13 Chương 2: QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC BÀI “PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH THPT .... Trong định hướng đổi mới chương trình sá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Dương Thị Mỹ
Hằng – người đã trực tiếp tạo điền kiện hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trong khoa
Ngữ văn, các Thầy, Cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đã giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Xây dựng kế hoạch dạy học bài Phương
pháp thuyết minh theo định hướng phát triển năng lực” của tôi là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Th.S Dương Thị
Mỹ Hằng
Kết quả nghiên cứu trong đề tài này không hề có sự trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó đã được công bố Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Vĩnh Phúc, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trang 5THCS Trung học cơ sở
VBTH Văn bản thuyết minh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Xây dựng kế hoạch dạy học môn Ngữ văn 6
1.1.2 Năng lực Ngữ văn 7
1.1.3 Văn bản thuyết minh 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Khảo sát kế hoạch bài học trong một số tài liệu tham khảo 11
1.2.2 Dự giờ của giáo viên 13
Chương 2: QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC BÀI “PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH THPT 16
2.1 Nguyên tắc thiết kế KHDH bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT 16
2.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 16
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học 17
Trang 72.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 18
2.1.4 Đảm bảo phát huy tính tích cực của HS 18
2.1.5 Đảm bảo tính tích hợp 20
2.2 Nội dung dạy học về phương pháp thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 21
2.3 Quy trình xây dựng kế hoạch dạy học làm văn bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT 22
2.3.1 Nghiên cứu nội dung bài học 22
2.3.2 Tìm hiểu đối tượng người học 23
2.3.3 Lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp cho các nội dung 25
2.3.4 Soạn bài theo tiến trình dự kiến 27
2.2.5 Kiểm tra và hoàn thiện kế hoạch 35
CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Đứng trước tình hình đó yêu cầu cấp thiết được đặt ra cho nền giáo dục nước nhà là: đổi mới liên tục và hiện đại hóa nội dung cũng như phương pháp dạy học để có thể bắt kịp với sự phát triển chung của thế giới
Nghị quyết số: 29 NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua Trong định hướng đổi mới chương trình sách và giáo khoa cấp phổ thông sau năm 2019 cũng nêu rõ: “một trong những quan điểm nổi bật trong dạy học là phát triển chương trình theo định hướng phát triển năng lực.”
Đổi mới phương pháp dạy học chuyển từ hướng tiếp cận nội dung bài học sang tiếp cận năng lực, tức là chuyển sự quan tâm đến việc HS học và vận dụng được những gì qua bài học đó Để làm được như vậy thì phải tiến hành chuyển đổi phương pháp dạy học, từ dạy truyền thống "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, vận dụng những kiến thức, kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất Đồng thời ngoài việc học tập kiến thức kĩ năng của môn học chuyên môn thì cần có sự tích hợp liên ngành nhằm phát triển năng lực để giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực trong học tập, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết (sử dụng SGK, tìm kiếm thông tin, ghi chép, ), từ đó trau dồi thêm các phẩm chất, sự độc lập, sáng tạo của tư duy của HS Lựa chọn, kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp học tập hiện đại: phương pháp chung và đặc thù của từng môn học để thực hiện một cách hiệu quả Tóm lại,
Trang 9dù sử dụng bất kì phương pháp học tập nào thì cũng phải luôn đảm bảo: học sinh tự mình chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Việc sử dụng các PPDH kết hợp với các hình thức tổ chức dạy học còn phụ thuộc vào từng mục tiêu, đối tượng, nội dung cụ thể mà có những hình thức tổ chức linh hoạt nhất, phù hợp nhất như học cá nhân, theo nhóm, trong lớp hay học ngoài lớp Đặc biệt cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ học thực hành để đảm bảo kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và nâng cao hứng thú cho học sinh đối với mỗi tiết học
Đối với môn học Ngữ Văn nói riêng và tất cả các môn học nói chung thì việc đổi mới căn bản nội dung và phương pháp dạy học được thể hiện ngay từ khâu xây dựng kế hoạch dạy học Qua đó người học có thể giải quyết được các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, khi rời ghế nhà trường, đáp ứng được nhu cầu của xã hội Cùng với đó người học sẽ được trang bị kỹ năng để
có thể học suốt đời Việc GV xây dựng và thiết kế hoạt động dạy học càng chi tiết, cụ thể thì quá trình dạy học càng mang lại hiệu quả cao Có thể nói Ngữ Văn là “môn học kép” vừa là nghệ thuật ngôn từ cũng là một môn khoa học bởi vậy nó đòi hỏi GV phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong khâu thiết kế bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của HS trong giờ học Ngữ Văn ở trường phổ thông
Từ những yêu cầu đổi mới nền giáo dục nới chung và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn hiện nay nói riêng Đồng thời trong quá trình học tập và nghiên cứu tôi nhận thấy việc xây dựng kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực Ngữ Văn cho học sinh là rất quan trọng Từ những lí do
trên tôi lựa chọn đề tài: “ Xây dựng kế hoạch dạy học bài Phương pháp thuyết
minh Ngữ văn lớp10 theo định hướng phát triển năng lực” làm khóa luận tốt
nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, trước hành trình đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông, rất nhiều bài viết bàn về vấn đề năng lực ra đời: Bài viết về năng lực và vấn đề phân loại năng lực trong các nghiên cứu hiện nay
Trang 10Thuyết,… trong các bài viết của mình đã nêu lên cách hiểu khái quát về năng lực
Để bắt kịp xu hướng giáo dục hiện đại, vấn đề năng lực Ngữ văn cũng như mối liên hệ giữa năng lực Ngữ văn với hoạt động dạy học cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học văn”,cố GS Phan Trọng Luận cũng đã rất quan tâm đến việc hình thành các quan niệm về năng lực trong dạy học Ngữ văn Tác giả cho rằng: có 3 loại năng lực văn chương: năng lực
sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp
nhận là năng lực cần hình thành cho HS [5-tr 117]
Bùi Mạnh Hùng trong Đổi mới dạy học Ngữ văn: Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực đã quan tâm tới: “đặc trưng môn học, mục tiêu giáo dục, nội dung, ngữ liệu và phương pháp dạy học cụ thể” [9]
Tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm “Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn làm văn trong chương trình THPT”, xuất phát từ những khó khăn trong giảng dạy Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng cũng như thực trạng giảng dạy ở trường PT, tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Làm văn trong chương trình THPT [10]
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng kế hoạch dạy học như:
“Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10”, tập 2 của tác giả Nguyễn Văn Đường [3] “Thực hành dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông” tác giả Phạm Thị Thu Hương đã phần nào nói đến vấn đề trên [5]
Những công trình nghiên cứu về KHDH nói trên đã đưa đến cho chúng
ta cái nhìn sâu sắc hơn về tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch dạy học
Nói chung có rất nhiều bài viết bàn về vấn đề năng lực, năng lực Ngữ văn và xây dựng kế hoạch dạy học, tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên
Trang 11cứu đều chỉ tập trung vào vấn đề đọc – hiểu tức phân môn Văn còn phân môn Làm văn lại ít được nghiên cứu, quan tâm hơn Chính bởi vậy chưa có tài liệu hay một công trình nghiên cứu nào cũng cấp đầy đủ, trọn vẹn vấn đề này Đặc biệt xây dựng kế hoạch dạy học làm văn theo định hướng phát triển năng lực cho HS THPT là một vấn đề mới mẻ, ít được các nhà giáo dục đưa ra bàn luận, đóng góp ý kiển
Khóa luận kế thừa những phương diện lí thuyết của vấn đề năng lực, năng lực Ngữ văn và xây dựng kế hoạch bài học, trên có sở đó áp dụng vào
“Xây dựng kế hoạch dạy học bài Phương pháp thuyết minh theo định hướng
phát triển năng lực” cho học sinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần hình thành lý thuyết về “Xây dựng kế hoạch dạy học bài
Phương pháp thuyết minh theo định hướng phát triển năng lực” cho học sinh
THPT
- Xây dựng kế hoạch bài học có áp dụng những phương pháp dạy học
tích cực nhằm giúp học sinh phát huy được những năng lực vốn có của môn Ngữ Văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu về vấn đề “Xây dựng kế hoạch dạy học bài Phương pháp
thuyết minh Ngữ văn lớp 10” tại trường THPT Ngô Gia Tự Một số tài liệu
khảo sát: thiết kế giáo án của một số GV trường THPT Ngô Gia Tự, “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 2” tác giả Nguyễn Văn Đường [3]
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, khóa luận được tiến hành với các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiện cứu tài liệu được sử dụng để xác định cơ sở lí luận chung của đề tài Phương pháp này được thể hiện chủ yếu ở chương 1 của khóa luận Các tài liệu nghiên cứu bao gồm một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về “năng lực ngữ văn” và “cấu trúc năng lực ngữ văn”
5.2 Phương pháp khảo sát thực trạng
Phương pháp này được sử dụng với hai mục đích Thứ nhất: khảo sát, đánh giá thực trạng việc thiết kế giáo án dạy học bài “Phương pháp thuyết minh” Thứ hai: đưa ra những đề xuất cho việc tổ chức dạy học cho phần làm văn ở THPT
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp được thể hiện qua việc thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở chương 3
6 Bố cục khóa luận
Bố cục gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Quy trình xây dựng kế hạch dạy học bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn của học sinh trung học phổ thông
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1.1.2 Xây dựng kế hoạch dạy học
Xây dựng kế hoạch dạy học: “là quá trình giáo viên lập kế hoạch và thực hiện hóa kế hoạch bài học thành một văn bản chi tiết theo một trình tự lôgic những dự kiến sẽ dự định thực hiện trên lớp Nó phải thể hiện được mối liên hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và kết quả nhằm đạt được mục tiêu bài học đã dặt ra”
Xây dựng kế hoạch dạy học có một vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy, giúp cho GV hoạch định công việc một cách chi tiết nhằm đạt được những mục tiêu bài học đã đặt ra
1.1.1.3 Xây dựng kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn
“Là quá trình giáo viên lập kế hoạch bài dạy học Ngữ văn, vạch ra một cách tổng thể phương án thực hiện, bao gồm hệ thống các hoạt động dự kiến
sẽ tiến hành trong một thời gian nhất định, với các hình thức dạy học, phương pháp, phương tiện, trình tự nhất định nhằm đạt mục tiêu bài học” [4]
Trang 141.1.2 Năng lực Ngữ văn
1.1.2.1 Khái niệm năng lực và năng lực Ngữ văn
Năng lực là một thuật ngữ được rất nhiều các tài liệu nêu lên định nghĩa
và các cách hiểu khái niệm Ở đây chúng tôi xin lựa chọn một cách hiểu về năng lực để sử dụng trong khóa luận
Chương trình giáo dục phổ thông mới quan niệm về năng lực như sau:
“Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết vấn đề của cuộc sống”
Có rất nhiều quan niệm về năng lực được đưa ra, nhưng cốt lõi đều nói tới năng lực là khả năng thực hiện, biết làm chứ không chỉ dừng lại ở biết và hiểu Thực hiện ở đây là hành động phải luôn gắn liền với ý thức, thái độ, phải có kiến thức, kĩ năng chứ không phải làm một cách “mù quáng”, “máy móc”
Nhìn chung, năng lực không tự nhiên sinh ra mà phải hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện,…Để có năng lực, con người cần được trang bị những kiến thức, rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức,…
Tương tự, rất nhiều quan niệm về năng lực Ngữ văn cũng đã được đưa ra:
Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau
2015, môn học Ngữ văn được coi là một môn học công cụ, vì thế “năng lực giao tiếp tiếng Việt” và “năng lực thưởng thức văn học” là năng lực mang tính đặc thù của môn học Ngoài ra “năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn
đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân,…” cũng đóng vai trò hết sức cần thiết và quan trọng trong việc xác định nội dung dạy học của môn Ngữ văn
Theo TS Nguyễn Xuân Lạc tác giả bài viết “Phát triển năng lực người học qua môn Ngữ Văn” đăng trên báo Giáo dục và thời đại đã chỉ ra đặc trưng của
Trang 15môn Ngữ văn: “là môn học được tích hợp từ ba phân môn là Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn gồm hai phần ngữ và văn gắn bó với nhau bởi ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn học và văn học chính là nghệ thuật của ngôn ngữ” [7] Như vậy, với đặc trưng này, môn Ngữ văn sẽ cần hình thành và phát triển hai năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ: năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ
Cũng trong bài viết “Dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực” PGS.TS Đỗ Ngọc Thống cho rằng: “chương trình năng lực, hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho người học, thực chất là hướng tới yêu cầu thực hành đi đôi với vận dụng”[8] Qua bài học, HS không chỉ biết kiến thức mà quan trọng hàng đầu là phải biết vận dụng các kiến thức ấy để giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống thường ngày Trong học tập, các tình huống là giả định và có thể xảy ra còn trong cuộc sống là các tình huống có thật, gần gũi với người học Theo chương trình này thì năng lực hướng tới trước hết là năng lực giao tiếp để HS có thể vận dụng vào học các môn học khác, đồng thời đó cũng là phương tiện thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày
Việc học Ngữ văn còn giúp HS hình thành và phát triển năng lực thẩm
mĩ Nó được thể hiện từ việc viết chữ và trình bày đẹp đến viết câu, đoạn, và tạo lập nên bài văn hay; từ việc khám phá ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong văn bản ngôn từ đến việc giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày như: nói năng nhẹ nhàng, dễ nghe Nhưng quan trọng hơn cả là năng lực Ngữ văn phải được phát huy một cách hiệu quả qua lối sống với những suy nghĩ và hành động cao đẹp, biết sống tốt, sống đẹp
Dựa trên các năng lực cốt lõi đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất
“Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT” [1], đồng thời dựa trên quan niệm “Năng lực phổ thông” TS Phạm Minh Diệu cho rằng các
năng lực chuyên biệt cần được hình thành cho HS trong dạy học môn Ngữ
văn ở trường phổ thông gồm: năng lực đọc hiểu, năng (tiếp nhận văn bản),
năng lực làm văn (tạo lập văn bản), năng lực sử dụng tiếng Việt (năng lực giao tiếp)
Trang 16Các công trình nghiên cứu vê năng lực Ngữ văn được xem xét ở những khía cạnh khác nhau, nhưng tựu chung lại chúng đều có điểm chung là năng lực Ngữ văn bao gồm hai năng lực chính là “tiếp nhận văn bản” và “tạo lập văn bản”
Nói tóm lại, năng lực Ngữ văn hiểu đơn giản là: “Khả năng của mỗi
học sinh thể hiện trong việc thực hiện những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà các em tiếp thu và vận dụng vào quá trình học tập để từ đó hình thành và phát triển năng lực Ngữ văn : Năng lực tiếp nhận văn bản, năng lực tạo lập văn bản, năng lực giao tiếp Tiếng việt, năng lực thực hành ứng dụng(chú trọng giải quyết các vẫn đề thực tế)”.[11]
1.1.2.2 Cấu trúc năng lực Ngữ văn
Dựa vào quan niệm trên có thể thấy được năng lực Ngữ văn bao gồm 3 thành tố: kiến thức, các kĩ năng kĩ xảo và tư tưởng, thái độ Chúng có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể
Ở nước ta hiện nay Ngữ văn là một môn học trọng tâm của nền giáo dục và cũng là yếu tố quan trọng của hoạt động học tập và phát triển năng lực làm chủ tiếng Việt cho người học Bộ môn có vai trò to lớn để hình thành nên những học sinh, những công dân có tư duy nhạy bén, phong thái tự tin, trách nhiệm và có vị trí trong xã hội Qua việc học Ngữ văn sẽ giúp HS không chỉ
có được những tri thức về bộ môn (tác giả, tác phẩm,…) mà còn có được những kiến thức nằm ngoài bộ môn (bài học, kinh nghiệm ứng xử,…Đồng thời cũng giúp HS hình thành được những kĩ năng văn (tạo lập văn bản, giải
mã, tiếp nhận,…) và kĩ năng ngoài văn để vận dụng vào trong học tập cũng như thực tế cuộc sống Học Ngữ văn còn giúp HS phát huy trí tưởng tượng, làm giàu vốn cảm xúc, gây được hứng thú tìm, đọc tác phẩm văn chương cũng như biết trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc và của cả nhân loại
1.1.3 Văn bản thuyết minh
1.1.3.1 Khái niệm
Chương trình SGK Ngữ văn 8 định nghĩa kiểu văn bản này như sau: “Văn
thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực của đời sống, có
Trang 17chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,…của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải thích.”[6]
1.1.3.2 Đặc điểm
Bao gồm những đặc điểm cơ bản sau đây:
Xét về mục đích diễn đạt: VBTM tập trung mục đích trình bày, giải thích nhằm cung cấp những thông tin, tri thức về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Về hình thức cấu trúc bao gồm ba phần: Phần mở bài (giới thiệu đối tượng cần thuyết minh); Phần thân bài (trình bày, cung cấp những thông tin liên quan đến đối tượng); Phần kết bài (khẳng định giá trị về đối tượng đó) Xét về phương thức biểu đạt: văn bản thuyết minh sử dụng phương thức biếu đạt chính là thuyết minh Và để tăng tính thuyết phục, hấp dẫn người tạo lập có thể sử dụng một số yếu tố lập luận khác như miêu tả, biểu cảm, tự sự, nghị luận
1.1.3.3 Các phương pháp thuyết minh
Trong VBTM hệ thống PPTM rất phong phú và đa dạng bao gồm:
Phương pháp nêu định nghĩa giải thích: “là phương pháp vận dụng tri
thức, những hiểu biết của bản thân về thế giới khách quan để xác lập một cách chính xác bản chất, đặc điểm,…của đối tượng được thuyết minh Phương pháp này thường sử dụng ở câu mở đầu nhằm giới thiệu về sự đối tượng, kết hợp với việc sử dụng lập luận sẽ giúp người thuyết minh giảng giải một cách rõ ràng và đầy đủ hơn về đối tượng đó”[12]
Phương pháp chú thích: “là cách người viết đặt đối tượng cần thuyết
minh vào không gian lớn hơn nhằm giúp bổ sung, mở rộng đặc điểm, kiến thức gì đó để nhấn mạnh sự riêng biệt làm nổi bật đối tượng được thuyết
minh” Ví dụ khi giới thiệu về Ba sô, tác giả Hàn Thủy Giang có viết: “Baso
là một thi sĩ, người hành hương danh tiếng sống ở Nhật vào thế kỉ XVIII Baso là bút danh”
Trang 18Phương pháp liệt kê: “là cách người viết tiển khai nội dung thuyết minh
theo một trình tự logic nhất định: thời gian, cấu tạo, không gian, tính chất, đặc điểm của chúng Đó là cách người viết sử dụng các luận điểm, luận cứ nhằm thể hiện được các đặc trưng khác nhau của đối tượng thuyết minh, qua đó làm tăng tính hấp dẫn và sức thuyết phục với người tiếp nhận”
Phương pháp phân loại, phân tích: “Là phương pháp chia vấn đề, đối
tượng thuyết minh thành nhiều loại, nhiều khía cạnh để làm sáng tỏ vấn đề thuyết minh Phương pháp trên giúp người thuyết minh có thể trình bày vấn
đề một cách rõ ràng, đầy đủ, hệ thống”.[12]
Phương pháp nêu ví dụ: Trong một VBTM, việc đưa ra những lí lẽ, dẫn
chứng xác đáng, chân thực sẽ giúp người đọc, người nghe hiểu và hình dung
rõ hơn về đối tượng thuyết minh, làm họ tin vào những điều, giúp cho bài văn thêm hấp dẫn, sinh động
Phương pháp dùng số liệu: “Khi đối tượng thuyết minh những vấn đề
có liên quan đến số liệu: gia tăng GDP, dân số,… thì người thuyết minh cần dưa ra những số liệu, con số cụ thể chứ không phải chỉ dùng lí lẽ đơn thuần Nếu không đó chỉ là chỉ là suy diễn Đây chính là khi người thuyết minh sử dụng phương pháp này Việc đưa ra những con số cụ thể, chính xác sẽ giúp bài thuyết minh có tính thuyết phụ, chân thực, tạo ra sự hấp dẫn cho vấn đề cần thuyết minh”
Phương pháp so sánh: “Là việc sử dụng hình thức đối chiếu, so sánh
giữa các đối tượng được thuyết minh với các sự vật, hiện tượng có điểm tương đồng nào đó để làm nổi bật đặc điểm về tính chất của sự vật, hiện tượng Phương pháp này làm tăng độ tin cậy và sức thuyết phục cho nội dung được thuyết minh”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát kế hoạch bài học trong một số tài liệu tham khảo
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực tiễn thông qua việc khảo sát các đối tượng sau:
Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10
Trang 19Thiết kế bài học của GV Nguyễn Thị Hồng Hoa
Mục đích của việc khảo sát nhằm tìm hiểu cách thức thiết kế bài học
“Phương pháp thuyết minh” đồng thời kế thừa những điểm tích cực của hai tài liệu trên
Cách khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát trong cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10, tập 2” của tác giả Nguyễn Văn Đường và thiết kế bài học của GV Nguyễn Thị Hồng Hoa bằng cách phân tích cấu trúc, các bộ phận hợp thành thiết kế bài “Phương pháp thuyết minh” từ mục tiêu bài học, chuẩn bị của GV và HS, tiến trình học đến các hoạt động cụ thể
Cơ sở để đánh giá các thiết kế bài học “Phương pháp thuyết minh” của tác giả Nguyễn Văn Đường và GV Nguyễn Thị Hồng Hoa là các yêu cầu chỉ đạo của công văn 5555[13]
Cụ thế chúng tôi sử dụng các tiêu chí của nội dung “kế hoạch và tài liệu dạy học” của công văn 5555 để khảo sát các thiết kế với những tiêu chí sau:
“Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học được sử dụng
Mức độ rõ ràng của mục tiêu, nội dung, kĩ thuật tổ chức và sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm vụ học tập
Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng để tổ chức các hoạt động học của học sinh
Mức độ hợp lý của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức hoạt động học của học sinh.”[13]
Qua việc khảo sát hai tài liệu rút ra nhận xét như sau:
Khi thiết kế bài giảng, chuỗi hoạt động của bài thiết kế còn chưa thực sự phù hợp Còn nhiều điểm hạn chế:
+ Mục tiêu bài học xác định chưa rõ ràng, còn sử dụng các từ chung
chung như “nắm” mà không phải các động từ “trình bày được”, “nêu được”,
“nhận biết được”,…
Trang 20+ Nội dung bài học còn thiêt kế theo các đề mục trong bài, chưa theo tiến trình hoạt động của HS
+ Thiết bị dạy học hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của GV và HS, tuy nhiên GV rất ít sử dụng chưa diễn ra thường xuyên
+ Việc kiểm tra, đánh giá trong thiết kế chủ yếu ở phần kiểm tra bài cũ và củng cố
Qua việc khảo sát hai tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc thiết
kế KHDH bài “Phương pháp thuyết minh” vẫn còn rất nhiều hạn chế, vẫn theo lối thiết kế truyền thống, bởi vậy rất cần có những bài thiết kế theo định hướng phát triền năng lực cho HS
1.2.2 Dự giờ của giáo viên
Chúng tôi tiến hành dự giờ tiết dạy của GV bài “Phương pháp thuyết minh” với đối tượng là hai lớp đứng đầu khối và cuối khối 10 với mục đích nhằm tìm hiểu về việc thực hiện hóa thiết kế bài học trên lớp như thế nào? Qua việc khảo sát chúng tôi cũng đưa ra một số nhận xét như sau:
Trong quá trình chuyển tải các ý đồ của thiết kế GV vẫn đi theo mô hình dạy học truyền thống, thụ đông, còn nặng về giải thích, trình bày, đa phần là bình, diễn giảng Sử dụng phương pháp dạy học thuyết trình là chính
GV chủ yếu độc thoại, chưa xem học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học,
sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học chưa linh hoạt, bởi vậy chưa phát huy được tối đa tính tích cực của HS Về phía HS, các em chưa thực sự hào hứng với giờ học, đa phần HS thụ động tiếp thu kiến thức bằng cách ghi nhớ máy móc và làm việc chủ yếu là nhắc lại kiến thức theo SGK, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo
Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành một vài phỏng vấn đối với GV và
HS về tầm quan trọng của khâu thiết kế bài học và cách thức GV thiết kế ra sao, thái độ của HS đối với giờ học như thế nào [xem phụ lục] Qua việc phỏng vấn rút ra một vài nhận xét như sau:
Về phía GV: Phân môn làm văn cũng là phần mà GV chưa thực sự quan tâm, chú trọng bởi vậy việc dạy và học còn mang tính chất qua loa, đại
Trang 21khái nên bài “Phương pháp thuyết minh” không phải là bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 Vì vậy GV chưa quan tâm nhiều vào việc xây dựng kế hoạch bài học theo các hoạt động nên bài giảng thường thiếu chiều sâu và không gây được hứng thú cho học sinh Hầu hết các bài thiết kế bài học của GV đều vẫn theo lối truyền thống, tức là thiết kế các hoạt động học tập tương ứng với các đề mục trong SGK, không thiết kế theo quy trình hoạt động hiện hành của “Chương trình giáo dục phổ thông- chương trình tổng thể/2017” (Bộ GD-ĐT)
Về phía HS: đa phần HS chưa thực sự hứng thú với bài học, nên giờ học Ngữ văn thường chán nản, buồn ngủ, mệt mỏi và căng thẳng HS rất thích được thực hành, tham gia vào nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức mới đặc biệt là mong muốn GV sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào trình quá trình giảng dạy Tuy nhiên trong khâu thiết kế đến quá trình thực hiện hóa thiết kế bài học GV còn chưa thực hiện đổi mới theo chương trình dạy học hiện hành theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực cho HS Bởi vậy tiết học không đạt được kết quả cao Chính vì vậy mà làm khả năng vận dụng kiến thức tổng hợp để giải quyết các tình huống thực tiễn chưa trở thành kỹ năng thường xuyên của HS
Trong khâu xây dựng KHDH bài “Phương pháp thuyết minh”, về cơ bản GV đã thiết kế được giáo án đảm bảo được trọn vẹn nội dung bài học Mục tiêu bài học được đưa ra rõ ràng với đầy đủ các tiêu trí về kiến thức, kĩ năng , thái độ, năng lực Tuy nhiên phần thiết kế các hoạt động học tập cho
HS, GV còn chưa thực sự chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung kiến thức từng phần theo định hướng phát triển năng lực cho HS Theo đó thì GV vẫn là đối tượng trung tâm, hoạt động chính, còn HS đối tượng phụ, thụ động ít được tham gia vào các hoạt động học tập Bởi thế, để có được giờ dạy đạt chất lượng cao, thực sự thu hút học sinh, đem lại không khí học tập sôi nổi, học sinh tích cực hoạt động thì GV cần phải đầu tư hơn nữa cho bài giảng Làm văn nói chung và bài “Phương pháp thuyết minh” nói riêng ngay từ khâu xây dựng kế hoạch bài học
Trang 22Từ việc khảo sát trên chúng tôi nhận thấy rằng việc thiết kế bài học bài
“Phương pháp thuyết minh” còn chưa được quan tâm, chú trọng Các bài thiết
kế mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng được đầy đủ nội dung bài học, đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, mà chưa hình thành được cho HS những kĩ năng cần thiết qua bài học Ý thức được tầm quan trọng của bài học cũng như thực trạng trên chúng tôi nhận thấy rằng cần phải có sự thay đổi Phải thay đổi ngay từ khâu xây dựng kế hoạch bài học theo định hướng phát triển năng lực cho HS nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của bài học
Trang 23
Chương 2: QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC BÀI
“PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH THPT
2.1 Nguyên tắc thiết kế KHDH bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT
2.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu
Mục tiêu bài học: “là kết quả cuối cùng cần đạt của HS qua một giờ học” Bên cạnh nội dung và phương pháp dạy học thì mục tiêu cũng một trong những thành tố quan trọng, chúng có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình dạy và học Để có một tiết học đạt được hiệu quả cao, ngoài việc căn cứ vào cách thức tổ chức, tiến hành hoạt động của GV và HS, sử dụng phương pháp, phương tiện gì, thì quan trọng nhất là sau tiết học đó có đạt được mục tiêu đề ra hay không? Mục tiêu bài học nếu không được xác định rõ rầng, chín xác thì khó mà dạy hay, dạy tốt Điều đó khiến GV và HS
dễ lạc vào một “rừng tri thức” mà không biết đích đến là gì Vì vậy, việc xác định mục tiêu bài giảng là vô cùng cần thiết, nó giúp GV hoạch định được các công việc một cách dễ dàng: định hướng và lập kế hoạch cho bài học và khi tiến hành hiện thực hóa kế hoạch đó sẽ quyết định thành công của kế hoạch này đạt được ở mức độ nào Đồng thời là cơ sở xác định các kết quả học tập cần đạt, việc đánh giá, kiểm tra người học, cũng như giá trị đạt được của một bài giảng Chính vì thế xây dựng KHDH cần đảm bảo tính mục tiêu Tức là, người GV cần phải xây dựng được mục tiêu dạy học chính xác, chi tiết và triển khai việc dạy học theo mục tiêu này Mục tiêu dạy học sẽ quyết định chất lượng cũng như hiệu quả của một tiết học
Mục tiêu được xác định rõ ràng, cụ thể sẽ giúp GV lựa chọn và sắp xếp nội dung bài giảng sao cho phù hợp nhất Đồng thời nó sẽ định hướng cho các bước tiếp theo trong kế hoạch bài dạy; dựa trên cơ sở đó mà lựa chọn nội dung, kiến thức trọng tâm, sử dụng phương pháp, kĩ thuật, thiết kế các công
cụ sao cho phù hợp để bài giảng đạt được kết quả tốt nhất Đồng thời là cơ sở
để GV xây dựng hệ thống câu hỏi, bài kiểm tra và các hình thức kiểm tra phù
Trang 24hợp với tùng đối tượng HS, là căn cứ để GV đánh giá HS đạt được mức nào theo chuẩn đã định
Cấu trúc của mục tiêu bài học bao gồm: Kiến thức, kĩ năng, thái độ,
năng lực
Tóm lại: một tiết học để đạt được hiệu quả cao thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, khâu xây dựng KHBH là một trong những yếu tố quan trọng Tuy mục tiêu bài giảng không phải là phần trọng tâm của một giáo án lên lớp, nhưng đó chính là “đích” cuối cùng mà GV và HS đều phải hướng tới và đạt được Đó là cơ sở để GV lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp nhất cho từng nội dung giảng dạy- điều kiện quan trọng để có một tiết dạy thành
công Vì thế, khi xây dựng kế hoạch dạy học GV phải đảm bảo được tính mục
tiêu và xem đó là một trong những nguyên tắc hàng đầu
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc được thể hiện chủ yếu qua việc lựa chọn nội dung giảng dạy Theo nguyên tắc này thì hệ thống nội dung giảng dạy phải đảm bảo được tính cơ bản và hiện đại Cơ bản là những kiến thức cơ bản về Ngữ văn được đưa vào chương trình giảng dạy Hiện đại tức là phải đưa chương trình của môn học đến gần với trình độ của khoa học, các quy tắc hay khái niệm…khi đưa vào nội dung giảng dạy phải đảm bảo được tính thống nhất về nguyên tắc cũng như quan điểm, chính xác về nội dung khoa học Tránh việc vội vã đưa ra những nội dung, khái niệm của nước ngoài hay một tài liệu nào đó để áp đặt vào giảng dạy khi chưa qua kiểm nghiệm thực tế
Tính khoa học cũng được thể hiện trong việc việc sắp xếp, trình bày các đơn vị kiến thức một cách nhất quán, hợp lí Tính hợp lí được thể hiện qua việc sắp sếp các đơn vị kiến thức theo nội dung trước-sau, trọng tâm hay không trọng tâm và gắn vào phải gắn vào những tình huống học tập cụ thể
Nguyên tắc này được thể hiện trong khâu xây dựng KHDH như sau:
GV phải sắp xếp nội dung bài học theo một trình tự hợp lí, nhất quán: nội dung nào được triển khai trước, nội dung nào đứng sau; kiến thức trọng tâm được sắp xếp như thế nào
Trang 25Phải lựa chọn hệ thống kiến thức phù hợp với nội dung bài học và đảm bảo về tính khoa học của nội dung đó
Đảm bảo được tính khoa học sẽ giúp HS dễ dàng nắm bắt được nội dung kiến thức bài học, biết được đâu là nội dung trọng tâm cần tìm hiểu kĩ
2.1.3 Đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu là “làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong mối liên hệ logic và tính kế thừa” Phải giới thiệu cho HS hệ thống những tri thức khoa học hiện đại, được xác định nhờ vào cấu trúc của logic khoa học và cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức HS
Để đản bảo nguyên tắc này, khi xây dựng KHDH cần:
Xây dựng các chủ đề, tiết học hay hệ thống môn học dựa vào nền tảng
lí thuyết, từ đó làm cơ sở cho sự khái quát
Phải có sự tích hợp liên môn, liên ngành trong quá trình xây dựng nội dung bài học, tức là tích hợp tri thức trong bản thân của từng môn học và của các môn học với nhau
Tính hệ thống phải được thể hiện cả trong công việc học tập của HS Tức là phải chứ trọng việc hình thành cho HS thói quen lập kế hoạch học tập một cách hợp lí, logic cho từng nhiệm vụ học tập được giao: trả lời miệng, những bài tập làm văn,…
Chính vì thế nên ngay từ khâu xây dựng KHBH, GV phải làm sao thiết
kế được một bản kế hoạch hoàn chỉnh, theo một trình tự logic nhất định và phải vừa có sự tích hợp liên môn cũng như liên nghành nhằm tạo nên một tiết học đạt hiệu quả cao
2.1.4 Đảm bảo phát huy tính tích cực của HS
PP dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, hiện nay đã và đang được
sử dụng ở rất nhiêu quốc gia để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của người học PP này hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học lấy HS làm đối tượng trung tâm nhằm
Trang 26theo phương pháp truyền thống thì GV phải nỗ lực rất nhiều để làm sao phát huy được tối đa hiệu quả của PP này Để đảm bảo phát huy được tính tích cực của HS thì trong khâu thiết kế bài học GV phải thay đổi ngay cả cách dạy và học Thay đổi cách dạy từ truyền thụ một chiều “đọc- chép”, GV làm trung tâm sang cách dạy lấy HS làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực Việc đổi mới theo hướng này sẽ lấy HS là chủ thể hoạt động, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong các giờ học cần:
Với GV: Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng để quyết định
sự thành công của một giờ học, bởi vậy GV cần xây dựng một cách khoa học, rõ ràng, hợp lý GV phải đọc, nghiên cứu kỹ nội dung bài học, yêu cầu cần đạt để có được một quy trình soạn bài với các bước hợp lý, nhằm định ra các hoạt động và dự kiến thực hiện các hoạt động đó
Trước hết là xác định mục tiêu của bài học: phải xác định một cách cụ thể thể, rõ ràng thì GV mới dễ dàng hình dung ra các hoạt động của giáo viên
và học sinh.Cụ thể hóa mục tiêu dưới dạng các động từ như trình bày được, nêu được, phân loại được, so sánh được, liệt kê được, nói được, VD: Sau bài học, HS hiểu rõ được: “ tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh” và những “yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh”, “nhận diện được một số phương pháp thuyết minh cụ thể” Xác định các kiến thức trọng tâm, mối liên hệ giữa các kiến thức, những vấn đề khó cần giải quyết Đồng thời còn phải xác định phương tiện dạy học cần thiết, các phương tiện dạy học
đó làm thế nào cho khoa học.Trên cơ sở, GV xem xét, cân nhắc để lựa chọn các nội dung, các hoạt động, các PP dạy học để HS lĩnh hội kiến thức mới một cách dễ dàng nhất Ví dụ: trong bài “Phương pháp thuyết minh” ở phần II
“Một số phương pháp thuyết minh”, GV cần định hướng ở mục này nên cho
HS thảo luận nhóm, để từ đó qua mỗi ví dụ HS rút ra được phương pháp thuyết minh nào được sử dụng trong văn bản đó Chọn mục này cho học sinh làm việc vì đây là kiến thức trọng tâm của bài là kiến thức mà sau bài học HS phải nêu được, nhận diện được Đồng thời những kiến thức đó cần được nêu
Trang 27lên thành vấn đề, các câu hỏi hoặc bài tập dưới dạng các nhiệm vụ để giao cho học sinh thực hiện
Thứ hai: GV phải tạo được bầu không khí thân thiện tích cực, chủ động
để giải quyết mọi tình huống học tập có thể xảy ra
Thứ ba: Sử dụng hợp lý có hiệu quả SGK cũng như các phương tiện dạy học hiện đại vào bài giảng
Thứ tư: Cần tạo ra những tình huống học tập gắn với thực tế cuộc sống
để làm sâu sắc thêm bài giảng, rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh qua việc giao bài tập về nhà
Việc đổi mới PPDH là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Dạy học đảm bảo phát huy tính tích cực của HS cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quá trình dạy và học của GV cũng như HS GV phải là người truyền đạt kiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách; HS phải làm chủ kiến thức kỹ năng theo chuẩn kiến thức kỹ năng quy định ở các tiết học Bởi vậy ngay từ khâu thiết kế bài học, GV phải thiết kế các hoạt động học tập sao cho phát huy được tối đa tính tích cực của HS để từ đó hình thành và phát triển cho HS những năng lực cần thiết để giải quyết các tình huống trong học tập cũng như cuộc sống
2.1.5 Đảm bảo tính tích hợp
Tích hợp là một trong những xu hướng dạy học hiện được áp dụng rỗng rãi trong chương trình giáo dục Việt Nam hiện hành Tích hợp là sự kết hợp những kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm một cách khoa học và có hệ thống trong một môn học, một lĩnh vực hoặc giữa các môn học có liên quan Trên
cơ sở đó, khi vận dụng những kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề phức hợp trong học tập hay trong cuộc sống sẽ tránh được sự trùng lặp về kiến thức, tiết kiệm được công sức, thời gian mà nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu khac nhau
Trong một giờ học Ngữ văn, do đặc thù của bộ môn nên đó có thể là sự tích hợp các kiến thức, kĩ năng, năng lực của các phân môn hay của nhiều
Trang 28và Văn để giúp HS thực sự cảm nhận được cái đẹp cái hay của tiếng Việt hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS Bộ môn Ngữ văn có thể tích hợp với các môn học khác như Lịch sử, Địa lí,…để tìm hiểu về thời đại, hoàn cảnh sáng tác,…Khi xây dựng KHDH bài “Phương pháp thuyết minh”
để đảm bảo nguyên tắc này, GV có thể tích hợp thông qua những câu hỏi, bài mối liên hệ giữa kiến thức cũ và mới, hoặc với tri thức của đọc hiểu văn bản hay tiếng Việt GV đưa ra các ví dụ là những văn bản thuộc phần Văn để HS phân tích, tìm hiểu, từ đó hình thành những kiến thức mới cho bài học Đồng thời có thể tích hợp cả với phân môn Tiếng Việt để HS có thể tạo lập nên một VBTM có sử dụng các PPTM khác nhau, hoặc trong giao tiếp hàng ngày
2.2 Nội dung dạy học về phương pháp thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
Bài “Phương pháp thuyết minh” SGK cơ bản được triển khai với những nội dung cơ bản sau:
Phần một: “Tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh” PPTM có vai trò quan trọng đối với bài văn thuyết minh, nắm được PP người đọc mới truyền đạt được đến người nghe những hiểu biết của mình về những sự vật, hiện tượng một cách dễ dàng và mang lại hiệu quả cao PPTM có vai trò rất quan trọng vì: tạo nên tính chặt chẽ, mạch lạc cho bài văn TM; giúp người thuyết minh có thể đạt được mục đích TM: TM một cách mạch lạc, rõ ràng và đạt hiệu quả cao PPTM có mối quan hệ chặt chẽ với mục đích thuyết minh: mục đích thuyết minh là cơ sở để lựa chọn PPTM phù hợp; PPTM là cách thức hiệu quả để thực hiện mục đích thuyết minh Kiến thức chủ yếu của phần một là ôn tập lại những kiến thức cũ đã học từ lớp 8, vậy mục tiêu là ôn tập và củng cố, do đó khi thiết kế bài học GV cần chú ý đến đặc điểm nội dung này
để có thể lựa chọn những phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp
Phần hai: “Một số phương pháp thuyết minh” Các PPTM đã học ở THCS: “nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích” GV cho HS ôn lại các phương pháp thuyết minh đã học thông qua việc phân tích, tìm hiểu Ngữ liệu trong SGK, phân tích tác dụng của từng PP
để thấy được hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp đó vào văn bản
Trang 29Tìm hiểu thêm một số PPTM: “thuyết minh bằng cách chú thích; thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân - kết quả” Thông qua việc tìm hiểu, phân tích ngữ liệu SGK, rút ra được khái niệm cũng như đặc điểm của một số PPTM mới để từ đó HS có thể vận dụng vào những bài tập cụ thể Phần II là phần kiến thức trọng tâm của bài học, được chia thành hai phần nhỏ, một là
ôn lại kiến thức cũ đã học ở THCS, hai là tìm hiểu thêm một số PPTM khác(kiến thức mới) Bởi vậy trong quá trình thiết kế bài học GV cần đặc biệt chú ý đến phần nội dung này để có những phương pháp phù hợp
Phần ba: “Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh” Căn cứ vào mục đích thuyết minh để lựa chon PPTM; PPTM được sử dung phải làm nổi bật được bản chất, đặc trưng của đối tượng, đáp ứng được mục đích thuyết minh đã đề ra nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và hấp dẫn của VBTM giúp người đọc, người nghe tiếp nhận dễ dàng, hứng thú Kiến thức của phần ba là kiến thức mới được rút ra từ việc tìm hiểu các PPTM khác nhau để từ đó vận dụng vào trong bài văn thuyết minh cụ thể
Phần bốn: Luyện tập Từ những kiến thức được hình thành ở phần trên thì mục đích cuối cùng là HS biết vận dụng các PPTM đó vào bài tập cụ thể cũng như vận dụng vào làm văn cũng như trong cuộc sống Thông qua sự hướng dẫn của GV, HS hoàn thiện các bài tập trong SGK, đồng thời GV có thể thiết kế nhiều dạng bài tập khác nhau để củng cố thêm kiến thức cho HS Đây là phần thực hành nhằm vận dụng, củng cố những kiến thức trong phần lí thuyết mà HS đã học cũng như mới hình thành vào bài tập cụ thể, vào cuộc sống thực tế Do đó trong quá trình thiết kế bài học GV cần đưa ra những bài tập cụ thể, đa dạng nhàm củng cố thêm kiến thức cho HS
2.3 Quy trình xây dựng kế hoạch dạy học làm văn bài “Phương pháp thuyết minh” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT
2.3.1 Nghiên cứu nội dung bài học
Bước này được đặt ra bởi việc xác định vị trí, mục tiêu của bài học được xem là khâu quan trọng, không thể nào thiếu của mỗi kế hoạch dạy học Xác định cấu trúc nội dung bài học, bài học gồm các đơn vị nào? Cách tổ
Trang 30chức, triển khai nội dung đó của SGK Đơn vị nội dung nào là trọng tậm, cần tìm hiểu sâu và lưu ý những gì?,…
Nghiên cứu nội dung bài học bao gồm:
“Xác định mục tiêu bài học: kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực
Xác định cấu trúc tri thức bài học (gồm các đơn vị kiến thức nào, cách tổ chức, đơn vị kiến thức nào là trọng tâm,…)
Xác định mối liên hệ giữa tri thức, kĩ năng của bài học với các tri thức, kĩ năng HS đã học để có cách định hướng, khai thác phù hợp
Phân chia nội dung kiến thức bài học thành các đơn vị kiến thức nhỏ hơn để học sinh dễ dàng tiếp nhận”[16]
Như vậy cũng đặt ra yêu cầu GV phải nghiên cứu kĩ lưỡng SGK và các tài liệu có liên quan để hiểu đầy đủ, chính xác những nội dung của bài học Nội dung bài học ngoài phần kiến thức cơ bản trong SGK còn có những kiến thức khác nằm ngoài có liên qua đến bài học
Trong bài “Phương pháp thuyết minh” ngoài mục tiêu bài học được triên khai rõ ràng trong phần thiết kế mục tiêu về : “kiến thức, kĩ năng, thái
độ, năng lực” [phần 2.3.4.1]
Ngoài ra, GV cần tham khảo thêm những nguồn tài liệu có liên quan để
có thêm những tri thức nhằm góp phần mở rộng kiển thức cho HS
Kiến thức trọng tâm được xác định: Các phương pháp được sử dụng trong văn bản thuyết minh, các yêu cầu và nguyên tắc lựa chon, vận dụng, phối hợp các phương pháp thuyết minh
Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập, HS phải chủ động tìm hiểu bài học trước khi đến lớp cũng như GV sử dụng linh hoạt phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao chất lượng bài học
2.3.2 Tìm hiểu đối tượng người học
“Là việc xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ học tập của học sinh bao gồm: xác định những kiến thức, kĩ năng mà HS đã có, hoặc còn chưa thuần thục và kiến thức kĩ năng mà HS cần phải có” Thông qua bước này,
Trang 31GV đưa ra được những thuận lợi, khó khăn, các tình huống học tập có thể nảy sinh và các phương án giải quyết
Bước này được đưa ra theo định hướng chuyển từ tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận năng lực của người học, từ đó sẽ quan tâm nhiều việc HS
sẽ làm như thế nào và làm được cái gì hơn là HS sẽ học được cái gì
GV phải nắm vững chuyên môn đồng thời vừa phải nắm bắt được từng đối tượng người học để từ đó lựa chọn những PPDH, hình thức tổ chức dạy hoc, kiểm tra, đánh giá phù hợp và đạt hiệu quả tối đa nhất
Như vậy, trước khi xây dựng KHDH người GV phải vạch ra trước những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy cũng như cách giải quyết chúng Việc tìm hiểu đối tượng người học càng chi tiết bao nhiêu thì hiệu quả của việc xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học đạt được càng cao
Bước này đóng vai trò quan trọng, bởi lẽ trong thực tế có nhiều giờ học người GV không dự kiến được những tình huống xảy ra nên chưa đưa ra được những phương án giải quyết kịp thời, hợp lí Bởi vậy, mỗi GV nên dành một khoảng thời gian nhất định để đôn đốc kiểm tra bài soạn của các em kết hợp với việc thường xuyên kiêm tra đánh giá để có thể dự kiến trước việc đáp ứng các nhiệm vụ học tập cũng như phát huy được vốn kiến thức, kĩ năng mà HS
đã có
Bài “Phương pháp thuyết minh” là một trong những bài học quan trọng trong phân môn Làm văn Chính vì vậy có rất nhiều tri thức được khám phá
và truyền đạt đến các em GV cần phải tìm hiểu rõ đối tượng HS đang ở mức
độ nào và phân bậc đối tượng để có thể truyền đạt tối đa lượng kiến thức cũng như phát huy được các năng lực phẩm chất vốn có của HS, đồng thời hình thành nên những kĩ năng mới
GV dự kiến tìm hiểu chi tiết bài học, HS sẽ chủ động trả lời được những kiến thức và còn gặp khó khăn ở phần nào Phần dự kiến này sẽ giúp
GV có những cách giải quyết hiệu quả, phù hợp nhất Tùy vào từng đối tượng người học mà người GV sẽ có những điều chỉnh linh hoạt so với dự kiến đưa
ra
Trang 322.3.3 Lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp cho các nội dung
Để có một giờ học tốt ngoài những yêu cầu thiết yếu: bám sát mục tiêu, nội dung bài học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS thì việc lựa chọn, vận dụng các PPDH phù hợp cho từng phần là rất quan trọng Sử dụng các PPDH tích cực theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, nhu cầu hành động và thái độ tự tin, khả năng tự học sẽ giúp HS chủ động, sáng tạo và phát huy được các khả năng của bản thân
Với thực trạng hiện nay cho thấy đa phần GV vẫn quen với trong việc thiết kế nhiệm vụ học tập chưa có tính phân hóa và ít chú ý đến năng lực học của từng đối tượng HS Áp dụng các PPDH mới sẽ giúp GV xác định và lựa chọn được phương pháp dạy học phù hợp cho từng phần để HS phát huy được tối đa năng lực của mình Đồng thời giúp GV đưa ra những dự kiến, phương
án dạy học, kiểm tra đánh giá linh hoạt và đạt hiệu quả cao
Khi thiết kế bài học trong hoạt động: “hình thành kiến thức, kĩ năng mới cho HS”, GV có thể tìm hiểu và sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật khác nhau
Ví dụ: Trong phần I- Tầm quan trọng của PPTM, GV có thể đưa ra ví dụ và
sử dụng phương pháp thảo luận theo nhóm đôi kết hợp với hình thức làm
việc cá nhân để phân tích, tìm hiểu ví dụ để hình thành nên kiến thức mới
GV vận dụng phương pháp thảo luận nhóm đôi yêu cầu HS trao đổi thông
qua hệ thống câu hỏi nhằm rèn luyện kĩ năng trả lời câu hỏi nhanh, kĩ năng làm việc nhóm và thuyết trình tích cực:
Câu hỏi Ví dụ 1 (hình thức cặp):
1 Nội dung của hai đoạn văn trên là gì?
2 Đoạn văn nào có sự trình bày chi tiết, hấp dẫn và sinh động hơn?
3 Vậy theo em, để có thể diễn giải hay nói cách khác TM một điều gì
đó, người thuyết minh cần nắm chắc những gì?
Câu hỏi ví dụ 2 (hình thức cá nhân):
Trang 331 Nếu trong hội trại trường, em được giao nhiệm vụ TM cho các bác phụ huynh có con em sắp vào bậc THPT về truyền thống và thành tích học tập của trường Ngô Gia Tự, em thấy mình sẽ gặp những khó khăn nào?
2 Qua ví dụ 2, em rút ra điều gì về tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh?
3 PPTM với mục đích TM có mối quan hệ như thế nào?
Trong phần “Ôn tập một số phương pháp thuyết minh” đã học, GV có thể trao quyền chủ động nhắc lại kiến thức cũ về các PPTM đã học cho HS
thông qua một loạt các ví dụ được trình chiếu hình thức hoạt động cá nhân với kĩ thuật động não để hoàn thành nhiệm vụ học thâp Bên cạnh đó kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm để rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc
nhóm và trình bày tích cực
Sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để đưa ra kết quả của nhóm mình
HS được chia ra thành các nhóm nhỏ (số lượng 4-6 người), mỗi nhóm
sẽ có một tờ giấy A0 đặt lên mặt bàn như khăn trải bàn, chia giấy A0 thành một phần chính giữa, chia các phần xung quanh ứng với số người trong nhóm Mỗi thành viên sẽ viết câu trả lời vào phần xung quanh, hét thời gian làm việc
cá nhân, HS sẽ thảo luận để tìm ra điểm chung, thống nhất giữa các phần cá nhân và viết vào phần chính giữa của tờ A0
Sau khi thảo luận xong, các nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả của
nhóm mình Các nhóm chú ý để nhận xét, bổ sung cho đội bạn
GV đánh giá, bổ sung và chốt ý
HS quan sát ví dụ đồng thời nhớ lại kiến thức cũ về các phương pháp thuyết minh đã học
Ví dụ: Chia lớp thành 4 nhóm, phát dụng cụ học tập cho từng nhóm (giấy A0, bút nước) với nhiệm vụ mỗi nhóm phân tích lần lượt các ví dụ trong SGK-T48, 49 với các câu hỏi:
“Mục đích thuyết minh của từng đoạn văn
Xác định PPTM trong từng đoạn?