang những đặc điểm riêng như: tính hình tượng, tính đa nghĩa, tính phi vật thể… Vớinhững đặc điểm ấy, ngôn ngữ trở thành phương tiện biểu đạt tư tưởng, tình cảm nhàvăn
- Tuy nhiên, Cao Hành Kiện nhấn mạnh là “xuyên qua” có nghĩa rằng ngôn ngữ là chấtliệu, yếu tố thứ nhất của văn học nhưng không phải đích đến Đích đến của văn họcphải là hiện thực
- Cho nên, nhà văn khẳng định ở vế sau: “người ta có thể khám phá, cảm nhận đượchiện thực” Nếu người ta cắt đứt sợi dây liên lạc với hiện thưc, ngôn ngữ sẽ trở thànhmột đối tượng, một dụng cụ, nó sẽ không tồn tại sự sống
→ Câu nói của Cao Hành Kiện đã thể hiện một quan niệm đúng đắn về ngôn ngữ: ngônngữ trong văn học phải là phương tiện để biểu đạt hiện thực Đó có thể là hiện thực xãhội cũng có thể là hiện thực tâm hồn con người
b Chứng minh
HS có thể tự chọn tác phẩm nhưng khi phân tích cần đảm bảo định hướng: phân tích đi từhình thức ngôn ngữ đến nội dung được biểu đạt
- Ngôn ngữ dẫn lối ta đến với hiện thực tâm hồn con người
- Thông qua hiện thực tâm hồn, ta hiểu sâu sắc hơn về hiện thực xã hội
Tiếng than và những giọt nước mắt qua một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 10.
Trang 27- Than, khóc là biểu hiện trạng thái tâm lí xúc động mạnh của con người Trong tác phẩm
văn học, nó xuất hiện khi các nhân vật ở vào hoàn cảnh, tình huống đầy éo le, đau khổ không thể kìm nén buộc phải bật lên tiếng than, tiếng khóc
- Tiếng than, giọt nước mắt trong tác phẩm văn học thể hiện thái độ, tình cảm của tác giảtrước số phận con người Đó chính là một biểu hiện của giá trị nhân đạo của tác phẩmvăn chương
* Phân tích, chứng minh
- Thí sinh có thể chọn một số tác phẩm (Độc Tiểu Thanh kí,…) hoặc trích đoạn như Trao
duyên (Truyện Kiều), Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị
Điểm),… để phân tích từ đó làm nổi bật được hoàn cảnh nảy sinh; trạng thái và các cungbậc của tiếng than, tiếng khóc; thái độ tác giả, thái độ bản thân,…
* Đánh giá, khái quát
Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tấm lòng người viết (Hoàng Minh Châu)
Anh / chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm sáng tỏ quan điểm của mình qua bài thơ
“Cảnh ngày hè” (“Bảo kính cảnh giới” số 43) của Nguyễn Trãi.
1 Giải thích
- “Thơ khởi sự từ tâm hồn” “Khởi sự” được hiểu là bắt đầu, là nguồn cội Theo Hoàng
Minh Châu: thơ được khơi lên từ tâm hồn người nghệ sĩ Cụ thể là từ những rung độngtrong tâm hồn người nghệ sĩ trước cuộc sống Những người làm thơ luôn coi tâm hồn lànơi khởi đầu của thơ ca
Lí giải:
+ Là thể loại nghệ thuật trữ tình, thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, củatrí tưởng tượng phong phú, nên thơ thường bắt đầu từ những tình cảm, cảm xúc của nhàthơ rung động trước cuộc sống Đây là một đặc điểm quan trọng để phân biệt thơ vớinhững thể loại văn học khác:
+ Phản chiếu thế giới tâm hồn, nên thơ là tiếng nói cảm xúc của cái tôi trữtình của nhà thơ
Trang 28- Thơ “khởi sự từ tâm hồn” nhưng không chỉ là thể hiện những cảm xúc thuần túy, thơ
còn phải “vượt lên bằng tầm nhìn” Nghĩa là ngoài cảm xúc, thơ còn phản ánh tư tưởng,
quan điểm của nhà thơ về cuộc sống – một biểu hiện tính tư tưởng của tác phẩm thơ
Bi-ê-lin-xki cho rằng: “Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng đồng thời phải là nhà
tư tưởng”
- Theo Hoàng Minh Châu “thơ khởi sự tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn”, nhưng điều
cốt lõi để thơ “đọng lại”, cách nói ẩn dụ để chỉ sức sống của thơ, chính là “tấm lòng
người viết” “Tấm lòng người viết” mà Hoàng Minh Châu nhắc đến ở đây chính là tình
cảm chân thực mang ý nghĩa nhân văn mà nhà thơ dành cho con người, cho cuộc sống
Đó là những yêu thương, là đồng cảm, trân trọng mà nhà thơ hướng đến những đốitượng được nói đến trong tác phẩm thơ
Cả 3 yếu tố nói trên làm nên giá trị đích thực của thơ nói riêng và văn học nói chung
2 Bình luận
Ý kiến của HMC tựu chung lại là cách đánh giá về cội nguồn sâu xa để làm nên giá trịđích thực của thơ Đây là ý kiến hoàn toàn xác đáng, có ý nghĩa định hướng cho ngườisáng tác và cả người tiếp nhận thơ:
2.1 Đối với người làm thơ:
- Trước mỗi hiện tượng cuộc sống, tâm hồn nhạy cảm của người làm thơ thường cónhững rung động, cảm xúc sâu xa
- Thơ bắt nguồn từ những cảm xúc sâu xa của nhà thơ về cuộc sống, nên thơ cũng gópphần khơi gọi, hé lộ phần nào thế giới tâm hồn của nhà thơ Nó giúp người đọc cảm nhậnđược những rung động tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ trước thiên nhiên, trước cuộc sống
Để từ đó, người đọc cũng hòa nhịp với những rung động ấy ở nhà thơ
- Vì thế bản thân người làm thơ phải tự ý thức việc bồi đắp cho thế giới tâm hồn mình cónhững xúc cảm trong sáng, lành mạnh mới mong định hướng cho người đọc những tìnhcảm lành mạnh
Không chỉ khơi gợi những xúc cảm, nhà thơ còn phải định hướng một “tầm nhìn”
-nghĩa là định hướng tư tưởng tích cực cho người đọc thơ
Nhà thơ NĐT cho rằng: “Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, vì bất cứ cảm xúc, tình tự nào
của con người cũng dính liền với suy nghĩ”
+ Tác phẩm thơ, cũng như mọi tác phẩm văn học khác, là hình ảnh chủ quan củathế giới khách quan, nên cũng phải phản chiếu đời sống hiện thực
+ Để thể hiện nội dung tư tưởng, nhà thơ cần có một cái nhìn toàn diện vàsắc sảo về hiện thực cuộc sống: thấy được bản chất cuộc sống, qui luật vận động Từ đóchuyển tải cho người đọc một cái nhìn đúng đắn và tích cực về cuộc sống
Trang 29- Giá trị tư tưởng của bài thơ phải thể hiện cái nhìn mang tính khám phá, phát hiện cóchiều sâu của nhà thơ về con người và cuộc sống Đều này đòi hỏi nhà thơ phải trau dồivốn sống, trải nghiệm cuộc sống để có tầm nhìn rộng và sâu gửi gắm vào tác phẩm.
- Điều cốt lõi để tạo nên giá trị đích thực của bài thơ chính là ở “tấm lòng” người làm
thơ dành cho con người, cho cuộc sống
+ Những rung động tâm hồn hay tư tưởng nhà thơ gửi vào tác phẩm, xét đếncùng phải bắt đầu bằng một tấm tình chân thành nhất mà nhà thơ hướng đến con người
và cuộc sống Nói cách khác là cảm xúc hay tư tưởng mà không bắt đầu từ sự chânthành, chỉ là sự ồn ào, sáo rỗng, chẳng mấy có ý nghĩa với cuộc đời
+ Bản thân nhà thơ phải đặt mình vào bối cảnh cuộc đời, vào hoàn cảnh và
số phận nhân vật, để cảm nhận những cay đắng, ngọt bùi, niềm vui, nỗi buồn thực vàviết về nó bằng sự chia sẻ, cảm thông, hay ngợi ca một cách thành thực nhất Và đươngnhiên tấm lòng ấy của nhà thơ sẽ làm rung động trái tim người đọc Tiếng nói tri âm đi từ
trái tim của nhà thơ đến với trái tim độc giả Và đó là điều “đọng lại” sâu sắc nhất và lâu
bền nhất, yếu tố để làm nên sức sống của bài thơ
2.2 Với người tiếp nhận thơ:
- Đọc thơ phải hiểu tâm hồn thi sĩ, hiểu những rung động sâu xa từ tấm lòng thi sĩ dànhcho con người và cuộc sống
- Nhận thức được những bài học nhân sinh nhà thơ gửi gắm trong sáng tác của mình
- Cảm nhận được cái tài và cái tâm của thi sĩ, ở đó cái tâm là điều cốt lõi, nói như
Nguyến Du “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
3 Chứng minh bằng “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi
Thơ Nguyễn Trãi đúng là “khởi sự từ tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ
tấm lòng người viết”, qua “Cảnh ngày hè” (Bảo kính cảnh giới số 43)
- Tâm hồn Nguyễn Trãi rung động trước cảnh sắc ngày hè với:
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Cảnh sắc làng quê mang đến cho nhà thơ niềm cảm hứng dao dạt khiến ông vượt qua
cả luật lệ nghiêm ngặt của cách làm thơ đương thời để đưa cỏ cây hoa lá đời thường vàothơ Bức họa làng quê của nhà thơ được họa bởi một tấm lòng thiết tha với thiên nhiên,với cuộc sống đời thường
- “Cảnh ngày hè” giống như bao bài thơ khác của Nguyễn Trãi có hơi thở của cuộc sống
nông thôn và những người nông dân Đây chính là sự sáng tạo của ông so với những ước
lệ, tượng trưng, thi liệu, văn liệu quen thuộc của thơ trung đại Ông đưa vào bài thơ tất cả
Trang 30những cỏ, cây, hoa, lá bình dị của đời sống thực ở nông thôn Việt Nam với “hòe lục”,
“thạch lựu”, “hồng liên” và những hình ảnh, âm thanh quen thuộc của làng quê với
“lao xao chợ cá”; “dắng dỏi cầm ve”; “lầu tịch dương”
Chính những điều này đã góp phần thể hiện tư tưởng nhân nghĩa cao cả của Ức Trai
- Điều ấn tượng nhất “đọng lại” trong tâm hồn người đọc, không chỉ là tình yêu quê hương, làng nước, mà còn ở “tấm lòng” ông dành cho chốn quê này: muốn có trong tay
cây đàn vua Ngu Thuấn mà tấu khúc Nam phong ca ngợi cuộc sống thanh bình Phải yêudân, vui buồn với nhân dân nhà thơ mới có nỗi lòng chân thực đó
4 Đánh giá chung
- Ý kiến của tác giả Hoàng Minh Châu đã khái quát được những điều cốt lõi để một tácphẩm thơ khẳng định được chỗ đứng xứng đáng của mình trong lòng độc giả Thơ phảikhởi nguồn từ những xúc cảm của nhà thơ trước cuộc sống; được nâng lên ở một tầm tưtưởng và chắt lọc ra từ tấm chân tình của người nghệ sĩ
- Ý kiến trên cũng đặt ra trách nhiệm với người làm thơ, làm sao phải hài hòa trong thơ
cả cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ Có như thế thơ mới có giá trị đích thực
- Đồng thời mỗi người đọc thơ cũng phải có ý thức trân trọng, nâng niu những đứa continh thần của các nhà thơ
Có ý kiến cho rằng: Thơ ca là tiếng thương vay khóc mướn và tiếng thương thân khóc phận.
Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Qua một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 10 anh/chị hãy làm sáng tỏ vấn đề.
a Dẫn dắt giới thiệu được vấn đề cần nghị luận
b Cách hiểu về ý kiến
* Giải thích
- Thơ ca: Thơ là một trong những nghệ thuật xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người,
là thể loại tiêu biểu cho tinh túy của nghệ thuật ngôn từ Thơ có cấu tạo ngôn ngữ đặcbiệt, thơ là tiếng nói của tâm hồn
- Thương vay khóc mướn: Thương cho người, khóc cho người Tiếng khóc cất lên, giọt
châu của loài người nhỏ xuống trước những cảnh đời bất hạnh, khổ đau
- Thương thân khóc phận: Thương cho mình, khóc cho mình.
→ Nhà thơ xúc cảm trước người mà khóc thương cho người và còn xúc cảm trước chínhnỗi đau của mình mà khóc thương cho mình
Trang 31→ Ý kiến vừa đề cập đến đối tượng, nội dung của thơ ca vừa nói được đặc trưng thơ ca
và tố chất người nghệ sĩ
* Sử dụng kiến thức lí luận văn học để lí giải
- Thơ ca là tiếng thương vay khóc mướn.
+ Cuộc sống vẫn luôn có những cảnh đời khổ đau, bất hạnh Đâu đó vẫn có những nàngKiều, Đạm Tiên, người chinh phụ, người cung nữ…Mà cuộc sống là ngọn nguồn cảmhứng dồi dào cho thi ca
+ Thi nhân là những người hơn người Sợi tơ lòng của họ rất dễ rung động trước những
khổ đau của người khác…
+ Sứ mệnh của thơ ca, thiên chức cao quý của người nghệ sĩ là luôn cúi xuống nỗi đau của con người với tấm lòng của một người mẹ…
- Thơ ca là tiếng thương thân khóc phận.
+ Bản thân nhà thơ cũng là một con người giữa cuộc đời rộng lớn này, họ nhạy cảm vớinỗi khổ của người khác và với nỗi đau của chính mình
+ Người nghệ sĩ thường tìm đến với thơ để giãi bày, thổ lộ lòng mình với mọi cung bậccảm xúc, tình cảm…
+ Khóc thương cho người là nhân đạo Tự thương mình cũng là một biểu hiện của tưtưởng nhân đạo gắn liền với sự tự ý thức về cái cá thể chính đáng của bản thân…
c Làm sáng tỏ vấn đề qua một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 10
Đề bài không yêu cầu tác phẩm cụ thể song bắt buộc HS phải lấy tác phẩm Độc Tiểu
Thanh kí của Nguyễn Du HS nào lấy tác phẩm khác nếu làm sáng tỏ được một ý cho nửa
số điểm
* Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du là tiếng thương vay khóc mướn Độc Tiểu Thanh
kí là tiếng khóc lớn Nguyễn Du khóc thương cho một người cách xa vời vợi cả về thời
gian và không gian Khóc cho một người rồi khóc cho mênh mông muôn kiếp Khóc choxưa và khóc cho nay Khóc cho những người mắc nỗi hờn kim cổ, khóc cho những phi língàn đời của người tài sắc, khóc thương cho quyền sống của người nghệ sĩ… Bài thơ làtiếng khóc lớn của một trái tim nhân đạo cao cả…
* Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du là tiếng thương thân khóc phận.
- Mạch thơ vận động từ khóc người thương người sang khóc mình thương mình Câu thơ
thứ 6 có vị trí chuyển tiếp mạch thơ: từ tiếng thương vay khóc mướn sang thương thân
khóc phận Tiếng khóc thương mình gắn với nỗi niềm cô đơn, khát khao được tri âm,
d Bàn luận mở rộng và ý nghĩa của vấn đề
* Bàn luận mở rộng.
Trang 32- Tiếng thương vay khóc mướn và thương thân khóc phận trong thơ ca hay văn xuôi luôn
phải chân thành, xuất phát tự đáy lòng mình
- Không phải bài thơ nào cũng âm vang cả tiếng khóc người và khóc mình…
- Khóc thương là buồn đau, xót xa nhưng những tiếng khóc ấy bao giờ cũng cần phảihướng được người đọc đến những tình cảm đẹp đẽ, cao thượng…
- Thơ có khi là nước mắt đắng cay nhưng cũng có khi là những nụ cười hạnh phúc…
* Ý nghĩa của vấn đề:
- Nhà thơ cần phải sống, phải rộng mở lòng mình…
- Người đọc đến với thơ bằng trái tim để lắng nghe tiếng nói từ trái tim…
e Nhận xét, đánh giá chung
Trong “Đối thoại mới”, Chế Lan Viên viết:
“Cái kết tinh của một vần thơ và muối bể
Muối đọng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu”
Anh / chị hiểu thế nào về quan niệm thơ của Chế Lan Viên? Bằng cảm nhận và hiểu biết cá nhân, hãy phân tích một bài thơ thuộc phần văn học trung đại Việt Nam mà anh / chị đã học (đã đọc) để làm rõ ý kiến của mình.
1 Xác định vấn đề đặt ra trong câu thơ của Chế Lan Viên:
- “Muối biển”: kết tinh vị mặn của biển và lao động của con người
- “Ô nề”: nơi hạt muối được lắng kết lại, hoàn tất quá trình từ vị biển chuyển thành vịmuối qua lao động của diêm dân
- “Muối thơ”: kết tinh vị đời và lao động nghệ sĩ Tuy nhiên, cần hiểu rõ: lao động nghệ
sĩ không chỉ là lao động chữ nghĩa mà còn là sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ, trăn trở
mà nhà thơ có khi đối diện với cuộc sống, khi sống giữa đời và trải nghiệm công cuộclàm người
- “Bề sâu”: phần cốt lõi, bên trong, phần tạo nên chiều sâu của mỗi bài thơ Xét từ đặctrưng thơ ca, cái tạo nên chiều sâu cốt lõi bên trong mỗi bài thơ chính là cảm xúc, tưtưởng mà nhà thơ gửi gắm
Từ đó có thể hiểu: “muối thơ” chính là cảm xúc, tư tưởng lắng kết trong bài thơ Và điềutạo nên chất thơ của thơ cũng chính là cảm xúc, tư tưởng, là thông điệp tinh thần mà nhàthơ gửi gắm Chất thơ của thơ phụ thuộc vào việc thông điệp ấy có nhân văn hay không,
có hướng con người tới những vẻ đẹp của đời, của người hay không (hoàn thiện một giátrị tinh thần) Chất thơ cũng còn phụ thuộc vào cách nhà thơ chuyển tải thông điệp của
Trang 33mình: lựa chọn từ ngữ, hình ảnh, xây dựng hình tượng, tổ chức kết cấu, nhịp điệu, nhạcđiệu cho lời thơ (hoàn thiện ở hình thức biểu hiện của giá trị tinh thần ấy)
2 Phân tích một bài thơ để làm rõ ý kiến:
- Mỗi thí sinh có quyền có lựa chọn riêng, miễn là chọn được bài thơ hay để phân tích.
- Mục đích chính của quá trình phân tích đó là làm rõ chất “muối” của thơ trong thơ Đểlàm được điều này, thí sinh cần đi từ ngôn ngữ, hình ảnh, hình tượng mà cảm nhận tâmhồn, tấm lòng và thông điệp mà nhà thơ gửi gắm
3 Đề xuất ý kiến về thơ và quá trình đọc thơ, cảm thơ:
- Nhà thơ, để tạo nên chất “muối” cho thơ, cần có đời sống tình cảm phong phú, sâu sắc,mãnh liệt, cũng cần sự khổ công lao động để tạo nên một hình thức nghệ thuật thật sựhấp dẫn
- Bạn đọc khi đến với thơ không chỉ cần trí tuệ, vốn văn hóa mà còn cần cả một tâm hồnnhạy cảm, tinh tế, phải “lấy hồn ta để hiểu hồn người” Con đường đến với chiểu sâu củathơ ca cũng có những quy tắc riêng Lưu Hiệp, trong “Văn tâm điêu long” có nói:
“Người làm văn, tình cảm rung động mà phát ra lời Người xem văn phải rẽ văn để thâmnhập vào tình cảm” Đọc thơ, cần đọc được cái “bề sâu” trong mỗi bài thơ Song để
“đọc” ra được cái “bề sâu” ấy cũng cần phải đi qua lớp ngôn từ, hình ảnh, hình tượng Nghĩa là, từ hình thức bên ngoài để cảm ra, luận ra, hiểu ra cái lắng kết ở bên trong Làmđược điều đó, người đọc thơ mới có thể trở thành tri âm với người viết
- Ý kiến của Chế Lan Viên đề cập đến nội dung tư tưởng của thơ Nhưng thơ ca là nghệthuật, nó phải là một “công trình” lộng lẫy về hình thức và sâu sắc về nội dung Nếu chỉ
có tư tưởng không thôi, lời thơ dễ trở thành lời giáo huấn Nếu chỉ có cảm xúc thuần túy,lời thơ cũng khó có thể đi vào lòng người Tư tưởng, cảm xúc phải được chuyển tải bằnghình thức tương ứng thì thơ ca mới trở thành một sinh thể nghệ thuật linh diệu và bất tử
- Ý kiến của Chế Lan Viên gửi gắm trong câu thơ là một gợi mở không chỉ về đặc trưngthơ ca mà còn gợi mở cả con đường và cái đích của việc tiếp nhận thơ ca
Trong bài viết Văn hóa nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, tác giả
Nguyễn Văn Hạnh đã viết:
Dù biến đổi không ngừng qua các môi trường xã hội và lịch sử khác nhau, văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay vẫn đi sâu khai thác hai mặt cơ bản nhất là sự thật
và tư tưởng nhân văn trong cuộc sống con người và xã hội, luôn có một cách nhìn kết hợp thực tế và lý tưởng, cái hiện có và cái nên có, khiến con người nhận chân được thực trạng nhân thế, sống có ước mơ, có khát vọng về chân, thiện, mỹ.
chuong)
Trang 34(http://phebinhvanhoc.com.vn/van-hoa-nguon-mach-sang-tao-va-kham-pha-van-Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Hãy phân tích một tác phẩm văn học dân gian và một tác phẩm văn học trung đại trong chương trình lớp 10 để làm sáng tỏ.
1 Giải thích:
Nhận định bàn về chức năng của văn học:
+ Dù biến đổi không ngừng qua các môi trường xã hội và lịch sử khác nhau: văn học
chịu ảnh hưởng của lịch sử, văn hóa, xã hội Qua mỗi một thời kì, văn học lại mangnhững đặc điểm khác nhau
+ văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay vẫn đi sâu khai thác hai mặt cơ bản nhất là sự thật và tư tưởng nhân văn trong cuộc sống con người và xã hội: văn học luôn nhận thức
và phản ánh đời sống, khai thác và khám phá những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống conngười Tác phẩm văn học giống như lăng kính chân thực tái hiện cuộc sống, người nghệ
sĩ là người thư kí trung thành của thời đại Tuy nhiên văn học không sao chép hiện thực
mà sáng tạo hiện thực, thể hiện thông điệp thẩm mỹ, triết lí nhân sinh mà tác giả muốn
gửi gắm Văn học vì vậy vừa tái hiện thực tế, lại vừa hướng tới lý tưởng, vừa phản ánh
cái hiện có, vừa gửi gắm khát vọng, ước mơ, thậm chí dự báo cái nên có.
+ khiến con người nhận chân được thực trạng nhân thế, sống có ước mơ, có khát vọng
về chân, thiện, mỹ: văn học có chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ Văn học là
cuốn sách bách khoa toàn thư cung cấp cho người đọc tri thức về tự nhiên, xã hội, conngười, định hướng cách sống đúng đắn, bồi đắp tâm hồn, nâng cánh những ước mơ đểcon người hướng cái chân, thiện, mỹ trong cuộc đời
2 Phân tích, chứng minh:
HS chọn một tác phẩm văn học dân gian, một tác phẩm văn học trung đại phù hợp để làm
nổi bật nhận định (chú ý chỉ ra được sự thực và tư tưởng nhân văn, cái hiện có và cái
nên có trong tác phẩm, từ đó làm rõ các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của văn
học)
3 Bàn luận, mở rộng:
+ Để thực hiện được các chức năng của văn học, người nghệ sĩ phải ý thức được thiênchức của người sáng tạo nghệ thuật, phải có cái nhìn chân thực, khách quan, vốn sốngphong phú, dồi dào, đồng thời phải có tư tưởng nhân đạo sâu sắc
“Lịch sử nhiều quốc gia, nhiều đất nước từ lâu đã được viết không chỉ bằng máu, mà còn bằng mực, bằng bút viết trên giấy” (Raxun Gamzatop)
Bằng những hiểu biết về thơ văn Lí – Trần, anh chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về nhận định trên.
1 Giải thích
Trang 35“lịch sử”: trong nhận định của Gamzatop “lịch sử” mang ý nghĩa là hiện thực đời sống
“máu”: biểu tượng cho sự anh dũng chiến đấu và hi sinh để bảo vệ tổ quốc
“bút”, “mực viết trên giấy”: biểu tượng cho tác phẩm văn học, cho nghệ thuật ngôn từ
=> Nhận định đã đề cập đến chức năng phản ánh hiện thực của văn học Đây là chứcnăng cơ bản và quan trọng của văn học nghệ thuật
- Mục đích tối hậu của văn học là cuộc đời, cuộc đời là nơi đi đến của văn học Vì thếcàng bám sát hiện thực (dù là những rung chuyển dữ dội hay những lát cắt bình yên củalịch sử) thì văn học càng trở thành những thước phim quý giá, càng cất lên tiếng nói nhânvăn cao cả, từ đó mà có giá trị hơn với cuộc đời với con người Lịch sử của nhiều đấtnước đã đi vào văn học chính là bởi lẽ đó
3 Chứng minh
Học sinh lựa chọn tác phẩm tiêu biểu của thơ văn Lí-Trần, phân tích để làm rõ nội dungcủa nhận định Cần bám sát vấn đề, tránh phân tích đơn thuần hoặc lan man không địnhhướng
4 Mở rộng, nâng cao
- Phản ánh hiện thực là chức năng cơ bản của văn học Thực hiện tốt chức năng này là cơ
sở để văn học hướng tới chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ,
- Định hướng đối với người sáng tạo: để có thể phản ánh đời sống một cách khái quát vàbản chất nhất, người viết cần phải gắn bó máu thịt với cuộc đời, phải có cái nhìn tinhtường, tinh tế để nắm bắt được huyết mạch của đời sống Đặc biệt, người viết cần phải cótài năng để sáng tạo những hình tượng nghệ thuật điển hình, mang âm vang của thời đại
- Định hướng đối với người tiếp nhận: để có thể lĩnh hội trọn vẹn bức thông điệp thẩm
mĩ trong tác phẩm, người đọc cần tiếp nhận tác phẩm trong mối liên hệ với thời đại mà
Trang 36nó ra đời Đồng thời người đọc cũng cần có nhiều trải nghiệm về đời sống, có ý thức đọc
để tích lũy kiến thức Có như vậy, chức năng phản ánh của văn học mới thực sự hiệu quả,
và văn học mới trở thành “nhân học”
Bàn về một số nét đặc sắc truyền thống của văn học Việt Nam, sách giáo khoa Ngữ
Văn 10 nâng cao, tập 1 (NXB Giáo Dục, H., 2008, tr11) nhận định: “ Một dân tộc luôn phải cầm gươm, cầm súng nhưng thơ văn lại nói nhiều hơn đến nhân nghĩa, tình yêu, đến thân phận con người đặc biệt là phụ nữ trong các xã hội bất công”.
Anh chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ ý kiến qua một
số đoạn trích, tác phẩm văn học đã học trong chương trình Ngữ văn 10 THPT
1 Giải thích
- “ Một dân tộc luôn phải cầm gươm, cầm súng”: Đó là thực tế lịch sử gắn với công
cuộc chống ngoại xâm kiên cường, oanh liệt để bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta
- “Thơ văn lại nói nhiều hơn đến nhân nghĩa, tình yêu, đến thân phận con người đặc
biệt là phụ nữ trong các xã hội bất công”: Văn học là tiếng nói tâm tình của người Việt
Nam Thơ văn trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người, quan tâm tới số phậncủa những kiếp người nhỏ bé, chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi
=> Nhận định trên khẳng định: dù đất nước trải qua nhiều mất mát, đau thương trongchiến tranh, thời nào cũng phải đối mặt với kẻ thù ngoại xâm song văn học Việt Nam vẫnthấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu sắc Lòng nhân ái của người Việt Nam gắn liền vớitruyền thống yêu nước tạo nên mạch nguồn “quán thông kim cổ” (Đặng Thai Mai) cácthời kì văn học Trong dòng văn học nhân đạo, người phụ nữ là một trong những hìnhtượng xuyên suốt nổi bật nhất
2 Bình luận
* Nhận định của SGK Ngữ Văn đã đề cập tới một trong những đặc điểm nổi bật nhất
trong văn học Việt Nam “ Một dân tộc luôn phải cầm gươm, cầm súng nhưng thơ văn
lại nói nhiều hơn đến nhân nghĩa, tình yêu, đến thân phận con người đặc biệt là phụ nữ trong các xã hội bất công” là bởi:
- Người Việt Nam vốn có truyền thống sống nghĩa tình, nhân hậu Sống trong một đấtnước nông nghiệp, phụ thuộc vào thiên nhiên, con người phải dựa vào nhau để chốngchọi với thiên tai, địch họa Do đó, tính cộng đồng là một đặc điểm tâm lý đặc trưng củangười Việt Nam Chính nét tâm lý đặc trưng ấy đã góp phần hình thành lối sống nghĩatình của con người
- Văn học Việt Nam là sự phản ánh đời sống tâm hồn của người Việt, thể hiện tinh thầnnhân đạo sâu sắc đã trở thành truyền thống của cả dân tộc Một cách tự nhiên, tinh thần
Trang 37- Bên cạnh nhân nghĩa, tình yêu, thân phận con người, văn học đặc biệt quan tâm đếnngười phụ nữ bởi đó là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất, đau khổ nhất trong xã hội bấtcông.
- Văn hóa Việt Nam thời trung đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo.Các học thuyết này, đề cao lẽ sống tình thương giữa con người với con người Các họcthuyết này tuy khác nhau nhưng khi vào Việt Nam với tinh thần “gạn đục khơi trong”,người Việt đã chắt lọc phần tích cực của những học thuyết trên kết hợp với truyền thốngdân tộc Đó là những tiền đề quan trọng để hình thành chủ nghĩa nhân đạo trong văn học
* Chứng minh qua một số tác phẩm trong chương trình:
Lưu ý:Đoạn trích hoặc tác phẩm được lựa chọn cần đáp ứng được yêu cầu: Đó là nhữngtác phẩm đặc sắc thấm đẫm tinh thần nhân đạo trải qua nhiều thời kì Dẫn chứng cầnphong phú, toàn diện trải từ văn học dân gian tới văn học viết ưu tiên lựa chọn những tácphẩm lấy hình tượng người phụ nữ làm trung tâm
- Văn học dân gian: có thể chọn ca dao, truyện cổ tích
- Văn học trung đại: có thể lấy thơ văn Nguyễn Trãi, đoạn trích trong “Chinh phụ ngâm”,
“Cung oán ngâm”, thơ Nguyễn Du
Qua các tác phẩm ấy, người viết cần chỉ rõ các tác giả đã thể hiện chân thực số phận conngười đồng thời trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ Cần khai thác cácyếu tố về mặt hình thức của tác phẩm để làm sáng tỏ nội dung
3 Mở rộng, nâng cao:
- Cảm hứng nhân đạo là cảm hứng nổi bật qua các chặng đường phát triển của văn học.Lấy hình tượng người phụ nữ làm trung tâm, các tác phẩm đã tạo tiền đề để văn học hiệnđại tiếp tục phát triển
- Về mặt hình thức, các tác phẩm thuộc dòng văn học nhân đạo góp phần nâng tiếng Việtlên một tầm cao mới, đủ sức thể hiện tất cả những cung bậc cảm xúc tinh tế của conngười
Nhà thơ Chế Lan Viên quan niệm: “Thơ là cái cân nhỏ xíu lại cân đời Thơ không phải chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh”.
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ quan niệm trên bằng việc chọn và phân tích một tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn 10
1 Giải thích
- Thơ là cái cân nhỏ xíu lại cân đời: tuy nhỏ bé mà có ý nghĩa trong cuộc sống; sức chứa,
vai trò to lớn đối với cuộc đời
Trang 38- Thơ không phải chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh: Tính hiện thực – trữ tình, giá trị ngoài lời,
chức năng của thơ (thơ nói riêng và tác phẩm văn học nói chung) đối với cuộc sống
- Ý cả câu: bàn về mối quan hệ giữa văn học, người nghệ sĩ và hiện thực: Cân đời mình,đời người để rồi mình và người cùng sống với nhau tốt hơn lên, cao đẹp hơn lên Đó làđòi hỏi lẫn nhau giữa cuộc sống và thơ
đẽ, cao thượng sống hết lòng thì thơ mới hay
+ Thực tế phát triển của thơ ca đã chứng minh rằng sức sống của thơ là ở chỗ nói lênđược hiện thực và ước mơ của xã hội Cuộc sống là nguyên nhân, là xuất phát điểm vàcũng là nội dung của thơ ca
+ Thơ từ cuộc sống mà có nhưng cũng vì cuộc sống mà phát triển Thơ không chỉ làcông việc của trí tuệ mà còn chính là do sự sống bản thân; tiếng thơ đi vào lòng người đểchạm, để thanh lọc và đánh thức những rung động rất người và rất đời
+ Nhà thơ là người phải sống hết mình đối với cuộc sống và luôn luôn mẫn cảm về sinhhoạt vật chất, tinh thần để rồi từ đó mà nói lên tiếng nói của cuộc sống đã có, đang có và
sẽ có
Thơ là cái “nhụy” của cuộc sống (Tố Hữu) Thơ là hình ảnh và nhịp điệu của cuộc sống.
- Mối quan hệ giữa văn học, người nghệ sĩ và hiện thực: Học sinh chọn một tác phẩmchứng minh
3 Đánh giá, nâng cao
- Khẳng định lại tính xác đáng của quan niệm trên: Thơ là hiện thực, là cuộc đời nhưngtrên hết thơ phải làm cho con người vươn lên hạnh phúc, tìm thấy lẽ sống tươi đẹp, làmcho người với người trải lòng ra với nhau
- Khẳng định vai trò, giá trị thanh lọc của thơ đối với con người
- Bài học đối với người sáng tác: hoạt động nghệ thuật nghiêm túc, tôi rèn tài năng củangười nghệ sĩ
- Bài học đối với người đọc: Nâng cao năng lực cảm thụ, sự đồng cảm, đồng sáng tạo củađộc giả
Đặng Tiến trong Vũ trụ thơ cho rằng: “Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên”
Trang 39Bằng hiểu biết của anh (chị) về Truyện Kiều của Nguyễn Du, hãy làm sáng tỏ
ý kiến trên.
1.Giải thích:
- Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, một sản phẩm thẩm mĩ độc đáo nảy sinhtrong quá trình sáng tạo theo quy luật cái đẹp.Ở đây chỉ các tác phẩm văn học
- Tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt: Nỗi đau, sự bất hạnh, những gian khổ, hi sinh,
sự nhục nhã, đọa đày bi đát nhất của thân phận con người được thể hiện qua các tácphẩm, được nhìn bằng con mắt nghệ thuật, bằng trái tim rung cảm của người nghệ sĩ Đó
là thế giới do con người sáng tạo từ hành trình khám phá hiện thực, góp phần làm cho thếgiới hiện thực phong phú và tươi đẹp hơn
- Tiếng hát vô biên: niềm vui, niềm hạnh phúc vô tận của con người được nghệ thuật
khơi nguồn Nghệ thuật không thể cứu rỗi con người nhưng có thể giúp con người vượtqua đau khổ và tạo nên chiến thắng cho con người
=> Ý kiến đã khẳng định giá trị đích thực của các tác phẩm văn học cũng như chức năngcủa nó trong cuộc sống
2 Chứng minh:
* Truyện Kiều đã phản ánh số phận đầy đau khổ, nhục nhã của Thúy Kiều trong suốt 15năm lưu lạc: phải bán mình chuộc cha và em, hi sinh mối tình đầu trong sáng, đẹp đẽ vớiKim Trọng, bị chà đạp cả về thể xác và tinh thần khi rơi vào tay các thế lực xấu xa, tàn
ác, khi phải ở chốn lầu xanh đầy nhơ nhớp Tất cả những đau khổ của đời Kiều được táihiện thấm thía dưới ngòi bút như có máu chảy và trái tim nghĩ suốt ngàn đời của NguyễnDu
* Truyện Kiều đã biến nỗi thống khổ của con người thành tiếng tiếng hát vô biên
- Tiếng hát ngợi ca ngợi ca vẻ đẹp, tài năng, phẩm chất của con người mà Thúy Kiềuchính là hiện thân tiêu biểu cho vẻ đẹp đó
- Tiếng hát ca ngợi, khẳng định một tình yêu tự do, thủy chung, son sắc, cao đẹp và khátvọng công lí
+ Mối tình Kim – Kiều được xem như bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn họcdân tộc
+ Nhân vật Từ Hải là hiện thân cho khát vọng công lí, là biểu tượng cho tự do dân chủ
* Nguyễn Du đã tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của conngười thành tiếng tiếng hát vô biên trong Truyện Kiều nhờ vào tài năng nghệ thuật bậcthầy thông qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ tài tình,chính xác, bút pháp tả cảnh ngụ tình, nghệ thuật đối lập
3 Đánh giá, nâng cao
Trang 40- Ý kiến trên đã được khẳng định qua sức sống lâu bền của tác phẩm Truyện Kiều tronglòng độc giả, cũng như mang lại nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà văn, nhà thơkhác.
- Định hướng cho người đọc trong quá trình tiếp nhận văn học nói chung và đánh giá mộttác phẩm có giá trị nói riêng
Nhà văn Pháp, La Bơ-ruy-e cho rằng: “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên
và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào
để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra.”
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Anh/chị có cho rằng Truyện Kiều của Nguyễn
Du là một tác phẩm hay theo quan niệm của La Bơ-ruy-e?
1 Giải thích
- Theo La Bơ-ruy-e, một tác phẩm hay phải có giá trị nhân văn:
+ Tác phẩm có khả năng nâng cao tinh thần con người: thức tỉnh lương tri, nuôi dưỡng
lòng nhân ái, niềm tin trong tâm hồn con người
+ Tác phẩm gợi cho con người những tình cảm cao quý và can đảm: định hướng và tạo
động lực để con người vươn tới những điều tốt đẹp
- Ý kiến của La Bơ-ruy-e đề cập đến chức năng của văn học chân chính:
+ Văn học có khả năng hướng thiện và nuôi dưỡng tâm hồn con người, vì vậy nó “nângcao tinh thần ta lên”
+ Văn học có khả năng nâng đỡ nhân cách con người, nó khơi gợi trong ta “những tìnhcảm cao quý, can đảm”, giúp ta hoàn thiện mình
+ Văn học đích thực không phải là những lời giáo huấn và thuyết lí khô khan; thông quanhững hình tượng sống động và “tấm thảm ngôn từ kì diệu”, nó tác động vào tình cảm,cảm xúc và thức tỉnh người đọc từ bên trong
+ Tác phẩm văn học thực sự có giá trị bao giờ cũng có chức năng “nhân đạo hóa conngười” (Ai-ma-tốp) và nhà văn lớn bao giờ “cũng là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê-khốp)
2 Phân tích, chứng minh : Giá trị nhân văn của Truyện Kiều
- Truyện Kiều nâng cao tinh thần ta lên
+ Truyện Kiều đã đánh thức khả năng thấu hiểu và đồng cảm của người đọc, nuôi dưỡngtrong ta tình cảm nhân ái: xót xa trước những đau khổ của thân phận con người; căm giậntrước những thế lực tàn bạo chà đạp con người; trân trọng và tin tưởng vào phẩm chất,
giá trị con người (HS dựa vào các đoạn trích đã học/đã đọc để lấy dẫn chứng và phân