1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bộ đề học sinh giỏi Ngữ văn lớp 11 có đáp án chi tiết

53 668 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 314 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ đề được sử dụng để ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11, bao gồm có các đề Nghị luận văn học và sau mỗi đề có phần gợi ý học sinh cách làm bài tương đối chi tiết, bám sát đề và hướng dẫn chấm thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11 của các tỉnh.

Trang 1

Bàn về truyện ngắn, Từ điển Thuật ngữ Văn học (Nhà xuất bản Văn

học, 1992) trang 253 có viết:

“Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.”

Anh (chị ) hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên./

GỢI Ý:

1 Giải thích khái niệm

- Chi tiết trong tác phẩm văn học là những “tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứalớn về cảm xúc và tư tưởng” (Từ điển thuật ngữ văn học)

- “chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn” là những chi tiết đã được chọn lọc, nhào nặn,thông qua sự sáng tạo của nhà văn để có thể chuyên chở những ý nghĩa rộng lớn,sâu sắc mà nhà văn muốn chuyển tải

- “lối hành văn mang nhiều ẩn ý”: qua cách dùng từ, đặt câu, sử dụng các biệnpháp nghệ thuật,vv… nhà văn tạo được cách diễn đạt riêng, giọng điệu riêng gópphần thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn

- “những chiều sâu chưa nói hết” của tác phẩm chính là những vấn đề, những suy

tư trăn trở, những quan niệm, thái độ, tình cảm,… của nhà văn được gửi gắm phíasau hình tượng, phía sau câu chữ

2 Giải thích

Vì sao chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn nhiều ẩn ý lại là yếu tố quan trong bậc nhất của truyện ngắn?

- Đặc trưng của truyện ngắn: quy mô, dung lượng phản ánh hiện thực “nhỏ”, mỗi

truyện ngắn có thể ví như “một lát cắt của hiện thực đời sống” (khắc hoạ một hiện

tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồncon người); hạn chế về độ dài tác phẩm Cho nên những chi tiết cô đúc, hàm chứa

nhiều ý nghĩa, lối hành văn nhiều ẩn ý là hướng giải quyết tối ưu cho việc chuyển

tải nội dung

- Mỗi tác phẩm có một hệ thống chi tiết nghệ thuật Có thể đó là một hệ thống chitiết dày đặc như trong tác phẩm truyện, hoặc chỉ vài nét chấm phá như trong tácphẩm thơ Nhờ hệ thống chi tiết này mà thế giới nghệ thuật của tác phẩm, từ conngười đến cảnh vật hiện ra một cách cụ thể, sinh động, đồng thời cũng góp phầnsoi tỏ ý nghĩa của tác phẩm

- Chi tiết có ý nghĩa rất sâu sắc trong việc cắt nghĩa hình tượng nghệ thuật của tácphẩm Đọc hiểu hình tượng trong tác phẩm không thể không đọc hiểu các chi tiếtnghệ thuật Cần phải nắm lấy chi tiết nghệ thuật quan trọng nhất của tác phẩm, tìmhiểu nó trong mối quan hệ với các chi tiết khác trong tác phẩm để thấy được vaitrò, ý nghĩa, tác dụng của chi tiết nghệ thuật ấy trong việc thể hiện nội dung tưtưởng tác phẩm, đóng góp sáng tạo của nhà văn

3 Chứng minh

Trang 2

Ví dụ:

+ Chọn chi tiết Chí Phèo cảm nhận được dư vị ngọt ngào của cuộc sống sau đêm ái

ân cùng Thị Nở -> Làm rõ nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình của Nam Cao, qua đóthấy được sự thức tỉnh đau đớn của nhân vật và đằng sau đó là tấm lòng nhân đạocủa nhà văn với cái nhìn trân trọng bản chất lương thiện ở một con người tưởngchừng đã trở thành qủy dữ…

+ Cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” – cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của

Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện, có ý kiến cho rằng:

“Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?

Hãy chọn hai chi tiết đặc sắc trong hai tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên.

GỢI Ý :

1 Giải thích

- “Chi tiết” là gì? – Ở đây không phải muốn nói đến những chi tiết thông thường

cấu thành cốt truyện mà muốn nói đến những chi tiết nghệ thuật - là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng (Từ điển thuật ngữ văn học).

- Vì sao “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? (Vai trò của chi tiết đối với tác phẩm

văn học và thể hiện tài năng của nhà văn)

Chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tácphẩm Chi tiết có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật củanhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm

Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người,với truyền thống văn hóa nghệ thuật nhất định

-> Do đó, “chi tiết nhỏ” có khả năng tạo nên “nhà văn lớn”

2 Phân tích và chứng minh

a Khái quát:

Trang 3

- Tác giả, tác phẩm: tác giả Nam Cao và tác phẩm “Chí Phèo”, tác giả NguyễnTuân và tác phẩm “Chữ người tử tù”.

- Chọn chi tiết đặc sắc trong mỗi tác phẩm: có thể chọn các chi tiết trong “ChíPhèo”: chi tiết tiếng chửi của Chí Phèo ở đầu truyện, chi tiết Chí Phèo tỉnh rượusau cuộc gặp gỡ với Thị Nở ở bờ sông, chi tiết bát cháo hành của Thị Nở, chi tiếtChí Phèo ôm mặt khóc rưng rức khi bị thị Nở từ chối… Với “Chữ người tử tù” cóthể chọn chi tiết cảnh cho chữ cuối tác phẩm…

- Đánh giá được vị trí quan trọng của các chi tiết trong tác phẩm và trong việc thểhiện tài năng của nhà văn

b Cảm nhận, phân tích cụ thể các chi tiết:

- HS chọn và phân tích hai trong số những chi tiết đặc sắc thuộc hai tác phẩm “Chữngười tử tù” của Nguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao Bám sát vai trò và ýnghĩa của chi tiết đối với tác phẩm văn học và nhà văn, đồng thời làm rõ ý nghĩa,vai trò của chi tiết với tác phẩm cụ thể

- Trong quá trình phân tích cần đối sánh để làm nổi bật ý nghĩa của từng chi tiết đãchọn

3 Bình luận, đánh giá

- Hai chi tiết đều là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần không nhỏ tạo nênthành công cho tác phẩm và nhà văn, thể hiện khả năng khái quát hiện thực và sángtạo nghệ thuật của hai nhà văn

- Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình lao động công phu, chắtlọc từng chi tiết nhỏ trong đời sống để tạo nên những chi tiết nghệ thuật sáng giá.Bởi vậy, nhận định trên hoàn toàn đúng đắn

Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình Nhưng… tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông.

(Lã Nguyên, Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ

thuật/ Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm; NXB GD; Hà Nội; 2007;

Trang 4

+ Vì đời sống là đối tượng khám phá của nghệ thuật, của văn chương Cuộc đời lànơi xuất phát của văn học.

+ Đứng trước hiện thực cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc,suy ngẫm, lí giải khác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đềtài khác nhau để đặt ra những vấn đề khác nhau Và đó là con đường riêng họ tạo

ra cho mình Đó cũng là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của VHNT: lĩnh vực của sựsáng tạo Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ Nam Caotâm niệm: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay…”

Nếu không tạo ra con đường riêng của mình thì sao? Tác phẩm của họ sẽ trở thành

sự sao chép, sẽ chết, sẽ dẫm lên vết chân của người đi trước Nghĩa là nó sẽ chẳngmang đến chút gì mới lạ cho văn chương

Tác dụng: Tạo ra con đường riêng của mình người nghệ sĩ sẽ tạo ra sự đa dạngtrong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, vị trí, phongcách của nhà văn, cái lí để nhà văn đứng được với cuộc đời

Có thể lấy ví dụ: Cùng một đề tài, cách xử lí khác nhau ở các nhà văn

b Tư duy NT… quy luật chân thiện mĩ, quy luật nhân bản

Đây là vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật – một vấn đề đặt ra như một nhu cầu bức

thiết, sống còn của nghệ thuật Nhà văn luôn phải tự làm mới mình góp phần đổimới nghệ thuật Đổi mới cái gì? Đổi mới đề tài, chủ đề, cảm hứng, văn phong…Quan trọng là đổi mới tư duy, cách nhìn nhận của nhà văn trước cuộc đời

Nhưng mọi sự đổi mới đều không vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ Cái chân,cái thiện, cái mĩ, cái nhân bản vẫn là cái đích hướng đến của mọi khám phá, sángtạo nghệ thuật Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản giống như sợi dây neo giữ, là giớihạn mà bán kính sáng tạo nhà văn quay chiều nào cũng không thể vượt qua Nóicách khác, nó cũng là một tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật

Văn học sở dĩ là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, vì nó

là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu sống của con người Văn học có nhiều chức năng(nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giải trí…); có nhiều quan niệm cổ kim đôngtây, nhưng điểm giao thoa gặp gỡ vẫn cứ là cái chân - thiện - mĩ, những vấn đềmang tính nhân bản nhân văn của đời sống con người Cái chân, là muốn nói đếnchức năng nhận thức của văn học; văn học phải chân thực Cái thiện là nói đếnchức năng giáo dục, cảm hóa của văn học Cái mĩ, là nói đến chức năng thẩm mĩ,chức năng cơ bản nhất, chất keo kết dính các chức năng khác Khi đạt tới chânthiện mĩ là văn học đạt tới chiều sâu nhân bản, hướng về con người, vì con người

c Sứ mệnh nhà văn chân chính… đại dương nhân bản mênh mông

Đây là vấn đề trăn trở của nhiều cây viết Chữ dùng có thể khác nhau, nhưng thựcchất vẫn là một Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân và nhiều nhà văn khác cónhững phát biểu về vấn đề này Đó là vấn đề cái tâm của người cầm bút Ở đâyngười nói đặt vấn đề: “khơi nguồn dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bảnmênh mông” – ý tưởng độc đáo Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như

Trang 5

mọi khám phá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người,nhân sinh, nhân bản Bởi lẽ, con người là một trung tâm khám phá của văn họcnghệ thuật Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sángtạo, nhưng đều hướng tới là để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh.Văn học chân chính phải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhàvăn vì con người, tác phẩm mới đạt tới tầm nhân bản.

2 Chứng minh qua một vài tác phẩm

- Cách đến với cuộc sống của Thạch Lam qua truyện “Hai đứa trẻ”: Chuyện mộtphố huyện buồn, những đứa trẻ nghèo với tâm hồn nhân ái, giàu mơ ước Qua đónhà văn đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc mang tính nhân văn, nhân bản: vấn đề khátvọng sống của con người; vấn đề quyền được sống của trẻ em; vấn đề số phận conngười và khát vọng đổi thay cuộc sống… Tác phẩm lấp lánh tư tưởng nhân văntheo cách viết của Thạch Lam

- Cách đến với cuộc sống của Nam Cao qua truyện “Chí Phèo”: Chuyện về số phận

bi thảm của người nông dân, về khát vọng lương thiện của con người – quỷ dữ Dùđến muộn trên văn đàn, nhưng Nam Cao vẫn tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòngbạn đọc chính nhờ hướng khám phá và phát hiện đời sống của riêng mình ChíPhèo sở dĩ trở nên bất hủ chính nhờ tài năng và tâm huyết cũng như phong cáchcủa Nam Cao

- Cả hai tác phẩm đều chạm tới vấn đề mang tính nhân văn, nhân bản: khám phá vẻđẹp con người, chất người, tức là đạt tới chân thiện mĩ… Tuy nhiên mỗi tác giảtrong mỗi tác phẩm lại có những khám phá nghệ thuật riêng, hướng đi riêng; làmnên giá trị riêng cho mỗi tác phẩm và khẳng định vị trí của mỗi nhà văn trong nềnvăn học

3 Kết luận: khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá sáng tạo; đặc

biệt là cái đích muôn đời của văn chương

Bằng kiến thức của anh (chị) về một số tác phẩm có trong chương trình Ngữ văn

11 hãy làm sáng tỏ ý kiến sau của Sê-khốp:

“Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà Văn cả Nếu anh không có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ"

GỢI Ý :

1/ Giải thích ý kiến:

- Lối đi riêng: Hướng khai thác, phản ánh đời sống in đậm dấu ấn cá nhân của mỗimột tác giả Có thể là nét riêng trong phạm vi đề tài, chủ đề, cách tiếp cận, cái nhìnriêng biệt…

- Giọng điệu riêng: Giọng điệu là một yếu tố quan trọng trong việc xác định phongcách của một tác giả Một nhà văn muốn có phong cách riêng nhất thiết phải có

một “giọng điệu” riêng Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [1] thì“Giọng điệu

Trang 6

phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc.”

-> Ý kiến của Sê-khốp thực chất bàn về phong cách nghệ thuật với các cấp độ khácnhau Để trở thành một nhà văn, người cầm bút cần tìm ra cho mình một hướngtiếp cận, khai thác, phản ánh đời sống một cách độc đáo, còn để trở thành một nhàvăn tài năng, người cầm bút cần tạo ra cho mình một giọng điệu riêng không lẫnvới bất cứ nhà văn nào khác

2/ Bình luận

* Khẳng định ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng, sâu sắc và đúng đắn.

* Chứng minh bằng kiến thức lý luận văn học:

Học sinh cần huy động kiến thức lý luận về phong cách nghệ thuật để nhận thấyđiều không thể thiếu với mỗi nhà văn chính là phong cách nghệ thuật

+ Phong cách nghệ thuật là những nét độc đáo trong cả nội dung và hình thức nghệthuật của một tác phẩm Với một tác giả, phong cách tạo nên từ sự lặp lại tương đốiliên tục của các nét độc đáo này

+ Phong cách nghệ thuật thể hiện ở cái nhìn, phạm vi đề tài, chủ đề, các biện phápnghệ thuật, giọng điệu…

+ Vai trò của phong cách: Làm nên sức sống cho tác phẩm và khẳng định tài năngcủa tác giả

* Chứng minh bằng kiến thức văn học

Học sinh lựa chọn những tác phẩm văn xuôi đã học để chứng minh trong đó cầntập trung làm rõ:

- Lối đi riêng của các tác giả: vd Thạch Lam chọn sự giao thoa giữa hiện thực vàlãng mạn, tự sự và trữ tình; Nguyễn Tuân luôn khai thác đời sống ở phương diệnvăn hóa thẩm mĩ: Nam Cao luôn khai thác người nông dân trong mối quan hệ tínhcách- hoàn cảnh để làm bật lên nhân phẩm…

- Giọng điệu riêng của các tác giả: VD Thạch Lam luôn có giọng nhỏ nhẹ, thâmtrầm, thấm đẫm chất thơ; Vũ Trọng Phụng luôn có giọng đả kích, châm biếm, sâucay; Nam Cao có sự hòa trộn giọng điệu để tác phẩm có tính đa thanh, đa giọng…

“Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó” (Tố Hữu)

Bằng những hiểu biết về Thơ mới, anh/chị hãy trình bày ý kiến của mình vềquan niệm trên

GỢI Ý :

1 Giải thích:

- “Câu thơ hay”: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, có khả năng

lay động lòng người, có giá trị tinh thần bền vững, có sức sống mãnh liệt trong

Trang 7

lòng độc giả, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng, tình cảm mà nhà thơmuốn gửi gắm.

- “Đọc”: Là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc.

- “Tình người”: Là nội dung tạo nên giá trị đặc trưng của thơ.

=> Quan niệm của Tố Hữu đề cập đến giá trị của thơ từ góc độ của ngườitiếp nhận: Giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng, tình cảm được biểu hiệntrong thơ

2 Lí giải:

- Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của con người Những cảmxúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá

và thể hiện của thơ

- Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng Chỉ

có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệthuật chân chính Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiềukhả năng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc

-Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, mộtcảm xúc và kiếm tìm sự tri âm Do vậy, khi tìm đến một tác phẩm thơ, người đọcquan tâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm mà nhà thơ kí thác Tuy nhiên, nói

“không thấy câu thơ” không có nghĩa là câu thơ không tồn tại mà hình thức biểuhiện đó đã đồng nhất với nội dung, trở thành dạng tồn tại của nội dung tình cảm

3 Chứng minh bằng việc phân tích một vài dẫn chứng thơ tiêu biểu trong phong

trào Thơ mới (Chú ý: Học sinh trong quá trình phân tích phải làm nổi bật tiếng nóitình cảm, nội dung cảm xúc được thể hiện trong thơ.)

- Ví dụ: Vội vàng -> Làm rõ tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ Xuân Diệu;Tràng giang -> Làm rõ nỗi buồn mênh mang trước cảnh tràng giang mênh môngsóng nước và ẩn sau đó là nỗi sầu của một con người sống trong cảnh đất nước bịmất chủ quyền…

4 Đánh giá, mở rộng:

- Ý nghĩa của câu nói đối với người làm thơ: Chú trọng cái tình trong thơ –

đó là cảm xúc chân thành -> tạo nên sức hút của từng vần thơ

- Ý nghĩa của câu nói đối với người đọc thơ: Không chỉ khám phá vẻ đẹpcủa ngôn ngữ thơ mà từ vẻ đẹp đó, người đọc quan tâm tới tình cảm mà nhà thơgửi gắm…

- Thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng tình cảm song để có thơhay , người làm thơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm, sự phong phú củacảm xúc cần nghiêm túc, công phu trong lao động nghệ thuật Đây là hai yếu tốkhông thể xem nhẹ trong sáng tạo và thưởng thức thơ ca

“ Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời”

Trang 8

(Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20)

Anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một số tác phẩm văn học

- Sở dĩ như vậy vì văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống với tất cả mọi chiềukích của nó

2 Chứng minh qua một số tác phẩm cụ thể, xoáy vào các luận điểm :

- Cuộc sống tuyệt vời với cái đẹp, cái nên thơ chính là những giá trị tốt đẹp củacuộc sống: lòng yêu thương, đức hy sinh, sự rung động trước cái đẹp,…

- Cuộc sống bi thảm với niềm sầu muộn và giọt nước mắt chính là những mặt hạnchế, tiêu cực Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của con người, cái khốc liệt củachiến tranh, …

Tất cả những điều này đều được phản ánh trong văn học

- Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều mà ở góc nhìn

đa chiều Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế

- Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đờisống được khám phá một cách nghệ thuật

Sách Lí luận văn học (tập 3, Phương Lựu chủ biên - NXB ĐHSP, 2011) viết:

Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm

mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? hãy làm rõ cách hiểu của mình qua một vàisáng tác (thuộc văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945) của một tác giả mà anh(chị) đã học, đọc thêm

GỢI Ý :

1 Nêu cách hiểu của bản thân về nhận định:

Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm

mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.

- Khái niệm phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhấttương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệthuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩmriêng lẻ, trong trào lưu văn học hay trong văn học dân tộc

Trang 9

- Trong nhận định trên, khái niệm phong cách được đề cập là phong cách nghệthuật của một nhà văn, không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ có

những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh (nhà văn ưu tú) mới có được phong cách

riêng độc đáo

- Nhà văn có phong cách nhà văn chính là nhà văn phải đem lại một tiếng nóimới cho văn học, đó là sự độc đáo mà đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới Đặcbiệt nó phải có tính chất thẩm mĩ nghĩa là đem lại cho người đọc sự hưởng thụthẩm mĩ dồi dào Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn

mà khi đã nở rộ thì nó còn là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành

- Phong cách nghệ thuật có cội nguồn từ cá tính sáng tạo của nhà văn Cátính sáng toạ klà sự hợp thành của những yếu tố như thế giới quan, tâm lí, khí chất,

cá tính sinh hoạt Phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và thờiđại

- Có thể nhận ra phong cách của nhà văn trong tác phẩm Có bao nhiêu yếu tốtrong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nhà văn thể hiện Cụ thể: + Qua cái nhìn, cách cảm thụ giàu tính khám phá nghệ thuật đối với cuộc đời + Qua giọng điệu riêng, gắn liền với cảm hứng sáng tác

+ Nét riêng trong sự lựa chọn, xử lý đề tài, xác định chủ đề, xác định đốitượng miêu tả

+ Tính thống nhất, ổn định trong cách sử dụng các phương thức và phươngtiện nghệ thuật

Các biểu hiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫnnhau hay tồn tại thông qua nhau Tất cả tạo thành một nguyên tắc xuyên suốt trongviệc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho hiện tượng văn học một tính chỉnhthể toàn vẹn

2 Làm rõ cách hiểu của bản thân qua một vài sáng tác (thuộc văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945) của một tác giả đã học, đọc thêm

Học sinh có thể chọn một vài tác phẩm của một cây bút lãng mạn (thơ hoặc vănxuôi): Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thạch Lam, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, HuyCận Tuy nhiên học sinh phải đảm bảo yêu cầu:

- Tác phẩm, tác giả được chọn để minh hoạ là văn học lãng mạn thuộc giai đoạn1930-1945

- Phần minh hoạ phải bám sát vấn đề lí luận đã lí giải, phải làm nổi bật nét độc đáo

(cái mới) mà tác giả đem đến cho văn học, nghĩa là cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp phù hợp với cách cảm nhận ấy được tác giả thể hiện như

thế nào trong tác phẩm

- Quá trình lấy dẫn chứng, học sinh phải nhìn nhận tác phẩm theo nguyên tắc chỉnhthể (vì các biểu hiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫnnhau hay tồn tại thông qua nhau)

Trang 10

Về thơ, Nguyễn Công Trứ tâm sự: " Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời", còn Tố Hữu lại khẳng định rằng " Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó"

Bằng việc phân tích bài thơ " Vội vàng" (Xuân Diệu), anh (chị) hãy trình bày ý

kiến của mình về những quan niệm trên.

GỢI Ý :

1 Tìm hiểu vấn đề:

- Quan niệm của Nguyễn Công Trứ:

+ Nội dung quan niệm:"nợ" vừa là duyên nợ, vừa là trách nhiệm của người cầm bút với thơ ca; "chuốt" là chỉnh sửa, lựa chọn một cách công phu sao cho đạt tiêu chuẩn

cao nhất về mặt thẩm mĩ Từ ý nghĩa cụ thể của từ dùng, có thể thấy NCT đã đặt rayêu cầu về trách nhiệm của nghệ sĩ trong lao động thơ ca

+ Cơ sở quan niệm của NCT: lao động thơ là lao động nghệ thuật - nó đòi hỏi côngphu, tâm huyết và sự sáng tạo Sáng tạo sẽ đem đến cái mới, công phu tâm huyết sẽtạo nên sự hoàn hảo và chiều sâu Văn chương tồn tại bởi nội dung tư tưởng songtồn tại bằng ngôn từ nghệ thuật Nếu chất liệu ngôn từ không được lựa chọn và gọtgiũa, sức biểu đạt của nó kém đi sẽ khiến tư tưởng, tâm huyết của nghệ sĩ khôngthể hiện được trọn vẹn, tính nghệ thuật của tác phẩm giảm sút, sức hấp dẫn nghệthuật kém sẽ khiến những giá trị còn lại dù có cũng khó phát huy tác dụng Thơ calại càng đòi hỏi điều này vì nó có những đặc trưng mang tính loại biệt (trong phạm

vi dung lượng giới hạn, thơ cần biểu đạt một cách sâu sắc, tinh tế tư tưởng, tìnhcảm, khát vọng bằng hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mĩ và có sức mê hoặc

mạnh mẽ) "Chuốt lời" vì thế sẽ là sự thể hiện của tài năng, cũng là sự thể hiện trách

nhiệm của nhà thơ với thơ và với người đọc

- Quan niệm của Tố Hữu:

+ Nội dung quan niệm: "câu thơ" là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng tình cảm mà nhà thơ gửi gắm "Đọc" là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc "Tình người" là nội dung tạo nên giá

trị đặc trưng của thơ - là nội dung tình cảm, cảm xúc của thơ Từ ý nghĩa cụ thể của

từ ngữ, có thể hiểu ý kiến của TH đề cập đến giá trị của thơ từ góc nhìn của ngườithưởng thức, tiếp nhận thơ: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng tình cảmđược biểu hiện trong thơ Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc mạnh mẽ, càng lớn laođẹp đẽ sẽ càng khiến thơ lay động lòng người

+ Cơ sở quan niệm của TH: đặc trưng của thơ là thể hiện tư tưởng qua sự rungđộng của tâm hồn, qua các cung bậc của tình cảm Với người làm thơ, bài thơ làphương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng Với người đọc thơ, đến với bài thơ là đểtrải nghiệm một tâm trạng, một cảm xúc và tìm một sự đồng cảm sẻ chia về mặttình cảm với nhà thơ - sẻ chia những điều đang làm mình trăn trở Vì thế, khi đếnvới một bài thơ, người đọc chú ý tới tình cảm, cảm xúc chứ ít chú ý tới hình thức

Trang 11

biểu đạt cảm xúc ấy (vốn là công việc của nhà nghiên cứu) Tuy nhiên, nói "không thấy câu thơ" không có nghĩa là "câu thơ" không tồn tại mà là "câu thơ" đã đồng nhất

với tình người, là nội dung cảm xúc đã lặn vào trong chính cái hình thức biểu đạt

và hình thức trở thành dạng tồn tại, hình thức tồn tại của tình cảm

- Đánh giá và đề xuất ý kiến: hai ý kiến không hề mâu thuẫn mà là sự bổ sung đểmang đến một nhận thức tương đối toàn diện về thơ Từ hai ý kiến này có thể xácđịnh: thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng cảm xúc, tình cảm Song để

có thơ hay, nhà thơ bên cạnh sự sâu sắc của tình cảm, sự phong phú của cảm xúccần nghiêm túc trong lao động nghệ thuật mà trước hết là lựa chọn, chỉnh sửa vàsáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ

2 Phân tích bài thơ:

2.1 Nội dung cảm xúc: là sự thể hiện một tình yêu cuộc sống mãnh liệt

- Niềm say mê cuộc sống khiến XD phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất- mộtthiên đường tràn đầy xuân sắc và vô cùng hấp dẫn

- Yêu cuộc sống, nhà thơ cũng ý thức sâu sắc về giá trị cuộc sống nên khát khaođảo lộn quy luật cuộc sống, ngăn cản bước đi của thời gian để gìn giữ những vẻđẹp của sự sống

- Cũng vì niềm say mê với cuộc sống nên nhà thơ mới hốt hoảng lo âu, thậm chíoán giận thời gian trôi chảy vô tình

- Tình yêu cuộc sống đã tiếp thêm sức mạnh để nhà thơ không buông trôi theo sựtrôi chảy của thời gian, sự phôi pha tàn úa của sự sống mà tăng cường độ sống đểsống mạnh mẽ, trọn vẹn và tận độ bằng việc giao cảm và hưởng thụ sự sống

2.2 Hình thức biểu đạt:

- Lời thơ là lời nói với rất nhiều dấu hiệu ngữ pháp (sử dụng hư từ, hô ngữ ) vàhình thức đối thoại giúp nhà thơ thể hiện trực tiếp con người cá nhân, giọng điệu cánhân mở đường cho sự thổ lộ giãi bày cảm xúc một cách tự nhiên và nồng nhiệt

- Ngôn ngữ rất giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đặc biệt rất trẻ trung, hiện đại và đầytáo bạo giúp tác giả chuyển tải bức thông điệp tinh thần một cách độc đáo, gây ấntượng mạnh mẽ

Nhà văn I.X Tuocghenhev khẳng định:

“Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác.”

Anh/ chị hiểu quan niệm trên như thế nào?

Phân tích truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam để làm sáng tỏ quan niệm đó.

GỢI Ý

1 Giải thích quan niệm của I.X Tuocghenhev :

Trang 12

- Ý tưởng của I.X Tuocghenhev khá rõ Nhà văn khẳng định yếu tố quantrọng làm nên tài năng của một nhà văn là cách viết, cách thể hiện riêng đầy cá tính

sáng tạo (mà I.X Tuocghenhev đã diễn đạt đầy ấn tượng là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác) Ở quan niệm của mình, I.X Tuocghenhev đã đề cao phong

cách nghệ thuật của người viết văn (tính độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật của nhàvăn gắn liền với một quan niệm nhất định về con người và cuộc đời, kéo dài thànhvệt đậm đầy cảm hứng trong chuỗi sáng tác của họ)

2 Chứng minh cái giọng riêng biệt (phong cách) của Thạch Lam qua

truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

- Thể hiện ở việc chọn loại truyện “không có chuyện” (không giàu sự tình,không thiên về cốt truyện, hành động mà chỉ đi sâu vào tâm trạng, khôngkhí) Cốt truyện “Hai đứa trẻ” (như rất nhiều truyện ngắn khác của ThạchLam) nhẹ nhàng, gần như không có cốt truyện nhưng khó quên Dướingòi bút của Thạch Lam, con người, nhịp điệu cuộc sống hiện ra đều đềukhông thay đổi, không có gì khiến bạn đọc phải hồi hộp chờ đợi Tất cảthoang thoảng, man mác và vẩn vơ theo tâm trạng nhân vật Liên Chínhđiều đó lại làm nên nét riêng của tác phẩm

- Thể hiện ở tài miêu tả những nét tinh tế, nhẹ nhàng của cảm xúc, tâmtrạng, tình cảm: tâm trạng của nhân vật Liên trước cảnh chiều về, đêmxuống, canh khuya (lúc chuyến tàu đêm băng qua phố huyện nghèo).Liên vừa nhận ra nét nên thơ, thân thuộc lẫn nét lặng lẽ, man mác buồncủa cảnh chiều và đêm; mong ngóng chuyến tàu đổ xuống bao khát khao

về ảnh hình một chút thế giới trong mơ tưởng (học sinh biết so sánhThạch Lam với Nam Cao và Nguyễn Tuân, hai tác giả cùng thời vớiThạch Lam cũng rất thành công trong việc miêu tả tâm lí nhân vật, từ đólàm nổi bật lên nét riêng của Thạch Lam ở phương diện này)

- Thể hiện ở những câu văn và những miêu tả giàu chất thơ: Thạch Lam làcon người vừa hiện thực vừa lãng mạn Chất thi vị của đời sống có mặttrong “Hai đứa trẻ” qua các trang viết về chiều tà, đêm tối

- Thể hiện ở những nhân vật không có sự phức tạp của nội tâm, cũngdường như không có tính cách gì sắc nét không phân tuyến chính diệnphản diện như các tác phẩm của những nhà văn cùng thời, mà là nhữngcon người đang lặng lẽ đắm chìm trong tăm tối, buồn bã với những tâmtrạng không rõ ràng, những ranh giới tình cảm mong manh Liên trong

“Hai đứa trẻ” là một nhân vật như vậy

3 Đánh giá

- Quan niệm của I.X Tuocghenhev là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn

về mặt lý thuyết và thực hành sáng tạo văn học Quan niệm trên phù hợpvới quy luật muôn đời của hoạt động nghệ thuật mà Nam Cao tâm đắc:

Trang 13

người nghệ sĩ phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.

Giáo sư Lê Đình Kỵ cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài, đồng thời mang được

sự thật tâm tình của con người”

Qua tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, hãy chứng minh nhận định trên.

GỢI Ý:

1 Giải thích:

- “ mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài”: Phản ánh được chân thực

hiện thực khách quan của đời sống, không phải chỉ là bề ngoài mà ở bề sâu

- “…mang được sự thật tâm tình của con người”: Phản ảnh được chân thực thế

giới tâm hồn, tình cảm của con người

 Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp là những tác phẩm phàn ảnh đượcmột cách chân thực, sâu sắc hiện thực khách quan cũng như khám phá được thếgiới tâm hồn, tình cảm của con người

 Tiêu chí quan trọng để đánh giá tác phẩm văn học có giá trị

2 Phân tích, chứng minh

* Cơ sở lí luận

 Bản chất của văn học là phản ảnh hiện thực khách quan và thể hiện tư

tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ “Nhà văn là người thư kí trung thành cùa thời đại”( Banlzac)

“Văn học là nhân học”, là khoa học về con người, khám phá con

người ở phương diện tâm hồn, tình cảm Nội tâm của con người với

những trạng thái cảm xúc đa dạng, phức tạp chính là đích hướng tới

của văn học “ Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim”

-> Thước đo giá trị của một tác phẩm văn học là ở sự chân thực, sâu sắc trong phảnánh đời sống với những qui luật khách quan và thế giới nội tâm của con người Lưu ý : Ở phần này, học sinh cẩn đưa ra một số dẫn chứng thật ngắn gọn để chứngminh cho cơ sở lí luận

* Chứng minh, làm sáng tỏ nhận định qua tác phẩm Chí Phèo:

Nam Cao đựơc xem là nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực với khả năngphản ánh chân thực hiện thực của đời sống khách quan và khám phá bề sâu tâmtrạng con ngươi

- Tác phẩm Chí Phèo phản ánh hiện thực: Mâu thuẫn giữa tầng lớp cường hào địachủ với nông dân (Bá Kiến – Chí Phèo), cuộc sống bị đẩy vào đường cùng, bị lưumanh hóa của người nông dân (Chí Phèo)

Trang 14

- Tác phẩm Chí Phèo thể hiện tài năng miêu tả tâm lí nhân vật tài tình của NamCao: Tâm trạng Chí Phèo qua tiếng chửi, khi lần đầu tiên tỉnh rượu từ khi ra tù, khi

bị Thị Nở cự tuyệt tình yêu… Qua đó ta thấy được sự đồng cảm của nhà văn

3 Đánh giá chung

- Với khả năng phản ánh hiên thực khách quan và tâm trạng con người, “ChíPhèo” nói riêng và những sáng tác của Nam Cao đã khẳng định được sức sống lâubền của mình

- Nhận định của GS Lê Đình Kỵ có ý nghĩa to lớn trong định hướng sáng tác vàtiếp nhận, là một tiêu chí, thước đo giá trị của văn học

Lamáctin- nhà thơ Pháp- tâm sự : “Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi”.

Anh/ chị có suy nghĩ gì về lời tâm sự trên? Hãy dựa vào những hiểu biết

về bài thơ Vội vàng ( Xuân Diệu) để làm sáng tỏ những suy nghĩ của mình.

GỢI Ý:

1 Giải thích

+ Thơ không chỉ là một nghệ thuật: thơ là nghệ thuật kì diệu nhất của ngônngữ, hấp dẫn, lay động lòng người bởi cái đẹp của từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịpđiệu

+ Thơ là “sự giải thoát của lòng tôi” : Thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảmcủa nhà thơ với bao buồn, vui, ước mơ, hi vọng

+ Thơ không chỉ là sản phẩm kì diệu của nghệ thuật ngôn từ mà thơ làphương tiện giao tiếp, bộc bạch tình cảm của người nghệ sĩ với đời

2 Bàn luận về ý kiến:

+ Ý kiến nói lên được đặc trưng cơ bản của thơ

+ Những nhà thơ lớn là những bậc thầy về ngôn ngữ, những bài thơ hayphải có ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, giàu cảm xúc, giàu sức gợi, hình ảnh đẹp,phong phú

+ Nhưng thơ chỉ tràn ra khi các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn nhà thơdâng trào cao độ, đòi hỏi được giãi bày, chia sẻ, cảm thông

+ Là tiếng nói tâm hồn nên thơ dễ lay động hồn người Đó là tiếng lòng đitìm những lòng “đồng điệu”

3 Chứng minh qua Bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu)

+ Bài thơ hay bởi những cảm xúc được biểu hiện trong một hệ thống ngônngữ giàu tính nghệ thuật

+ Nhưng bài thơ ám ảnh người đọc bởi tiếng nói sôi nổi, mãnh liệt của mộthồn thơ yêu đời ham sống, bởi những quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩmới mẻ

4 Đánh giá:

+ ý kiến nói đúng về tiêu chí của bài thơ hay

Trang 15

+ Những cảm xúc, tình cảm mãnh liệt chân thành, mang tính thẩm mĩ , cùng

sự sáng tạo trong hình thức biểu hiện sẽ làm nên sức sống cho thơ

+ Đó là bài học quý giá cho những người muốn trở thành thi sĩ, những ngườiyêu thơ muốn thâm nhập thế giới vi diệu, bí ẩn của thơ ca

Có ý kiến cho rằng: Với Thơ mới, thi ca Việt Nam bước vào một thời đại mới.

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ điều làm nên dấu ấn của

thời đại mới qua một số bài thơ mới đã học trong chương trình.

GỢI Ý:

1 Giải thích ý kiến: ý kiến đã khẳng định vai trò, vị trí của thơ mới trong lịch sử

văn học Việt Nam

+ Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, ở thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cáchmạng tháng Tám năm 1945, Thơ mới thể hiện rõ nét quá trình hiện đại hóa, tạo rabước chuyển của nền văn học từ trung đại sang hiện đại, phong trào Thơ mới đãtạo ra nhiều phong cách thơ chưa từng có trong lịch sử văn học dân tộc, nhiều têntuổi lớn xuất hiện: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,Nguyễn Bính ; thơ mới cũng tạo ra một lớp công chúng mới

+ Điều quan trọng thơ mới mang đến một nội dung, cảm xúc mới, Hoài Thanh gọi

đó là tinh thần thơ mới: thể hiện cái tôi cá nhân với cách nhìn đời bằng cặp mắtxanh non, trẻ trung tươi mới, đầy ngơ ngác trước thiên nhiên và cuộc sống, phơitrải sự phong phú của tâm hồn mình (nét nổi bật là sự buồn sầu, cô đơn trướckhông gian mênh mông, thời gian vô cùng, vô tận)

+ Thơ mới còn có sự cách tân về nghệ thuật: mới ở thể thơ, mới về ngôn ngữ, hìnhảnh, giọng điệu -> Sự đổi mới về nghệ thuật thực chất là thể hiện sự đổi mớitrong cách nhìn mới mẻ của cái tôi cá nhân

2 Phân tích, chứng minh

- Cần chọn được những bài thơ mới tiêu biểu trong chương trình

- Cần phân tích để làm nổi bật những dấu ấn của thời đại mới ở các bài thơ trênphương diện

+ Nội dung, cảm xúc: là tiếng nói của cái tôi cá nhân cảm nhận cuộc sống, vũ trụmột cách cụ thể trực tiếp, cái tôi với nỗi buồn sầu, cô độc, bơ vơ

+ Nghệ thuật: sự mới mẻ ở thể thơ, từ ngữ, câu thơ, biện pháp tu từ, nhịp thơ,giọng điệu

- Khuyến khích những bài viết biết cách so sánh (với thơ cũ) để nhấn mạnh nétmới của thơ mới

Bàn về văn học, Standal viết: “ Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội”

Trang 16

Còn Lê Nin cho rằng: “ Nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực”

Anh/ chị hiểu những ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ.

GỢI Ý:

1 Giải thích

- Ý kiến của Standal nghĩa là: Văn học phản ánh hiện thực

- Ý kiến của Lê Nin nghĩa là: nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng không bênguyên si hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Hiện thực trong tác phẩm làhiện thực phản ánh thông qua lăng kính của tác giả, thể hiện tư tưởng tình cảm,quan niệm thẩm mĩ và tài năng của tác giả

=> Như vậy: 2 ý kiến tưởng như trái ngược nhau nhưng thực chất là bổ sung chonhau Ý kiến của Lê Nin bổ sung cho ý kiến của Standal để nhấn mạnh chức năngcủa văn học: Văn học phản ánh hiện thực nhưng đó là hiện thực được nhìn qualăng kính chủ quan của tác giả thể hiện tâm tư tình cảm của tác giả

2 Bình luận

Vấn đề đặt ra từ 2 ý kiến trên là hoàn toàn chính xác vì:

- Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống

- Văn học phản ánh hiện thực không theo cách chụp ảnh, bê nguyên si đời sốngvào trong tác phẩm mà hiện thực ấy phải được chọn lọc qua cái nhìn của ngườinghệ sĩ thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả Vì vậy hiện thực trong tác phẩm đôikhi được hư cấu nhưng vẫn được chấp nhận vì nó phản ánh đúng lô gíc tình cảm vàthể hiện tư tưởng của nhà văn

3 Chứng minh

Học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để chứng minh được 2 ý cơ bản sau:

- Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống Dù phản ánh hiện thực gì nhưng đốitượng văn học hướng tới vẫn là con người

- Không phải hiện thực nào được phản ánh cũng làm nên tác phẩm nghệ thuật.Hiện thực được phản ánh trong tác phẩm phải thể hiện được bản chất xã hội, thểhiện tư tưởng tình cảm của nhà văn và tác động sâu sắc tới độc giả

4 Bàn mở rộng:

Văn học phản ánh hiện thực nó đòi hỏi nhà văn phải có vốn sống phải trải nghiệm

để có thể phản ánh được bản chất của hiện thực

- Nhà văn phải là người nhạy cảm, tinh tế và tài năng để có những phát hiện mới

mẻ trước hiện thực cuộc sống

- Người tiếp nhận văn học: cần nhìn nhận hiện thực trong tác phẩm là hiện thựcphản ánh tâm tư tình cảm của nhà văn

Trang 17

“Nội tâm nhân vật thường có nét riêng cho thấy những bí ẩn của tâm hồn, phẩm chất, lí tưởng của nhân vật Đặc biệt là những thay đổi trong ý thức, thái

độ sống và tâm lí của nhân vật qua các giai đoạn.”

(Sách Ngữ văn 11 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục 2008, tr.196)

Từ việc tìm hiểu nhận định trên, hãy phân tích đời sống nội tâm của một nhân vật trong tác phẩm truyện được học (thuộc chương trình Ngữ văn trung học phổ thông) vốn đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng anh/chị.

- Nhà văn luôn chú ý xây dựng “những đổi thay trong ý thức, thái độ sống và tâm lícủa nhân vật qua các giai đoạn” nhằm làm nổi bật nhân vật và góp phần thể hiện ý

đồ sáng tác của mình

=> Nhận định trên vừa nêu lên vai trò của nội tâm trong việc thể hiện nhân vật vừaxác định cá tính sáng tạo mà nhà văn thể hiện qua việc xây dựng đời sống nội tâmnhân vật, để lại dấu ấn riêng trong tác phẩm và trong đời sống văn học Qua đó,giúp bạn đọc có ý thức thêm về yếu tố này khi đọc tiểu thuyết và truyện ngắn

2 Phân tích nội tâm nhân vật trong tác phẩm văn học

Học sinh chọn tác phẩm được học trong chương trình Ngữ văn (cấp trung học phổthông), phân tích nhân vật theo hướng nhận định đã nêu Chú ý các điểm cơ bảnsau đây:

- Chọn được nhân vật thực sự có giá trị trong việc thể hiện đời sống nội tâm;

- Phân tích được nét riêng trong nội tâm nhân vật, qua đó làm rõ “những bí ẩn củatâm hồn, phẩm chất, lí tưởng” của nhân vật

- Chỉ ra “những đổi thay trong ý thức thái độ sống và tâm lí của nhân vật qua cácgiai đoạn” để khẳng định giá trị của nhân vật cũng như ý đồ sáng tác của nhà văn

Thơ là tấm lòng nhưng trước hết thơ phải là cuộc sống

(Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại - Hà Minh Đức).

Anh (chị) hiểu vấn đề trên như thế nào ? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân

tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm sáng tỏ vấn đề lí luận trên

Trang 18

GỢI Ý:

1 Giải thích:

- Thơ là tấm lòng: Đặc trưng cơ bản của thơ tiếng nói tình cảm mãnh liệt, qua sựthể hiện tấm lòng của mình nhà thơ nói lên tiếng lòng, tư tưởng của con người thờiđại mình, thậm chí của nhiều thời, mọi thời

- Thơ là cuộc sống chính đặc trưng phản ánh hiện thực cuộc sống một cách tậptrung cô đọng Hiện thực đời sống là cội nguồn của sáng tạo thơ

-Nhà thơ phải gắn bó máu thịt với cuộc sống, rung động chân thành mãnh liệttrước những vấn đề cốt thiết của cuộc sống muôn mặt và hạnh phúc của con người,của thời đại, chỉ có như vậy, thơ mới thành tiếng nói đồng tình, đồng ý, đồng chí…

- Nhận định trên đúng nhưng chưa đủ tiếng lòng nhà thơ phải chọn được một giọngđiệu, thể thơ, tứ thơ, ngôn ngữ, hình ảnh nhịp điệu, nhạc điệu… phù hợp, và mangdấu ấn riêng của nhà thơ

- Muốn hiểu được một bài thơ phải hiểu bối cảnh lịch sử mà bài thơ ra đời, nắmvững đặc trưng thể loại, phong cách tác giả và cũng cần phải có ít nhiều năng lựccảm thụ thơ

và hoàn cảnh ra đời của Sóng.

- Âm điệu của bài thơ là âm điệu của những con sóng biển cũng là sóng lòng miênman vô hồi vô hạn trong trái tim thi sĩ được tạo nên bởi thể thơ ngũ ngôn (linh hoạtphóng túng khi ngắt nhịp, phối âm) và cách tổ chức ngôn từ, hình ảnh gợi nênnhịp sóng biển và sóng lòng với nhiều sắc thái cung bậc

- Tứ thơ: cuộc hành trình khởi đầu là sự chối bỏ cái chật chội nhỏ hẹp để vươn tớimột tình yêu bao la, vô biên tuyệt đích và khát khao được được sóng hết mình,được bất tử bằng tình yêu, trong tình yêu Đây đâu chỉ riêng là khát vọng của riêngXuân Quỳnh

- Hình tượng sóng bao trùm xuyên suốt bài thơ với hai lớp nghĩa tả thực và biểutượng Nghĩa tả thực sinh động cụ thể với nhiều trạng thái mâu thuẫn, nghĩa biểutượng như có hồn người biết bộc bạch giãi bày khi sôi nổi bồng bột, khi kín đáosâu sắc, đắm say-tỉnh táo, nồng nhiệt – âm thầm…

- Bài thơ còn có hình tượng em trong quan hệ tuy hai mà một, một mà hai soi chiếunhau, khi phân đôi làm nổi bật sự tương đồng, khi hòa nhập tạo sự âm vang cộnghưởng

- Sự vận động của hình tượng sóng qua từng khổ thơ: sóng và tâm trạng phức hợpnhiều đối cực của người phụ nữ khi yêu; sóng và khát vọng tình yêu; sóng và khao

Trang 19

khát truy nguyên cội nguồn tình yêu; sóng và nỗi nhớ trong tình yêu…; sóng vàkhát vọng được sống mãi trong tình yêu.

-Tất cả nhằm thể hiện khát vọng tình yêu, tha thiết, mãnh liệt, trong sáng, thủychung, giản dị, chân thành, táo bạo… của một nhà thơ từng nếm trải sự đổ vỡ trongtình yêu nhưng vẫn tin vào tình yêu và hạnh phúc

Bàn về lao động nghệ thuật của nhà văn, Mác-xen Pruxt cho rằng:

“Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới”.

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết về truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, hãy làm rõ quan niệm nghệ thuật của Mác-xen Pruxt.

GỢI Ý:

1 Giải thích ý kiến

+ “Cuộc thám hiểm thực sự”: Quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, giankhổ và đầy bản lĩnh của nhà văn để sáng tạo nên tác phẩm đích thực

+ “Vùng đất mới”: Hiện thực đời sống chưa được khám phá (đề tài mới)

+ “Đôi mắt mới”: Cái nhìn, cách cảm thụ con người và đời sống mới mẻ

→ Hàm ý câu nói: Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, điều cốt yếu là nhà vănphải có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo, giàu tính phát hiện về con người và đờisống

2 Bàn luận

+ Để tạo nên tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhà văn phải có tài năng, tâm huyết,

có bản lĩnh và phải biết lao động nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ giống như“cuộcthám hiểm thực sự” Nếu dấn thân vào“vùng đất mới” mà nhà văn không có cáchnhìn, cách cảm thụ đời sống mới mẻ thì cũng không thể tạo nên tác phẩm nghệthuật có giá trị đích thực

+ Dù viết về đề tài đã cũ nhưng bằng cái nhìn độc đáo, giàu tính khám phá, pháthiện, nhà văn vẫn thấu suốt bản chất đời sống, mang lại cho tác phẩm giá trị tưtưởng sâu sắc

+ Nếu nhà văn có“đôi mắt mới”, biết nhìn nhận con người và đời sống giàu tínhkhám phá, phát hiện lại tiếp cận với một“vùng đất mới”, thì sức sáng tạo của nhàvăn và giá trị của tác phẩm càng độc đáo, càng cao Vì thế, coi trọng vai trò quyếtđịnh của“đôi mắt mới” nhưng cũng không nên phủ nhận ý nghĩa của“vùng đấtmới” trong thực tiễn sáng tác

+ Để có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo nhà văn phải bám sát vào hiện thực đờisống; trau dồi tài năng, bản lĩnh (sự tinh tế, sắc sảo ); bồi dưỡng tâm hồn (tấm

Trang 20

lòng, tình cảm đẹp với con người và cuộc đời ); xác lập một tư tưởng, quan điểmđúng đắn, tiến bộ

(Trong quá trình bàn luận có thể lấy dẫn chứng minh họa)

3 Phân tích, chứng minh

- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao

+ Đề tài: Cuộc sống của người nông dân nghèo Việt Nam thời kì trước Cáchmạng tháng Tám Đây là đề tài quen thuộc, được nhiều nhà văn khai thác và đã xâydựng được những hình tượng điển hình như trong: Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bướcđường cùng (Nguyễn Công Hoan),

+ Cũng viết về cuộc sống của người nông dân thời kì trước Cách mạng thángTám, Nam Cao không chỉ đề cập đến nỗi khổ đau về vật chất của người nông dân

mà còn xoáy sâu vào bi kịch tinh thần đau đớn: Bi kịch bị tha hóa, bị cự tuyệtquyền sống làm người lương thiện

+ Nhà văn trân trọng phát hiện phẩm chất tốt đẹp của con người Khẳng địnhbản chất lương thiện của con người không bao giờ mất đi cho dù họ có bị hủy hoại

và tàn phá cả nhân hình lẫn nhân tính

- Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

Khác với các thi sĩ cùng thời, khi viết về đề tài người lính (anh bộ đội Cụ Hồ)thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Quang Dũng thể hiện một cách nhìnmới, một“đôi mắt mới”:

+ Nhà thơ không né tránh hiện thực mà nhìn thẳng vào cuộc chiến khốc liệt

4 Đánh giá khái quát

Nếu có“đôi mắt mới”, cách nhìn mới thì cho dù có viết về“vùng đất cũ” nhàvăn vẫn tạo ra được những áng thơ, thiên truyện độc đáo, có giá trị, có phẩm chất

và cốt cách văn học, có sức lay động lòng người, có khả năng sống mãi với thờigian

Nhà phê bình văn học người Nga Biêlinxki từng viết:

“Tác phẩm văn học sẽ chết nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay niềm vui sướng hân hoan, nếu nó không đặt ra câu hỏi hay trả lời những câu hỏi.”

Anh, chị hiểu như thế nào về ý kiến trên?

Hãy chọn và phân tích một vài tác phẩm đã học trong chương trình Ngữ Văn 11 để làm rõ ý kiến của mình.

Trang 21

GỢI Ý:

1 Giải thích

- Tiếng thét khổ đau, niềm vui sướng hân hoan: sự phong phú và mãnh liệt của cảm

xúc

- Đặt ra câu hỏi hay trả lời những câu hỏi: sự sâu sắc trong tư tưởng của tác phẩm

trong việc đưa ra và trả lời những câu hỏi trong cuộc sống

=> Nhận định suy tư về sức sống và sự bất tử của tác phẩm văn học

→ Tác phẩm văn học là bách khoa toàn thư về thế giới tâm hồn con người Chính

sự phong phú của cảm xúc giải thích vì sao tác phẩm văn học luôn là người bạn tri

âm với mỗi con người trong toàn bộ cuộc đời của mình Nói cách khác, tác phẩmvăn học sống với buồn vui của con người và qua đó, văn học tìm thấy sức sống củanó

- Tác phẩm văn học trước tiên là sang tác, rung động của một cá nhân Nhưng khinhững cảm xúc đó đạt đến giới hạn sâu xa nhất, đến cường độ mãnh liệt nhất

(“tiếng thét”, “hân hoan”) thì nó lại tác động tới mẫu số chung của mọi người.

Khi ấy, tình cảm riêng của mỗi cá nhân trở thành trải nghiệm chung của con người

ở nhiều thế hệ, nhiều thời đại

→ Sự mạnh mẽ, mãnh liệt trong cảm xúc giúp tác phẩm văn học có khả năng lantruyền và cộng hưởng với cảm xúc của người đọc, tạo ra sức lan tỏa trong khônggian, thời gian Từ đó, làm nên sức sống lâu bền, sự bất tử của tác phẩm văn học

sự tồn tại, sự trải nghiệm của con người trong cuộc đời

- Trả lời câu hỏi rất quan trọng nhưng nhiều khi và thường khi văn học chỉ là đặt ranhững câu hỏi Vì câu trả lời chỉ có một mà cuộc đời rất nhiều cảnh ngộ, nhiều sốphận cho nên khó có câu trả lời trọn vẹn cho tất cả mọi con người Tuy nhiên,những câu hỏi chung vẫn luôn luôn tồn tại (về tình yêu, về niềm tin, ) Nó giúpmài sắc những cảm nhận của chúng ta về cuộc đời, khơi gợi và đánh thức ở chúng

ta những khát vọng sống Mỗi tác phẩm lớn lại là một câu hỏi lớn

HS lấy dẫn chứng cụ thể để làm sáng tỏ

Trang 22

c) Mối quan hệ hai chiều giữa sự phong phú mãnh liệt của cảm xúc với việc đặt ra hay trả lời những câu hỏi trong tác phẩm văn học

- Sự phong phú mãnh liệt của cảm xúc là cội nguồn sâu xa để chúng ta quan tâmtới những câu hỏi, bận tâm về câu hỏi, thôi thúc chúng ta tìm kiếm câu trả lời

- Sự hiểu biết sâu sắc về thế giới, khả năng biết đặt ra những câu hỏi đã khiến cảmxúc của chúng ta trở nên tinh tế hơn, mãnh liệt hơn

Đến Thơ mới, trong thơ ca Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể Mỗi thi

sĩ Thơ mới tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn không thể lẫn”

GỢI Ý:

1.Giải thích :

1.1 Giải thích thuật ngữ :

- Thơ mới: Thuật ngữ được Phan Khôi dùng đầu tiên, để chỉ một lối thơ tự do, phân

biệt với Thơ cũ - thứ thơ cách luật gò bó, chặt chẽ về niêm luật Sau đó, thuật ngữnày được dùng để chỉ một phong trào thơ ca lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945)

- Cái tôi trữ tình: là sự thể hiện cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới

và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra mộtthế giới tinh thần độc đáo, mang tính thẩm mĩ Cái tôi trữ tình thống nhất chứkhông đồng nhất với cái tôi tác giả

- Ý nghĩa nhận định: Nhận định được tạo nên bởi hai mệnh đề có quan hệ bổsung ý nghĩa cho nhau nhằm khẳng định: Thơ mới là một cuộc cách mạng tronglịch sử thi ca Việt Nam với đóng góp nổi bật là sự xuất hiện của từng cái tôi trữtình cá thể Mỗi thi sĩ tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn riêng cùng gópphần làm nên phong cách một trào lưu văn học

1.2 Cơ sở hình thành nên phong trào Thơ mới và cái tôi trữ tình cá thể trong Thơ mới

- Văn học dân tộc tiềm tàng một sức sống mạnh mẽ Suốt tiến trình của thơ catrung đại, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX, nhiềunhà thơ phá vỡ tính qui phạm, không còn sáng tác thơ ca để nói chí tỏ lòng mà đềcập những khát khao đời thường bình dị, nhân bản

- Đầu thế kỉ XX, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam cónhiều biến chuyển kéo theo đó là sự chuyển biến của văn học Một lớp công chúng

có đời sống tinh thần và thị hiếu mới hình thành đòi hỏi một thứ văn chương mới

Trang 23

- Nhân vật trung tâm của văn học là bộ phận trí thức Tây học, chịu ảnh hưởng củavăn hóa phương tây Đó là các trí thức trẻ muốn bứt phá, đạp tung xiềng xích đểkhẳng định cái tôi cá nhân Cái tôi cá nhân này là một trrong những động lực tạonên một thời đại mới trong thi ca.

- Nằm trong mạch vận động ấy, Thơ mới ra đời như một tất yếu lich sử Sự thoátkhỏi hệ thống thi pháp trung đại cùng với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đã giảiphóng sự sáng tạo của người nghệ sĩ

1.3 Vì sao nói đến Thơ mới, thơ ca Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể, mỗi thi sĩ Thơ mới tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn không thể lẫn

- Thơ ca trung đại là thơ của cái ta, thơ nói chí tỏ lòng Các nhà thơ trung đại chưalấy con người cá nhân làm đối tượng phô bày và bộc lộ cảm xúc, cũng chưa nhìnthế giới bằng con mắt của cá nhân mình Toàn bộ thế giới tinh thần của thơ trungđại nằm trong vòng chữ ta, thể hiện ý thức, cảm xúc của con người cộng đồng

- Thơ mới thoát khỏi hệ thống thi pháp trung đại, tập trung thể hiện tình cảm, cảmxúc của dòng chảy nội tâm Đối tượng trung tâm của Thơ mới là thế giới nội cảmcủa con người Cho nên, nếu thơ trung đại là thơ hướng ngoại thì thơ mới là thơhướng nội Đó là cái tôi nội cảm, cái tôi cá thể với muôn vàn cảm xúc vừa tựnhiên, vừa độc đáo

- Thơ mới là thơ giải phóng cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, mỗi nhà thơ đềunhìn thế giới bằng con mắt của cá nhân mình Mỗi nhà thơ mới là một chủ thểsáng tạo độc đáo trong nghệ thuật với việc cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới

và cách biểu hiện thế giới

Vì vậy, thi đàn Thơ mới xuất hiện những gương mặt tiêu biểu mang điệu tâm hồn không thể lẫn: Thế Lữ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên kỳ dị…

2 Chứng minh sự thể hiện của cái tôi trữ tình cá thể, với điệu tâm hồn không thể lẫn trong các bài thơ trong chương trình Ngữ Văn 11 :

* Vội vàng của Xuân Diệu :

- Cái tôi diển hình cho thời đại Thơ mới đồng thời mang đậm bản sắc riêng Đó làcái tôi tích cực, mãnh liệt Cái tôi ấy bám riết lấy trần gian, chạy đua với thời gian,lúc nào cũng thèm yêu, khát sống Cái tôi ấy lúc nào cũng khao khát tận hưởng vàtận hiến ngay trên thiên đường trần thế này; không chỉ giãi bày cảm xúc mà còn thểhiện quan niệm, triết lý về con người, về cuộc đời

- Cái tôi ấy nhìn cuộc sống vừa như mảnh vườn tình ái (xuân sắc, xuân tình, quyến rũ) vừa như sa mạc cô liêu ( tàn phai, rơi rụng ,mất mát) Vì vậy, dòng cảm xúc

được vận động từ khát khao mãnh liệt sang niềm vui sướng ngất ngây đến lo sợtiếc nuối và vội vàng cuống quýt

- Cái tôi độc đáo cá thể hóa trong cách biểu đạt : sự kết hợp giữa mạch cảm xúc vàmạch luận lý, những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ tân kỳ, mới lạ, chiuh ảnhhưởng của thơ ca lãng mạn Pháp, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ, nhịp điệu…

Trang 24

* Tràng giang của Huy Cận :

- Cái tôi Huy Cận là cái tôi cô đơn được hình dung như một kẻ lữ thứ bơ vơ trong

không gian vô cùng thời gian vô thủy vô chung Đó là cái tôi khao khát hòa điệu

(được đồng điệu và được hòa nhập giữa con người với con người, con người vớithiên nhiên và thiên nhiên tạo vật với nhau) nhưng không tìm thấy sự hòa điệu Đó

là tiếng nói sầu tui của một cái tôi không được hòa điệu đang bơ vơ trong cõingười

- Cái tôi ấy nhìn thế giới là một cõi trời đất mênh mang, trống vắng, với không

gian vô cùng vô tận, thời gian vô thủy vô chung Đó là một thế giới phi hòa điệu

trong đó thiên nhiên, con người, tạo vật rơi vào trạng thái phân li,lạc lõng, rời rạc,không giao cảm Vì vậy, cảm xúc bao trùm là nỗi buồn mà Huy Cận gọi đó là nỗisầu vạn kỉ, nỗi buồn sầu vũ trụ và thế nhân Đó là nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước

vũ trụ rộng lớn, trong đó còn phảng phất nỗi buồn sông núi

- Cái tôi độc đáo trong cách biểu đạt : Sử dụng nhuần nhuyễn những yếu thơ cổđiển trong một bài thơ mới, vể đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ

* Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

- Cái tôi Hàn Mặc Tử yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc Một hồn thơquằn quại yêu và đau Đó là lời bày tỏ tình yêu đối với cuộc đời của một tâm tìnhtuyệt vọng

- Cái tôi ấy chia thế giới thành hai không gian đối lập: trong này (là địa ngục bóng tối, là mất mát, khổ đau…) và ngoài kia (là trần gian tràn đầy thanh sắc, là ánh sáng, là niềm vui, là hạnh phúc…) Thôn Vĩ là hình ảnh thu nhỏ của ngoài kia mà

Hàn Mặc Tử khao khát hướng về bằng tình yêu tuyệt vọng Càng tuyệt vọn, thếgiới ấy hiện lên càng đẹp, càng đẹp càng khiến thi nhân tuyệt vọng Vì vậy, cảmxúc của bài thơ vận động từ nỗi nhớ thôn Vĩ đến mặc cảm chia lìa và tình yêu tuyệtvọng

- Cái tôi độc đáo trong cách biểu đạt : Hình ảnh sáng tạo, gắn với trí tưởng tượngphong phú, vừa thực vừa ảo, chịu ảnh hưởng của tư duy tượng trưng siêu thực,ngôn ngữ thơ cực tả…

3 Đánh giá

- Đây là một nhận định chính xác, mang tính khoa học Sự xuất hiện của cái tôi trữ

tình cá thể với gương mặt, điệu tâm hồn riêng, với sự cách tân trên phương diệnnội dung và nghệ thuật đã tạo nên bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển củathơ ca dân tộc

- Mang tinh thần chung của thời đại Thơ mới nhưng mỗi tác giả, mỗi bài thơ mới

có nét riêng độc đáo không lặp lại Cái riêng kết hợp với cái chung tạo nên sự đadạng, phong phú, độc đáo của Phong trào Thơ mới Thơ Mới làm nên thành tựu hếtsức vĩ đại nhưng không quay lưng đoạn tuyệt mà kết tinh và bám rễ sâu sắc vớithơ ca dân tộc

Trang 25

- Sự xuất hiện của cái tôi với ý thức cá nhân mạnh mẽ mang tính cách mạng đã

đem lại thành tựu rực rỡ cho phong trào Thơ mới Tuy nhiên, cái tôi Thơ mới mang

bi kịch về nỗi cô đơn, sự bế tắc nên càng đi sâu càng lạnh…

- Từ đó đặt ra bài học cho người sáng tạo và tiếp nhận : bản chất của lao động nghệthuật là sáng tạo, người nghẹ sĩ phải tạo được dấu ấn riêng trong tác phẩm củamình Người đọc khi đến với tác phẩm biết khám phá, trân trọng những sáng tạo

ấy, lấy hồn ta để hiểu hồn người…

Bàn về thơ, có ý kiến cho rằng:

Thơ là tình, nhưng không phải là những cảm xúc hời hợt, mà là lí trí đã chín muồi nhuần nhuyễn Bài thơ hay bao giờ cũng gói ghém bên trong một chiều sâu suy nghĩ, chứa đựng ít nhiều chân lí tinh tế của cuộc đời.

(Phương Lựu, Khơi dòng lý thuyết lí luận phê bình trên đà đổi mới văn hóa văn nghệ, NXB Hội Nhà văn, 2014, tr.71)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của mình về hai bài thơ

Vội vàng (Xuân Diệu) và Từ ấy (Tố Hữu), hãy làm sáng tỏ

=> Nhận định bàn về một trong những đặc trưng tiêu biểu của thể loại thơ: sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm, cảm xúc mãnh liệt và chiều sâu suy tư, triết lícủa nhà thơ

mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi…

- Xuất phát từ chức năng của văn học: văn học có nhiều chức năng trong đó phải

kể đến chức năng giáo dục Gắn với chức năng này, thơ văn suy cho cùng làphương tiện nhằm giáo dục người đọc, bồi dưỡng những tình cảm cao đẹp, những

tư tưởng lành mạnh, tiến bộ và bài học triết lí nhân sinh sâu sắc

Trang 26

- Xuất phát từ khát vọng của người viết: nhà thơ bao giờ cũng muốn gửi gắm vàotrong tác phẩm những tư tưởng, triết lí, lí tưởng, cảm xúc… của mình và truyềnđến cho người đọc để được chia sẻ, thấu hiểu.

- Xuất phát từ đặc trưng của thơ: là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt Vì thế, thơ cabiểu hiện triết lí, tư tưởng theo con đường riêng, đó là cách thể hiện giàu cảm xúcvới những rung động tình cảm mãnh liệt (khác văn xuôi thiên về kể, tả sự việc…)

- Xuất phát từ thực tiễn: trong sáng tác thơ ca từ xưa tới nay, những tác phẩm cógiá trị đều là những tác phẩm có tư tưởng sâu sắc được tạo nên từ trái tim giàu cảmxúc của người cầm bút

2 Chứng minh qua Vội vàng (Xuân Diệu) và Từ ấy (Tố Hữu)

* Chứng minh qua Vội vàng (Xuân Diệu)

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Thơ là tình: Bài thơ thể hiện niềm khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộc đời, bộc

lộ qua khát vọng ngông cuồng muốn đoạt quyền tạo hóa để níu giữ những vẻ đẹpcủa trần gian; tình yêu đắm say với vẻ đẹp của thiên đường trên mặt đất; nỗi lo sợtrước sự trôi chảy của thời gian, sự tàn phai của mùa xuân và tuổi trẻ; niềm giụcgiã cuống quýt tận hưởng đời sống của một tâm hồn cuồng nhiệt yêu đời

- Thơ còn là lí trí chín muồi, chiều sâu suy nghĩ, chân lí tinh tế của cuộc đời: Vộivàng đem đến triết lí nhân sinh sâu sắc về thời gian và tuổi trẻ (thời gian tuyến tínhmột đi không trở lại, tuổi xuân của con người cũng không thắm lại hai lần); quanniệm thẩm mĩ mới mẻ (con người là chuẩn mực của cái đẹp, là kiểu mẫu của muônloài); quan niệm nhân sinh đúng đắn (hạnh phúc ở ngay giữa trần gian và ngaytrong hiện tại); quan niệm sống tích cực (sống tận hưởng nhưng đồng thời phải tậnhiến, mỗi phút giây trôi đi phải sống có ý nghĩa)

- Nghệ thuật thể hiện tình cảm và tư tưởng: Thể thơ tự do; kết hợp nhuần nhị giữamạch cảm xúc và mạch luận lí; giọng điệu khi say mê, sôi nổi lúc nuối tiếc, xót xa;thủ pháp trùng điệp tạo nên sự mạnh mẽ và cuốn hút; nhiều câu thơ phá vỡ khuônkhổ cú pháp thông thường; ngôn từ và hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo

* Chứng minh qua Từ ấy (Tố Hữu)

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Thơ là tình: Bài thơ thể hiện niềm vui lớn khi được giác ngộ lí tưởng, là tình cảmlớn tự nguyện yêu thương và gắn bó với những kiếp cần lao, tạo nên những tìnhcảm bền chặt như một gia đình

- Thơ còn là lí trí chín muồi, chiều sâu suy nghĩ, chân lí tinh tế của cuộc đời: Từ ấygửi gắm triết lí về vai trò của ánh sáng cách mạng (phục sinh đời sống tâm hồn,khai sinh cuộc đời mới đồng thời khai sinh hồn thơ mới), về tác dụng của lý tưởng(đem đến nhận thức mới về lẽ sống: hòa cái tôi riêng với cái ta chung để tạo ra sứcmạnh đoàn kết; đem đến sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm: vượt qua nhữngtình cảm cá nhân ích kỉ để có được những tình cảm bao la, rộng lớn)

Ngày đăng: 28/08/2019, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w