1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề tốt nghiệp - Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội

68 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 443,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng của người dân dần cao hơn và có xu hướng sử dụng các hàng hóa có giá trị lớn trong khi khả năng chi trả ở hiện tại là không đủ. Đây chính là cơ hội cho việc phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng ở các ngân hàng. Bên cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, cuộc chiến cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau cũng như với các tổ chức tài chính ngày càng trở nên quyết liệt. Áp lực cạnh tranh đã làm cho tỷ suất lợi nhuận trong các lĩnh vực hoạt động trước đây của ngân hàng giảm sút. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng buộc phải tìm ra những hướng đi mới, những sản phẩm mới phục vụ tốt hơn khách hàng của mình, phát triển cho vay tiêu dùng là một trong số những hướng đi hiệu quả. Cho vay tiêu dùng có lịch sử phát triển lâu đời ở các nước Âu, Mỹ và sự phồn vinh của nền kinh tế này một phần là do tín dụng tiêu dùng đem lại. Thế nhưng lịch sử cũng chứng kiến sự kém phát triển của cho vay tiêu dùng tại các nước Châu Á, kể cả nền kinh tế hàng đầu như Nhật Bản và Trung Quốc, đó là vì các tập tục văn hoá lâu đời ở các nước này chống lại tình trạng vay nợ cá nhân. Việt Nam là một thị trường rộng lớn với 85 triệu dân nhưng dư nợ tín dụng tiêu dùng lại chiếm tỷ lệ rất ít (chưa nhỏ bé so với thu nhập bình quân đầu người. Các ngân hàng thương mại cũng như tổ đến 7% tổng dư nợ của nền kinh tế), dư nợ tín dụng tiêu dùng tính trên đầu người còn quá chức tài chính trong và ngoài nước cũng đang bắt đầu xâm nhập vào thị trường tiềm năng này. Từ những hiếu biết trên, cùng với những kiến thức đã học, em đã chọn đề tài “Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

- Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng của người dân dần cao hơn và có xu hướng

sử dụng các hàng hóa có giá trị lớn trong khi khả năng chi trả ở hiện tại làkhông đủ Đây chính là cơ hội cho việc phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng ởcác ngân hàng

Bên cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, cuộc chiến cạnhtranh giữa các ngân hàng với nhau cũng như với các tổ chức tài chính ngàycàng trở nên quyết liệt Áp lực cạnh tranh đã làm cho tỷ suất lợi nhuận trongcác lĩnh vực hoạt động trước đây của ngân hàng giảm sút Để tồn tại và pháttriển, các ngân hàng buộc phải tìm ra những hướng đi mới, những sản phẩmmới phục vụ tốt hơn khách hàng của mình, phát triển cho vay tiêu dùng là mộttrong số những hướng đi hiệu quả

Cho vay tiêu dùng có lịch sử phát triển lâu đời ở các nước Âu, Mỹ và sựphồn vinh của nền kinh tế này một phần là do tín dụng tiêu dùng đem lại Thếnhưng lịch sử cũng chứng kiến sự kém phát triển của cho vay tiêu dùng tạicác nước Châu Á, kể cả nền kinh tế hàng đầu như Nhật Bản và Trung Quốc,

đó là vì các tập tục văn hoá lâu đời ở các nước này chống lại tình trạng vay nợ

cá nhân

Việt Nam là một thị trường rộng lớn với 85 triệu dân nhưng dư nợ tín dụngtiêu dùng lại chiếm tỷ lệ rất ít (chưa nhỏ bé so với thu nhập bình quân đầu người.Các ngân hàng thương mại cũng như tổ đến 7% tổng dư nợ của nền kinh tế), dư

nợ tín dụng tiêu dùng tính trên đầu người còn quá chức tài chính trong và ngoàinước cũng đang bắt đầu xâm nhập vào thị trường tiềm năng này

Từ những hiếu biết trên, cùng với những kiến thức đã học, em đã chọn đề

tài “Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội” làm chuyên đề thực tập tốt

nghiệp

Trang 2

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề chính là hoạt động cho vay tiêudùng của các NHTM và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động chovay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chinhánh Nam Hà Nội

- Kết cấu chuyên đề:

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:

* Chương 1: Lí luận chung về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

* Chương 2: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại BIDV chi nhánh Nam Hà Nội

* Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng

TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Nam Hà Nội

Trang 3

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 Khái niệm đặc điểm hình thức và lợi ích của cho vay tiêu dùng

1.1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng (CVTD)

Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho kháchhàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trongmột khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký kết(về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả ) nhằm giúp cho khách hàng

có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả,tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn

Cho vay tiêu dùng có lịch sử bắt nguồn từ việc đẩy mạnh tiêu thụ hànghoá của các hãng bán lẻ dưới hình thức trả góp, tuy nhiên do năng lực tàichính không đủ để duy trì các tài sản có này cũng như thiếu hụt vốn lưu động

đã bắt buộc các hãng này tìm kiếm nguồn tài trợ từ các ngân hàng thương mại

và các định chế tài chính Cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất, nhucầu về tiêu dùng các hàng hoá lâu bền, xa xỉ cũng như các dịch vụ tốn kém vềchi phí cũng tăng lên Nhu cầu vay tiêu dùng cũng từ đó xuất hiện và tăng lênmột cách mạnh mẽ

Cùng với sự gia tăng của nhu cầu chi tiêu hàng hoá, dịch vụ là sự giatăng cạnh tranh giữa các định chế tài chính về mảng cho vay kinh doanh, hơnthế nữa là sự phát triển của các thị trường huy động vốn của doanh nghiệp đãthúc đẩy các ngân hàng thương mại tìm kiếm và mở rộng thị trường cho vaytiêu dùng

Thêm vào đó, khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định sẽhình thành nên một tầng lớp cư dân có thu nhập tương đối ổn định Các tầnglớp này mong muốn có một mức thu nhập cao hơn mức mà khả năng về thunhập hiện tại của họ có thể cung cấp được, yếu tố này cũng đã góp phần hìnhthành cầu về tín dụng tiêu dùng

Trang 4

1.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng:

Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn.

Do mục đích vay tiêu dùng nên quy mô các khoản vay không lớn, dẫnđến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so vớilãi suất của các loại vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp Song, nhucầu vay tiêu dùng là khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này làmọi cá nhân trong xã hội từ với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng

Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia

đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh Nhu cầu đó có thể xuấtphát từ việc: mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồdùng, hay các nhu cầu du lịch, học hành hoặc giải trí

Về rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự

ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội

nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thânkhách hàng Do đối tượng cho vay là khách hàng cá nhân mà sức khoẻ cũngnhư tình hình tài chính cá nhân dễ tổn thương hơn là doanh nghiệp làm chocác khoản cho vay tiêu dùng trở nên rủi ro hơn và do vậy nên thường có lãisuất cho vay cao hơn

Chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.

Do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàngthường không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí chocông tác thẩm định và xét duyệt cho vay Hơn nữa phần lớn các khoản vay với

số lượng lớn và giá trị nhỏ nên ngân hàng phải chịu một khoản chi phí đáng kể

để quản lý hồ sơ khách hàng Chính vì thế, cho vay tiêu dùng trở thành khoảnmục có chi phí lớn nhất trong các khoản mục tín dụng ngân hàng

Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao

Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của cho vay tiêudùng lớn nên ngân hàng thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản cho vay

Trang 5

tiêu dùng Bên cạnh đó, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng là khá nhiều,khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng là rất lớn, cùng với tiền lãi thuđược từ mỗi khoản vay làm cho tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động chovay tiêu dùng là đáng kể.

1.3 Hình thức cho vay tiêu dùng

- Cho vay gián tiếp:

Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Bên cạnh đó ngânhàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp thông qua các công tybán lẻ như: các đại lý bán xe ô tô, xe máy, các công ty kinh doanh nhà, công

ty kinh doanh thiết bị văn phòng, thiết bị gia dụng, các công ty bán lẻ (gọichung là công ty bán lẻ)…Thay vì cho vay trực tiếp khách hàng, ngân hàng cóthể cho vay thông qua nhà cung cấp hàng hóa Đây là hình thức ngân hàngcho vay đối với công ty bán lẻ để trên cơ sở đó công ty bán lẻ bán chịu chokhách hàng vay vốn ngân hàng

Sơ đồ 1: Cho vay gián tiếp

(1) Ngân hàng ký hợp đồng mua nợ từ công ty bán lẻ, thông thườngngân hàng mua lại các khoản nợ mà công ty bán lẻ đã bán chịu cho kháchhàng vay vốn gồm phiếu ghi nợ và các cam kết bảo đảm cho khoản mua chịu

(2) Công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán chịu hàng hóa thông thườngkhách hàng vay phải trả trước từ 20% - 40% giá trị tài sản mua trả góp và cam

NGÂN HÀNG

NGƯỜI TIÊU DÙNG

CÔNG TY BÁN

LẺ

(1) (4)

(5)

Trang 6

kết thanh toán số tiền còn lại, người mua cũng đồng ý dùng tài sản mua trảgóp làm tài sản thế chấp.

(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho khách hàng vay, nhưng vẫn nắmquyền sở hữu tài sản

(4) Công ty bán lẻ tập hợp các phiếu bán hàng có thỏa mãn các điềukiện, tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng, chuyển cho ngân hàng đề nghị ngânhàng mua lại các phiếu bản chịu

(5) Sau khi xem xét ngân hàng sẽ mua lại phiếu bán hàng theo một tỷ lệ

so với số tiền ghi trên phiếu nợ, tỷ lệ này phụ thuộc vào:

- Khả năng thanh toán của người mua hàng

- Chất lượng của tài sản thế chấp

- Thời hạn của các khoản thu

- Lãi suất cho vay của ngân chàng cùng thời kỳ

- Chi phí theo dõi, kiểm soát khoản vay

(6) Ngân hàng sẽ có quyền sở hữu đối với các khoản nợ mà ngân hàngmua lại, đồng thời thông báo cho khách hàng biết và chuyển số tiền đang nợcông ty bán lẻ cho ngân hàng

Thông thường các công ty bán lẻ (người bán nợ) cam kết dành ra mộtkhoản để bù đắp một phần hay toàn bộ những tổn thấ mà ngân hàng có thểphải gánh chịu nếu như cs khoản nợ không được thanh toán và nó cũng bảo

vệ cho nhà cung cấp khỏi nhưng thiếu hụt tạm thời về tài chính và được gọi là

“khoản dự trữ”.

Khoản dự trữ là khoản chênh lệch tạo ra từ số tiền công ty bán lẻ cấpcho người mua để tài trợ cho hợp đồng và số tiền ngân hàng trả cho công tybán lẻ hình thức chiết khấu phiếu nợ

Bên cạnh đó, ngân hàng và công ty bán lẻ thỏa thuận với nhau khikhoản dự trữ vượt qua một tỷ lệ phần trăm nào đó của các phiếu nợ chưathanh toán thì phần thặng dư sẽ trả cho nhà cung cấp, tỷ lệ dự trữ thay đổi tùy

Trang 7

thuộc vào mức độ rủi ro của phiếu nợ.

Cho vay gián tiếp có một số ưu điểm sau

Ngân hàng tiết kiệm chi phí marketing khách hàng, giảm được chi phícho vay, thẩm định khoản vay, đồng thời ngân hàng cũng dễ dàng tăng doanh

số cho vay, nguồn gốc cho việc mở rộng khách hàng và các hoạt động ngânhàng khác

Hơn nữa, các công ty bán lẻ cũng chịu trách nhiệm giám sát khoản chovay trong một giới hạn nhất định, như khách hàng không trả nợ đúng hạn,hoặc việc tái sở hữu hoặc bỏn cỏc hàng hóa tái sở hữu Trong trường hợpngân hàng có quan hệ tốt với các công ty bán lẻ thì cho vay gián tiếp mangtính an toàn cao, giảm bớt rủi ro Khách hàng có thể mua hàng hoặc sử dụngcác dịch vụ trước khi họ tích lũy đủ tiền

Nhược điểm của cho vay gián tiếp

Ngõn hàng ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, do đó hạn chếviệc kiểm soát chất lượng cho vay của cá khoản vay này cũng như khôngđánh giá được khả năng thu nhập, nhân thân của khách hàng

Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bánchịu hàng hóa, cơ hội lừa đảo, xuyên tạc, giả mạo có thể xảy ra

Kỹ thuật cho vay gián tiếp có tính phức tạp cao

Do những nhược điểm trên mà các ngân hàng đều đưa ra những biệnpháp kiểm soát hết sức chắt chẽ khi thực hiện mô hình cho vay gián tiếp

Cho vay gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:

Tài trợ truy đòi toàn bộ:

Theo phương thức này khi công ty bán lẻ bán cho ngân hàng các khoản

nợ mà khách hàng vay đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán chongân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn khách hàng vay không thanhtoán cho ngân

Trang 8

Tài trợ truy đòi hạn chế

Theo phương thức này trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với cáckhoản nợ mà khách hàng vay mua chịu không thanh toán cho ngân hàng chỉgiới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đãthỏa thuận giữa ngân hàng và công ty bán lẻ

Tài trợ miễn truy đòi:

Theo phương thưc này sau khi bỏn cỏc khoản nợ cho ngân hàng công

ty bán lẻ không còn trách nhiệm cho việc những người mua chịu có hoàn trả

nợ được không Phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro nên chi phí cho cáckhoản vay này thường cao hơn nhiều so với các khoản vay khác, đồng thờingân hàng cũng thẩm định rất kỹ trước khi đồng ý mua lại các khoản nợ này.Thông thường các khoản vay này là những khách hàng có uy tín cao, khảnăng thu hồi lại vốn là không khó khăn

Tài trợ có mua lại

Theo phương thức này sau khi thực hiện cho vay gián tiếp theo phươngthức tài trợ truy đòi hoặc truy đòi một phần nếu rủi ro xảy ra, khách hàng vaykhông trả được nợ thì ngân hàng buộc phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ.Trong trường hợp này nếu có thỏa thuận trước thì ngân hàng có thể bán lạicho công ty bán lẻ để nhận được phần nợ mình chưa được thanh toán, kèmvới tài sản đã được khách hàng vay sử dụng trong một thời gian nhất định

Cho vay trực tiếp

Cho vay trực tiếp là khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếpxúc và cho vay đối với khách hàng cũng như trực tiếp thu nợ từ khách hàng

Trang 9

Sơ đồ 2: Cho vay trực tiếp

(1) Khách hàng vay có nhu cầu vay đến ngân hàng yêu cầu vay vốn.Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định khoản vay Trongtrường hợp ngân hàng đồng ý cho vay, ngân hàng và khách hàng vay ký kếthợp đồng tín dụng

(2) Khách hàng vay trả trước bằng vốn tự có của mình một phần số tiềnmua tài sản cho công ty bán lẻ

(3) Ngân hàng thanh toán nốt số tiền còn lại để mua tài sản của kháchhàng cho công ty bán lẻ và nắm giữ các chứng từ sở hữu tài sản

(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho khách hàng vay

(5) Khách hàng vay thanh toán tiền vay cho ngân hàng, số tiền màkhách hàng phải trả cho ngân hàng sẽ lớn hơn số tiền mà ngân hàng trả chocông ty bán lẻ, do có phần lãi trả chậm Phương thức hoàn trả có thể là trảmột phần hoặc trả góp

Cho vay trực tiếp có một số ưu điểm hơn so với cho vay gián tiếp cụ thể như sau

Nhân viên ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc tiếp cận kháchhàng và ngân hàng có kinh nghiệm trong việc thẩm định khách hàng, từ đó có

(3)

(1) (5)

Trang 10

quyết định cho các khoản vay hơn là để các công ty bán lẻ thực hiện Nếutrong cho vay gián tiếp, các nhân viên của các công ty bán lẻ chỉ quan tâmđến việc bán hàng hóa càng nhiều càng tụt, điều này sẽ dẫn đến việc vội vàngkhi đưa ra quyết định khi cho vay, hoặc có những quyết định đầu tư khôngđúng mục đích Vì vậy, việc đưa ra quyết định đầu tư là chính ngân hàng thỡcỏc rủi ro sẽ giảm.

Cho vay trực tiếp linh hoạt hơn, linh hoạt hơn ở chỗ cuối cùng quan hệcho vay chỉ diễn ra giữa ngân hàng và khách hàng vay Nếu khách hàngkhông trả được nợ thì công ty bán lẻ cũng không phải chịu trách nhiệm

Khi khách hàng vay trực tiếp từ ngân hàng thì cả ngân hàng và kháchhàng cùng có lợi, ngân hàng có thể phát triển khách hàng về số lượng và từ đóbán kèm các dịch vụ khác Đối với khách hàng họ có thể được hưởng các dịch

vụ khác của ngân hàng nếu có phát sinh nhu cầu, nếu là khách hàng uy tín họcòn có thể được hưởng các chính sách ưu đãi từ ngân hàng

Ngoài ra ngân hàng còn cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng

Theo phương thức này khách hàng có thể nhận tiền vay thông qua thẻtín dụng, ngân hàng có thể phát hành thẻ tín dụng cho các khách hàng đủ điềukiện cấp thẻ, ngân hàng ấn định hạn mức tín dụng tối đa mà chủ thẻ có thể sửdụng Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ tạicác cơ sở chấp nhận thẻ tín dụng của ngân hàng hoặc khách hàng có thể rúttiền mặt từ cỏc mỏy rút tiền tự động ATM Hàng tháng ngân hàng phát hànhthẻ sẽ gửi một bản sao kê chi tiết các khoản thanh toán cũng như rút tiền vay

mà chủ thẻ đã sử dụng thông qua thẻ tín dụng Trong một thời hạn nhất địnhthường là 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo lần đầu tiên, khách hàngđến thanh toán toàn bộ tiền nợ mà không phải chịu lãi suất Nếu khách hàngkhông đến thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần thì phần chưa thanh toán

sẽ phải chịu lãi suất theo quy định của ngân hàng

Hiện nay, thẻ tín dụng được ngân hàng phát hành cho bất cứ ai có nhu

Trang 11

cầu và đảm bảo có mức thu nhập ổn định hoặc có tài sản cầm cố, thế chấp chomột hạn mức tín dụng để sử dụng thẻ Thẻ tín dụng ngày càng được ưa thíchbởi tính linh hoạt của nó Người ta có thể sử dụng thẻ tín dụng như mộtphương thức để tiếp cận tiền vay của ngân hàng, hạn chế dùng tiền mặt trongthanh toán các hàng hóa dịch vụ.

Tóm lại, cả hai cách cho vay gián tiếp và trực tiếp thì ngân hàng đều làngười cho vay và người đi vay là khách hàng Theo cách cho vay trực tiếpngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau và ngân hàng là chủ nợ củakhách hàng ngay từ đầu, còn cho vay gián tiếp ngân hàng là chủ nợ khi quyền

sở hữu những khoản phải thu được chuyển từ nhà cung cấp cho ngân hàng

1.1.4 Lợi ích của cho vay tiêu dùng

Với ngân hàng thương mại:

Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ,có chiphí và rủi ro, nhưng với lãi suất cao, số lượng các khoản này lại rất lớn (đốitượng có nhu cầu vay tiêu dùng bao gồm tất cả các thành phần trong xã hội),CVTD đã mang lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng thương mại Việc thựchiện và phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng vừa mở rộng được mối quan

hệ với các khách hàng,vừa giúp ngân hàng tận dụng được nguồn vốn huyđộng của mình một cách có hiệu quả, vừa đa dạng hoá được sản phẩm, dịch

vụ của ngân hàng Do đó, góp phần làm tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro chocác ngân hàng Từ đó ngân hàng có thể tăng được sức cạnh tranh trên thịtrường để có thể tồn tại và phát triển bền vững

Đối với người tiêu dùng.

Cho vay tiêu dùng có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhậpthấp và trung bình Thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, họ sẽ đượchưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như muasắm các hàng hoá thiết yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong

Trang 12

trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế.

Tuy nhiên thực tế là một người trẻ lại chưa có đủ khả năng chi trả chonhững nhu cầu của mình do đó họ cần thời gian tích luỹ tiền, người tiêu dùng

sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn ở hiện tại với khẳ năng thanh toán ở hiệntại và tương lai Có thể nói người tiêu dùng là người được hưởng trực tiếp vànhiều nhất lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại trong điều kiện họkhông lạm dụng chi tiêu vào những việc không chính đáng vì khi đó sẽ làmgiảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai

Đối với nền kinh tế -xã hội

Sự sung túc của một nền kinh tế được thể hiện rõ qua mức cầu về hànghoá tiêu dùng của dân cư Việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của cácNHTM sẽ làm tăng đáng kể những nhu cầu có khả năng thanh toán đó hay nóicách khác đây chính là một giải pháp hữu hiệu để kích cầu và qua đó làm chonền kinh tế trở nên năng động hơn

Khi sức mua của người tiêu dùng tăng lên thị trường hàng hoá tiêudùng cũng theo đó mà trở nên sôi động hơn, góp phần quan trọng trong việcnâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước, thúc đẩy nền kinh tếphát triển Bên cạnh đó, Nhà nước cũng sẽ đạt được các mục tiêu kinh tế – xãhội khác như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập,giảm bớt các tệ nạn xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống chongười dân

1.2 sự phát triển và tiêu chí đánh giá cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại

1.2.1 Sự cần thiết mở rộng và phát triển cho vay tiêu dùng

Với sự dồi dàovề cả nguồn vốn và nguồn nhân lực thì các ngân hàngthương mại có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay đối với khách hàng là cỏnhân và hộ gia đình Nhu cầu vay vốn của họ rất lớn, nhu cầu cũng như mongmuốn của mỗi người là vô hạn song khả năng thanh toán của mỗi người lại

Trang 13

hữu hạn Chính vì vậy, nhu cầu có khả năng thanh toán của mỗi người tại thờiđiểm hiện tại là rất nhỏ so với những mong muốn của họ.

Bên cạnh đó, một số người có thu nhập ổn định muốn đáp ứng ngaynhững nhu cầu của mình trước khi có đủ tiền để thanh toán Giả sử một sốtrường hợp khách hàng không có đủ tiền để thanh toán cho những khoản chitiêu của mình chỉ diễn ra tạm thời, trong khi nhu cầu chi tiêu của họ lại mangtính cấp thiết như viện phí, nộp tiền học phí, cưới hỏi, ma chay, sửa chữa nhà,

cơ hội mua một số tài sản trong gia đình …Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng luôndiễn ra trong mọi nền kinh tế, để đáp ứng các nhu cầu này thực hiện cho vaytiêu dùng là hết sức cần thiết tại các ngân hàng thương mại

Khi có nhu cầu vay tiêu dùng, họ có thể vay bạn bè, người thân hoặcthậm chí các công ty, cá nhân cho vay nặng lãi Tuy nhiên, việc đi vay nhưvậy ảnh hưởng rất nhiều đến tính ổn định của nguồn vốn vay như: nếu chúng

ta vay bạn bè, người thân thì đến lúc nào đó họ cần tiền và yêu cầu trả thì sẽrất bị động cho mình khi đó có khả năng không thể trả ngay được hoặc nếubạn vay tín dụng đen sẽ phải chịu lãi suất rất cao sẽ không có lợi cho bạn.Trong trường hợp người có tiền cho vay cũng rất băn khoăn về độ tin cậycũng như uy tín của người vay, nếu có thế chấp tài sản cũng rất khó có đượcmột hợp đồng làm thỏa mãn cả hai bên với các điều kiện ràng buộc về mặtpháp lý

So với các tổ chức cho vay khác thì ngân hàng thương mại có lợi thếhơn nhiều do: ngân hàng thương mại có nguồn vốn lớn, khả năng thẩm địnhcho vay tốt, hệ thống thanh toán tốt, mạng lưới chi nhánh rộng khắp Đối vớihầu hết các khách hàng hiện nay họ rất trung thành với một số ít ngân hàng

mà họ đang giao dịch đặc biệt các ngân hàng nơi họ sinh sống Với nhữngđiều kiện thuận lợi nói trên các ngân hàng thương mại có thể thực hiện tốtviệc cho vay đối với các khách hàng là cá nhân và hộ gia đình

Từ việc tài trợ cho các khách hàng là cá nhân và hộ gia đình, ngân hàng

Trang 14

đa dạng hóa các loại hình cho vay góp phần làm phong phú các sản phẩmkinh doanh tiền tệ đồng thời san sẻ rủi ro.

Thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng các ngân hàng thương mại sẽgóp phần lưu thông hàng hóa dịch vụ, tác động tích cực đến quá trình sản xuấtkinh doanh, đồng thời kích thích mở rộng sản xuất Cho vay tiêu dùng sẽ từngbước giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng thanh toán tức thời,nhằm tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiêu dùng Nhờ một phần vàoviệc mở rộng cho vay tiêu dùng mà ngân hàng thương mại có điều kiện mởrộng và phát triển hoạt động tín dụng, đồng thời thông qua hoạt động cho vaytiêu dùng sẽ góp phần quảng bá hình ảnh của các ngân hàng sâu rộng hơntrong đời sống xã hội, đưa hoạt động ngân hàng đến với từng người dân và hộgia đình góp phần tăng thu các dịch vụ kèm theo

Ngoài ra, đối với người vay vốn, khi họ được sử dụng tài sản mà lâu nay

mơ ước họ sẽ có ý thức tiết kiệm hơn, làm việc có hiệu quả cao hơn Hơn nữa, ýthức trách nhiệm trả nợ ngân hàng cũng khiến cho người vay có động lực cốgắng làm việc Như vậy, thông qua việc cho vay tiêu dùng không chỉ người vayđược hưởng lợi mà còn nhiều người khác được hưởng lợi từ việc này

Việc tài trợ cho hoạt động cho vay tiêu dùng góp phần gián tiếp tài trợcho hoạt động sản xuất của nền kinh tế, cũng nhờ đó hoạt động cho vay nóiriêng và các hoạt động của ngân hàng nói chung có cơi hội phát triển

Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng tiờu dùng, thông quahoạt động cho vay tiêu dùng, giúp doanh nghiệp sớm thu hồi vốn, tăng vòngquay vốn, kích thích sản xuất và tiêu dùng hàng hóa của các doanh nghiệp

Hoạt động cho vay tiêu dùng có thể nói là hoạt động cho vay có tỷ suấtlợi nhuận tương đối cao và được coi là khoản mục có khả năng sinh lời caonhất trong danh mục tài sản của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, tỷ lệdoanh số cho vay tiêu dùng so với tổng doanh số cho vay, cũng như dư nợcho vay tiêu dùng với tổng dư nợ cho vay là rất nhỏ Do vậy, tỷ lệ nợ quá hạn

Trang 15

cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ của ngân hàng là rất nhỏ và hầu hờt cỏckhoản vay đều có tài sản đảm bảo do vậy nguy cơ mất khả năng thu hồi đượcvốn vay là rất ít Nếu ngân hàng có những biện pháp quản lý khoản vay mộtcách hiệu quả và đưa ra những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát và hạn chếrủi ro xảy ra thì đây là loại hình cho vay tương đối an toàn cho các ngân hàngthương mại.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay tiêu dùng

Có nhiều chỉ tiêu được xem xét để đánh giá sự phát triển cho vay tiêudung của ngân hàng thương mại nhưng chủ yếu xét trên các chỉ tiêu sau:

1.2.2.1 Sự gia tăng số lượng khách hàng vay tiêu dùng

Đây là tiêu chí phản ánh quy mô về số khách hàng giao dịch của hoạtđộng cho vay tiêu dùng và nó mang đặc thù nhỏ lẻ, phân tán và đa dạng.Thông thường số lượng khách hàng ngày càng tăng thể hiện phần nào mức độ

mở rộng của hoạt động cho vay này trong ngân hàng thương mại

1.2.2.2 Địa bàn cho vay

Phản ánh thực tế mạng lưới hoạt động cho vay của ngân hàng thươngmại Mạng lưới chi nhánh rộng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàngtrong việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạtđộng cho vay tiêu dùng nói riêng Hệ thống mạng lưới của ngân hàng càngphát triển rộng, ngân hàng sẽ đáp ứng được tối đa như cầu của khách hàng,tạo điều kiện cho khách hàng dễ tiếp cận với các dịch vụ của mình hơn Đồngthời, ngân hàng có thể nắm bắt kịp thời cỏc thụng tin về khách hàng, giúp chongân hàng giảm thiểu thời gian thẩm định khách hàng và giải phóng kháchhàng nhanh

1.2.2.3 Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của cho vay tiêu dùng

Doanh số cho vay tiêu dùng là tổng lượng tiền mà ngân hàng thươngmại đã cho khách hàng vay tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 16

(thường là 1 năm).

Doanh số thu nợ cho vay tiờu dựng là tổng lượng tiền mà ngân hàngthương mại đã thu đủ cả gốc lẫn lãi của các khoản vay tiêu dung (đã giải ngântrong quá khứ) tính trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm)

Mức độ mở rộng, phát triển cho vay tiêu dùng có thể được xác định quadoanh số cho vay và doanh số thu nợ của cho vay tiêu dùng ở các khía cạnh như:

Giá trị tuyệt đối của doanh số cho vay và doanh số thu nợ

Nếu doanh số CVTD 1 năm nhất định tại ngân hàng càng cao thì ngânhàng càng có cơ hội nhiều hơn trong việc mở rộng, phát triển cho vay tiêudùng, nhưng nếu doanh số cho vay cao mà doanh số thu nợ thấp thì nghiệp vụCVTD của ngân hàng kém hiệu quả, vì thế phải tăng cường cả doanh số chovay lẫn doanh số thu nợ của CVTD

Các chỉ tiêu này càng cao càng có lợi cho việc mở rộng CVTD củangân hàng Tuy nhiên, trong một số trường ngân hàng cũng cần xem xét đến tỉtrọng của doanh số cho vay (doanh số thu nợ) của CVTD trong tổng doanh sốcho vay ( doanh số thu nợ) của cả ngân hàng để từ đó có cái nhìn rõ nét hơn

về sự tăng trưởng của tín dụng tiêu dùng trong mối tương quan với các hìnhthức cho vay khác

1.2.2.4 Dư nợ cho vay tiêu dùng

Dư nợ cho vay tiêu dùng là số tiền mà khách hàng còn nợ ngân hàngtính đến một thời điểm nhất định, nó phản ánh lượng tiền mà ngân hàng chưathu hồi được Dư nợ là chỉ tiêu tích lũy qua các thời kỳ

Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay

Trang 17

Đây là những chỉ tiêu phản ánh mặt số lượng chứ chưa nói lên mặt chấtlượng của các khoản vay Nếu dư nợ cho vay tiêu dùng của ngân hàng cao thìchỉ có thể khẳng định ngân hàng có nhiều cơ hội hơn trong việc mở rộng chovay tiêu dùng.

1.2.2.5 Lợi nhuận của hoạt động cho vay tiêu dùng

Đây là các tiêu chí phản ánh mức lợi nhuận thu được từ việc cho vaytiêu dùng Khi quyết định mở rộng cho vay mới, các ngân hàng đều tính toánđến chỉ tiêu thu nhập mà hoạt động này đem lại so với một hoạt động khácvới điều kiện các yếu tố khác không đổi, các ngân hàng muốn cung cấp mộtkhoản vay có tỷ lệ thu nhập cao nhất sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí và mộtphần rủi ro Như vậy, điều kiện quan trọng quyết định việc mở rộng hoạt độngcho vay mà không đầu tư vào hoạt động khác là lợi nhuận từ hoạt động chovay này phải lớn hơn lợi nhuận thu được từ hoạt động tài trợ khác Lợi nhuận

từ hoạt động cho vay này phụ thuộc vào yếu tố lãi vay phải thu, khả năng bánkèm, bỏn chộo sản phẩm và các yếu tố như: chi phí thẩm định, chi phí chovay và mức độ phân tán rủi ro Thông thường, các khoản cho vay tiêu dùng cólãi suất đầu ra cao hơn so với các loại hình khác Do vậy, nguồn thu từ lãi vaylớn hơn, đảm bảo thu được lợi nhuận cao cho ngân hàng

1.2.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng về số lượng khác

Bên cạnh các chỉ tiêu chung nhất cho các hình thức mở rộng về sốlượng trong cho vay tiêu dùng nêu trên thỡ cũng có những chỉ tiêu riêng chomỗi loại hình mở rộng, cụ thể:

Mở rộng thị phần CVTD

Chỉ tiêu thường được các NHTM sử dụng để đánh giá mức độ mở rộngcủa hình thức này là “tỉ trọng của CVTD trong hoạt động cho vay chung củaNHTM”

Chỉ tiêu này có thể được xây dựng trên doanh số cho vay, trên dư nợhoặc trên lợi nhuận của họat động cho vay tiêu dùng và họat động chung của

Trang 18

ngân hàng, cụ thể là:

Thị phần về doanh số CVTD = Doanh số cho vay tiêu dùng x 100%

Doanh số cho vay chung của NHTM

Thị phần về dư nợ CVTD = Dư nợ cho vay tiêu dùng x 100%Dư nợ cho vay chung của NHTMThị phần về lợi nhuận CVTD = Lợi nhuận cho vay tiêu dùng x 100%Lợi nhuận cho vay chung của NHTMCác chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ việc mở rộng về thị phần củacho vay tiêu dùng trong hoạt động cho vay chung của ngân hàng đó cú nhữnghiệu quả nhất định

Mở rộng về hình thức cho vay tiêu dùng

Đây là việc mở rộng bằng cách đưa ra các hình thức mới hay đẩy mạnhcác hình thức cũ trong CVTD, vì vậy các chỉ tiêu để đánh giá bao gồm: “tỉtrọng của các hình thức mới và cũ trong tổng các loại hình cho vay tiêu dùngcủa NHTM”, “tốc độ phát triển của các loại hình cho vay tiêu dùng mới”, “lợinhuận mà các hình thức cho vay tiêu dùng mới đem lại” …

Mở rộng về đối tượng cho vay tiêu dùng

Chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại sử dụng để xác địnhmức độ mở rộng đối tượng cho vay không chỉ đối với CVTD nói riêng mà làtoàn bộ hoạt động cho vay của ngân hàng đó là: “Tỉ trọng về số lượng giữacác đối tượng khách hàng với nhau trong tổng số lượng khách hàng của dịch

vụ cho vay tiờu dựng”

Tùy từng thời kỳ mà ngân hàng có xu hướng tập trung cho vay với cácđối tượng khác nhau, và từ cơ sở có thể xác định được tỉ trọng đối tượngkhách hàng có thu nhập trung bình và cao trong tổng số lượng khách hàng, tỉtrọng của khách hàng là cán bộ viên chức nhà nước, làm công ăn lương hay

có công việc kinh doanh riờng… ngân hàng sẽ có hướng phát triển và chútrọng đến những đối tượng khách hàng cụ thể

Mở rộng về mục đích cho vay tiêu dùng

Trang 19

Đây là hình thức đa dạng hóa các mục đích cho vay tiêu dùng bao gồmphát triển các loại hình cho vay mua nhà, cho vay mua ụtụ, cho vay du học…

Việc đánh giá hiệu quả của loại hình mở rộng này cần làm rõ chỉ tiêuquan trọng như “tỉ trọng về doanh số cho vay, dư nợ và lợi nhuận giữa cácmục đích cho vay với nhau và với tổng thể doanh số cho vay, dư nợ và lợinhuận của toàn bộ hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại”

1.2.2.7 Tỉ lệ nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng

Trong hoạt động cho vay tiêu dùng, mục tiêu của ngân hàng là thu đủ cả lãi lẫn gốc Tuy nhiên, không phải bất cứ khoản vay nào ngân hàng cũng đạt được mục tiêu trờn Cú nhiều khoản nợ đến thời điểm hoàn trả mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được đầy đủ, những khỏan nợ đó được chuyển thành nợ quá hạn Trong mở rộng cho vay tiêu dùng, ngân hàng thường xem xét tỉ lệ

Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD = Dư nợ quá hạn cho vay tiêu dùngTổng dư nợ cho vay tiêu dùng

Chỉ tiêu này đo lường chất lượng các khoản vay tiêu dùng của ngânhàng Khi ngân hàng chuyển các khoản nợ thành nợ quá hạn thì khả năng thuhồi gốc và lãi sẽ gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến mất vốn Vì vậy, một

tỉ lệ nợ quá hạn quá thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng tiêu dùng của ngânhàng phát triển an toàn và ổn định, tạo cơ sở tốt cho việc mở rộng CVTD củangân hàng Để có được một tỉ lệ nợ quá hạn hợp lý, ngân hàng cần xem xétmột cách kỹ lưỡng các nhân tố như thu nhập của người đi vay, mục đích vay,

kỳ hạn trả nợ …

Ngân hàng thương mại cần kết hợp nhuần nhuyễn trong việc sử dụngcác chỉ tiêu này để đánh giá mức độ mở rộng CVTD một cách chính xác vàhợp lý, từ đó có hướng phát triển phù hợp cho hoạt động cho vay nói chung

và cho vay tiêu dùng nói riêng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại:

1.3.1 Nhân tố khách quan

Các nhân tố thuộc về môi trường:

Các ngân hàng thương mại, cũng như bất kỳ thực thể kinh tế nào khác,hoạt động và chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh bao gồm môi

Trang 20

trường kinh tế và xã hội, môi trường pháp luật và thể chế, môi trường côngnghệ thông tin.

Môi trường kinh tế xã hội

Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động có quan hệ biệnchứng, ràng buộc lẫn nhau cho nên bất kỳ một sự biến động nào của nền kinh

tế cũng gây ra những biến động trong tất cả các lĩnh vực kinh tế Sự ổn địnhhay bất ổn định, sự tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ tác độngmạnh mẽ tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng

Môi trường xã hội gồm các yếu tố như: tình hình trật tự xã hội, thói quen,tâm lý, trình độ học vấn, bản sắc dân tộc ( thể hiện qua những nét tính cách tiêubiểu của người dân như niềm tin tưởng lẫn nhau, tính cần cù, trung thực, ham laođộng và thích tằn tiện hay ưa hưởng thụ…) hoặc các yếu tố về nơi ở, nơi làmviệc… cũng ảnh hưởng lớn đến thói quen chi dùng của người dân

Môi trường pháp luật và thể chế

Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống văn bản pháp luật của nhà nướccũng là một nhân tố vĩ mô khác có tác dụng sâu rộng đến hoạt động cho vaytiêu dùng của các ngân hàng thương mại Môi trường pháp lý có ảnh hưởngđến trật tự, tính ổn định và tạo điều kiện cho hoạt động cho vay tiêu dùng diễn

ra thông suốt, đảm bảo sự phát triển bền vững, hạn chế những rắc rối tổn hạiđến lợi ích của các bên tham gia quan hệ vay mượn

Hoạt động cho vay tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của hệ thống cácchính sách và chương trình kinh tế của Nhà nước

Môi trường công nghệ và hệ thống thông tin

Môi trường công nghệ có ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế nóichung và ngành ngân hàng nói riêng Trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệcàng hiện đại, hiệu quả kinh doanh càng cao.Hệ thống máy móc hiện đạitrong ngân hàng sẽ góp phần làm giảm chi phí nhân công, giúp hoạt động

Các nhân tố từ phía khách hàng

Trang 21

Trong nhóm các nhân tố khách quan này, trước hết phải kể đến đạo đứckhách hàng, được đánh giá dựa trên năng lực pháp lý và độ tín nhiệm Nếuthực sự khách hàng có thu nhập cao, ổn định để trả nợ, thậm chí đưa ra đượcđiều kiện đảm bảo tốt thì chưa chắc họ đã có thiện chí khi trả nợ.

Năng lực pháp lý là những quy định cụ thể về mặt pháp lý mà ngườivay cần phải có, đây là cơ sở hình thành nghĩa vụ trả nợ của khách hàng trongquan hệ tín dụng, thông qua thẩm định về năng lực pháp lý

Khả năng tài chính của khách hàng cũng là một trong những yếu tố ảnhhưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, nếu khách hàng có thu nhập cao và ổnđịnh thì việc trả nợ ngân hàng thường ít ảnh hưởng đến các chi tiêu kháctrong gia đình

Tài sản đảm bảo là cơ sở pháp lý có thêm nguồn thu nợ thứ hai chongân hàng ngoài nguồn thu nợ thứ nhất, mang tính dự phòng rủi ro Nhưng tàisản đảm bảo không giữ vai trò quyết định trong việc khách hàng vay haykhông mà nó chỉ là một tiêu chuẩn để xét duyệt khi cho vay

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về phía ngân hàng, nó cú vaitrò quyết định đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàngthương mại Trước khi quyết định có mở rộng cho vay tiêu dùng hay khôngcác ngân hàng phải cân nhắc về những lợi ích mà hoạt động này mang lại

Hoạt động cho vay tiêu dùng cũng là một trong các hoạt động đem lạinhiều lợi ích cho các ngân hàng Khi nhận thức được những lợi ớch mà hoạtđộng này đem lại ngân hàng thường đưa ra những chiến lược, chính sách,phương hướng hoạt động cùng một số biện pháp cụ thể để mở rộng hoạt độngcho vay này

Hơn nữa, khi quyết định lựa chọn hoạt động tài trợ mới các ngân hàngđều cân nhắc đến lợi nhuận dự tính mà hoạt động này đem lại so với một hoạtđộng tài trợ khác Với điều kiện các yếu tố khỏc không đổi ngân hàng muốn

Trang 22

cung cấp một khoản vay có tỷ lệ thu nhập dự tính cao nhất sau khi đã trừ đitoàn bộ chi phí và một phần rủi ro cho vay Như vậy, một trong những điềukiện quan trọng quyết định việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng màkhông đầu tư vào hoạt động khác là lợi nhuận dự tính từ hoạt động cho vaytiêu dùng phải lớn hơn lợi nhuận dự tính từ hoạt động tài trợ khác.

Trong đó, lợi nhuận dự tính từ hoạt động cho vay tiêu dùng lại phụthuộc vào yếu tố: lói từ cho vay tiêu dùng và một số yếu tố khác như: chi phíthẩm định, chi phí cho vay, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế rủi ro

Ngoài ra, lợi ích từ việc cho vay tiêu dùng còn có tác động tích cực tớiviệc mở rộng các dịch vụ khác do số lượng khách hàng tăng lên, từ đó họ cóthể sử dụng nhiều dịch vụ, từ đó ngân hàng sẽ thu được thờm cõc loại phídịch vụ mà họ sử dụng

Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay các ngân hàng không thể tự quyếtđịnh mức lãi suất cho vay tiêu dùng mà phải phụ thuộc vào tình hình thịtrường Như vậy, yếu tố quyết định đến lợi nhuận dự tính của hoạt động chovay tiêu dùng là khả năng của các ngân hàng trong việc giảm bớt các chi phítrong quá trình cho vay, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong cho vay tiêu dùng

Như vậy, các nhân tố tác động đến hoạt động cho vay tiêu dùng nhưsau:

Hệ thống mạng lưới giao dịch của ngân hàng

Mạng lưới giao dịch rộng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàngtrong việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạtđộng cho vay tiêu dùng nói riêng Hệ thống mạng luới giao dịch của ngânhàng càng phát triển rộng, ngân hàng sẽ đáp ứng được tối đa nhu cầu củakhách hàng Hơn nữa, khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ củangân hàng đồng thời ngân hàng có thể nắm bắt kịp thời các thông tin về kháchhàng, các thông tin này sẽ hỗ trợ cho cán bộ tín dụng trong quá trình thẩmđịnh khách hàng vay vốn

Trang 23

Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng cũng ảnh hưởng trực tiờp đến việc mở rộng hoạtđộng cho vay tiêu dùng Đối với những ngân hàng có quy mô lớn thì chi phíhuy động vốn sẽ thấp hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ Chi phí huy độngvốn thấp thì lãi suất cho vay cũng thấp làm tăng khả năng cạnh tranh và thuhút được sự quan tâm của khách hàng hơn so với các ngân hàng khác, chênhlệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay lớn sẽ tạo ra một khoản lợinhuận lớn hơn Ngoài ra ngân hàng có quy mô lớn sẽ tạo được uy tín đối vớikhách hàng, nhờ tiềm lực tài chính mạnh mà ngân hàng có điều kiện áp dụngkhoa học công nghệ mới, giảm bớt chi phí nhân công nâng cao năng suất laođộng đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng

Số lượng và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng

Để thành công trong công tác quản lý và kinh doanh thì việc quản lý vàđào tạo một đội ngũ cán bộ cho vay có trình độ chuyên môn cao, phẩm chấtđạo đức tốt, giàu kinh nghiệm luôn là mục tiêu phấn đấu của các ngân hàng.Cán bộ cho vay có phẩm chất đạo đức tốt sẽ giảm thiểu các tiêu cực cũng nhưrủi ro cho cỏc ngõn hàng trong quá trình cho vay bởi họ khụng vỡ lợi ích cánhân mà cho vay các đối tượng có khả năng trả nợ kém Hơn nữa, một cán bộcho vay giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn có thể tiếp cận được các kháchhàng tốt và thẩm định khách hàng một cách nhanh chóng khi tiến hành chovay và hạn chế những rủi ro gây tổn thất cho ngân hàng

Cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu rất lớn của các cá nhân, hộgia đình, ngoài ra cỏc mún vay tiờu dùng phát sinh thường xuyên với nhữngkhách hàng khác nhau, mục đích vay đa dạng Hơn nữa, do trình độ của kháchhàng thường hạn chế hơn so với khách hàng doanh nghiệp nên đòi hỏi cán bộtín dụng phải hướng dẫn thủ tục nhiều hơn Do đó, số lượng cán bộ tín dụng

đủ để giải quyết các nhu cầu vay sẽ giúp cho hoạt động cho vay tiêu dùng củangân hàng diễn ra nhanh chóng, giải phóng khách hàng nhanh dồng thời đảm

Trang 24

bảo chất lượng món vay có hiệu quả cao.

Sản phẩm cho vay tiêu dùng đa dạng phong phú

Muốn mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng có hiệu quả các ngân hàngkhông những đáp ứng tốt về phong cách phục vụ, lãi suất cho vay thấp,… màcòn cần phải thiết kế được các sản phẩm cho vay phù hợp và đáp ứng đượccác yêu cầu cần thiết của khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năngtrên thị trường Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các sản phẩm của hoạt động chovay tiêu dùng đến đâu còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, công nghệngân hàng, chính sách hoạt động của ngân hàng đó

Công nghệ ngân hàng hiện đại

Công nghệ ngân hàng hiện đại và phù hợp sẽ giúp giảm bớt các chi phíphát sinh trong quá trình cho vay tiêu dùng, đồng thời giảm bớt thời gian đilại cho khách hàng Ngoài ra, công nghệ ngân hàng hiện đại còn hỗ trợ choviệc triển khai nhân rộng loại hình cho vay tiêu dùng do khối lượng kháchhàng lớn và các sản phẩm mang tính tự động hóa cao như cho vay thấu chi,cho vay phát hành thẻ tín dụng

Chính sách cho vay tiêu dùng của ngân hàng

Theo quy chế cho vay thì bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức kinh tếnào phát sinh nhu cầu vay vốn tại ngân hàng đều phải đáp ứng một số điềukiện nhất định, cho vay tiêu dùng cũng không nằm ngoài quy chế này Thôngqua các điều kiện, ngân hàng có thể loại một số khách hàng không đủ điềukiện vay ngân hàng, những khách hàng không có khả năng trả nợ

Nếu các điều kiện cho vay được nới lỏng hơn sẽ có nhiều khách hàngđược vay vốn đồng thời việc cho vay sẽ được mở rộng nhưng ngân hàng cũngphải đối mặt với nhiều rủi ro hơn Do vậy, cùng với việc mở rộng hoạt độngcho vay tiêu dùng ngân hàng cũng phải đảm bảo được các điều kiện cho vayphù hợp để lợi ích thu được từ việc cho vay đảm bảo hơn, đồng thời phải lớnhơn những tổn thất ngân hàng phải gánh chịu từ những khoản cho vay có chất

Trang 25

lượng kém.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI BIDV CHI

NHÁNH NAM HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh nam Hà Nội

2.1.1 giới thiệu về chi nhánh

Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội cho tớinay đã trải qua 48 năm hình thành và phát triển, đối với mỗi thời kì gắn với

Trang 26

từng tên gọi và nhiệm vụ lịch sử khác nhau.

Ngày 31/10/1963, chi điểm Tương Mai thuộc chi hàng kiến thiết HàNội được thành lập, là tiền thân của chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triểnNam Hà Nội ngày nay Kể từ đó đến nay, chi nhánh NH ĐT & PT Nam HàNội đã trải qua các tên gọi sau:

- Chi điểm I Tương Mai – Chi hàng kiến thiết Hà Nội (31/10/1963 –10/1981)

- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng khu vực I – Ngân hàngĐầu tư và Xây dựng thành phố Hà Nội (10/1981 – 12/1986)

- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng huyện Thanh Trì – Ngânhàng Đầu tư và Xây dựng thành phố Hà Nội (12/1986 – 12/1991)

- Chi nhánh NH ĐT & PT huyện Thanh Trì – NH ĐT & PT thành phố

Hà Nội (12/1991 – 31/10/2005)

- Chi nhánh NH ĐT&PT Nam Hà Nội – NH ĐT&PT Việt Nam (từ1/11/2005 đến 14/05/2012)

- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam

Hà Nội (từ ngày 15/05/2012 đến nay)

Suốt 48 năm qua, tập thể cán bộ và nhân viên chi nhánh NH ĐT&PTNam Hà Nội đã đoàn kết cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấuthực hiện tốt nhiệm vụ của ngân hàng, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,xây dựng CNXH Đó là mộtquá trình phấn đấu liên tục và bền bỉ, không nề khó khăn gian khổ, thực hiệnnghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như nội quy,quy chế của ngân hàng Năm 1995 là dấu mốc lịch sử trong quá trình pháttriển của chi nhánh, khi hệ thống BIDV chuyển từ loại hình ngân hàng cấpphát sang loại hình ngân hàng thương mại với nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, tíndụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng Đây là bước ngoặt quan trọng, đánhdấu sự chuyển hướng mục tiêu hoạt động của chi nhánh, không còn hoạt động

Trang 27

theo sự chỉ đạo của nhà nước, mà chuyển sang cơ chế thị trường Mặc dùnhững năm đầu ( giai đoạn 1995-1996 ), chi nhánh gặp phải rất nhiều khókhăn và thiếu thốn : cơ sở vật chất chỉ có 3 gian nhà cấp 4 do Ngân hàngNông nghiệp huyện Thanh Trì cho mượn tại thị trấn Văn Điển, 1 chiếc máytính và 14 cán bộ còn lại sau khi đã tách và chuyển đủ người sang cho cục cấpphát Tuy nhiên, ý thức được tầm quan trọng cũng như vinh quang của nhiệm

vụ nặng nề được giao, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của NH ĐT&PT Hà Nội vàban lãnh đạo chi nhánh, tập thể cán bộ công nhân viên đã thực hiện xuất sắcmọi nhiệm vụ được giao Năm 1995, nguồn vốn huy động đạt 20,8 tỷ đồng,tín dụng đạt 59 tỷ đồng Tháng 10/1996, chi nhánh chuyển lên làm việc tạikhu vực xã Hoàng Liệt – huyện Thanh Trì với một khu nhà cấp 4 nằm tạiKm8 đường Giải Phóng Hoạt động của chi nhánh tiếp tục được mở rộng,tăng trưởng về tín dụng, huy động vốn và dịch vụ không ngừng tăng lên.Nhằm mục tiêu mở rộng mạng lưới giao dịch, năm 1999, chi nhánh thành lậpphòng giao dịch số 7 tại khu vực Giáp Bát, năm 2003 thành lập phòng giaodịch số 16 tại khu Linh Đàm Tháng 7/2004, chi nhánh triển khai thực hiện dự

án hiện đại hóa ngân hàng, đã tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ các hoạtđộng Năm 2005, tổng nguồn vốn huy động đã đạt 893 tỷ đồng, dư nợ tíndụng đạt 333 tỷ đồng, doanh thu từ dịch vụ đạt 1,5 tỷ đồng Sự lớn mạnh củachi nhánh đã được ghi nhận bằng việc NH ĐT&PT Việt Nam ra quyết định số29/QĐ – HĐQT của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam kí ngày 31/10/2005, nâng cấp chi nhánh từ chi nhánh cấp 2 lên thành chinhánh cấp 1, và đổi tên thành Chi nhánh NH ĐT&PT Nam Hà Nội

Trang 28

Mô hình cơ cấu tổ chức của chi nhánh NH ĐT& PT Nam Hà Nội

Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức của chi nhánh NH ĐT& PT Nam Hà Nội

KHỐI TÁC NGHIỆP

KHỐI QUẢN LÝ NỘI BỘ

KHỐI TRỰC THUỘC

Phòng Giao dịch 2

Phòng Giao dịch 3

Phòng

Tổ chức hành chính

Phòng Giao dịch 4

Phòng Giao dịch 1

Phòng Quản lý

và dịch

vụ kho quỹ

Phòng Giao dịch khách hàng doanh nghiệp

Phòng Quản trị tín dụng

Phòng Quản lý rủi ro

Phòng Tài chính kế toán

Phòng

Kế hoạch tổng hợp

Phòng Giao dịch 5

Trang 29

2.1.2 Một số kết quả kinh doanh của chi nhánh Nam Hà Nội

2.1.2.1 Tình hình chung nền kinh tế

Bước vào năm 2011, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn,thách thức Khủng hoảng tài chính, tiền tệ kéo dài của kinh tế Việt Nam đãảnh hưởng trực tiếp đến họat động của hệ thống ngân hàng

Chính sách tài khóa thắt chặt, cùng với tiết giảm đầu tư công nhằm kìmchế lạm phát khiến tổng phương tiện thanh toán giảm, cùng với sức ép củacác kênh đầu tư như vàng, ngoại tệ khiến nguồn vốn nhàn rỗi không còn ưutiên chảy vào ngân hàng

Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn do tác động tiêu cực từ khủng hoảngkinh tế dẫn đến mất khả năng chống đỡ, tăng nguy cơ rủi ro đối với hoạt độngtín dụng của ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng GDP cả nước tăng trước 6.8% so với năm 2010.Năm 2011 cùng với những khó khăn chung của cả nước, tình hình kinh tế - xãhội thành phố Hà Nội cũng gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, cùng với đà hồiphục của nền kinh tế, Hà Nội đã có những phát triển kinh tế khả quan

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố đạt 41.380 tỷ đồng, tăng10,1% so với năm 2010 Cơ cấu nền kinh tế thành phố chuyển dịch theo cơcấu tích cực Ngành dịch vụ tăng 10,8%, đạt 41.380 tỷ đồng Ngành côngnghiệp – xây dựng tăng 10,2% Ngành nông lâm thủy sản tăng 4,3%.Thungân sách nhà nước đạt 115.466 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2010

So với năm 2010, chính sách tiền tệ và hoạt động của Ngân hàng nhànước có nhiều biến động ảnh hưởng đến môi trường tài chính tiền tệ trong nước

Trong năm lãi suất huy động VND neo ở 14%/năm khiến cuộc đua lãisuất huy động ngầm hết sức căng thẳng, có lúc lên đến 19-20%/năm thôngqua nhiều hình thức khác nhau Để đảm bảo sự nghiêm minh của các chínhsách quản lý, nhà nước đã có những biện pháp, chế tài mạnh tay đối với cácngân hàng vi phạm trần lãi suất

Trang 30

Việc thay đổi chính sách điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối đãmang lại những ảnh hưởng tích cực đến thị trường Tỷ giá USD/VND đã đượcđiều chỉnh theo hướng đón đầu, không chạy theo thị trường chợ đen Cácdoanh nghiệp có nhu cầu về ngoại tệ đã chuyển hướng đến giao dịch tại cácngân hàng thay vì gom ngoại tệ trên thị trường Cùng với việc điều hành tỷgiá là việc điều chỉnh trần lãi suất huy động ngoại tệ USD, chính sách kết hốiđối với ngoại tệ của các tập đòan, tổng công tyNhà nước khiến nguồn cungngoại tệ dồi dào, giảm dần sức ép lên tỷ giá.

2.1.2.2 Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh năm

2011 và 6 tháng đầu năm 2012

Kết quả kinh doanh năm 2011

Bảng 2.1 kết quả kinh doanh chi nhánh năm 2011

đơn vị: tỷ đồng

STT

Chỉ tiêu

TH Năm 2011TH

2010

TH2011

KH2011

%tt sovới2010

%HTKH

Trang 31

Tổng dư nợ tín dụng đến 31/12/2011 là: 2.136 tỷ đồng, tăng 15.6% sovới năm 2010

Dư nợ tín dụng bình quân đến 31/12/2011 là: 2.072 tỷ đồng, tăng 21% so vớinăm 2010

Việc gắn huy động vốn vào công tác tín dụng chưa thực sự hiệu quả,các phòng chưa quan tâm đến điều kiện tín dụng này khi giải ngân Đây sẽ làđiều kiện bắt buộc trong năm 2012.Chi nhánh đã kiểm soát được tăng trưởng

và cơ cấu tín dụng, đảm bảo giới hạn tín dụng được giao mặc dù còn nhiềutồn tại trong công tác tín dụng như việc vi phạm các quy trình, quy chế tronghoạt động tín dụng, không chấp hành nghiêm túc kỷ cương, kỷ luật điều hànhđặc biệt là việc tuân thủ kỷ cương, kỷ luật điều hành trong hoạt động tín dụngcủa chi nhánh Trong bối cảnh nền kinh tế diễn biến phức tạp không mấythuận lợi, các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính nhưng các phòng, đặcbiệt là cán bộ chưa có những đề xuất đối với ban lãnh trong việc có tiếp tụccung ứng tín dụng cho doanh nghiệp nữa hay không hoặc thu hẹp tín dụng,biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chưa cụ thể Tín dụng bán lẻ:sau hơn 1 năm công tác tín dụng bán lẻ được chuyên môn hóa và tập trungđẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa cao, đã bộc lộ và bùng phát nợ xấu, nợ quáhạn Việc quản lý khách hàng khó khăn do cho vay đối với một số khách hàng

ở xa so với trụ sở chi nhánh Việc cho vay đối với nhóm khách hàng liên quanchưa đánh giá kĩ càng năng lực tài chính của cả nhóm khách hàng.Việc xétduyệt cho vay: chưa xem xét đánh giá kỹ tư cách người vay cũng như khảnăng trả nợ của khách hàng mà chỉ xem xét vào TSĐB lấy đó làm căn cứ đểcho vay, cho vay chạy theo tăng trưởng Cán bộ QHKH chỉ quan tâm đếncông tác tín dụng, chưa quan tâm đến việc marketing các sản phẩm ngân hàng

để huy động vốn.Trình độ cán bộ QHKH còn yếu kém, chưa nắm bắt đượctình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, chưa đưa

ra được những biện pháp ứng phó với rủi ro có thể xảy ra Vị thế của cán bộ

Trang 32

QHKH nói riêng và cán bộ ngân hàng nói chung đối với khách hàng, đặc biệt

là đối với khách hàng doanh nghiệp là quá yếu

Nguồn vốn huy động đến 31/12/2011 đạt: 3.016 tỷ đ (đã bao gồm 20 triệuUSD được BIDV ghi nhận), giảm 455 tỷ đ (13%) so với đầu năm

Công tác huy động vốn của chi nhánh thực sự chưa đạt được kế hoạch

đề ra Tất cả các chỉ tiêu về huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn đều thấp hơn rấtnhiều so với kế hoạch Nền vốn huy động tại chi nhánh phụ thuộc rất nhiềuvào một số khách hàng lớn (Kể cả khách hàng cá nhân và khách hàng tổchức) nên khi có sự biến động lớn về chính sách cũng như biến động về kháchhàng sẽ gây ra biến động đến nguồn vốn của chi nhánh.Chi nhánh chưa làmtốt việc nghiên cứu thị trường trong huy động vốn, chưa thường xuyên tiếpxúc với những khách hàng tiền gửi tốt Nền vốn chưa có sự tăng trưởng, việctăng ngùôn huy động chủ yếu mang tính thời vụ nhằm hoàn thành kế hoạchtrong ngắn hạn Cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch theo hướng tăng nguồn vốnngắn hạn và nguồn vốn của các ĐCTC, giảm nguồn vốn trung dài hạn vànguồn vốn dân cư, điều này ảnh hưởng tới sự bền vững nguồn vốn của chinhánh Một số phòng / cá nhân chưa ý thức rõ vai trò và trách nhiệm trongcông tác huy động vốn.Chi nhánh chưa lường đón được các chính sách vĩ mô,chưa nhận định chính xác được sự biến động của lãi suất để có biện pháp đàmphán với khách hàng gửi tiền với kì hạn dài.Chi nhánh chưa triệt để yêu cầukhách hàng thực hiện các cam kết trong điều kiện tín dụng Một số kháchhàng chưa thực hiện đầy đủ cam kết duy trì số dư tiền gửi theo tỷ lệ dư nợvay Biện pháp động lực với công tác huy động vốn chưa đủ mạnh Nhiều cán

bộ chưa tích cực trong công tác huy động vốn, chưa nhận thức đầy đủ tầmquan trọng của công tác huy động vốn trong giai đoạn hiện nay.Hiện tượngcạnh tranh nhau về chi phí chăm sóc khách hàng ngay tại các phòng nội bộchi nhánh vẫn diễn ra làm tăng chi phí huy động vốn nhưng chưa đựơc pháthiện và ngăn chặn kịp thời

Trang 33

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu quản lý quý II/2012:

8 Doanh thu khai thác phí bảo hiểm 1,1 1,153 58%

Nguồn tổng kết hoạt động kinh doanh chi nhánh BIDV nam hà nội

Công tác nguồn vốn:

Nguồn vốn huy động đến 30/06/2012 đạt: 4.344 tỷ đ (đã bao gồm 20triệu USD), giảm 31 tỷ đ so với tháng 5 tăng trưởng 125% so với đầu năm vàhoàn thành 111% kế hoạch quý II (KH quý II: 3.900 tỷ đồng)

Huy động vốn tăng trưởng tốt, đảm bảo nguồn vốn hoạt động trongngắn hạn Đặc biệt nguồn vốn dân cư tăng trưởng nhanh hơn so với cùng kìnăm trước.Cán bộ nhân viên trong chi nhánh đều đã ý thức công tác huy độngvốn là nhiệm vụ của tất cả mọi người Nguồn vốn huy động của chi nhánh cóhiệu quả, đảm bảo chênh lệch giữa lãi suất huy động và bán vốn.Chi nhánh đã

có những điều chỉnh phù hợp đối với chính sách khách hàng khi Ngân hàngNhà nước có động thái giảm lãi suất, kịp thời với diễn biến của các Ngân

Trang 34

hàng trên địa bàn, điều này được thể hiện ở kết quả huy động vốn vượt mức

kế hoạch được giao Công tác chăm sóc khách hàng được chú trọng Chinhánh đã giữ chân được nhiều khách hàng tiền gửi lớn và tăng nền vốn khiNgân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động Chi phí huyđộng vốn đôi lúc có cao nhưng vẫn ở mức chấp nhận được, đảm bảo hiệu quảkinh doanh cho chi nhánh

Việc giao kế hoạch huy động vốn đến từng cán bộ và phân phối quỹ thunhập đã trở thành động lực thúc đẩy cán bộ nỗ lực hòan thành kế hoạch huyđộng vốn Chi nhánh đã giao quyền chủ động cho lãnh đạo các phòng trongcông tác chăm sóc khách hàng

Công tác tín dụng:

- Tổng dư nợ tín dụng đến 30/06/2012 là: 2.156 tỷ đồng, tăng 20 tỷđồng so với đầu năm, nằm trong giới hạn tín dụng được giao quý II (GHTDquý II: 2.224 tỷ đồng)

Chi nhánh đã chấp hành nghiêm giới hạn tín dụng được giao Tuân thủ tuyệtđối chỉ đạo của BIDV, của Ngân hàng Nhà nước và của Giám đốc tại các chỉđạo, thông báo, kết luận hội nghị.Quán triệt, triển khai thực hiện tốt, hiệu quảNghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ ngày 10/05/2012 về một số giải pháptháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và các văn bảnchỉ đạo hoạt động tín dụng của NHNN và của ngành Chi nhánh đã tìm mọicách để hỗ trợ các doanh nghiệp khó khăn như là cơ cấu lại thời hạn trả nợcủa một số DN, giảm lãi… Triển khai cho vay chương trình tín dụng 4.000 tỷđồng cho các khách hàng cá nhân, hộ gia đình mua nhà tại địa bàn HN Chinhánh đã rà soát toàn bộ khách hàng và dư nợ cho vay và tiến hành làm việcvới khách hàng đề nghị xác nhận khối lượng hoàn thành chưa được thanh toánChi nhánh đã xây dựng kế hoạch lộ trình, giải pháp giảm nợ xấu, lãi treo vàthường xuyên đánh giá công tác thu hồi nợ xấu và lãi treo

Công tác phát triển dịch vụ:

Ngày đăng: 28/08/2019, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Website: http://www.sbv.gov.vn 8. Website: http://www.vneconomy.vn Cùng một số tài liệu khác Link
1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Nam Hà Nội từ năm 2009 - 2011 Khác
2. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox, NXB Chính trị quốc gia 3. Giáo trình tín dụng ngân hàng , Học viện ngân hàng Khác
4. Ngân hàng Thương mại , PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Khác
5. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, TS. Nguyễn Minh Kiều, NXB Thống Kê 6.Quản trị ngân hàng, TS. Nguyễn Duệ, NXB Thống Kê, 2001 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w