1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BỘ đề ôn học SINH GIỎI NGHỊ LUẬN văn học 11

64 1,8K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 386,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ đề được sử dụng để ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11, bao gồm có các đề Nghị luận văn học và sau mỗi đề có phần gợi ý học sinh cách làm bài tương đối chi tiết, bám sát đề và hướng dẫn chấm thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11 của các tỉnh.

Trang 1

BỘ ĐỀ ÔN LUYỆN ĐỘI TUYỂN VĂN 11

Tác phẩm viết theo lối nào thì cảm thức bi cảm rất quan trọng Nó dạy cho ta rằng nỗi buồn là một phần của cuộc sống, thấu hiểu nó cũng là khía cạnh nhân văn.

Bằng những tác phẩm đã học và đã đọc, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

=> Ý kiến là sự khẳng định vai trò quan trọng của cảm thức bi cảm trong việc bồi đắpnhững giá trị tình cảm nhân văn cho con người Theo ý kiến, tác phẩm khi thể hiện cảmthức bi cảm của tác giả sẽ giúp người đọc thấu hiểu và biết chấp nhận nỗi buồn đautrong cuộc sống

2 Bình luận ý kiến

- Văn học phản ánh cuộc sống với tất cả những bộn bề phức tạp của thế giới đầy hỗnmang này Vì thế nỗi buồn của cuộc đời và con người luôn là mối ưu tư của biết baotâm hồn nghệ sĩ Cái bi trong cuộc sống là nguồn gốc của cái bi trong nghệ thuật

- Khi viết về nỗi buồn đau, nhà văn bao giờ cũng gửi gắm vào đó những cảm xúc, suy

tư, trăn trở và nhận thức của mình Đó là cách nhìn, cách cảm, cách cắt nghĩa và lý giảicủa tác giả về nỗi buồn Đây chính là biểu hiện cho quan niệm nhân sinh – một phươngdiện quan trọng trong tư tưởng nghệ thuật góp phần tạo nên gương mặt nghệ thuật củatác giả

- Khi thể hiện cảm thức bi cảm, tác phẩm sẽ hình thành ở người đọc năng lực cảm nhậnnỗi buồn đau Có tác phẩm dạy ta biết chấp nhận nỗi buồn, có tác phẩm gợi dậy trong ta

sự thương cảm, lại có những tác phẩm giúp ta vượt lên nỗi buồn Như vậy, thông quacảm thức bi cảm, nhà văn giúp người đọc thanh lọc tâm hồn, bồi đắp những tình cảmnhân văn

(Thí sinh cần lựa chọn và cảm nhận được một số tác phẩm viết về nỗi buồn ở các thểloại khác nhau Sự cảm nhận này có thể lồng ghép vào với các luận điểm trên hoặc táchriêng ra Song, dù trình bày theo cách nào cũng phải làm rõ được:

+ Cảm thức bi cảm được thể hiện trong tác phẩm là gì? Cảm thức ấy được thể hiện nhưthế nào?

+ Cảm thức bi cảm đó tác động như thế nào đến người đọc?)

3 Đánh giá, nâng cao

- Ý kiến đã đề cập đến vai trò của cảm thức bi cảm trong việc bồi đắp những giá trịnhân văn cao đẹp cho tâm hồn con người

Trang 2

- Không chỉ cảm thức bi cảm, những cảm thức về cái Đẹp, về niềm vui và hạnh phúccũng hết sức quan trọng trong việc bồi đắp những tình cảm nhân văn, gìn giữ chấtngười ở con người.

- Ý kiến cũng gợi mở những bài học quan trọng cho người sáng tạo và người tiếp nhậntác phẩm văn chương

+ Người nghệ sĩ: cần phải sống thật sâu bằng trái tim yêu thương để giữa bộn bề cuộcsống biết lắng nghe, thấu hiểu những nỗi buồn đau của con người; lắng kết những suy

tư về phận người và cuộc đời qua câu chữ; bồi đắp và thanh lọc tâm hồn con người,hướng con người tới những giá trị nhân văn cao đẹp

+ Người đọc: tinh tế, nhạy cảm để lắng nghe trong tác phẩm những nỗi buồn thương,những trăn trở suy tư của nhà văn về con nguời, cuộc đời Từ đó làm giàu tâm hồn, trítuệ, bản lĩnh của mình để biết chấp nhận, vượt lên những nỗi buồn trong cuộc sống

Bàn về quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, có ý kiến khẳng định:

Sáng tạo nghệ thuật là một quá trình kép: nhà văn vừa sáng tạo ra thế giới vừa kiến tạo gương mặt mình (L.Tônxtôi)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua một số tác phẩm đã học

trong chương trình Ngữ văn 11.

1 Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2 Giải thích ý kiến:

- Sáng tạo nghệ thuật: là quá trình nhà văn tạo ra tác phẩm nghệ thuật bằng tài năng và

tâm huyết, bằng cảm hứng dồi dào, mãnh liệt

- Quá trình kép: thực chất là hai quá trình trong một quá trình.

- Sáng tạo ra thế giới: từ hiện thực đời sống, nhà văn tái tạo, nhào nặn chất liệu, qua

lăng kính chủ quan của người viết hiện thực sẽ mang một diện mạo mới, khác với hiệnthực ngoài đời

- Kiến tạo gương mặt mình: nhà văn để lại dấu ấn, nét phong cách riêng, khẳng định vị

trí trong nền văn học

=> Ý kiến bàn về bản chất của quá trình sáng tạo nghệ thuật, đó vừa là sự tái tạo hiệnthực vừa thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo - phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ

Có thể nói đây là ý kiến đúng, vì:

+ Văn học bắt nguồn từ hiện thực đời sống Nhưng văn học không phải là sự sao chép

nguyên xi hiện thực Hiện thực chỉ là chất liệu, là tiền đề của sáng tạo Hiện thực phảiđược lọc qua lăng kính chủ quan của nhà văn, được tổ chức lại theo những quy luậtnghệ thuật riêng, để đạt đến những mục đích thẩm mĩ nhất định Vì thế, hiện thực trong

tác phẩm trở thành một thế giới mới, vừa giống lại vừa không giống thế giới thực, bởi

thế giới đó giàu khả năng khái quát hóa đời sống hơn chính bản thân đời sống

+ Sáng tạo nghệ thuật không chỉ để phản ánh thực tại mà còn là cách thức để người

nghệ sĩ thể hiện cá tính nghệ thuật, phong cách nghệ thuật độc đáo Chính quá trìnhsáng tạo với hệ thống các tác phẩm sẽ dần dần hình thành diện mạo nghệ thuật riêng

Trang 3

biệt của nhà văn, làm nên dấu ấn, sức thu hút của nhà văn, xác lập vị trí không thể thaythế của nhà văn trong nền văn học Nếu sáng tác không để lại dấu ấn riêng có giá trị, têntuổi nhà văn lập tức sẽ bị lu mờ.

3 Chứng minh ý kiến:

HS tự chọn và phân tích một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11 để

chứng minh ý kiến Trong quá trình phân tích chứng minh cần lưu ý làm rõ được:

- Thế giới mới, hiện thực đời sống được tái tạo trong tác phẩm.

- Phong cách nghệ thuật của nhà văn thể hiện qua: cái nhìn mới mẻ giàu tính khám phá

đối với đời sống chi phối sự lựa chọn đề tài; xác định chủ đề; cách sử dụng ngôn ngữ;kiểu nhân vật; kiểu kết cấu; giọng điệu riêng không thể trộn lẫn,…

4 Nhận xét đánh giá:

- Đây là ý kiến xác đáng khi đánh giá quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ

- Ý kiến rất có ý nghĩa đối với cả người sáng tác và người tiếp nhận:

+ Đối với người sáng tác: đặt ra yêu cầu sáng tạo là phải đem đến cái mới, cái riêng, cáiđộc đáo cả trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện phong cách nghệ thuật Muốn vậynhà văn cần không ngừng trau dồi tài năng và nhân cách (tài và tâm)

+ Đối với người tiếp nhận: đến với tác phẩm không chỉ để khám phá xem nhà văn viết

cái gì mà là viết như thế nào, cần trân trọng, đánh giá đúng những nỗ lực tạo ra cái

riêng trên hành trình sáng tạo của nhà văn Người tiếp nhận cũng cần phải có năng lực

và tấm lòng, từ đó mới có thể tạo ra tiếng nói tri âm cùng tác giả

Khi giới thiệu tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, có ý kiến cho rằng:

Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình.

(Tư liệu văn học lớp 11- Tập một)

Anh (chị) hiểu như thế nào về ý kiến trên? Bằng việc phân tích truyện ngắn

Chí Phèo của Nam Cao, hãy làm sáng tỏ ý kiến.

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Những năm 40 của thế kỉ XX, trên văn đàn hiện thực Việt Nam, Nam Cao nổi bật vớinhững trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóngđêm của xã hội cũ, những cuộc đời lầm than đi vào trang sách của Nam Cao đã sốngmãi với thời gian

- Chí Phèo của Nam Cao ra mắt người đọc năm 1941, đã tố cáo bộ mặt vô nhân của xã hội và phản ánh sự bế tắc cùng cực của người nông dân Với tác phẩm Chí Phèo, Nam

Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không

tả theo cái lối người ta đã tả Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình.

2 Giải thích ý kiến

- Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói,

không tả theo cái lối người ta đã tả

Trang 4

+ Nam Cao không bắt chước, đi theo những công thức, những lối mòn dễ dãi đã có sẵn.+ Nam Cao cũng không uốn cong ngòi bút chiều theo thị hiếu của độc giả đương thờilúc đó đang rất say sưa với những tiểu thuyết lãng mạn.

- Nam Cao đã bước chân vào làng văn với những cạnh sắc riêng:

+ Nam Cao đã tự mình tìm ra một lối đi riêng, một phong cách riêng độc đáo

+ Sự sáng tạo của nhà văn thể hiện ở cả hai phương diện: nội dung tư tưởng và hìnhthức nghệ thuật

=> Nghĩa cả câu: Khẳng định bản lĩnh và phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao

so với văn chương đương thời

Ý kiến đề cập đến vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật Phát hiện ranhững cái mới mẻ, độc đáo là yêu cầu bắt buộc của sáng tạo nghệ thuật nói riêng và vănhọc nói chung Bởi sự lặp lại là cái chết của nghệ thuật Người nghệ sĩ không thể lặp lạingười khác và chính bản thân mình Chính việc phát hiện ra những điều độc đáo, mới

mẻ sẽ giúp cho nhà văn hình thành được phong cách riêng Hơn nữa có độc đáo, mới

mẻ mới cuốn hút được người tiếp nhận Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà

mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập (Macxen

-Pruxt)

3 Phân tích - chứng minh

a Những sáng tạo ở phương diện nội dung tư tưởng

- Giá trị hiện thực mới mẻ:

+ Dựng lên một bức tranh chân thực, sống động về nông thôn Việt Nam ngột ngạt, đentối trước Cách mạng tháng Tám

+ Nhà văn thường chú ý tới những con người thấp cổ bé họng, những số phận bi thảm.Ông đặc biệt đi sâu vào tình cảnh và số phận của những con người bị đày đọa vào cảnhnghèo đói, cùng đường, bị hắt hủi, lăng nhục một cách tàn nhẫn, bất công Viết về quátrình tha hóa của những con người này, nhà văn có phát hiện thật sâu sắc : xã hội tànbạo đã hủy diệt cả thể xác lẫn linh hồn người nông dân lương thiện, đẩy họ vào cuộcsống khốn cùng không lối thoát

- Giá trị nhân đạo mới mẻ: nhà văn đã phát hiện, miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người

lao động ngay khi tưởng như họ đã bị xã hội tàn ác cướp mất cả bộ mặt người lẫn linhhồn người (Tư tưởng nhân đạo của phần lớn các cây bút hiện thực khác chủ yếu thểhiện sự đồng cảm với người nông dân, lên án cái xã hội thực dân nửa phong kiến bóclột tàn tệ người lao động, đẩy họ vào con đường bần cùng, ngợi ca phẩm chất tốt đẹpcủa họ.)

b Những sáng tạo ở phương diện nghệ thuật:

- Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Chí Phèo và Bá Kiến là những nhân vật điển hìnhsắc nét vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có cá tính độc đáo, gây ấn

tượng mạnh cho người đọc, là nhân vật “lạ mà quen” Khi xây dựng những nhân vật

này, Nam Cao đã phát huy cao độ sở trường khám phá và miêu tả những trạng thái tâm

lí phức tạp của nhân vật, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười,mấp mé ranh giới giữa thiện với ác, giữa hiền với dữ, giữa con người với con vật…

Trang 5

- Kết cấu mới mẻ

+ Truyện có kết cấu phóng túng thoải mái, gặp đâu nói đấy, không theo trình tự thờigian, lúc đầu đi thẳng vào giữa truyện, sau mới ngược thời gian kể về lai lịch của nhânvật nhưng thực chất lại rất chặt chẽ lôgic

+ Kết cấu đầu cuối tương ứng hiện đại, mở đầu và kết thúc là hình ảnh chiếc lò gạch cũgợi sự luẩn quẩn, bế tắc trong số phận của người nông dân

- Cốt truyện hấp dẫn, tình tiết đầy kịch tính và luôn biến hóa, càng về cuối càng gay cấnvới những tình tiết quyết liệt, bất ngờ

- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện, nghệ thuật vừa rất gần với lời ăn tiếng nói trongđời sống Giọng điệu của nhà văn phong phú và biến hóa, có sự đan xen lẫn nhau Cáchtrần thuật cũng rất linh hoạt Nhà văn có khả năng nhập vào các vai, chuyển từ vai nàysang vai khác một cách tự nhiên, linh hoạt, gây hấp dẫn cho người đọc, lúc thì trần thuậttheo điểm nhìn của tác giả, lúc thì trần thuật theo nhân vật Chí Phèo, khi lại trần thuậttheo nhân vật Bá Kiến, thị Nở

4 Đánh giá

- Với những sáng tạo trên, Chí Phèo của Nam Cao xứng đáng là “Một phát hiện về hình

thức, một khám phá về nội dung” (Lê-ô-nít Lê-ô-nốp), trở thành một kiệt tác của nền

văn xuôi Việt Nam hiện đại, thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy của nhà văn

- Ý kiến trên không chỉ làm nổi bật phong cách truyện ngắn Nam Cao mà còn góp phầnđịnh hướng người đọc trong việc tiếp cận, khám phá tác phẩm cũng như đặt ra cho

người nghệ sĩ bài học quý giá trong sáng tạo nghệ thuật: “Văn chương không cần đến

những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao).

“ Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình Nhưng tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản”

(Lã Nguyên – Về tác gia và tác phẩm, NXBGD)

Anh (chị) hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương và bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi:

Cây chuối

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, màu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu, gượng mở xem

( Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học Xã hội, 1976)

1 Giải thích:

- Con đường riêng: chỉ cách thức khác nhau trong lao động sáng tạo văn học nghệ thuậtcủa người nghệ sĩ

Trang 6

- Quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản: là những giá trị văn học (nhận thức,giáo dục, thẩm mĩ ) có khả năng nhân đạo hóa con người Đó là bản chất mang ýnghĩa nhân văn muôn đời của văn học.

- Ý kiến khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá, sáng tạo nhưng đíchđến muôn đời của văn chương vẫn là chân thiện mĩ, nhân bản

+ Lựa chọn con đường riêng sẽ tạo ra sự đa dạng, mới lạ trong sáng tạo nghệ thuật,khẳng định được vị trí, phong cách của nhà văn

- Tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa cũng không thể vượt ra ngoài quyluật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản, bởi vì:

+ Chân thiện mĩ, nhân bản là đích hướng đến, tâm điểm của mọi khám phá sáng tạonghệ thuật

+ Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản có khả năng soi rọi cho người đọc ánh sáng của lítưởng, khơi gợi tình yêu cuộc sống, nuôi dưỡng sự đồng cảm, bồi đắp và thanh lọc tâmhồn con người làm cho người gần người hơn

3 Chứng minh:

a) Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương:

- Nói đến thơ trào phúng không ai có thể quên Tú Xương, một giọng thơ đả kích, phêphán sắc sảo, cay độc, mạnh mẽ hiếm có Chế Lan Viên từng viết: “Tú Xương cười nhưmảnh vỡ thủy tinh” Nhưng Trần Tế Xương không chỉ là một nhà thơ hiện thực chủnghĩa như vậy, nói như Nguyễn Tuân, chất hiện thực ấy chỉ là “chân trái”, còn “chânphải” của ông là chất trữ tình Trân trọng cảm phục và nhớ tới thơ Tú Xương nhiều hơn

có lẽ do người đời được nghe nhịp đập của một trái tim chân thành, giàu cảm xúc, biếttrọng nhân cách, mang một nỗi đau vời vợi không nguôi “Thương vợ” là bài thơ tiêubiểu của Trần Tế Xương mà ở đó vừa thể hiện một cáh nhìn, một lối đi riêng, lại vừanằm trong quy luật chung của cái Chân, Thiện, Mỹ; quy luật nhân bản

- Yêu thương con người mà đặc biệt là yêu thương những người thân yêu ruột thịt vốn

là truyền thống của người Việt từ xưa Tuy nhiên ở thời phong kiến do quan niệm trọngnam khinh nữ, quan niệm tình cảm vợ chồng là chuyện riêng tư nên các tác giả thườngngại bộc lộ tình cảm với vợ một cách trực tiếp qua giấy trắng mực đen, qua văn chươngthì lại càng ít Tú Xương, đã không ngần ngại nói lên điều đó

Tú Xương khi viết về đề tài người phụ nữ

- Viết về vợ nhưng thực chất Tú Xương đã có phát hiện và cảm thông với nỗi khổ củangười phụ nữ Đó là nỗi khổ vì cuộc sống cơ cực, vất vả gánh vác lo toan chèo chống cảmột gia đình mà thiếu sự đồng cảm sẻ chia về trách nhiệm Nhà thơ khẳng định phẩm

Trang 7

chất đẹp đẽ của người phụ nữ đó là tấm lòng khoan dung không nề hà trách nhiệm vớigia đình dù phải đối diện với những gian lao trong cuộc sống

–Với bài Thương vợ: Tú Xương đã thể hiện cái nhìn của người khác phái – một nhà nhođầy tự trọng và một người đàn ông có tình, có ý thức về trách nhiệm của bản thân Thếnên, cái nhìn ấy vừa trân trọng vừa xót xa Qua cái nhìn ấy, chân dung bà Tú hiện lênhoàn chỉnh: từ quan hệ bươn trải với đời, đến quan hệ với gia đình, từ con người củacông việc làm ăn đảm đang tháo vát đến con người của đức độ, thảo hiền, đầy tinh thần

vị tha, xả kỉ Cái nhìn đó cho thấy nhân cách nhà nho trong sáng, vị tha của Tú Xươngkhi ông từ bỏ vẻ cao đạo của thói thường để thấu hiểu cuộc sống đời thường và sẻ chia,cảm thông với người phụ nữ

b) Bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi:

- Thiên nhiên vốn là đề tài quen thuộc của thi ca trung đại Với cái nhìn đậm tính ước

lệ, thiên nhiên hiện lên trong văn học trung đại với tư cách là chuẩn mực của cái đẹpđạo đức Các tác giả đã “khoanh vùng” một số loài cây, con xếp vào hàng cao quý như:tùng, trúc, cúc, mai, long, ly, quy, phượng…”Nàng thơ” gần như không chịu hạ cánhxuống hoa cỏ đồng nội Nguyễn Trãi cũng đến với thiên nhiên nhưng cách nhìn và cảmhứng của ông lại hoàn toàn khác Nó xuất phát tình yêu và niềm say đối với thiên nhiênnên ông không hề có sự phân biệt đẳng cấp, ngược lại ông còn rất hứng thú với hươngđồng gió nội Cây chuối dân giã, mộc mạc vì thế mà có chỗ đứng trang trọng trong thơông

- Vẻ đẹp mà Nguyễn Trãi phát hiện được ở cây chuối trước hết là vẻ đẹp của sức sống,của tất cả những gì tự nhiên nhất, hồn nhiên nhất như nó vốn có ngoài đời Cây chuối

“bén” hơi xuân đã tốt lại tốt thêm, tràn trề sinh lực; buồng chuối chín toả hương thơmnồng nàn, quyến rũ…

- Vẻ đẹp độc đáo rất riêng mà Nguyễn Trãi phát hiện ở cây chuối là vẻ đẹp lãng mạn,tình tứ Tàu lá chuối non cuộn tròn được tác giả hình dung như một bức thư tình đangđược phong kín, e ấp, giấu bao tình ý bên trong Còn gió được hình dung như một gãtình nhân đa tình say mê, đắm đuối, đầy khao khát nhưng cũng rất ý tứ, trân trọng, nhẹnhàng “gượng mở” để khám phá vẻ đẹp của tình yêu

- Cái mới của Nguyễn Trãi chính là cách nhìn mới, cảm xúc mới so với các tác giả cùngthời nhưng thực chất nó rất đỗi chân thật, gần gũi, đời thường Nó có vẻ “khác biệt” sovới quan niệm thẩm mỹ đương thời nhưng nó vẫn nằm trong quy luật của cái Chân,Thiện, Mỹ; quy luật nhân bản

– Cái nhìn độc đáo, sự khám phá riêng của mỗi nhà thơ dù cùng viết về một đề tài chính

là bản chất của nghệ thuật đích thực, là yêu cầu nghiệt ngã của sáng tạo văn chương màchỉ những tài năng chân chính mới đủ sức vượt qua

Trang 8

Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp Jean – Michel Maulpoix cho rằng:

“Thơ là tự truyện của khát vọng”.

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua việc cảm nhận bài thơ Tự Tình II

của Hồ Xuân Hương và liên hệ với một số bài ca dao than thân có mở đầu bằng

“Thân em ”, hãy làm sáng tỏ ý kiến

- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình

Thơ là tiếng nói của cái tôi nội cảm với những rung động cảm xúc, thái độ của tác giảtrước cuộc đời Cảm xúc ở trong thơ không phải là thứ cảm xúc mờ nhòa, nhàn nhạt mà

đó là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất, thôi thúc nhất, khiến người nghệ sĩ sáng tạo

- Sinh ra từ nhu cầu tự tình, giãi bày của người nghệ sĩ, nên mỗi bài thơ chất chứa mộtcõi lòng riêng, in đậm dấu ấn riêng của tác giả

- Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơ chânchính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại.Mỗi bài thơ không chỉ là tiếng nói riêng của nhà thơ mà còn là tiếng nói đồng điệu Bạnđọc tìm đến với thơ là tìm đến tiếng nói đồng điệu, đi tìm hồn mình trên trang viết củanhà thơ

- Cái được giãi bày trong thơ không chỉ dừng lại ở nỗi niềm tâm sự mà quan trong hơn

nó là nguyện ước, mong muốn, khao khát của con người Khi tiếng lòng riêng của nhàthơ hoà nhịp với khát vọng muôn đời của nhân loại thì khi đó tác phẩm đạt đến tầmnhân loại phổ quát, đạt đến giá trị vĩnh hằng

3 Cảm nhận bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương và liên hệ với một số bài ca dao than thân có mở đầu bằng “Thân em ”, để làm sáng tỏ ý kiến

- Tự tình II là “Tự truyện” của Hồ Xuân Hương với những lời tự bạch thật thấm thía và

là tiếng nói của khát vọng mãnh liệt Vì “Thơ là tất cả” nên những điều tưởng rất nhỏ

bé, riêng tư, sâu kín trong cõi lòng riêng của thi sĩ cũng được phơi trải, giãi bày qua thơ

- Cái tôi nội cảm của nhân vật trữ tình là cái tôi đau xót, tê tái khi cảm nhận thấm thía bikịch thân phận của chính mình Nữ sĩ tài hoa hơn người, mà cuộc đời oái oăm, trớ trêu

Trang 9

chỉ dành cho cay đắng , chua chát Tình duyên lỡ dở, duyên phận bẽ bàng…(Trơ cáihồng nhan với nước non Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn…)

- Không cam chịu số phận, nhân vật trữ tình phản ứng mạnh mẽ, quyết liệt muốn bứtphá, nổi loạn để vươn lên Trong tận cùng nỗi đau và sự phản ứng của Hồ Xuân Hươngchính là niềm cháy khát tình yêu và hạnh phúc

- Nỗi lòng riêng của Hồ Xuân Hương cũng là tiếng nói chung, là khát vọng tha thiết,mãnh liệt của người phụ nữ trong xã hội phong kiến có quá nhiều bất công ngang trái.Bởi vậy tiếng thơ của Hồ Xuân Hương rất gần, có sự đồng điệu đặc biệt với những câu

ca dao than thân có mở đầu bằng “Thân em…”

- Nỗi niềm của những người phụ nữ trong những câu ca dao than thân là nỗi khổ trămchiều Trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ cùng với quan niệm cổ hủ, lễ giáokhắt khe thì những gì bất công nhất, oái oăm, ngang trái nhất đều dồn lên cuộc đờingười phụ nữ Họ hoàn toàn không có quyền quyết định số phận của mình mà chỉ phụthuộc vào hai chữ “may” hoặc “rủi”

- Không chỉ là tiếng than về nỗi khổ đau, bất hạnh, qua những bài ca dao có mở đầubằng “Thân em ” người đọc thấy có sự tự ý thức sâu sắc về giá trị, về vẻ đẹp của ngườiphụ nữ (Thân em như tấm lụa đào Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏngoài thì đen…) Và trên hết mỗi bài ca dao ấy là một khát vọng mãnh liệt được gửigắm Đó là khát vọng được thấu hiểu, đồng điệu, đồng cảm; khát vọng được trân trọng;khát vọng về tình yêu, hạnh phúc…

- Nỗi niềm, khát vọng của Hồ Xuân Hương hay của những người phụ nữ trong ca daokhông chỉ là tâm tư, tình cảm riêng của cá nhân mà là khát vọng muôn đời của nhânloại, mang tính nhân bản sâu sắc

“Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho

mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”

(Tiếng nói văn nghệ - Nguyễn Đình Thi).

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ ý kiến qua bài thơ

Tràng Giang của Huy Cận (SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục).

1 Giải thích ý kiến.

- “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác”:

Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc sống mà còn là sản phẩm tâm hồncủa người nghệ sĩ Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của nhà văn, là kết quả của quá

Trang 10

trình lao động miệt mài, nghiêm túc; là nơi kết tinh tài năng, sáng tạo, tình cảm, tâmhuyết của người nghệ sĩ

- “Tác phẩm vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”:

Tác phẩm là cầu nối giữa nhà văn với bạn đọc Nhà văn quan sát, cảm nhận thế giớihiện thực rồi từ đó tái hiện, tái tạo một đời sống riêng trong tác phẩm của mình Đếnlượt tác phẩm lại đưa đời sống cá biệt ấy đến với cuộc đời chung, với mọi người Suyngẫm, cảm xúc mà người nghệ sĩ gửi gắm vào tác phẩm sẽ truyền đến người đọc tạo ra

sự rung động, đồng điệu, đồng cảm, tạo ra tiếng nói tri âm giữa tác giả với bạn đọc

- “Sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng” được truyền đến mọi người tức là tác phẩm

văn học đã có những tác động mạnh mẽ vào cuộc sống Khi sợi dây truyền của nó lànhững xúc động mãnh liệt của tâm hồn thì người đọc sẽ được soi tỏ bằng những quanđiểm nhân văn tích cực giúp họ biết cách điều chỉnh hành vi từ đó hướng tới cách sốngđẹp hơn

=> Ý kiến trên là sự khẳng định các giá trị đồng thời của tác phẩm văn chương trongmối quan hệ: nhà văn – tác phẩm – bạn đọc

2 Bàn luận mở rộng

- Nhà văn - tác phẩm – người đọc là mối quan hệ tương tác đa chiều Muốn tác phẩm

có sự tác động mạnh mẽ đến bạn đọc thì trước hết nhà văn phải luôn trau dồi vốn sống,phải nhạy cảm trước cuộc đời, phải có đời sống tinh thần phong phú và trải nghiệm sâusắc; phải có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố chân tài và chân tình

- Những tác phẩm văn học đích thực luôn truyền đến cho người đọc những quan điểmnhân văn tích cực, giúp họ biết thanh lọc tâm hồn và hướng đến cái Chân, Thiện, Mỹtrong cuộc đời

3 Phân tích , chứng minh:

HS bám vào hoàn cảnh ra đời và các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của bài thơ để làm rõnhững nội dung sau:

- Tràng Giang là bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng

- Bài thơ là nơi “kết tinh”, gửi gắm những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc nhất;những tình cảm, cảm xúc chân thành nhất; những trăn trở, khát vọng mãnh liệt nhất củatác giả về con người và cuộc sống Chúng được kết đọng lại trong nỗi buồn, sầu da diết,triền miên, mênh mông, vô tận: “buồn vũ trụ” và “sầu nhân thế”

- Nỗi buồn của nhà thơ xuất phát từ nỗi đau trước hoàn cảnh nước mất nhà tan, từ sựday dứt trước số phận nhỏ nhoi, mong manh của con người giữa dòng đời sầu thương

vô tận

- Mặc dù buồn sầu nhưng nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn đẹp, trong sáng Nó là nỗiniềm riêng của tác giả đồng thời cũng là tâm trạng của một thế hệ thanh niên thời vongquốc Đó là “nỗi buồn sông núi” trước cảnh nước mất nhà tan, nỗi buồn của một thanhniên trí thức có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân luôn khao khát hoà nhập với đời, khaokhát được làm gì đó có ý nghĩa nhưng bất lực, bế tắc; nỗi buồn của một cái tôi cô đơn,

bơ vơ luôn khao khát tình đời, tình người…

Trang 11

- Với sự chân thành của cảm xúc, sự tinh tế, giàu sức biểu cảm của ngôn từ và hìnhảnh, bài thơ Tràng giang đã tạo nên một sự cộng hưởng giữa nhà thơ với độc giả; thực

sự đã gieo vào lòng các thế hệ bạn đọc bao rung động mãnh liệt, đồng điệu, đồng cảm;gợi dậy ở họ những tình cảm đẹp, giúp họ biết buồn, biết đau, biết day dứt, trăn trởtrước cuộc sống và con người … trong bất cứ hoàn cảnh nào thì đó cũng là điều thànhcông nhất của người nghệ sĩ

3 Đánh giá

- Ý kiến trên không chỉ đúng mà còn sâu sắc thấm thía về giá trị của tác phẩm vănchương

- Tràng giang là một minh chứng sống động cho nhận định

Bàn luận về câu nói của Lamactin“Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi”.

1 Giải thích:

+ Thơ không chỉ là một nghệ thuật: thơ là một nghệ thuật kì diệu nhất của ngôn ngữ,ngôn ngữ thơ cô động, hàm súc, giàu hình ảnh và nhịp điệu Sự phân dòng và hiệp vầncủa lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấmsâu của ý thơ

+ Thơ là sự giải thoát của lòng tôi: thơ là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói của tìnhcảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời

+ Thơ không chỉ là sản phẩm kì diệu của nghệ thuật ngôn từ mà thơ còn là phương tiệngiao tiếp, bộc bạch tình cảm của người nghệ sĩ với đời

2 Bàn luận:

+ Ý kiến trên nêu lên được đặc trưng cơ bản của thơ

+ Những nhà thơ lớn là những bậc thầy về ngôn ngữ, những bài thơ hay phải có ngônngữ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhịp điệu Nhưng thơ chỉ tràn ra khi các cungbậc cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ dâng trào cao độ, đòi hỏi được giãi bày, sẻ chia,cảm thông…

+ Là tiếng nói tâm hồn được nói một cách nghệ thuật nên thơ dễ lay động hồn người, làtiếng lòng đi tìm những tiếng lòng đồng điệu

+ Định hướng cho người sáng tác, là căn cứ để đánh giá giá trị của một tác phẩm thơ

- Học sinh lựa chọn một số tác phẩm thơ đã được học để bày tỏ quan điểm riêng

Viết truyện ngắn đều phải kiêng kỵ hai điều: hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện.

(Trích Văn học và nhân cách, Nguyễn Thanh Hùng, NXB Văn học, 1994, tr.90)

Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Qua một số truyện ngắn của Văn học

Việt Nam 1930-1945 trong chương trình Ngữ văn 11 hãy làm sáng tỏ vấn đề.

1 Cách hiểu ý kiến

Trang 12

*Giải thích

- Truyện ngắn: Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm

hầu hết các phương diện của đời sống: Đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của

nó là ngắn

- Điều phải kiêng kỵ - tránh, không được phép mắc vào của nhà văn khi viết truyện ngắn: Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện

+ Chuyện: Sự việc được kể lại bằng lời văn

+ Văn: Ngôn từ, lời kể của tác phẩm văn học.

→ Hết chuyện là hết văn: Sự việc khi đã kể xong mà lời văn của truyện ngắn không có

khả năng gợi suy ngẫm, không còn âm vang trong tâm trí bạn đọc → Yêu cầu: Chuyện

kể đã hết nhưng điều muốn nói đằng sau câu chuyện, lời kể lại phải bắt đầu Sự việctrong truyện ngắn đòi hỏi phải nhiều trữ lượng mới có khả năng khơi gợi ở độc giảnhững suy tưởng

→ Hết văn là hết chuyện: Lời văn dừng, những điều viết ra trên bề nổi câu chữ đã khép

lại là chuyện muốn nói cũng hết Tác phẩm không để độc giả viết tiếp câu chuyện,không đặt ra được những chuyện nhân sinh → Yêu cầu: Lối viết trong truyện ngắnphải có khả năng tạo nhiều vùng trắng, dồn nén, có độ mở lớn

→ Từ chỗ nêu ra những điều nhà văn phải kiêng kỵ, ý kiến đã đề cập đến yêu cầu về

phẩm chất quan trọng gắn với đặc trưng của thể loại truyện ngắn: Tác phẩm đã dừngnhưng những sự việc, lời văn lại có khả năng khơi gợi, nói được nhiều điều

* Cơ sở lí luận văn học

- Đặc trưng của văn chương nghệ thuật: quá trình sáng tác văn học chính là quá trình kíhiệu hóa, nhà văn phản ánh đời sống và tư tưởng tình cảm của mình thông qua hìnhtượng nghệ thuật Hơn nữa văn chương coi trọng tính hàm súc, ý tại ngôn ngoại Truyện

ngắn nói riêng và văn học nói chung không chỉ nói ở những điều viết ra trên bề mặt câu chữ mà còn nói ở tầng sâu, tầng chìm từ những vùng trống, chỗ trắng, khoảng im lặng

giữa các con chữ, lời văn

- Đặc trưng của thể loại truyện ngắn: Truyện ngắn là ngắn nên tất cả phải cô đặc, dồn nén Bởi vậy mỗi sự việc, chi tiết, hình ảnh, ngôn từ, hành văn trong truyện ngắn đều

phải có sức chứa lớn, có dư lượng dồi dào hơn nhiều những gì trên bề mặt…

2 Làm sáng tỏ vấn đề qua một số truyện ngắn của Văn học Việt Nam 1930-1945

trong chương trình Ngữ văn 11

Thí sinh phải chọn đúng một số truyện ngắn theo yêu cầu và bám sát đề khi phân tích để

làm nổi bật được vấn đề: Chuyện kể của tác phẩm đã hết, câu chữ đã dừng nhưng tác

phẩm không khép kín bưng mà lại có khả năng mở ra được nhiều điều.

3 Bàn luận mở rộng và ý nghĩa của vấn đề

Trang 13

- Bàn luận mở rộng: Những điều cấm kỵ khác khi viết truyện ngắn, so sánh một số vấn

đề với tiểu thuyết…

- Ý nghĩa của vấn đề đối với người sáng tác và người đọc

Bàn về thơ Lưu Quang Vũ viết rằng:

“ Mỗi bài thơ của chúng ta

Phải như một ô cửa

Mở tới tình yêu” (Liên tưởng tháng hai)

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của anh (chị) về bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu) và “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) hãy làm sáng tỏ?

1/ Giải thích ý kiến:

- Ô cửa – là nơi ngăn cách hai thế giới bên trong và bên ngoài -> So sánh mỗi bài thơnhư một ô cửa, nhà thơ muốn nói đến chức năng của thơ ca, là phương tiện giúp nhà thơgửi gắm tâm tư, tình cảm sâu kín của cá nhân mình đến mọi người

- Mở tới tình yêu – Đằng sau cánh cửa thơ ca chính là tình yêu- tình cảm của nhà thơvới con người, cuộc đời; tình yêu – còn là tình cảm của con người với con người dànhcho nhau

-> Ý kiến của Lưu Quang Vũ bàn về giá trị của thơ ca: Thơ ca là phương tiện để nhàthơ mở cánh cửa lòng mình đến với mọi người, và hơn thế thơ ca còn là cầu nối tâmhồn của mọi người tìm đến với nhau

2/ Phân tích, chứng minh

* Khẳng định ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng, sâu sắc và đúng đắn

*Chứng minh: Học sinh kết hợp kiến thức lí luận và kiến thức văn học để chứngminh

- Lí luận:

+ Thơ cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác là tấm gương phản chiếu hiệnthực đời sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả Các nhà thơ làm thơ khitình cảm dâng trào mãnh liệt trong trái tim, họ có nhu cầu muốn được sẻ chia, tìm được

sự đồng điệu từ phía người đọc Mỗi bài thơ được tạo ra như một cánh cửa mở tâm hồn

là bởi thế!

+ Thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt đã được ý thức Nhà thơ không chỉ muốn chia

sẻ, bộ lộ tình cảm của cá nhân mình, mà muốn lan truyền những xúc cảm ấy tới trái timngười đọc, đem đến cho họ những xúc cảm mới Từ đó, thơ kết nối những tâm hồn

Trang 14

người đọc đến với nhau, cùng hướng đến những giá trị tốt đẹp Bởi thế mà mỗi bài thơphải mở tới tình yêu, đưa con người đến với nhau.

- Chứng minh bằng kiến thức văn học

+ Vội vàng (Xuân Diệu): chứa đựng những cảm xúc riêng tư mà nhà thơ muốn được sẻchia với mọi người Mở ô cửa “Vội vàng” ta bắt gặp tình yêu cuộc sống sôi nổi, mê say;khoảnh khắc nghẹn ngào, xót xa khi nhận ra sự chảy trôi nghiệt ngã của thời gian, củatuổi trẻ trong cuộc đời; thái độ sống vồ vập, gấp gáp, chạy đua với thời gian để sốngtrọn vẹn và ý nghĩa Những người đọc “vội vàng” cũng sẽ nhận ra những cung bậc cảmxúc ấy, để thấu hiểu nhà thơ, thấu hiểu chính mình và thấu hiểu nhau nhiều hơn Vộivàng sẽ giúp cho người đọc mở được cánh cửa của tình yêu cuộc sống, yêu tuổi trẻ củachính mình, để sống trọn vẹn hơn…

+ “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử): Trước hết là tình yêu sâu sắc của nhà thơ dành cho

Vĩ Dạ, cho cuộc đời, khát khao được sống, được yêu thương,… Người đọc mở ô cửa

“Đây thôn Vĩ Dạ” sẽ bắt gặp những xúc cảm đáng trân trọng ấy, đồng cảm sẻ chia vớinhà thơ tài hoa bạc mệnh, từ đó mà thêm yêu thiên nhiên, cuộc sống, con người quanhmình…

3/ Mở rộng, nâng cao:

- Thơ ca có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người Mỗi bài thơ là nhữngtâm tư tình cảm sâu sắc mãnh liệt của người nghệ sĩ gửi gắm tới con người, cuộc đời.Qua những xúc cảm của cá nhân, mỗi bài thơ lại đánh thức những xúc cảm trong lòngngười đọc, hướng con người tới những giá trị Chân – Thiện – Mĩ Cuộc sống sẽ tốt đẹphơn khi có thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung (Hs mở rộng các tác phẩm thơkhác)

+ Với người đọc: cần cảm nhận tác phẩm bằng tất cả tâm hồn để hiểu được tiếng lòng

mà người nghệ sĩ gửi gắm Hãy mở những ô cửa thơ ca để hiểu người, hiểu mình, đểđược sống trong một thế giới ấm áp, yêu thương,…

Có ý kiến cho rằng:

“Truyện ngắn đã chọn con đường làm một hạt cát để hình dung về thế giới Như William Blake từng nói: “Để trông thấy một thế giới trong một hạt cát” Trong cái

Trang 15

nhỏ bé nhất của vạn vật, thế giới vẫn hiện hữu Và nếu chúng ta lặn sâu được vào cuộc sống, chúng ta sẽ khám phá được toàn vẹn bản thể vũ trụ chỉ trong một hạt cát mỏng”

Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm về vấn đề trên và chọn một vài tác phẩm trong chương trình lớp 11 để làm sáng tỏ ý kiến của mình

1 Giải thích ý kiến:

Truyện ngắn đã chọn con đường làm một hạt cát để hình dung về thế giới Như WilliamBlake từng nói: “Để trông thấy một thế giới trong một hạt cát” Trong cái nhỏ bé nhấtcủa vạn vật, thế giới vẫn hiện hữu Và nếu chúng ta lặn sâu được vào cuộc sống, chúng

ta sẽ khám phá được toàn vẹn bản thể vũ trụ chỉ trong một hạt cát mỏng” Ý kiến đề cập Ý kiến đề cậpđến những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn:

- Dung lượng nhỏ - như một hạt cát, cái nhỏ bé nhất của vạn vật

- Nội dung phản ánh có sức chứa lớn, giúp người đọc hình dung về thế giới, khám pháđược toàn vẹn bản thể vũ trụ chỉ trong một hạt cát mỏng

- Yêu cầu đối với nhà văn: lặn sâu được vào cuộc sống – Sống sâu sắc, có tài năng nghệthuật để khái quát được những vấn đề lớn lao của cuộc sống, thế giới thông qua hìnhthức mini của tác phẩm nghệ thuật

- Đặc trưng của thể loại truỵện ngắn: lấy ít nói nhiều, lấy điểm nói diện, lấy cái khoảnhkhắc để nói cái muôn đời…

- Để làm nổi bật đặc trưng truyện ngắn được phân tích, cần làm rõ được các yếu tố sau: + Phân tích khả năng khái quát nghệ thuật của truyện ngắn, có những truyện ngắn màsức chứa ngang với một tiểu thuyết; có những vấn đề lớn lao của cuộc sống nhân sinhlại được gói ghém trong phạm vi vài trang truyện ngắn

+ Để khái quát đời sống, tác giả truyện ngắn thường sáng tạo ra các tình huống truyệnđặc sắc, mà ở đó thường chứa đựng và phản ánh tập trung các mâu thuẫn cơ bản của đờisống

Trang 16

+ Để truyện ngắn có khả năng khái quát cao, nhà văn thường tập trung xây dựng nhữngnhân vật có tính điển hình cao, qua đó tác giả đàm luận với người đọc về vai trò và sốphận của con người giữa xã hội và cuộc đời

3 Chứng minh

HS lấy dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

4 Bàn luận, mở rộng nâng cao

- Khẳng định vị trí đặc biệt của truyện ngắn trong các thể loại tự sự

- Định hướng tiếp nhận đối với người đọc

- Yêu cầu đối với nhà văn khi viết truyện ngắn

“ Thơ ra đời cốt để nói những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ

hồ nhất của tâm hồn con người” (Nguyễn Đăng Mạnh).

Anh/chị hãy giải thích và làm sáng tỏ nhận định trên.

1.Giải thích ý kiến.

a Cắt nghĩa:

Cách nói “thơ ra đời cốt” nhằm nhấn mạnh, coi trọng nhiệm vụ trước tiên, sứ mệnhriêng của thơ ca Thơ ca không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống bề ngoài như tácphẩm kịch, tự sự mà còn hướng vào khám phá, diễn tả tất cả những cung bậc, sắc tháiphức tạp, bí ẩn mà cũng rất kỳ diệu của thế giới tâm hồn con người

+ Chuối ngôn từ “những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ hồ nhấtcủa tâm hồn con người” đóng vai trò xác định cụ thể sứ mệnh riêng, đặc thù đó của thơ

ca Tâm hồn con người là “một vũ trụ chứa đầy bí mật”, có những cung bặc, sắc tháitình cảm, tâm hồn dễ dàng nắm bắt, diễn tả và cũng có những cung bặc, sắc thái tâm sự,nỗi niềm có thực nhưng lai vô cùng tinh vi, sâu kín, mong manh, mơ hồ, rất khó nắmbắt cũng như diễn tả

Thơ ra đời là để khám phá hiện thực tâm hồn bí ẩn đó

Như thế, nhận định đã đề cập đến đặc trưng, nhiệm vụ có tính đặc thù, riêng có của thơca

b Lí giải: Sở dĩ vậy bởi xuất phát từ đặc trưng văn học: Văn học phản ánh hiện thựcđời sống con người nhưng đối tượng phản ánh đặc thù của văn học lại là con ngườitrong những mối quan hệ xã hội phức tạp, đa dạng, văn học chú trọng khám phá hiệnthực số phận con người và đào sâu thế giới nội tâm phong phú, bí ẩn của con người, thếgiới nội tâm ấy gồm những sắc thái tâm lý phức tạp, những biến thái tâm hồn tinh vi,tinh tế

Trang 17

+ Đặc trưng, nhiệm vụ ấy của thơ còn có nguyên do từ đặc trưng của thơ với tư cách tácphẩm trữ tình: mọi hiện thực đời sống hay tâm hồn con người được phản ánh trong thơqua rung động, cảm xúc mãnh liệt của người viết được biểu hiện bằng hệ thống nghệthuật riêng: ngôn từ, hình ảnh, thanh, vần, nhịp, giọng,

+Người làm thơ là người có phẩm chất, tố chất riêng: đó là trái tim đa cảm, nhạy cảm,tâm hồn tinh tế giúp “lắng nghe và thấu hiểu” mọi rung động tinh vi, tinh tế, mongmanh nhất của thế giới tâm hồn con người, tạo vật; có trí tưởng tượng bay bổng, có kho

từ vựng dồi dào, để diễn tả chân xác, tài tình mọi trạng thái tình cảm, tâm hồn conngười

+ Trong mỗi dẫn chứng cần làm rõ: Người viết đã khám phá, diễn tả được những sắcthái tâm hồn, tình cảm nào và biểu đạt nó bằng những phương tiện nghệ thuật độc đáonào?

3 Bàn luận:

+Chỉ ra đặc trưng, nhiệm vụ riêng của thơ ca, Gs Nguyễn Đăng Mạnh đồng thời đã xácđịnh đúng lý do, cắt nghĩa thuyết phục sự tồn tại của thơ trong đời sống tinh thần nhânloại

+ Nhờ những vần thơ, trang thơ như thế, thơ ca và nhà thơ đã góp phần nuôi dưỡng, bồiđắp tâm hồn con người, làm cho thế giới nội tâm con người trở nên phong phú, giàu có,nhạy cảm hơn, tinh tế hơn

+Cần thấy, khi nói “Thơ ra đời cốt để nói những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mongmanh nhất, mơ hồ nhất của tâm hồn con người” là đã chạm đến chiều sâu cần thiết củahiện thực đời sống, hướng đến đích cuối cùng của mọi tác phẩm nghệ thuật chân chính.+Phê phán quan niệm quá coi trọng yêu cầu, nhiệm vụ phản ánh hiện thực bề ngoài củathơ, biến thơ thành công cụ minh họa cho đường lối, chính sách một thời “Thơ là hiệnthực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”

+ “ nói những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ hồ nhất của tâm hồncon người” không chỉ đặt ra yêu cầu: người làm thơ phải luôn “mở hồn ra mà đón lấytất cả những vang động của đời” trong đó có âm vang của hồn người , có khả năng sốngsâu với đời, với người mà còn đòi hỏi nhà thơ phải biết lựa chọn những yếu tố hìnhthức, phương tiện nghệ thuật phù hợp, đắc địa, độc đáo để thể hiện

Trang 18

+Người đọc thơ, muốn tiếp nhận cái hay, vẻ đẹp riêng của thơ ca, phải có tâm hồn nhaycảm, trái tim đa cảm “hứng thú, đắm say”

4 Đánh giá:

- Nhận định đề cập chính xác đặc trưng của thể loại thơ

- Nhận định là định hướng cho người đọc tiếp cận tác phẩm thơ…

Trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có một truyện ngắn hay, có ý kiến cho rằng: Viết

ra không khó, cái khó là tìm được những câu chuyện đáng kể, những tư tưởng đáng ghi Ý kiến khác lại cho rằng: Điều quan trọng không phải là câu chuyện được kể,

mà là cách kể.

Anh/chị hiểu như thế nào về hai ý kiến trên? Hãy bày tỏ quan điểm của mình qua việc phân tích một truyện ngắn tự chọn thuộc giai đoạn văn học Việt Nam 1930 - 1945.

1 Giải thích hai ý kiến

- Ý kiến thứ nhất: Từ việc nêu cách hiểu về các cụm từ những câu chuyện đáng kể,

những tư tưởng đáng ghi, học sinh cần khái quát được nội dung chính của ý kiến này là

nhấn mạnh vai trò của nội dung tư tưởng trong việc tạo nên giá trị của một truyện ngắn

- Ý kiến thứ hai: Học sinh giải nghĩa được các cụm từ câu chuyện được kể và cách kể,

từ đó khái quát nội dung của ý kiến này là nhấn mạnh đến vai trò của hình thức nghệthuật, đặc biệt là nghệ thuật trần thuật trong việc tạo nên nét đặc sắc cho một tác phẩmtruyện ngắn

2 Trình bày suy nghĩ về hai ý kiến

- Học sinh có thể đồng tình với một trong hai ý kiến, cũng có thể đồng tình với cả haibởi thực chất hai ý kiến này không hoàn toàn đối lập loại trừ nhau mà chỉ là những cáchnói nhấn mạnh, bổ sung cho nhau để giúp ta nhận thức rõ hơn về giá trị thực sự của mộttác phẩm truyện ngắn Dù bày tỏ quan điểm theo hướng nào, học sinh cũng cần cónhững luận giải phù hợp, chặt chẽ, giàu sức thuyết phục

- Ý kiến thứ nhất đề cao vai trò của nội dung tư tưởng, bởi đó là yếu tố quan trọng trongtruyện ngắn Không giống như tiểu thuyết, truyện ngắn là một lát cắt của đời sống, mộtkhoảnh khắc đầy ý nghĩa mà nhà văn lựa chọn để chuyển tải thông điệp của mình Vìvậy lựa chọn câu chuyện đáng kể và chắt lọc những tư tưởng mới mẻ nhân văn là điềutạo nên sức hấp dẫn đáng kể cho truyện ngắn

- Ý kiến thứ hai nhấn mạnh vai trò của hình thức nghệ thuật, bởi cách kể câu chuyệnnhư thế nào cũng là một vấn đề then chốt tạo nên cái hay cho truyện ngắn Cùng mộtcốt truyện, một chủ đề, nhà văn sáng tạo tình huống, sắp đặt trình tự kể, lựa chọn ngôi

kể, giọng điệu, linh hoạt điều chỉnh tốc độ kể nhanh hay chậm, phối hợp đa dạng các

Trang 19

điểm nhìn trần thuật Tất cả những yếu tố nghệ thuật đó sẽ tạo nên sự lôi cuốn cho câuchuyện, đưa người đọc vào thế giới nghệ thuật riêng biệt mà nhà văn sáng tạo nên.

- Hai yếu tố trên thực ra thống nhất và gắn bó với nhau vô cùng chặt chẽ Nội dung tưtưởng sâu sắc bao giờ cũng chỉ được làm nổi bật khi nó được chuyển tải qua một hìnhthức phù hợp Và ngược lại, nếu hình thức nghệ thuật độc đáo hấp dẫn nhưng câuchuyện kể và tư tưởng của nhà văn cũ kĩ sáo mòn hoặc thậm chí lệch lạc thì sức sốngcủa tác phẩm truyện ngắn đó cũng không thể bền lâu

3 Phân tích một truyện ngắn tự chọn để làm sáng tỏ quan điểm của bản thân.

- Học sinh có thể lựa chọn bất kì truyện ngắn nào trong chương trình thuộc văn học Việt

Nam giai đoạn 1930-1945 và phân tích theo định hướng lý luận như trên để làm rõquan điểm của mình Tránh phân tích lan man dài dòng không cần thiết hoặc diễn xuôivăn bản

4 Đánh giá, mở rộng vấn đề:

- Yêu cầu đối với người sáng tác: Để tạo nên một truyện ngắn hay, nhà văn cần phảibiết đi sâu vào đời sống để tìm hiểu và khai phá chất liệu hiện thực, từ đó chắt lọcnhững tư tưởng lớn lao giàu ý nghĩa nhân văn, mang tinh thần thời đại; đồng thời khôngngừng lao động và sáng tạo để tạo nên sự hài hòa cân xứng giữa nội dung và hình thứcnghệ thuật…

- Yêu cầu đối với người tiếp nhận: Người đọc cần phát huy vai trò chủ động, tích cựccủa mình trong việc tiếp nhận những giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuậtcủa một tác phẩm truyện ngắn, làm giàu cho đời sống tâm hồn và thị hiếu thẩm mỹ củamình

Bàn về thể loại truyện, sách giáo khoa Ngữ văn 11, Nâng cao cho rằng:

Truyện không chỉ tái hiện lịch sử đời sống mà còn là “hành trình đi tìm con người trong con người” (M Bakhtin).

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

1.Giải thích ý nghĩa của nhận định

- Truyện tập trung phản ánh đời sống qua các sự kiện, biến cố nhằm thể hiện những vấn

đề về cuộc sống, con người và biểu hiện tâm tư, tình cảm của chủ thể trước thực tạibằng hình tượng văn học

- “Tái hiện lịch sử đời sống”: tác phẩm tự sự là nơi lưu giữ những tri thức sâu rộng về

thế giới, cuộc đời; giúp con người khám phá, nhận thức, thấu hiểu sâu sắc bản thân

Trang 20

mình Từ đó, những bài học quý giá về lẽ sống sẽ hình thành cho con người tư tưởngtiến bộ, có thái độ và quan điểm sống đúng đắn.

- “Hành trình đi tìm con người trong con người”: Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất, khát

vọng sống cao đẹp, tài năng của con người Đó là vẻ đẹp tiềm ẩn, khuất lấp bên trongnhân vật được nhà văn phát hiện, phản ánh và gửi gắm những bài học mang tính triết línhân sinh sâu sắc

Như vậy, tác phẩm tự sự không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống mà còn là nơinhà văn gửi gắm những quan niệm về cuộc đời và về con người; từ đó đặt ra những yêucẩu đối với người sáng tác

2 Phân tích tác phẩm “Chữ người tử tù” để làm sáng tỏ ý kiến

- Quan niệm của Nguyễn Tuân về con người

+ Con người tài năng xuất chúng, kết tinh khí thiêng của trời đất

+ Con người biết xám hối, tự trăn trở, dày vò, quyết tâm thay đổi để hoàn thiện

+ Con người biết thưởng thức văn hóa, say mê, trân trọng cái đẹp, khao khát thưởngthức tuyệt đỉnh thi pháp

- Nhân vật Huấn Cao được khắc họa bằng bút pháp lãng mạn, bằng biện pháp đối lập vàđược đặt trong một tình huống đặc biệt Từ đó nhà văn nêu lên vẻ đẹp của nhân vật: tâmhồn của Huấn Cao thanh khiết, cao cả, không chịu khuất phục trước tiền tài, danh vị,tâm hồn chỉ chịu khuất phục bởi cái tình, cái nghĩa và giá trị của cái đẹp; con người cótài, tâm, thiên lương trong sáng sẽ cảm hóa tâm hồn người khác

3 Bàn luận

- Nhận định trên đã khái quát đầy đủ nội dung của văn học (giá trị hiện thực và giá trị

nhân đạo); đồng thời còn nhấn mạnh chức năng của văn học là “hành trình đi tìm con

người trong con người”.

- Vai trò và trách nhiệm của người nghệ sĩ trong việc gắn bó với đời sống, yêu thươngcon người và đặt tính nhân bản lên hàng đầu của nhiệm vụ sáng tác

- Quan niệm của Nam Cao và Nguyễn Tuân về con người: đề cao cái tài trong sáng tạonghệ thuật, cái tâm trong quan hệ với mọi người và hướng con người đến việc giữ gìnthiên lương trong sáng, cao đẹp

Trang 21

- Văn học đã khiến những tâm hồn lớn giàu yêu thương mãi bất tử, để họ sống mãitrong lòng bạn đọc.

Có ý kiến cho rằng :

“Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là” (Arixtot)

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Làm sang tỏ ý kiến qua hai tác phẩm

Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

1.Giải thích

- Văn học lãng mạn: Trào lưu văn học lớn xuất hiện ở Châu Âu cuối thế kỉ XVIII,đầu thế kỉ XIX Ở Việt Nam, văn học lãng mạn ra đời và phát triển trong giai đoạn 1930– 1945 Văn học lãng mạn là tiếng nói của cái tôi cá nhân giàu cảm xúc, phát huy cao

độ trí tưởng tượng, diễn tả những khát vọng, ước mơ của con người vượt lên trên thựctại khách quan

- Thế giới như nó đang là: thế giới của thực tại khách quan đang xảy ra, nằmngoài ý muốn chủ quan của con người

- Thế giới có thể là và phải là: thế giới trong mơ ước, trong khát vọng, mongmuốn chủ quan của tác giả

=> Như vậy, ý kiến đề cập đến một đặc điểm của văn học lãng mạn là thoát li hiện thựckhách quan, hoặc nếu có viết về hiện thực thì cũng nhằm hướng tới một thế giới tốt đẹphơn trong mơ ước, mong muốn hiện thực hóa thế giới mơ ước ấy theo ý muốn chủquan

Trang 22

thoát li hiện thực như các nhà văn lãng mạn đương thời nhưng hiện thực mà Thạch Lamphản ánh không nhức nhối, khổ đau, cần lên án riết róng như trên trang văn của các nhàvăn hiện thực.

- Thế giới có thể là, phải là: Thế giới của hạnh phúc, sung túc, êm đềm trong quákhứ (qua hồi ức của Liên); thế giới đông đúc, ồn ào đầy ánh sáng, niềm vui (qua hìnhảnh chuyến tàu đêm)

4 Đánh giá

- Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù thực sự là những tác phẩm văn học lãng mạn, đã

tạo ra được thế giới như nó có thể là, phải là – thế giới tốt đẹp trong mơ ước của conngười, đặt niềm tin vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn cho con người

- Hai nhà văn đã miêu tả thế giới ấy bằng tài năng nghệ thuật độc đáo, với nhữngthủ pháp đặc trưng của văn học lãng mạn như tương phản, đối lập; nghệ thuật xây dựngtình huống, nhân vật; sử dụng ngôn ngữ, chi tiết;…

- Tuy nhiên việc miêu tả thế giới như nó có thể là và phải là cũng là hạn chế của

văn học lãng mạn vì đã thoát li, quay lưng với những vấn đề nóng bỏng của xã hội

Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: “Nó cắt ra một mảnh nhỏ của hiện thực, đặt mảnh ấy vào trong những giới hạn nào đó, nhưng nhờ vậy tác phẩm sẽ bung ra như một cú nổ làm mở toang một hiện thực rộng lớn hơn rất nhiều” (Julio Cotázar,

Về truyện ngắn và truyện cực ngắn, Hoàng Ngọc Tuấn dịch).

Anh chị hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên qua một vài truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

1.Giải thích.

- Truyện ngắn: Thể loại tự sự cỡ nhỏ, “thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng,

phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con

người” (Từ điển thuật ngữ văn học)

Trang 23

- Truyện ngắn được coi như “lát cắt của đời sống” Nó không có khả năng bao chứatoàn bộ hiện thực đời sống hay những mảng hiện thực rộng lớn mà chỉ là những “mảnhnhỏ” được “đặt trong giới hạn nhất định”.

- Tuy vậy, từ một hình thức trần thuật ngắn gọn, truyện ngắn có khả năng khái quát lêncác vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về con người và xã hội; nó chứa đựng sức khai phóng

tiềm tàng đến kinh ngạc bung ra như một cú nổ, từ một mảnh nhỏ mà mở toang một

hiện thực rộng lớn hơn rất nhiều.

Ý kiến trên đã khẳng định một đặc trưng quan trọng về khả năng phản ánh hiệnthực của truyện ngắn: đây là thể loại có sức chứa lớn với khả năng bùng nổ và phản ánhhiện thực rộng hơn nhiều lần hiện thực được phản ánh trực tiếp trong tác phẩm

2 Bình luận

Đây là ý kiến đúng đắn, khẳng định được một phương diện cơ bản trong đặctrưng phản ánh hiện thực của truyện ngắn:

+ Truyện ngắn chỉ là những mảnh nhỏ của hiện thực đời sống, nó luôn chịu giới hạn

của dung lượng; số nhân vật, sự kiện; cốt truyện thường diễn ra trong một thời gian,không gian hạn chế…

+ Song thực tế, từ một lát cắt nhỏ, truyện ngắn có thể giúp bạn đọc thấy cả một đời

thảo mộc, từ một mảnh nhỏ, truyện ngắn vẫn sức khái quát những mảng hiện thực rộng

lớn, thể hiện chiều sâu bản chất của đời sống xã hội

+ Làm được điều đó là nhờ khả năng xây dựng các chi tiết có dung lượng lớn, lựa chọnhình tượng nghệ thuật, kết cấu giàu ý nghĩa, lối hành văn mang ẩn ý tạo cho tác phẩmchiều sâu không nói hết…

Trăn trở về nghề, nhà thơ Lê Đạt chia sẻ:

“Tôi trọng những nhà thơ sinh sự với văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ”

Trang 24

Hãy làm sáng tỏ ý kiến qua một tác phẩm mà anh (chị) tâm đắc nhất.

* Lí giải:

- Ngôn ngữ là chất liệu, yếu tố đầu tiên của văn học Ngôn ngữ luôn được làm mớikhông ngừng trong quá trình sử dụng, đời sống giao tiếp để mang lại cho ngôn ngữnhững nguồn năng lượng vô tận của khả năng diễn đạt và biểu cảm

- Ngôn ngữ thơ là tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là sự hữu hình hóa tiếng nói tâm hồn,những trạng thái tình cảm, cảm xúc của người làm thơ, bởi bản chất của thơ là trữ tình

- Lao động sáng tạo thơ thực chất là lao động sáng tạo ngôn từ Hành trình sáng tạo thơ

- khám phá ngôn từ - luôn đòi hỏi sự độc đáo Mỗi nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo củamình vì vậy cần có ý thức tiếp thu, học tập kho báu ngôn từ; biết ý thức không chấpnhận khuôn mẫu, biết phá bỏ giới hạn biểu đạt của ngôn từ; phải tiếp tục làm mới, làmgiàu ngôn từ bằng tài năng, tâm huyết và sự sáng tạo mang dấu ấn cá nhân

2 Chứng minh

- HS biết lựa chọn tác phẩm giá trị, in đậm dấu ấn sáng tạo ngôn từ của người nghệ sĩ

- Bằng việc cảm nhận dấu ấn riêng độc đáo, khả năng sáng tạo của nhà thơ trong tácphẩm được chọn lựa về phương diện ngôn từ như: từ và cách phối hợp từ, âm thanh,giọng điệu, nhịp điệu, các biện pháp nghệ thuật… làm sáng tỏ vấn đề

3 Bàn luận, đánh giá

- Lời chia sẻ của Lê Đạt chính là tâm niệm sâu sắc của người nghệ sĩ luôn trăn trở vềnghề: nghiêm túc, nỗ lực trong lao động sáng tạo, biết sinh sự với văn phạm - phá bỏgiới hạn biểu đạt của ngôn từ; để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ khám phá khả năng biểuđạt để làm mới, làm giàu ngôn từ

- Ý kiến cũng mang đến một định hướng, gợi mở, một yêu cầu đối với người đọc thơ:biết cảm, hiểu giá trị, sự độc đáo của ngôn từ và trân trọng tài năng, sự lao động sángtạo của nhà thơ

Trang 25

- Nỗ lực sáng tạo ngôn từ là yêu cầu thiết yếu trong sáng tạo văn chương, tuy nhiên,không vì thế mà biến lao động sáng tạo thơ thành việc gò câu, đúc chữ cực đoan.

Trong diễn từ nhận giải Nobel văn học 2016, Bob Dylan cho rằng: “Bất cứ ai viết một cuốn sách, một bài thơ hay một vở kịch ở bất cứ đâu trên thế giới đều có thể nuôi dưỡng giấc mơ bí mật từ trong sâu thẳm Có thể nó được chôn sâu đến mức chính họ cũng không nhận ra.”

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy bình luận về giấc mơ của Thạch Lam trong “Hai đứa trẻ” và giấc mơ của Nguyễn Tuân trong “Chữ người tử tù.”

1 Giải thích

- Giấc mơ: mong muốn, khát vọng mà người nghệ sĩ gửi gắm trong sáng tác và thể hiện

trong chủ đề, tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm

- Giấc mơ bí mật từ trong sâu thẳm,có thể được chôn sâu đến mức chính họ cũng không

nhận ra:

+ Giấc mơ của người nghệ sĩ được thoát ra từ hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, có

thể vượt ra ngoài ý đồ sáng tạo của tác giả

+ Giấc mơ là ước vọng tha thiết nhất của người sáng tạo, là tiếng nói của bản thể, đôi

khi bản thân người nghệ sĩ cũng không ý thức rõ

- Theo Bob Dylan, ý nghĩa thẩm mĩ của tác phẩm nghệ thuật nói chung, tác phẩm vănhọc nói riêng vô cùng phong phú và không phải lúc nào cũng gắn với dụng ý nghệ thuậtcủa người sáng tác

+ Tác phẩm không chỉ thể hiện nhận thức, lí giải của nhà văn về hiện thực mà còn chứađựng những giấc mơ về cuộc đời, là phương tiện để tác giả thực hiện sứ mệnh của

“người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp.”

+ Tác phẩm nghệ thuật chứa đựng những “giấc mơ bí mật”, vì vậy nó là một “cấu trúcmở” thu hút sự kiếm tìm, khám phá, lí giải của người đọc

2 Phân tích, bình luận

- Giấc mơ của Thạch Lam trong “Hai đứa trẻ”:

+ Giấc mơ đưa con người thoát khỏi cuộc sống thực tại tối tăm, tù đọng để đến với cuộcsống sôi động đầy ánh sáng (phân tích bức tranh phố huyện và hình ảnh chuyến tàuđêm, hình ảnh ánh sáng và bóng tối…); giấc mơ mỗi kiếp nhân sinh là một cuộc đời có

ý nghĩa chứ không phải là sự tồn tại leo lét, vô danh (phân tích hình ảnh hai đứa trẻ vàcảnh chờ tàu…)

+ Giấc mơ của Thạch Lam gửi vào hình tượng hai đứa trẻ nên vừa bé nhỏ, vừa lớn lao;vừa giàu giá trị nhân bản vừa có tính thời sự; có tác dụng thức tỉnh con người

Trang 26

+ Giấc mơ của Thạch Lam chạm tới những vấn đề mang tính chất triết lí: ý nghĩa của sựsống, tình trạng sống mòn, sống hay không sống

- Giấc mơ của Nguyễn Tuân trong “Chữ người tử tù”

+ Giấc mơ về sự chiến thắng của cái đẹp, sự song hành của cái thiện và cái đẹp trongcuộc đời (phân tích tình huống gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục, cảnh cho chữ, lờikhuyên của ông Huấn…), giấc mơ phục hưng nét đẹp của nền văn hóa cổ truyền

+ Giấc mơ của Nguyễn Tuân được kí thác vào bộ ba nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng:Huấn Cao, quản ngục, thầy thơ lại, thể hiện khao khát hướng thiện và hướng thượngcủa con người

+ Giấc mơ của Nguyễn Tuân giàu giá trị nhân văn, là khao khát muôn thuở mà nhânloại theo đuổi; giấc mơ thể hiện cái tâm, cái tầm của một nhà văn lớn

“suốt đời đi tìm cái đẹp”)

3 Mở rộng, nâng cao.

- Ý nghĩa của nhận định: Những giấc mơ bí mật được chôn giấu làm cho tác phẩm văn

học có chiều sâu vô tận, luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn

- Trong diễn từ nhận giải Nobel, giấc mơ bí mật mà Bob đề cập còn có thể hiểu là giấc

mơ được sáng tạo, được khẳng định và ghi nhận của nghệ sĩ muôn đời

Khi nói về tiếng cười trong thơ của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, Chế Lan Viên cho rằng:

“Yên Đổ, tiếng anh khóc dẫu cười không thể giấu

Và Tú Xương cười như mảnh vỡ thủy tinh”

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Từ việc tìm hiểu thơ trào phúng của hai nhà thơ, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

1 Giải thích

- “Yên Đổ, tiếng anh khóc dẫu cười không thể giấu”: tiếng cười trong thơ Nguyễn

Khuyến ẩn chứa tiếng khóc đau, là cười ra nước mắt

Trang 27

- Còn tiếng cười của Tú Xương “như mảnh vỡ thủy tinh” : tiếng cười trong thơ của ông

có sự sắc nhọn, gay gắt, dữ dội

Như vậy, ý kiến của Chế Lan Viên bàn về sự khác nhau trong tiếng cười của NguyễnKhuyến và Trần Tế Xương Là những nhà thơ trào phúng xuất sắc, song tiếng cười củaNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương có những sắc thái riêng biệt Điều đó tạo ra phongcách nghệ thuật độc đáo ở hai nhà thơ

2 Bàn luận

- Một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo sẽ tạo ra dấu ấn cá nhân trong sựnghiệp sáng tác mình Chính sự độc đáo đó làm nên sự riêng biệt, họ kiến tạo riêng chomình một giọng điệu, không thể nào trộn lẫn Và sự riêng biệt, độc đáo đó góp phần làmnên sự phong phú cho nền văn học Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương đều viết thơ

trào phúng, song ở mỗi người có một dạng “vân chữ” riêng, điều đó làm nên hai đỉnh

cao của thơ ca Việt Nam trung đại

- Thời đại mà hai nhà thơ sống có những biến động dữ dội của lịch sử xã hội Họ vừa làchứng nhân vừa nạn nhân của xã hội ấy với bao nhiêu cái chướng tai gai mắt, lố lăng,trái khoáy… Trước thực trạng đó, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương dùng tiếng cườitrong văn học để châm biếm, phê phán, đả kích những nhiễu nhương của xã hội Nhưng

ở mỗi tiếng cười có những sắc thái khác nhau:

+ Sắc thái tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến đó là “tiếng anh khóc dẫu cười không

thể giấu” Tiếng cười của ông nhẹ nhàng, kín đáo, thâm trầm, sâu sắc Thơ ông thường

dùng từ đa nghĩa, lối nói nước đôi, những hình ảnh ẩn dụ

+ Tiếng cười trong thơ Trần Tế Xương “như mảnh vỡ thủy tinh”: đó là tiếng cười quyết

liệt, góc cạnh, bốp chát như vỗ vào mặt đối tượng

- Lí giải nguyên nhân về sự khác nhau trong sắc thái tiếng cười:

+ Về vị trí xã hội: Nguyễn Khuyến đỗ đạt cao, kinh qua nhiều chức quan, trong khi đó

Tú Xương là một tú tài vớt và nhiều lần thi hỏng Nên cái cười của Nguyễn Khuyến nhưmột sự xoa đầu bảo ban của người khác, còn cái cười của Tú Xương thể hiện một sự ấm

ức, bực dọc…

+ Về hoàn cảnh sống: Nguyễn Khuyến sống ở làng quê, còn Tú Xương sống ở thànhNam Định, một trong những thành phố bị đô thị hóa dưới thời thuộc Pháp Vì thế, TúXương cười cho bao nhiêu cái “quái thai” được sinh ra từ xã hội thực dân phong kiếnthành thị Đó là cái cười đả phá chua chát cho một nền văn hóa truyền thống bị lung layđến tận gốc rễ

+ Sự khác nhau về quan niệm,về phong cách nghệ thuật

- Điểm gặp gỡ:

Trang 28

Tiếng cười trong thơ của họ không chỉ là sự mỉa mai, cười cợt mà là ẩn sâu là tiếngkhóc Họ dùng tiếng cười để phủ nhận những hiện tượng xấu xa của xã hội đồng thờithể hiện niềm mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn Như vậy, tiếng cười của hai nhà thơmang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

- Người đọc thơ cần có tấm lòng biết trân trọng, yêu mến và đồng cảm những nỗi trăntrở, đau đớn của hai nhà thơ trước những thử thách của lịch sử, văn hóa, xã hội nướcnhà mà họ đang chứng kiến

“Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy lại là cuộc sống, trường đại học chân chính của thiên tài Họ đã biết đời sống xã hội của thời đại, đã sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hổn với những nỗi lo âu, bực bội, tủi hổ và những ước mong tha thiết nhất của loài người Đó chính là cái hơi thở, sức sống của những tác phẩm vĩ đại.”

(Đặng Thai Mai, Công việc viết văn)

Bằng hiểu biết của anh/chị về văn học hiện thực phê phán 1930-1945, hãy bình luận ý kiến trên.

1 Giải thích, bình luận:

- Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy lại là cuộc

sống, trường đại học chân chính của thiên tài: Tài năng và tâm huyết là những yếu tố

quan trọng làm nên tầm vóc của một nhà văn chân chính Nhưng không một nhà văn tàinăng nào có thể sáng tạo nên tác phẩm mà thoát li hiện thực đời sống, cội nguồn, gốc rễ

và cũng là mảnh đất nuôi dưỡng văn chương Chính những trải nghiệm từ hiện thực đờisống đã đem đến nguồn tư liệu, vốn sống sâu sắc, cũng như đã nuôi dưỡng tâm hồnngười nghệ sĩ

- Họ đã biết đời sống xã hội của thời đại, đã sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những nỗi lo âu, bực bội, tủi hổ

và những ước mong tha thiết nhất của loài người: Hiện thực đời sống đã bồi đắp ở nhà

Trang 29

văn tấm lòng chan chứa tình yêu thương, biết đồng cảm, xót thương, sẻ chia với nhữngnỗi khổ đau, bi kịch của con người Nhà văn phải là người “cho máu”; Văn chươngxuất phát từ tư tưởng, tình cảm của con người Bởi thế, tư tưởng tình cảm càng chân

thực, sâu sắc, mãnh liệt thì tác phẩm càng có giá trị Trong nỗi đau, cảm xúc của con

người thường dâng lên tận cùng của sự chân thực, sâu sắc, mãnh liệt Vì thế, có thấuhiểu được những nỗi đau ấy, nhà văn mới tạo nên những sáng tác giá trị

- những tác phẩm vĩ đại: Là những tác phẩm có giá trị lớn lao, đích thực, thể hiện được

những chức năng và sứ mệnh của văn chương với cuộc đời (nhận thức, giáo dục, thẩmmĩ…)

 Nhận định của Đặng Thai Mai đã đề cao vai trò, vị trí quan trọng của hiện thực đờisống trong việc bồi đắp tư tưởng, tình cảm của những nhà văn thiên tài, trong việc tạonên hơi thở, sức sống của các tác phẩm vĩ đại…

- Bài học với người sáng tạo và người tiếp nhận

Có ý kiến cho rằng: “ Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó

mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc”.

Lại có ý kiến cho rằng: “Mỗi tác phẩm mà nghệ sĩ tạo nên giống như một âm

thanh riêng, khi đặt bên nhau sẽ thành bản nhạc in đậm dấu ấn riêng của nghệ sĩ”.

Anh / chị hiểu thế nào về những ý kiến trên? Bằng kiến thức văn học của mình, hãy làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra trong đó.

Trang 30

1 Giải thích ý kiến 1: “Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó

mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bảnnhạc”

a Cắt nghĩa:

Tác giả ý kiến đã sử dụng cách nói đầy hình ảnh để bộc lộ suy nghĩ về mối quan

hệ giữa các nhà văn cùng thời, về sự góp mặt của các nhà văn để tạo nên nền nghệthuật

- Dàn nhạc giao hưởng: một tập thể nghệ sĩ mà mỗi người trong số đó có khảnăng riêng, tiếng nói riêng song lại gắn bó, thống nhất với nhau bởi người chỉ huy dànnhạc đó

- Nhạc cụ: phương tiện chứa chở tiếng nói nghệ thuật của người nghệ sĩ, có khảnăng tạo ra một loại âm thanh riêng, tiếng nói riêng biệt, độc đáo của mỗi nghệ sĩ

- Bản nhạc: sự hòa âm của các âm thanh để tạo thành một giai điệu hoàn chỉnh,trọn vẹn, biểu đạt được một nội dung cảm xúc, một ý tưởng, một thông điệp tinh thầnnào đó

Một nền nghệ thuật là sự tập hợp của những cá nhân nghệ sĩ có tiếng nói riêngsong cùng hướng tới một mối quan tâm chung để tạo thành âm hưởng chung của thờiđại

b Lí giải

- Cái riêng của mỗi nghệ sĩ:

+ Là dấu ấn, phong cách cá nhân của người nghệ sĩ ấy, thẻ hiện qua những sángtạo nghệ thuật mà nghệ sĩ ấy tạo nên bằng tài năng, tâm huyết của chính mình Cái riêng

ấy có thể là mối quan tâm, những phát hiện độc đáo: Nam Cao quan tâm tới đời sống vàkhát vọng của những trí thức tiểu tư sản nghèo, những con người mang khát vọng, lýtưởng sống thanh cao đẹp đẽ nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất Nguyễn Tuân quan tâmđến cốt cách và nhu cầu tinh thần của lớp trí thức “một thời vang bóng” tài hoa tài tử,ngông nghênh kiêu bạc Cái riêng ấy có thể là ngôn ngữ, giọng điệu: Xuân Diệu táobạo, mới lạ khi nhập làng Thơ Mới bằng “y phục tối tân” - lối diễn đạt rất Tây, cáchdùng từ rất mới mẻ, độc đáo (dẫn chứng), giọng thơ sôi nổi, cuồng nhiệt và vồ vập (dẫnchứng); Huy Cận mang vào Thơ Mới cả một “mùa cổ điển” khi khơi dậy “cái hồn buồnĐông Á, cái mạch sầu ngàn năm trong cõi đất này” bằng giọng thơ ảo não, bằng ngônngữ hàm súc, trang trọng với rất nhiều từ Hán Việt, cách vận dụng ý và lời thơ xưa (dẫnchứng) Cái riêng ấy có thể là thế giới nghệ thuật được tạo dựng trong tác phẩm: hìnhảnh làng quê trong văn Thạch Lam dù nghèo khó, buồn tẻ vẫn đầy thi vị chứ khôngngột ngạt đến rùng rợn như trong văn Nam Cao

Trang 31

+ Được tạo nên bằng tài năng, bằng công phu lao động nghệ thuật, bằng tích lũyvốn sống, bằng ý thức đào sâu, tìm tòi nên sẽ là những đóng góp của nhà văn để làmphong phú thêm cho nền văn học.

- Nhà văn trong mối liên hệ rộng lớn với đời sống văn học:

+ Một nền văn học nghệ thuật vận động, phát triển tự nhiên, đúng quy luật đểluôn là sự dung hòa của “những tiếng nói khác” nhằm tạo nên sự thống nhất trong đadạng, phong phú của những tiếng nói riêng

+ Mỗi nhà văn sống trong bầu không khí của thời đại mình, hấp thụ nền văn hóa,tiếp nhận những tác động từ đời sống chính trị - xã hội tất yếu sẽ có những gặp gỡ: thế

kỉ 18 đầy biến động đã tác động sâu sắc đến cuộc sống, số phận con người - Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều rất khácnhau ở sự lựa chọn chất liệu, thể loại, ở giọng điệu, bản sắc riêng song lại gặp nhau ởmối quan tâm đến số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến để tạo thành một “thời

kì Phục Hưng” trong văn học giai đoạn này; đầu thế kỉ 20, sự tác động của văn minhphương Tây đã tạo thành luồng gió mới thổi tung những khuôn phép, quy phạm để cácnhà Thơ Mới tự dó thể hiện phong cách, cá tính riêng “Chưa bao giờ, ở Việt Nam xuấthiện như Xuân Diệu” (Hoài Thanh) Những cá tính riêng ấy góp mặt làm thành tràolưu chung của thơ ca lãng mạn, gặp nhau ở khát vọng được thành thực và nhu cầu bộc

lộ cái tôi cá nhân

+ Sự gặp gỡ, thống nhất của các phong cách, cá tính sáng tạo sẽ góp phần tạo nêngương mặt chung của từng giai đoạn, từng thời kì văn học - đó chính là phong cách thờiđại

2 Giải thích ý kiến 2: “Mỗi tác phẩm mà nghệ sĩ tạo nên giống như một âm

thanh riêng, khi đặt bên nhau sẽ thành bản nhạc in đậm dấu ấn riêng của nghệ sĩ”

- Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, mà phải là những sáng tạo đạt tới tính thẩm

mĩ và giá trị nhân văn mới được công chúng đón nhận, mới thật sự có ích, có ý nghĩa

Trang 32

Nếu chính bản thân nghệ sĩ không “đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi vàsáng tạo những gì chưa có”, tất yếu người nghệ sĩ ấy sẽ phải chấp nhận quy luật đàothải khắc nghiệt của nghệ thuật.

- Một nhà văn có bản lĩnh nghệ thuật, có tư tưởng sâu sắc, có tài năng lớn sẽ tạocho mình một lối đi riêng Lối đi riêng, con đường riêng đó là cái ổn định trong toàn bộ

sự nghiệp sáng tác của nhà văn, tạo thành cái mạch ngầm xuyên suốt quá trình sáng tác:Nguyễn Tuân với niềm say mê cái đẹp, Nam Cao trăn trở, day dứt về tính người, về ýnghĩa cuộc đời với cuộc chiến nhân cách trong mỗi con người, Xuân Diệu tha thiết vớitình yêu cuộc sống

- Một nhà văn có tự trọng, có trách nhiệm nghệ thuật sẽ không chấp nhận việc lặplại người khác và lặp lại chính mình Nhà văn có thể kế thừa những di sản văn học củadân tộc, của nhân loại, song những di sản ấy phải được vận dụng một cách linh hoạt vàsáng tạo để tạo nên, ghi dấu cá tính sáng tạo của nghệ sĩ Cùng kế thừa si sản vănchương cổ và thơ ca dân gian, song Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ XuânHương mỗi người một cách Cùng nói về đề tài người kĩ nữ song nàng Kiều củaNguyễn Du, người kĩ nữ trong thơ Xuân Diệu, cô gái sông Hương trong thơ Tố Hữu đãmang gương mặt riêng, tâm sự riêng, quan niệm, cách nhìn riêng của cá nhân nghệ sĩ.Ngay cả với chính bản thân mình, một nhà văn có phong cách cũng không chấp nhậnlặp lại mình

3 Bàn luận, đánh giá:

- Phong cách, cá tính sáng tạo là biểu hiện của tài năng, là cơ sở tạo nên tầm vóc

và diện mạo của cá nhân nghệ sĩ Nó là kết quả của quá trình phấn đấu lâu dài, củanhững nỗ lực không ngừng trong tìm tòi, sáng tạo

- Phong cách vừa được tạo thành từ những mối liên hệ nội tại để tạo thành bảnsắc của một cá nhân, vừa là sự góp mặt vào nền văn học để tạo thành âm hưởng, khôngkhí thời đại

- Tự vận động để hoàn thiện PCNT và góp mặt trong nền văn học là trách nhiệmcủa người nghệ sĩ Tìm hiểu nét riêng phong cách nghệ sĩ và mối liên hệ giữa phongcách cá nhân nghệ sĩ với thời đại sẽ giúp người đọc nhận rõ hơn gương mặt riêng và vaitrò của mỗi nhà văn trong nền văn học

Trong cuốn “Sổ tay viết văn”, nhà văn Tô Hoài tâm sự: “… Tôi cho rằng ngay trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có như thế văn xuôi mới trong sáng cất cao”.

Anh/chị có suy nghĩ gì về quan niệm trên của nhà văn Tô Hoài? Hãy làm sáng tỏ vấn đề qua một số tác phẩm văn xuôi được học trong chương trình Ngữ văn lớp 11.

1/ Giải thích nhận định

Ngày đăng: 28/08/2019, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w