1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp văn hóa giao tiếp của người hà nội

65 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, văn hóa giao tiếp của người Hà Nội được thể hiện qua cách sống, lối giao tiếp ứng xử với môi trường xung quanh, thông qua những chuẩn mực đ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Ngư i hư ng dẫn khoa học:

Th.S NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo ThS GVC Nguyễn Thị

Mai Hương, người hướng dẫn em hoàn thành khóa luận

Em xin gửi đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trong tổ Phương pháp

dạy học Ngữ văn đã giúp đỡ em thực hiện khóa luận

Em mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn

để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, 16 tháng 4 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Phan Thị Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Văn hóa giao tiếp của người

Hà Nội” là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung

thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Phan Thị Huyền

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến đóng góp của đề tài 5

9 Bố cục của đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Khái niệm văn hóa 6

1.1.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp 8

1.1.3 Đặc trưng của văn hóa giao tiếp 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Khái quát về Hà Nội 12

1.2.2 Quan niệm về “Người Hà Nội” 15

Tiểu kết chương 18

Chương NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀ NỘI 19

2.1 Vai trò và ý nghĩa của văn hóa giao tiếp đối v i đ i sống xã hội của ngư i Hà Nội hiện nay 19

2.2 Biểu hiện văn hóa giao tiếp của ngư i Hà Nội 21

2.2.1 Biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Hà Nội thể hiện trong gia đình 21

Trang 7

28

Tiểu kết chương 39

Chương 3 GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VẺ ĐẸP VĂN HÓA GIAO TIẾP NGƯỜI HÀ NỘI 40

3.1 Thực trạng văn hóa giao tiếp của ngư i Hà Nội 40

3.1.1 Những giá trị tích cực trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội 40

3.1.2 Hạn chế trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội 41

3.2 Giải pháp xây dựng văn hóa giao tiếp của ngư i Hà Nội ngày nay 43

3.2.1 Giải pháp xây dựng văn hóa giao tiếp trong gia đình 43

3.2.2 Giải pháp xây dựng văn hóa giao tiếp trong công sở 47

3.2.3 Giải pháp xây dựng văn hóa giao tiếp trong xã hội 48

Tiểu kết chương 3 51

KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa giao tiếp của người Việt đã có từ lâu đời Cái đẹp trong văn hóa giao tiếp được người Hà Nội lựa chọn lưu giữ Giao tiếp là một nghệ thuật xây dựng các mối quan hệ trong cộng đồng xã hội Giao tiếp thông minh, tinh tế, khôn khéo, hiệu quả chính là cách thức để thành công trong cuộc sống Ngày nay, mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng văn hóa giao tiếp luôn đóng vai

tr quan trọng đặc biệt trong ý thức của Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung Nó tạo nên những mối quan hệ có văn hóa, nền tảng đạo đức, tạo nên một nét đẹp trong văn hóa Việt

Ngày 10-10-1010 vua Lý Công Uẩn ra chiếu dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về Thăng Long – Hà Nội, đánh dấu một tầm nhìn chiến lược, một quá trình phát triển của cả dân tộc Năm 2010 cả nước long trọng tổ chức đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội Trong hơn 1000 năm tồn tại và phát triển Hà Nội ngày càng vươn mình trở thành trung tâm của cả nước, ẩn giấu trong mình những nét đẹp văn hóa, mang đậm dấu ấn dân tộc để hình thành nên vẻ đẹp giao tiếp riêng của Hà Nội

Hà Nội là thủ đô ngàn năm văn hiến, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước, nơi giao lưu và giữ được những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, văn hóa giao tiếp của người Hà Nội được thể hiện qua cách sống, lối giao tiếp ứng xử với môi trường xung quanh, thông qua những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của con người Vì thế, nét cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội là thái độ coi trọng lời nói, coi tình cảm trở thành nguyên tắc trong giao tiếp, có tư tưởng coi trọng danh dự về mặt chủ thể giao tiếp và quan tâm đến đối tượng giao tiếp, có sự quan sát, tìm hiểu, nhận định sâu sắc từ hình thức đến nội dung, cách thức giao tiếp linh hoạt với sự điều phối của hệ thống nghi thức Hiện nay, trong xu thế hội nhập của các nước trong khu vực và trên thế giới,

Hà Nội c ng không n m ngoài xu thế ấy Với việc Thủ đô ngày càng được

Trang 9

phát triển, người dân từ khắp nơi trên cả nước đến Hà Nội ngày một nhiều nên nhu cầu giao tiếp của người Hà Nội có nhiều thay đổi Các khuôn mẫu, chuẩn mực giao tiếp dần mai một và biến đổi theo cơ chế mới của thời kì đất nước hội nhập Mỗi người có cách giao tiếp riêng của mình Nó thể hiện tầm nhìn, khả năng nhận thức, tầm hiểu biết, phẩm chất đạo đức, nếp sống, suy nghĩ của mỗi người Văn hóa giao tiếp chính là một môi trường thiết yếu để rèn luyện nhân cách và giáo dục đạo đức cho mỗi người

Xuất phát từ ý nghĩa của văn hóa giao tiếp và thực trạng về văn hóa

giao tiếp của người Hà Nội nên chúng tôi nghiên cứu về đề tài “Văn hóa giao

tiếp của người Hà Nội” với mong muốn phát huy những giá trị bản sắc dân

tộc, đồng thời tiếp thu có lựa chọn văn hóa giao tiếp của cả nước, mục đích góp phần nhỏ lưu giữ và bảo tồn nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

2 Lịch sử vấn đề

Hà Nội và văn hóa giao tiếp được coi là tinh hoa của đất Việt ngàn năm văn hiến Nó đã tạo nên một nét độc đáo, không pha trộn Đó chính là sự khuyến khích, là những vấn đề hấp dẫn, lôi cuốn với những người yêu mến mảnh đất ngàn năm văn hiến Vì thế, có rất nhiều công trình liên quan đến vấn

đề này

Uông Triều, Hà Nội quán xá phố phường, Nxb Văn học: Đây là cuốn

sách nói về những điều thân thuộc ở Hà Nội Với cảm xúc mãnh liệt dành cho mảnh đất này, Uông Triều đã ghi dấu ấn đậm nét trong sự khắc họa về thành phố nghìn năm tuổi ng dẫn dắt người đọc đến với những con phố bình dị, đến những món ăn truyền thống độc đáo chỉ riêng Hà Nội mới có mà đến nay vẫn c n giữ nguyên hương vị trong tâm thức của những người Hà Nội sành ăn người như phở b , bún ốc, bún cá

Trang 10

Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục: Trong cuốn

sách này, tác giả đã không trình bày khái niệm về văn hóa nhưng đã kh ng định cốt l i của khái niệm này ng cho r ng văn hóa xuất hiện trong quan hệ với hai loại môi trường đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Với mỗi loại môi trường đều có cách ứng xử phù hợp

Nguyễn Tiến Đoàn, Từ Tràng An thanh lịch đến Hà Nội thanh lịch, văn

minh, Nxb Hà Nội: Đây là cuốn sách vừa ra mắt bạn đọc trong dịp kỷ niệm Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/2018 vừa qua Cuốn sách bao gồm nhiều kiến thức mang tính tổng hợp, bao quát về nét đẹp trong văn hóa của người Hà Nội xưa và nay

Nguyễn Kim Thản, Lời ăn tiếng nói của người Hà Nội, Nxb Văn học:

Đây là cuốn sách cung cấp tri thức với độc giả về một nét văn hóa độc đáo, riêng biệt của người Hà Nội trong giao tiếp với môi trường xung quanh được quan sát từ khía cạnh ngôn ngữ Trong giao tiếp, người Hà Nội luôn thể hiện thái độ trân trọng, chuẩn mực, bảo đảm tính thống nhất trong lời nói mà vẫn giữ được sự trong sáng của tiếng Việt Đó chính là nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

Nguyễn Viết Chức, Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường

thiên nhiên, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội: ng phản ánh

mối quan hệ giữa môi trường với văn hóa ứng xử của người Hà Nội từ truyền thống đến hiện đại Trước xu thế phát triển, hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, ông đã đưa ra những giải pháp để khắc phục và xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội góp phần giữ gìn và phát huy một nét đẹp trong văn hóa Việt

Trang 11

Trong văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm viết về Hà Nội: Số đỏ (V Trọng Phụng), Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam), Miếng ngon Hà

Nội (V B ng), Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân) Đến nay vẫn chưa có

đề tài nào trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu về “Văn hóa giao tiếp của người Hà

Nội” Các công trình nêu trên là cơ sở cung cấp một số luận cứ, luận chứng để

chúng tôi nghiên cứu đề tài của khóa luận

3 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài “Văn hóa giao tiếp của người Hà Nội” nh m

cung cấp những kiến thức cần có về văn hóa giao tiếp nói chung và văn hóa giao tiếp của người Hà Nội nói riêng Quan trọng hơn đây sẽ là đề tài định hướng cho con người về vai tr , tầm quan trọng của văn hóa giao tiếp để họ

có thái độ và hành động phù hợp góp phần giữ gìn và phát huy một nét đẹp trong văn hóa Việt

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu trên các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để hiểu r về văn hóa

và văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

Khảo sát thực tế qua điều tra xã hội học để biết được những biểu hiện về văn hóa giao tiếp của người Hà Nội Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về mặt tích cực và mặt c n hạn chế đồng thời đưa ra những giải pháp nh m nâng cao văn hóa trong giao tiếp của người Hà Nội

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong phạm vi khu vực

Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài khóa luận được vận dụng tổng hợp các phương pháp sau:

Trang 12

Phương pháp thu thập tài liu: được sử dụng khi bắt đầu tiếp cận đề tài Nguồn tài liệu được cập nhật thông qua Internet, các trang mạng xã hội và các tạp chí, sách báo

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Sử dụng khi đã thu thập được nguồn tài liệu, tiến hành xử lý và lựa chọn tài liệu liên quan phục vụ cho đề tài:

“Văn hóa giao tiếp của người Hà Nội”

Phương pháp điền dã: thực hiện quan sát, tìm hiểu, phỏng vấn và tổng kết trong quá trình điền dã

8 Dự kiến đóng góp của đề tài

Đề tài vừa mang tính khoa học, vừa mang tính thực tiễn trong việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến văn hóa giao tiếp của người Hà Nội Từ

đó mỗi người sẽ có cái nhìn mới mẻ về văn hóa giao tiếp chung, có sự nhìn nhận đúng đắn góp phần phát huy, quảng bá những nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của thủ đô ngàn năm văn hiến

9 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của

đề tài được chia ra làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Những biểu hiện trong văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

Chương 3: Giải pháp giữ gìn vẻ đẹp văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

Trang 13

NỘI DUNG Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Trong cuộc sống, con người nhắc rất nhiều đến văn hóa Nhưng để tìm hiểu về nội hàm của văn hóa thì không phải ai c ng biết Theo UNESCO:

“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một

hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Khái niệm này kh ng định hoạt động sáng tạo

của con người gắn bó mật thiết với quá trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua những thăng trầm tạo nên những giá trị có tính nhân văn sâu sắc, đồng thời mang đặc trưng của mỗi cộng đồng, diện mạo riêng của từng dân tộc Tuy nhiên, nếu phụ thuộc vào khái niệm có tính khái quát này, trong quá trình quản lý nhà nước về mặt văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu lầm: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và hẹp hơn là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật Thực tế, quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: “Từ văn hoá có nhiều nghĩa, nó

được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hoá được quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa

Trang 14

được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)” [13]

Văn hoá bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Năm 1940,

Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn c ng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt h ng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nh m thích ứng những nhu cầu đời sống và đ i hỏi của sự sinh tồn” Như vậy, mọi hoạt động trong cuộc sống của con người đều “vì lẽ sinh tồn c ng như mục đích của cuộc sống”, những điều đó thông qua thực tiễn, được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, sàng lọc thành những tiêu chuẩn, những giá trị vật chất và tinh thần được lưu giữ, truyền từ đời này sang đời khác thành những giá trị quý báu mang nét độc đáo riêng của mỗi cộng đồng, góp phần hình thành di sản văn hóa của toàn nhân loại

Khi tìm hiểu về nét riêng biệt trong văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc

Thêm cho r ng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.”

Trang 15

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số

người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy

và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ

về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5]

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, văn hóa đã góp phần quan trọng vào việc phát triển xã hội loài người Mỗi cộng đồng có một nền văn hóa của riêng mình, nền văn hóa đó tập trung những tinh hoa mà dân tộc

đó sáng tạo ra, giữ gìn và phát huy qua những giai đoạn lịch sử của dân tộc Qua mỗi thời k , dân tộc Việt Nam phải đối mặt với những kẻ thù xâm lược, với sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai hoành hành nhưng người Việt Nam

đã hun đúc nên một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất, có sự giao lưu, h a nhập nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Có thể kh ng định r ng những nét đẹp ấy là gốc rễ, là sức mạnh tiềm tàng của dân tộc Việt Nam

1.1.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp

Nói về giao tiếp, có ý kiến cho r ng: “Giao tiếp là quá trình truyền đạt

và tiếp nhận thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa các cá nhân hoặc nhóm người Đây là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu, thỏa mãn nhu cầu của chúng ta Giao tiếp là biện pháp, thông hiểu nhau là mục đích Trong cuộc sống hiện thực của con người, rất nhiều điều không vui, không thuận lợi, khó xử, thất bại, bất hạnh đều có liên quan tới việc thiếu giao tiếp hoặc giao tiếp không thành công trong gia đình, bạn bè, giữa người với người”

Các nhà nghiên cứu kh ng định: “Văn hóa giao tiếp là một phạm trù

mang tính xã hội mà trong đó yếu tố văn hóa chỉ được đề cập đến trong phạm

vi của giao tiếp là những hiểu biết về phong tục tập quán, đời sống xã hội, là

Trang 16

hệ thống nguyên tắc những chuẩn mực văn hóa, đạo đức… Văn hóa giao tiếp như hạt nhân để tạo dựng một nề nếp, một lối sống chuẩn mực cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người Văn hóa giao tiếp mang trong mình những giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ phù hợp với mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội”

1.1.3 Đặc trưng của văn hóa giao tiếp

Trong cuộc sống, văn hóa giao tiếp giữ vai tr quan trọng trong cách ứng xử Văn hóa giao tiếp ở mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng Văn hóa giao tiếp có nghĩa là quá trình tiếp xúc, người Việt Nam có tính hiếu khách trao đổi giữa người với người phù hợp với các chuẩn mực xã hội Văn hóa giao tiếp có những đặc trưng cơ bản sau:

1.1.3.1 Người Việt Nam có tính hiếu khách

Người Việt Nam có tính thích thăm hỏi Hàng ngày có gặp nhau, lúc rảnh việc họ vẫn tới nhà nhau, nói chuyện trao đổi về công việc, về những buồn vui trong cuộc sống Thăm hỏi không còn là trách nhiệm mà là biểu hiện của tình cảm, thắt chặt thêm mối quan hệ họ hàng, làng xóm

Tính hiếu khách của người Việt được biểu hiện qua việc khi nhà có khách đến chơi, người Việt dù nghèo khó đến đâu vẫn luôn có thói quen tiếp đón chu đáo, nồng hậu, tiếp đãi khách b ng những món ăn ngon nhất Tính hiếu khách càng được biểu hiện r hơn khi ta đến với những miền quê xa xôi, những vùng rừng núi hẻo lánh

1.1.3.2 Người Việt Nam coi trọng tình nghĩa giao tiếp

Người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa nông nghiệp với quan niệm “Quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” đồng thời tồn tại lối sống trọng tình nghĩa đã có từ bao đời nay Xuất phát từ điều đó, người Việt coi tình cảm trở thành nguyên tắc trong giao tiếp ứng xử:

“ êu nhau yêu cả đường đi

Gh t nhau gh t cả tông ti họ hàng”

Trang 17

Điều đó thể hiện thông qua quan niệm sống: “Một bồ cái lý không bằng

một tý cái tình” Người Việt Nam luôn đề cao tình cảm hơn mọi thứ trên đời

i giúp đỡ mình một chút đều phải biết ơn, ai bảo ban một chút c ng phải ghi nhớ Chính điều đó đã khiến cho quan hệ trong cộng đồng trở nên gắn bó, tạo thành một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt

1.1.3.3 Người Việt Nam có tính cộng đồng cao và ưa quan sát

Trong cuộc sống, người Việt quan tâm đến rất nhiều vấn đề từ quê quán, tuổi tác đến trình độ, địa vị, tình trạng gia đình Thói quen thích tìm hiểu này khiến cho bạn bè quốc tế có nhận xét là người Việt Nam hay t m Điều này ch ng qua c ng chỉ là kết quả của tính cộng đồng làng xã mà ra

Do tính cộng đồng, người Việt Nam luôn có trách nhiệm phải quan tâm đến người khá Mặt khác, xuất phát từ lối sống trọng tình cảm, mỗi người đều

có những cách xưng hô phù hợp, đáp ứng nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống

Biết tính cách, biết người để lựa chọn cách xưng hô cho đúng mực: “Chọn

mặt gửi vàng” Khi không được lựa chọn thì người Việt luôn có sự thích ứng

một cách linh hoạt: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”; “Đi với bụt mặc áo cà sa,

đi với ma mặc áo giấy”

Tính cộng đồng c n khiến người Việt Nam có lối sống trọng danh dự:

“Tốt danh hơn lành áo”; “Đói cho sạch, rách cho thơm”; “Trâu chết để da,

người ta chết để tiếng” Danh dự của mỗi người gắn liền với khả năng giao

tiếp: Lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng

Vì thói quen coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện:

“Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”; “Đem

chuông đi đấm nước người, không kêu cũng đánh ba hồi lấy danh”; “Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng” Vì danh dự, các cụ già

trong làng vẫn to tiếng với nhau vì miếng ăn: “Một miếng giữa làng bằng một

sàng xó bếp” Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tạo tin đồn, tạo nên dư

luận như một thứ v khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định

Trang 18

của làng xã

1.1.3.4 Người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận

Người Việt Nam xưa nay vẫn luôn ưa sự tế nhị Dù trong hoàn cảnh nào, người Việt vẫn thể hiện sự ý tứ, duyên dáng trong giao tiếp Điều đó

khiến cho người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không

mở đầu trực tiếp, đi th ng vào vấn đề như người phương Tây Truyền thống của người Việt khi bắt đầu giao tiếp là phải chào hỏi, nói về những vấn đề xung quanh trước rồi mới đến câu chuyện cần bàn C ng vì thế mà trong dân

gian có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”

Cách giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là kết quả của lối sống trọng tình nghĩa và lối tư duy trong các mối quan hệ Nó tạo nên thói quen cân nhắc trước khi nói:

“Ăn có nhai, nói có nghĩ”; “Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nó”i;

“Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”; “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo”… Chính điều này đã khiến cho

người Việt thiếu tính quyết đoán, nhưng giữ được sự h a thuận, không làm mất l ng ai

Người Việt Nam thường hay cười Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt Tâm lý trọng sự hòa thuận khiến người Việt luôn có chủ trương nhường nhịn:

“Chồng giận thì vợ bớt lời,

Cơm sôi nhỏ lửa mấy đời cơm khê”

Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú

Hệ thống nghi thức trong giao tiếp của người Việt trước hết đó là sự phong phú của từ ngữ xưng hô Trong khi các nước phương Tây và Trung Hoa chỉ dùng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt c n sử dụng một lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô Các từ ngữ xưng hô này có các đặc điểm:

Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa, thiên về tình cảm, coi những người

trong cộng đồng như người thân trong gia đình

Trang 19

Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong hệ thống này không có

những từ xưng hô chung mà tùy thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể Cùng là hai người nhưng cách xưng hô có khi thể hiện được hai quan hệ khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi Lối gọi nhau b ng tên con, tên cháu, tên chồng; b ng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba,

Tư ) trở nên phổ biến

Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ kưỡng: người Việt Nam thường có thói

quen xưng và hô theo quan niệm “Xưng khiêm hô tôn” Việc tôn trọng đối tượng giao tiếp đã dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia người ta chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con quan trọng nhất là không được trùng tên với những bậc vai vế trong gia đình, gia tộc c ng như ngoài xã hội Vì vậy mà người Việt trước đây có tục nhập gia vấn húy

Nghi thức trong cách giao tiếp rất phong phú Do lối sống trọng tình và linh hoạt nên người Việt không dùng từ cảm ơn hoặc xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như người phương Tây Với mỗi trường hợp luôn có cách thể

hiện sự cảm ơn, xin lỗi khác nhau: “Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà)”;

“Chị chu đáo quá (cảm ơn khi được quan tâm)”; “Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đón tiếp)”; “Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm); Anh quá khen (cảm ơn khi được khen)”…

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về Hà Nội

Hà Nội là Thủ đô của cả nước Nơi đây đã trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn thu hút sự quan tâm của không ít bạn bè trong nước và quốc tế Trải qua hơn một nghìn năm tồn tại và phát triển, mảnh đất ngàn năm văn hiến vẫn giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, góp phần lưu giữ và xây dựng một Hà Nội văn minh, thanh lịch

1.2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

“Nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm Đồng bằng châu thổ sông

Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến

Trang 20

106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hưng ên phía Đông, Hòa Bình và Phú Thọ phía Tây” [15]

1.2.1.2 Dân cư

Số dân của thành phố tính đến năm 2017 có 7.420.100 người trong đó dân số nội thành chiếm 58,8%, dân số ngoại thành chiếm 41,2%

Dân cư Hà Nội có sự phân bố không đều giữa các khu vực hành chính

Theo số liệu năm 2018: “Mật độ trung bình của người Hà Nội là 2881

trong khi đó ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới

) Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình của

cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là thành phố có mật độ cao nhất cả nước”

Mỹ Đức, huyện Phú Xuyên, huyện Phúc Thọ, huyện Quốc Oai, huyện Sóc Sơn, huyện Thanh Oai, huyện Thanh Trì, huyện Thạch Thất, huyện Thường Tín, huyện Ứng Hòa

1.2.1.4 Hà Nội - trung tâm chính trị của cả nước

Hà Nội - mảnh đất nghìn năm tuổi với truyền thống văn hiến từ bao đời nay đã chứng kiến bao chiến công lẫy lừng của dân tộc c ng là nơi định đô của các vương triều phong kiến Việt Nam tự hào là trung tâm chính trị của cả

Trang 21

nước với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9/1945 tại quảng trường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a

Là trung tâm của cả nước, Hà Nội là nơi hội tụ các cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xã hội

Thủ đô c ng là nơi diễn ra các sự kiện chính trị lớn, đó là các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các k họp Quốc hội, các hoạt động ngoại giao, hợp tác, ký kết với nước ngoài Từ đó đưa ra các chủ trương, đường lối chiến lược và sách lược cho từng thời k xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

1.2.1.5 Hà Nội – trung tâm kinh tế của cả nước

Trải qua quá trình giao lưu, hội nhập, tiếp biến với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới, Hà Nội nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế của cả nước

Về công nghiệp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế Hà Nội bắt đầu ghi nhận

những bước chuyển biến mạnh mẽ: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của

thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52 %, thời kỳ 1996 - 2000 là 10,38% Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam” Theo số liệu năm

2010: “GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so

với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng”

Về nông nghiệp, Hà Nội là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân Thủ đô

Về thương mại: hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và các dịch vụ phát triển mạnh với hệ thống cơ sở vật chất như ngân hàng, các trung tâm thương mại, siêu thị, các khu chợ, khu vui chơi giải trí Đồng thời, Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng của các tuyến đường đi các tỉnh trong nước và thế giới Có thể thấy, Hà Nội là trung tâm kinh tế, là đầu mối giao thương không chỉ ở trong nước mà c n mở rộng ra các nước trong khu vực và trên thế

Trang 22

giới

1.2.1.6 Hà Nội – trung tâm văn hoá của cả nước

Hà Nội – mảnh đất ngàn năm văn hiến không chỉ đóng vai tr là trung tâm kinh tế - chính trị, Hà Nội c n là một trung tâm văn hóa lớn của cả nước Tất cả các nhà xuất bản, các cơ quan thông tấn, báo chí, trụ sở trung ương hội văn học – nghệ thuật, các nhà hát, rạp phim cấp quốc gia đều đóng tại Hà Nội Thủ đô c n là nơi đứng đầu về số lượng bảo tàng, rạp hát, sân vận động, các di tích lịch sử – văn hóa Tin tức của mọi miền trên đất nước c ng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và truyền hình Mỗi năm có hàng trăm tờ báo và tạp chí, hàng chục đầu sách mới của gần 40 nhà xuất bản trung ương được phát hành khắp nơi không chỉ ở trong nước mà c n xuất bản ra nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới

Hà Nội là nơi lưu giữ những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, thành Cổ Loa, chùa Một Cột, Hồ Gươm, đền Ngọc Sơn Điều này đã kh ng định văn hóa Hà Nội là sự chắt lọc của tinh hoa văn hóa ngàn năm, góp phần làm rạng rỡ truyền thống văn hóa lâu đời của người Hà Nội nói riêng và con dân nước Việt nói chung

1.2.2 Quan niệm về “Người Hà Nội”

Từ lâu phẩm chất về người Hà Nội đã được người dân truyền tai nhau qua câu ca dao:

Thế nhưng thế nào thì được coi là dân Hà Nội luôn là câu hỏi rất khó phân định

Thứ nhất, đánh giá dựa vào địa lý: “Trên lý thuyết, những người nào có

hộ khẩu do Công an thành phố Hà Nội cấp thì đương nhiên được coi là công dân Hà Nội Thế nhưng Hà Nội luôn luôn mở rộng Nếu trước đây, Hà Nội

Trang 23

chỉ gồm 36 phố phường thì giờ đây, sau khi sáp nhập Hà Tây, Hà Nội trải dài

từ chân huyện Lương Sơn (Hòa Bình) tới cầu Đa Phúc, giáp tỉnh Thái Nguyên” Một nghiên cứu khác cho biết: “Người Hà Nội gốc chiếm có 7% trong số 4 triệu dân ở thời điểm trước khi Hà Nội mở rộng" Theo tác giả Hà

Đình Đức: “Dân số Hà Nội (tính đến thời điểm 2005, chưa sáp nhập Hà Tây)

có 26% gốc Thanh Hóa và 27% gốc Nghệ Người dân từ các miền quê không chỉ mang tới đô thành những sản vật đặc trưng của địa phương, mà còn mang đến cả lời ăn, tiếng nói hiền hòa; lối sống giản dị, khiêm nhường cùng lối ứng

xử, giao tiếp niềm nở, ân cần, mộc mạc, ân tình” Điều đó đã làm nên một Hà

Nội thuần phác, thanh lịch, mà Phạm Đình Hổ đã kh ng định trong “Vũ

Trung tùy bút”: “Phong tục chuộng thói trung hậu, mọi người hàng ngày

giao tiếp với nhau có ý khoan dung, bình dị, giữ thói khiêm nhường Nếu ai có điều gì sằng bậy, thì chỉ sợ người ta biết mà chê cười Đến như những kẻ thân quan, quốc thích và những kẻ con em vô lại rong chơi, cũng không dám công nhiên làm càn Nếu có kẻ nào không theo lễ ph p mà làm sằng, thì những bậc phụ lão nhà lương gia lại ngầm đem chuyện ấy để răn bảo con cháu” [4;

tr.60-61]

Có người giới hạn: “Người Hà Nội phải là công dân những quận nội

thành” Tuy nhiên, nói như vậy c ng chưa thật thỏa đáng bởi nhiều quận nội

thành hiện nay trước kia là huyện như Long Biên, Cầu Giấy Lại có ý kiến lấy sông Hồng và Đê La Thành làm giới hạn Nhưng như vậy vẫn không ổn bởi

sẽ bỏ qua các làng “rất Hà Nội” như khu vực làng Bạch Mai, làng Mọc Lại

có người nhất quyết “Người Hà Nội phải là công dân phố cổ, tức là người của

36 phố phường Hà Nội” Suy cho cùng, đánh giá dựa vào địa lý xem ra không

ổn

Thứ hai, đánh giá dựa vào thời gian Câu hỏi được đặt ra: “Những người

ở Hà Nội bao nhiêu lâu, mấy đời thì được coi là người Hà Nội?” Có rất nhiều

ý kiến xoay quanh vấn đề này Có người tuyên bố rất hùng hồn r ng: “Cứ hộ

khẩu Hà Nội là công dân Hà Nội” Trên lý thuyết, công dân Hà Nội thì đúng

Trang 24

rồi nhưng "Người Hà Nội" như thế thì có vẻ không ổn Hoặc c ng có ý kiến

khác: “Cứ ai sinh ra ở Hà Nội, lớn lên học hành ở Hà Nội thì được coi là

người Hà Nội” Quan niệm này vẫn không dễ được chấp nhận vì số người

như vậy quá đông, chiếm đến 70-80% Có người lại quy chuẩn: “Cứ phải ba

đời trở lên mới được coi là người Hà Nội”

Thứ ba, đánh giá dựa vào văn hóa: “Bỏ qua tất cả yếu tố địa lý, thời gian mà lấy cách sống, tức là văn hóa làm nền tảng Con người sinh ra ở đâu? Ở Hà Nội bao nhiêu năm? Ngoại thành hay huyện lị không quan trọng miễn là có chất thanh lịch của người Tràng An”

Theo GS Sử học Lê Văn Lan: “Thời bao cấp người ta lấy tiêu chí hộ

khẩu, rằng cứ ai có hộ khẩu Hà Nội thì được gọi là người Hà Nội Rồi đến giai đoạn người ta lại bổ sung, những ai khai sinh ở Hà Nội thì được gọi là người Hà Nội Sau đó người ta lại đưa ra một tiêu chí khác, người Hà Nội là những người có đóng góp, cống hiến nhiều cho Hà Nội Rồi đến thời kỳ bùng

nổ các phong trào làng văn hóa, khu dân cư văn hóa, các nhà quản lý áp dụng tiêu chí cứ ai có ba đời họ tộc sống ở Hà Nội thì được gọi là người Hà Nội Và rồi người ta lại đề xuất một tiêu chí khác, những người cứ sống một đời ở Hà Nội thì được gọi là người Hà Nội”

Vì thế, GS Lê Văn Lan cho r ng: “Đi tìm khái niệm người Hà Nội ở góc

độ văn hóa là chuẩn xác nhất Văn hóa người Hà Nội là chỗ để phân biệt với người từ những vùng đất khác Đó là về ngôn ngữ ăn nói, nếp sống của thị dân lâu đời, cung cách ăn mặc, tính cách giao tiếp”

Theo nghiên cứu của GS Lê Văn Lan về văn hóa người Hà Nội: “Cho

dù con người đó đến Hà Nội từ lâu rồi hay mới đến, cống hiến cho thủ đô nhiều hay ít thì họ đều phải mang bản lĩnh, bản sắc của thị dân Thị dân hiểu nôm na là người đô thị Trên đất nước này, chỉ người Hà Nội là mang rõ bản sắc thị dân nhất vì lịch sử đô thị của Hà Nội có thể nói là cả hơn ngàn năm

tuổi và lâu đời nhất Việt Nam”

Trang 25

Tiểu kết chương

Như vậy, văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng Nó quyết định diện mạo của mỗi quốc gia, dân tộc Văn hóa giao tiếp là một thành tố trong tổng thể văn hóa nh m xác lập quan hệ giao tiếp của mỗi người trong xã hội, là tổ hợp của các yếu tố: cử chỉ, lời nói, hành vi, thái độ, cách ứng xử Văn hóa giao tiếp là một đặc trưng không thể thiếu trong cuộc sống đặc biệt là đối với người Hà Nội Là Thủ đô của đất nước, đồng thời là trung tâm chính trị - kinh

tế - văn hóa nên văn hóa giao tiếp của người Hà Nội đặc biệt được chú ý

C ng vì thế, quan niệm về “Người Hà Nội” đã trở thành vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Mặc dù c n nhiều tiêu chí khác để đánh giá nhưng không thể phủ nhận một điều là lối sống Hà Nội dù đã trải qua nhiều giai đoạn, thời k với nhiều thăng trầm, biến cố cùng với đó là sự đối mặt với nạn xâm lăng của nhiều thế lực thù địch nhưng cho đến thời điểm này, sự thanh lịch của người Tràng n với “sức đề kháng” mạnh mẽ vẫn đang tồn tại mãnh liệt Nó như một mạch ngầm âm ỉ cháy từ thế hệ này sang thế hệ khác, bất biến trước những xô bồ, xáo động của lối sống lai tạp

Trang 26

Chương NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP

CỦA NGƯỜI HÀ NỘI 2.1 Vai trò và ý nghĩa của văn hóa giao tiếp đối v i đ i sống xã hội của ngư i Hà Nội hiện nay

Có ý kiến cho r ng: “Giao tiếp giữa con người với con người là nhu

cầu, biểu hiện tính xã hội, tính cộng đồng và cũng là biểu hiện của sự văn hóa Mỗi quốc gia, địa phương, mỗi vùng miền đều có những loại hình giao tiếp khác nhau tạo nên n t đặc thù của nền văn hóa riêng”

Bởi vậy, ông cha ta xưa có câu:

“Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Giao tiếp trong cuộc sống đóng vai tr vô cùng quan trọng “Quen thì sợ

dạ, lạ sợ áo, sợ quần” Nhiều quan niệm cho r ng: “Giao tiếp không chỉ là cách nói năng mà nó còn thể hiện qua tác phong và cách ăn mặc Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, mở cửa, tốc độ lao động và tác phong sinh hoạt mang tính công nghiệp hóa rất cao Để trở thành người có văn hóa trong giao tiếp quan trọng nhất là cần phải có môi trường giao tiếp lành mạnh, có một quá trình uốn nắn, rèn luyện của các bậc cha mẹ, thầy cô và nỗ lực của chính bản thân mình”

C ng có ý kiến kh ng định: “Văn hóa giao tiếp là biểu hiện đầu tiên của

các mối quan hệ xã hội, gia đình, nhà trường, bạn bè và nói rộng ra đối với cộng đồng Ấn tượng qua giao tiếp có ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý, tình cảm của con người Nhiều khi sự thành bại của công việc là do ấn tượng ban đầu với phía đối tác Biết cách giao tiếp và giao tiếp có văn hóa chính là chiếc chìa khóa để tiếp cận và tìm đúng kênh thông tin, tìm đúng công việc mà mình đang cần Văn hóa giao tiếp là điều kiện thiết yếu để làm nên sự thành công trong sự nghiệp và cuộc sống”

Trong bối cảnh ấy, việc xây dựng văn hóa giao tiếp của người Hà Nội

là nhu cầu thiết yếu và được thể hiện dưới các góc độ sau:

Trang 27

Một là, văn hóa giao tiếp góp phần xây dựng “Người Hà Nội: Văn minh - Thanh lịch” Phong trào văn hóa của các quận, huyện, ngành, đoàn thể

ở Hà Nội hầu như trước hết đều tập trung vào thái độ, cách thức giao tiếp từ gia đình đến ngoài xã hội (cơ quan, trường học, doanh nghiệp, nơi công cộng ) Thực tế cho thấy vai tr của văn hóa giao tiếp trong việc xây dựng

“Người Hà Nội: Văn minh - Thanh lịch” phải bắt đầu từ việc xây dựng những

hành vi giao tiếp có văn hóa của từng nhóm người thuộc mỗi ngành, mỗi giới, nhất là giới trẻ và tại từng tế bào xã hội (gia đình, trường học, doanh nghiệp)

là nơi có thể từng bước hình thành được “Người Hà Nội: Văn minh - Thanh

lịch”

Xây dựng văn hóa giao tiếp góp phần khơi dậy, phát triển thái độ giao tiếp tức là khơi dậy, phát triển năng lực sẵn sàng về mặt tư tưởng, tình cảm và lựa chọn cách thức giao tiếp của người Hà Nội Phải trải qua quá trình định hướng, điều tiết và sàng lọc nhất định mới có thể hình thành được thái độ giao tiếp có văn hóa ở người Hà Nội C ng với tiến trình như vậy mới hình thành được các khuôn mẫu giao tiếp có văn hóa ở các ngành, các giới Một khi văn hóa giao tiếp được xây dựng ở mức độ nào đó người Hà Nội sẽ có nhiều thái

độ văn hóa Phải thông qua hành động của con người nói chung, trong đó có người Hà Nội thì mới có khả năng rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách văn hóa

Đó chính là ý nghĩa và c ng là tác dụng của việc hình thành văn hóa giao tiếp

của người Hà Nội với quá trình xây dựng “Người Hà Nội: Văn minh - Thanh

lịch - Hiện đại”

Hai là, văn hóa giao tiếp của người Hà Nội góp phần tích cực vào quá

trình gắn kết phát triển văn hóa với xây dựng “Người Hà Nội: Văn minh -

Thanh lịch - Hiện đại” Vì thế có thể thông qua hình thành văn hóa giao tiếp

với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội để xây dựng các mối quan hệ khăng khít giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người Việc xây dựng văn hóa

Trang 28

giao tiếp dựa vào các chuẩn mực văn hóa để hướng đến mục tiêu hình thành khuôn mẫu giao tiếp có văn hóa của con người với tinh thần là năng lực hành

động và phương diện biểu hiện của “Người Hà Nội: Văn minh - Thanh lịch -

Hiện đại”

Hình thành văn hóa giao tiếp đ i hỏi các ngành, các giới, trong đó có cả những người làm trong ngành văn hóa, những văn nghệ sĩ chuyên nghiệp, những người kinh doanh dịch vụ văn hóa, phải tham gia với tư cách vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của văn hóa giao tiếp Đó là mối dây liên hệ khá tin cậy giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người

Hình thành văn hóa giao tiếp cơ bản là hình thành các khuôn mẫu giao tiếp trong xã hội Do đó không chỉ văn hóa mà cả tư tưởng, chính trị và kinh

tế c ng phải tham gia Đây là môi trường thích hợp để khai thác, phát huy năng lực sáng tạo cá nhân với tư cách là chủ thể gắn kết không chỉ quá trình phát triển văn hóa mà c n xây dựng con người trên địa bàn Hà Nội

2.2 Biểu hiện văn hóa giao tiếp của ngƣ i Hà Nội

2.2.1 Biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Hà Nội thể hiện trong gia đình

Xưa nay nhiều người vẫn quan niệm: “Gia đình là tế bào của xã hội,

nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ở thời đại nào văn hoá gia đình cũng là nền tảng cho văn hoá xã hội Văn hoá gia đình giàu tính nhân văn, nhân bản, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hoá trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh con người Bởi vậy, gia đình tốt là bảo đảm cho dân giàu, xã hội dân chủ, văn minh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kh ng định: “Rất quan tâm đến gia đình là

đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng

Trang 29

tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” [12,

tr.251-252]

Văn hóa giao tiếp trong gia đình đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp mang tính truyền thống của người Hà Nội như: Tấm l ng thủy chung, son sắt, sự tôn trọng, hi sinh, hiếu thảo với ông bà, bố mẹ

Văn hóa giao tiếp trong gia đình của người Hà Nội luôn được quan tâm

và coi trọng Cha ông ta luôn răn dạy các thế hệ tiếp nối cách giao tiếp ứng xử nhân văn từ trong truyền thống gia đình người Việt Vì thế, những câu ca dao, tục ngữ đã đúc rút những kinh nghiệm, cách giao tiếp, ứng xử quý báu trong quan hệ gia đình

2.2.1.1 Giao tiếp trong quan hệ ông bà – cháu

Theo quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu: “Những tư tưởng, khuôn

ph p về đạo đức, đặc tính của gia tộc thường được ông bà truyền đạt để gây dựng một căn bản tốt lành trong tâm khảm các cháu Chỉ bằng sự có mặt, ông

bà cũng mang lại cho các cháu một niềm tin, một sự an tâm thế hệ, cũng như

sự trường tồn của gia đình Ông bà còn là mối trung gian, hoà giải khi các cháu có những khác biệt với cha mẹ” Đối với người Hà Nội truyền thống,

việc chăm sóc ông bà đã tồn tại trong các gia đình như một nét đẹp văn hóa

C ng vì thế “Phong tục văn hóa gia đình người Việt đã làm cho mối quan hệ

giữa ông bà và cháu trong gia đình ngày càng mật thiết hơn, gắn bó với nhau gần gũi hơn” Việc chăm sóc, phụng dưỡng ông bà đã trở thành bổn phận,

trách nhiệm của con cháu Con cháu luôn luôn thể hiện sự tôn trọng, lễ phép, bày tỏ tấm l ng biết ơn, luôn hỏi thăm, thông báo về những thành tích của bản

thân mình để tạo niềm vui, trở thành niềm tự hào cho ông bà

Tuy nhiên, Thủ đô đang ngày càng phát triển, h a nhập với sự phát triển của cả nước và thế giới Chính guồng quay của xã hội hiện đại đã làm

ảnh hưởng không nhỏ đến các giá trị tốt đẹp trong văn hóa giao tiếp gia đình Các nhà nghiên cứu đã kh ng định: “Trong quan hệ với ông bà, đây là mối

quan hệ có tính chất tiếp nối về huyết thống Bên cạnh sự yêu thương, kỳ

Trang 30

vọng, những khác biệt về tuổi tác, quan niệm sống, đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tạo nên giữa thế hệ ông bà với thế hệ cháu có những khác biệt nhất định Hoàn cảnh sống cũng tác động đối với quan hệ ông bà và cháu Xu hướng tách hộ, hình thành gia đình hạt nhân ngày càng mạnh và ông bà thường ở riêng nên ít tiếp cận với con cháu Điều này làm hạn chế sự chăm sóc về tinh thần, hỗ trợ giáo dục lớp con cháu của ông bà Ngược lại sự chăm sóc đối với ông bà của con cháu, đặc biệt là sự nâng đỡ về tinh thần cũng hạn chế hơn, vô hình tạo nên rào cản giữa ông bà và các cháu”

2.2.1.2 Giao tiếp trong quan hệ cha mẹ - con cái

Trong tâm trí của người Việt, vốn quý giá nhất của cha mẹ là con cái Cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tư cách cho con cái từ lúc

bé cho đến khi trưởng thành Vì vậy quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ thiêng liêng, bao gồm mối quan hệ sinh thành, nuôi dưỡng, là sự nối

tiếp giữa hai thế hệ “Cha truyền, con nối” Trong một Hà Nội “Thanh lịch –

Văn minh – Hiện đại”, cha mẹ là tấm gương sáng cho con cái noi theo, luôn thể hiện sự tôn trọng con cái, làm người bạn để nói chuyện với con đồng thời tạo môi trường để con hiểu cha mẹ; lắng nghe ý kiến của con cái, luôn công

b ng và quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, các mối quan hệ bạn bè của con

Từ khi sinh ra, con cái luôn gắn bó, biết ơn đấng sinh thành nuôi dưỡng

với tình cảm quý trọng: “Phụ tử tình thâm” “Xương cha, da mẹ” “Cá chuối

đắm đuối vì con”… Là con phải thể hiện tấm l ng biết ơn đối với cha mẹ, là

niềm tự hào của cha mẹ Đạo làm con luôn mang ơn công sinh thành, tiếp nhận giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội để trở thành người có tài, có đức; là công dân tốt biết cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước, xã hội; biết làm việc nhân, điều thiện, tích đức tâm, Điều đó xuất phát từ việc thờ cúng

tổ tiên, thể hiện tấm l ng ghi ơn “Uống nước nhớ nguồn”

Trong xã hội hiện đại, mối quan hệ này vẫn c n nhiều bất cập Cha mẹ

ít nói chuyện, trao đổi với con cái, không hiểu được tâm tư, tình cảm và những mối quan hệ xung quanh con Guồng quay của xã hội đã khiến cho

Trang 31

những bậc làm cha làm mẹ quá bận rộn trong việc kiếm tiền, không có thời gian để nói chuyện với con cái để hiểu được tâm tư nguyện vọng của các con

Sự giao tiếp bị hạn chế chính vì vậy vô hình tạo nên khoảng cách lớn giữa cha

mẹ và con cái

Công nghệ thông tin phát triển, điện thoại thông minh tích hợp nhiều ứng dụng, máy tính, ipad , internet phát triển tốc độ cao, việc gặp gỡ tr chuyện chỉ c n là trên giấy bút, văn thơ xưa mà thôi Thời công nghệ số đã khiến cho những bậc làm cha làm mẹ từ làm việc cho đến giao tiếp chỉ b ng máy tính và các trang mạng xã hội

Không chỉ dừng lại ở đó bây giờ trẻ con c ng thế, chúng giống bố mẹ tiết kiệm mọi thứ b ng cách chỉ chăm chú vào chiếc điện thoại mà bố mẹ chúng đưa cho và cứ thế chúng ngồi im hàng giờ, nói chuyện với người lớn

c ng ch ng c n lễ phép như xưa, chúng buông th ng nhưng câu chuyện đáp lại lời người lớn b ng những câu nói “trống không” Xã hội hiện đại con người lại khiến con người càng xa dần nhau và khoảng cách ngôn ngữ giao tiếp c ng vì thế mà cứ xa dần như hai đầu của vô cực

2.2.1.3 Giao tiếp trong quan hệ giữa anh chị em trong gia đình

Mối quan hệ giao tiếp giữa anh chị em trong nhà được nhiều gia đình quan tâm, đề cao:

“Anh em như chân, như tay Như chim liền cánh, như cây liền cành”

Mối quan hệ ruột thịt ấy rất thiêng liêng: “Cắt dây bầu dây bí - Chẳng

ai cắt dây chị dây em” Cách ứng xử bao đời vẫn là: “Chị ngã, em nâng” Đó

là một nét đẹp trong giao tiếp gia đình của người Việt cần giữ gìn, phát huy và lên án những người không giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa anh chị em trong gia đình

Sống giữa l ng Thủ đô đầy biến động, mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình vẫn xảy ra mâu thuẫn kể cả khi bố mẹ quan tâm rất nhiều đến mối quan hệ giữa các con và để ý đến cảm xúc của chúng, mong điều h a mối

Trang 32

quan hệ đó thật tốt Bởi, con người có hoàn hảo đến thế nào đi chăng nữa thì vẫn có một chút ích kỷ, đố kỵ tồn tại trong con người Với những người càng trẻ, trải nghiệm chưa nhiều, khả năng kiềm chế cảm xúc chưa tốt, hiếu thắng

và mong muốn thành công, được người khác chấp nhận càng cao thì càng dễ ganh đua với người khác

2.2.1.4 Giao tiếp trong quan hệ vợ chồng

Nhiều nhà nghiên cứu đã kh ng định: “Quan hệ vợ chồng là mối quan hệ

cơ bản, chủ yếu trong việc xây dựng, giữ gìn, bồi đắp hạnh phúc gia đình của người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng” Cả hai đều quan trọng

“Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Chính vì sự tiến bộ trong nhận thức về quyền bình đ ng trong xã hội đã khiến cho địa vị người phụ nữ trong gia đình

và ngoài xã hội có nhiều thay đổi Với phẩm chất thanh lịch của người Hà Nội, người đàn ông trong gia đình luôn tôn trọng, nhường nhị, quan tâm, chia sẻ công việc gia đình với vợ nhiều hơn

Trong cuộc sống gia đình, vợ chồng luôn đồng cảm, thấu hiểu và giúp

đỡ nhau trong công việc c ng như đời sống xã hội nh m giải tỏa cho nhau những căng th ng về tâm lý, chia sẻ để hiểu nhau nhiều hơn Nhờ đó gia đình luôn hạnh phúc, tránh những cãi vã, hiểu lầm không đáng có

“Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”

Tuy nhiên trong cuộc sống vội vã của người Hà Nội, những căng th ng nơi công sở cùng với thời gian chung sống đã lâu đã khiến cho việc giao tiếp giữa vợ và chồng có nhiều hạn chế Thay vào đó là những xung đột, những mâu thuẫn nảy sinh xuất hiện trong những cuộc cãi vã, những phán xét cá nhân, những hoài nghi do thiếu tiếng nói chung Vợ chồng khó giao tiếp với nhau có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống gia đình

2.2.1.5 Giao tiếp trong bữa cơm gia đình

Làm nên một Hà Nội thanh lịch là sự vun đắp, xây dựng của chính những người Hà Nội Nền tảng cơ bản văn hóa giao tiếp của người Hà Nội có trong mỗi gia đình, đôi khi không phải từ những gì to tát mà nó hiển hiện

Ngày đăng: 28/08/2019, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w