1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “vợ nhặt” (ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực

95 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin khẳng định bài khóa luận tốt nghiệp “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” Ngữ Văn 12 theo hướng phát triển năng lực” l

Trang 1

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn

Người hướng dẫn khoa học:

Ths.GVC NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có thể thực hiện thành công bài nghiên cứu này, tôi đã được giúp đỡ nhiệt tình, sự chỉ bảo tận tâm của các thầy cô trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt hơn cả là các thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp dạy học

Tôi cũng xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương, cô đã tận tình chỉ dạy và dẫn dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện bài nghiên cứu này

Tôi cũng xin bày sự cảm ơn sâu sắc và trân trọng nhất tới gia đình, bạn

bè và người thân đã luôn ở bên cạnh trợ giúp, là nguồn động lực và ủng hộ để tôi có thể hoàn thành được khóa luận này!

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Mạc Thị Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin khẳng định bài khóa luận tốt nghiệp “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Khóa luận đã kế thừa những thành tựu của các bài nghiên cứu trước đó

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Mạc Thị Yến

Trang 4

MỘT SỐ CỤM TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

HĐTN : Hoạt động tải nghiệm TNST : Trải nghiệm sáng tạo SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên

GS : Giáo sƣ PGS.TS : Phó giáo sƣ tiến sĩ ThS : Thạc sĩ

GV : Giáo viên

HS : Học sinh THPT : Trung học phổ thông THV : Tập huấn viên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Dự kiến đóng góp 4

9 Bố cục khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN 12) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 5

1.1 Hoạt động trải nghiệm 5

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm 5

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm 5

1.1.3 Những hình thức hoạt động trải nghiệm 8

1.2 Dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 13

1.2.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực học sinh 13

1.2.2 Một số biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh 14

1.3 Văn bản tự sự và đặc điểm văn bản tự sự của Kim Lân 15

1.3.1 Khái niệm văn bản tự sự 15

1.3.2 Đặc điểm của văn bản tự sự của Kim Lân 16

Trang 6

1.3.3 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vợ nhặt của Kim Lân trong nhà trường THPT hiện nay 18 1.3.4 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” theo định hướng phát triển năng lực 19

1.4 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12) 23

1.4.1 Năng lực chung 23 1.4.2 Năng lực đặc thù 24

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO

HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN 12)

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 26

2.1 Văn bản Vợ nhặt của Kim Lân trong chương trình Ngữ văn lớp 12 26 2.2 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản bản “Vợ nhặt”

(Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực 28

2.2.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học 28 2.2.2 Hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học 34

2.3 Ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn

12) 36 CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38 KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngữ văn được xem như là một bộ môn chính đóng vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông Bác Hồ đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là kẻ bỏ đi; người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Từ bao đời nay, đạo đức, cách sống luôn được nhân dân ta đề cao, coi trọng Trong nền giáo dục Việt Nam, ngữ văn giữ vị trí then chốt để rèn luyện con người có lối sống lành mạnh Vì thế mà môn học này là vô cùng cần thiết Tuy nhiên thực trạng hiện nay trong nhà trường phổ thông một số học sinh hay thậm chí cả giáo viên lại xem nhẹ môn học này Có những giáo viên cho học sinh của mình sử dụng một cách lạm dụng văn mẫu dẫn tới việc có nhiều bài văn giống nhau Điều này đã vô tình làm mất đi sự tư duy sáng tạo của học sinh Do đó học sinh trở nên lạnh nhạt trước các văn bản văn học nói chung và các văn bản truyện ngắn hiện thực nói riêng Dẫn tới tình trạng học đối phó, làm bài tập chống đối mà không hề hiểu bản chất của văn bản văn học

Đọc hiểu văn bản văn học nói chung và đọc hiểu văn bản truyện ngắn hiện thực nói riêng, đặc biệt là văn bản “Vợ Nhặt”, với nhiều học sinh đã không còn hứng thú nữa Nguyên nhân bắt nguồn từ sự lạnh nhạt ta nói ở trên trong học tập, bên cạnh đó là phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp với thực tế Chưa tạo được cho HS sự hào hứng trong học tập, gây cảm giác nhàm chán

Từ thực tế này nên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vợ nhặt của Kim Lân theo định hướng phát triển năng lực”

Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh là hoạt động học tập mà

từ đó chúng ta có thể phát huy được những năng lực cần có cho HS Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho HS tự học, tự phát triển cá nhân theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Chính vì vậy mà chúng tôi thấy đề tài này có vai trò rất thiết thực trong việc giảng dạy theo hướng phát triển năng lực

HS

Trang 8

Chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một chút nhỏ trong đổi mới môn học Ngữ văn, mong rằng tác phẩm sẽ được tiếp xúc gần hơn đối với cả giáo viên và học sinh trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

- Tạp chí Giáo dục tác giả Đào Thị Minh Ngọc- Nguyễn Thị Hằng có

viết: “Việc vận dụng lí thuyết học tập trải nghiệm vào hoạt động trải nghiệm trong môn học có thể linh hoạt nhưng cần đảm bảo đầy đủ các bước của học tập trải nghiệm; đồng thời giáo viên cũng tham gia với vai trò là người chỉ dẫn, thúc đẩy quá trình học tập; học sinh cần được tự trải nghiệm, thử và sai;

từ đó đúc kết nên kinh nghiệm mới của bản thân Bài báo đề cập đến những vấn đề trọng tâm nhất của các mô hình học tập trải nghiệm cổ điển và lí thuyết học tập trải nghiệm Từ đó đưa ra một số định hướng vận dụng vào thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn học”

- Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng

phát triển năng lực) được nói đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục theo hướng phát triển năng lực để phát triển năng lực người học Mục đích của chương trình này là phát triển vai trò của người học

- “Đến với giáo trình Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn Trung

học phổ thông của tác giả Đỗ Ngọc Thống (tổng chủ biên) - Bùi Minh Đức

(chủ biên) được biên soạn nhằm giới thiệu một số vấn đề lí thuyết về năng lực, phát triển năng lực, tiếp cận năng lực, phương pháp tổ chức dạy học phát triển năng lực, kiểm tra đánh giá trong giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng Bộ sách dành thời lượng lớn giới thiệu quy trình tổ chức dạy học một số chủ đề trong từng môn học với mục đích minh hoạ, cụ thể hoá việc vận dụng tiếp cận phát triển năng lực học sinh trong lựa chọn, triển khai phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh”

Khi thực hiện nghiên cứu khóa luận này Chúng tôi đã kế thừa những kết

quả nghiên cứu trước đó Chúng tôi đến với đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vợ nhặt (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực” với một tinh thần cầu thị

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu

Không ngừng trau dồi và nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học môn Ngữ Văn theo hướng đổi mới phát triển năng lực cho học sinh Hình thành phát triển tích cực sự chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh trong giờ học Ngữ văn Bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu, cảm thụ tác phẩm văn học

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích đề xuất cách thức ứng dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực Sau khi nghiên cứu đề tài này thì nó sẽ góp phần vào thực tế giảng dạy chứ không chỉ trên lí thuyết của bài học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu Khảo sát, tham khảo các công trình nghiên cứu dạy học đọc – hiểu văn bản, các công trình nghiên cứu hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Ngữ Văn Đề xuất cách thức ứng dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực

5 Đối tượng nghiên cứu

“Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vợ nhặt (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực”

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc – hiểu văn bản Cụ thể là vận dụng phương pháp này vào dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực

7 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng những phương pháp sau đây:

Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp so sánh đối chiếu

Trang 10

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Dự kiến đóng góp

Xác định quan điểm dạy học tác phẩm văn học theo hướng phát triển năng lực, cụ thể hình thức là trải nghiệm cho học sinh trong giờ học đọc – hiểu văn bản

Hệ thống hóa lý luận dạy học bằng phương pháp tổ chức trải nghiệm trong dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông

Xây dựng quy trình dạy học đọc – hiểu văn bản vận dụng hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm

Thiết kế giáo án thực nghiệm có vận dụng hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) theo hướng phát triển năng lực

Chương 3: Giáo án thực nghiệm

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN 12)

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Hoạt động trải nghiệm

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm

“Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của

cá nhân mình Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học

Hoạt động trải nghiệm không gọi là môn học mà là hoạt động giáo dục Môn học được tạo nên bởi một hoặc một vài lĩnh vực khoa học nên nội dung của

nó được cấu trúc chặt chẽ còn hoạt động giáo dục sử dụng tích hợp kiến thức,

kỹ năng của nhiều lĩnh vực để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình” [11] Hoạt động trải nghiệm là những việc làm có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình nhận thức, khám phá đối tượng Trong quá trình này người học không những lĩnh hội được năng lực thực hiện mà còn có được những trải nghiệm về mặt tâm lí, ý chí và nhiều trạng thái về mặt cảm xúc khác nhau

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm

Để học tập trải nghiệm cần có các nguyên tắc xây dựng cụ thể, để từ đó mỗi GV có cơ sở xây dựng được các bài học học tập phù hợp nhất, gặt hái được hiệu quả tốt nhất trong giảng dạy

Các nguyên tắc để xây dựng thành công các bài dạy theo hướng học tập tải nghiệm gắn với phát triển năng lực ở người học như sau:

1.1.2.1 Gắn với các tình huống từ thực tiễn đời sống

Học tập trải nghiệm được hiểu rộng là các tình huống hoặc bối cảnh có

ý nghĩa vận dụng những kiến thức đã được học để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và mang ý nghĩa nhất định

Trang 12

Học tập trải nghiệm gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống yêu cầu người học phải mạnh dạn hòa nhập bản thân vào thực tế Hơn nữa các nội dung học tập trải nghiệm phải có ý nghĩa mở rộng, hướng tới mục đích của học tập trải nghiệm

Nhằm tạo ra những con người ưu tú có cả tài và đức để xây dựng đất nướ thì việc đưa HS tiếp xúc gần hơn với thực tế, xã hội sẽ trau dồi vốn hiểu biết từ đó có được kĩ năng và tri thức cần thiết

1.1.2.2 Chủ đề trải nghiệm phải nằm trong “tầm với” kiến thức của học sinh

Các chủ đề của trải nghiệm không nên đi quá xa nội dung kiến thức của

HS Kiến thức phải trong “tầm với” kiến thức học sinh đã được lĩnh hội trong quá trình học tập, những kiến thức liên quan trong chương trình SGK

Như vậy mới làm cho học sinh tự thấy tin tưởng bản thân mình trong việc giải quyết vấn đề được đặt ra từ đó năng lực người học sẽ dần được nâng cao

1.1.2.3 Giáo viên chỉ là người hỗ trợ, hướng dẫn

Trong các hoạt động trải nghiệm, GV đóng vai là người hỗ trợ, hướng dẫn, nâng đỡ học sinh còn sự tham gia hoạt động, giải quyết vấn đề và nâng cao kĩ năng sống lại đòi hỏi ở người học

GV và HS phải coi kiến thức trước hết là để nhớ, đồng thời việc lĩnh hội kiến thức cũng coi như việc khám phá một trò chơi, là niềm vui trong học tập và dạy học HS lĩnh hội kiến thức giống như công việc mà chúng tự tay làm được và gặt hái “trái ngọt” do tự tay chúng gieo trồng

1.1.2.4 Chọn được nội dung cho phù hợp với việc hoạt động trải nghiệm

Bài học học tập trải nghiệm được thiết kế để trang bị cho học sinh đầy

đủ các yếu tố: kiến thức, kĩ năng, giá trị và cả cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống

Vì thế mà ngay từ ban đầu khi GV thiết kế giáo án phải chọn được một nội dung phù hợp

Trong quá trình thực hiện trải nghiệm giáo viên phải luôn luôn bám sát vào giáo án để đạt được hiệu quả cao

Trang 13

1.1.2.5 Không quá nặng kiến thức

Qua bài học đó học sinh phải nắm chắc được nội dung cơ bản, tự hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vận dụng của mình Điều quan trọng là khi kết thúc mỗi bài học thì HS hiểu được và nắm được những kiến thức cơ bản và những

kĩ năng mà bài học muốn gửi gắm

GV luôn có tâm thế là ôm quá nặng kiến thức để truyền đạt cho học sinh vì thế mà bài học thường bị quá tải về kiến thức và thời gian, vì thế mà việc có được nội dung trọng tâm để HS vừa có được kiến thức cơ bản và kĩ năng vận dụng là vô cùng cần thiết

1.1.2.6 Cân đối giữa chiều sâu kiến thức và bề rộng vận dụng

Việc cân đối giữa chiều sâu kiến thức và bề rộng vận dụng trong cuộc sống cũng rất quan trọng Để đảm bảo bài học đầy đủ về chiều sâu và bề rộng

là một việc làm tương đối khó khăn bởi trong một tiết học thì thời lượng kiến thức có hạn

Tuy nhiên đòi hỏi giáo viên phải biết dùng triệt để lợi thế mà trải nghiệm có thể làm được từ đó thiết kế bài học sao cho phù hợp với thời gian

và nội dung kiến thức chuyên sâu đồng thời có thêm những mở rộng và liên

hệ với thực tiễn cuộc sống sẽ làm giờ học phong phú và hấp dẫn hơn

1.1.2.7 Kiến thức đi dần từ thấp lên cao

Để đạt được hiệu quả trong giảng dạy và học tập thì nội dung kiến thức phải được sắp xếp từ thấp lên cao, phù hợp với trình tự kiến thức Biến tiết học theo dạng một chiếc tháp, bên dưới là những kiến thức mang tính cơ bản, càng lên cao thì kiến thức cũng tỉ lệ thuận với chiều cao của tháp Việc học tập này sẽ làm cho học sinh không bị bỡ ngỡ, chúng sẽ có những kiến thức nền để làm bàn đạp hiểu được những kiến thức nâng cao hơn, nắm được bản chất của vấn đề

1.1.2.8 Học sinh phải được trải nghiệm ý nghĩa của bài học

Học sinh phải được trải nghiệm ý nghĩa của bài học, tự xác định và giải quyết vấn đề Ở phương pháp này các em đóng vai trò trung tâm, các em không còn bị phụ thuộc hay thụ động trong chính tiết học của mình

Trang 14

Từ nhu cầu cần phải giải quyết vấn đề nào đó được đặt ra mà việc học này được hình thành Sau quá trình mà học sinh tự giải quyết, HS sẽ tự điều chỉnh lại kiến thức sao cho phù hợp với bản thân

1.1.2.9 Môi trường học tập phải mang tính cộng đồng

“Nguyên tắc này muốn nói tới sự hợp tác của học sinh trong quá trình học tập Hay nói cách khác là cách làm việc nhóm để đảm bảo sự khách quan, học hỏi lẫn nhau cũng như học cách làm việc và chung sống với người khác”

1.1.3 Những hình thức hoạt động trải nghiệm

Có rất nhiều hình thức để tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông hiện nay đa dạng và phong phú Cùng một chủ đề hay đề tài nào đó mà tùy vào lứa tuổi, điều kiện kinh tế hay điều kiện địa lí của từng trường, từng địa phương để tổ chức các hình thức hoạt động khác nhau

Cũng chính việc đa dạng các hình thức tổ chức mà đạt được những hiệu quả nhất định Học sinh và giáo viên được thực hiện một cách rất tự nhiên và sinh động Các bài học không còn khô khan thay vào đó là phù hợp với tâm sinh lí cũng như nhu cầu của học sinh

Các hình thức tổ chức trải nghiệm trong nhà trường phổ thông hiện nay bao gồm:

1.1.3.2 Tổ chức các trò chơi

Trang 15

Hoạt động giải trí của con người bao gồm trong đấy là tổ chức các trò chơi Trò chơi không chỉ giúp con người xả stress mà còn là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống

Việc chọn trò chơi phù hợp với việc học tập sẽ phát huy tối đa được kĩ năng của người học và trở thành phương tiện học tập hữu ích

Những thuận lợi mà trò chơi mang lại rõ ràng nhất là tạo được sự hào hứng cho học sinh, phát huy tính tích cực và sáng tạo từ đó mà học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức có tinh thần nhanh nhẹn hơn trong việc xử lí vấn đề

Thuận lợi là vậy nhưng tổ chức trò chơi cũng gặp không ít những khó khăn như địa điểm tổ chức, thời gian tổ chức sao cho phù hợp với chương trình chuẩn

Một số trò chơi được sử dụng nhiều trong các trường phổ thông hiện nay như: “trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi mô phỏng game truyền hình”

Tổ chức các cuộc thi để có thể hấp dẫn người học và người tham gia nói chung đòi hỏi người tổ chức phải đầu tư trí óc Vì nếu cuộc thi chỉ mang tính hình thức thì hiệu quả đạt được sẽ không bộc lộ được năng lực người học

Cuộc thi có nhiều cách tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như:

“Thi giải ô chữ, đố vui về các địa danh trên đất nước ta, hội thi kể chuyện theo tranh về môi trường”, …

Mỗi một chủ đề tổ chức có thể bao gồm nhiều nội dung giáo dục khác nhau gắn với chương trình giáo dục và đồng thời giáo dục kĩ năng sống

1.1.3.4 Tổ chức các câu lạc bộ

Trang 16

Đây là hình thức hoạt động với sự tham gia của một nhóm học sinh có chung mục đích, nhu cầu hoặc năng khiếu Tuy nhiên sự hoạt động này phải dựa trên sự giám sát và định hướng của nhà trường Hoạt động này tạo ra một môi trường thân thiện, học sinh giao lưu trao đổi với nhau trên tinh thần mạnh dạn, không những thế sự giao lưu của học sinh với giáo viên cũng từ đây mà được cải thiện

Hoạt động này được tiến hành theo một lịch định kì nhất định với các chủ đề luôn được đổi mới: “câu lạc bộ về biến đổi khí hậu, câu lạc bộ xanh”

Để duy trì hoạt động cần có những quy định về nguyên tắc nhất định:

“tinh thần, thời gian, địa điểm, sự công bằng, sự công hiến sáng tạo, tôn trọng, bình đẳng”

1.1.3.5 Sinh hoạt tập thể

Một trong những hình thức tổ chức quen thuộc diễn ra khá thường xuyên chính là hình thức sinh hoạt tập thể Hình thức tổ chức này có sự gắn kết cao, là yếu tố quan trọng duy trì và phát triển phong trào đoàn thanh thiếu niên

1.1.3.6 Lao động công ích

Là hình thức hoạt động mang tính tập thể cao Có thể được tổ chức ở nhiều địa điểm khác nhau trong khuôn viên nhà trường hoặc làng xóm như:

“Vệ sinh vườn trường, sân trường lớp học; vệ sinh đường làng ngõ xóm, trồng

và chăm sóc vườn hoa, chăm sóc và bảo vệ di tích lịch sử, các công trình công cộng, di sản văn hóa” …

Tuy nhiên việc lao động công ích phải xuất phát từ việc làm của mỗi cá nhân, cái tâm của mỗi người góp sức mình để tham gia xây dựng, tu bổ công trình công trình công cộng vì lợi ích chung của cộng đồng nhằm bảo tồn các công trình, biết yêu quý giá trị lao động cũng như có những hành động cần thiết để bảo vệ, phòng chống khắc phục hành động chưa đúng đắn

1.1.3.7 Tổ chức tham quan dã ngoại

Được xem như một hình thức có hiệu quả nhất bởi tính thực tiễn và hấp dẫn học sinh

Trang 17

Các hình thức tham quan dã ngoại mà hiện nay được các nhà trường phổ thông ở thành phố lựa chọn để giáo dục trong môn Địa Lí: “Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nhà máy, xí nghiệp; tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề, tham quan các viện bảo tàng, tham quan

Cũng từ đó các bậc phụ huynh, thầy cô giáo thấu hiểu nhu cầu, sở thích của các em để từ đó tìm ra những giải pháp cho phù hợp để xây dựng biện pháp giáo dục cho phù hợp

Với cách thức tổ chức diễn đàn như thế này yêu cầu về mặt thời gian,

sự công phu từ người diễn thuyết đồng thời dễ đi lạc hướng Bởi vậy giáo viên cần xây dựng chương trình cụ thể khoa học và có tính định hướng để nhằm đi đúng mục đích giáo nhằm phát triển năng lực ở người học

1.1.3.9 Giao lưu

Đây là hình thức đặc biệt khó lẫn với những hình thức khác “Đó là giao lưu phải có đối tượng là những nhân vật điển hình có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực nào đó thực sự là tấm gương sáng cho các em noi theo, phù hợp với hung thú của học sinh Thu hút sự tham gia đông đảo cũng như hung thú của học sinh”

Đồng thời, đòi hỏi sự trao đổi thông tin tình cảm chân thực những vấn

đề cần thiết liên quan tới nội dung học tập và hứng thú của các em

1.1.3.10 Tổ chức sự kiện

Trang 18

Các hình thức tổ chức sự kiện quen thuộc thường bắt gặp trong nhiều nhà trường phổ thông như: “Lễ khai mạc, nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ vinh danh học sinh có thành tích xuất sắc, buổi triển lãm về biển đảo, hội diễn khoa học, hoạt động học tập thực tế du lịch khảo sát thực tế, tìm hiểu di sản văn hóa, về phong tục tập quán, khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài” …

Việc tổ chức sự kiện đòi hỏi sự công phu cũng như chuẩn bị kĩ càng ở

cả học sinh và giáo viên làm sao để học sinh biết hợp tác với nhau làm việc nhóm hiệu quả và kĩ năng giải quyết vấn đề thực tế ngay trong quá trình tổ chức sự kiện

1.1.3.11 Hoạt động chiến dịch

Mỗi chiến dịch mang một chủ đề định hướng học tập trải nghiệm như:

“Chiến dịch giờ trái đất, chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học, chiến dịch ứng phó với biến đổi khí hậu, chiến dịch bảo vệ rừng ngập mặn, chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn” …

Quy mô của hoạt động chiến dịch có thể trong không gian nhà trường hoặc ngoài nhà trường Việc tổ chức có thể diễn ra thường xuyên nhưng phải phù hợp với điều kiện địa phương và nhà trường và đảm bảo những vấn đề đó

là vấn đề lâu dài có tính cấp thiết và giáo dục cao

1.1.3.12 Sân khấu tương tác

“Là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi người tham gia Phần diễn chính là một cuộc chia tay thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay

sự tham gia của khán giả”

“Nội dung của sân khấu tương tác là các vấn đề, những điều trực tiếp tác động tới cuộc sống của học sinh Học sinh tự chọn ra vấn đề bức thiết, các

em tự xây dựng kịch bản và cuối cùng là chọn ra những diễn viên cho vở diễn

đó để thực hiện và sẽ không có sự giúp đỡ từ bên ngoài Sân khấu tương tác

có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học hoặc rộng hơn là phạm vi toàn trường”

Trang 19

Bên cạnh 12 hình thức tổ chức trên còn có hình thức tổ chức: “thí nghiệm, điều tra, hoạt động tình nguyện” … Mỗi hình thức tổ chức đều có những ưu

và nhược điểm nhất định nhưng tựu chung lại đều nhằm mục đích giáo dục không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng nhằm phát triển năng lực ở người học Rèn luyện tính tự tin, tính sáng tạo và tư duy có vấn đề

1.2 Dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực cho học sinh

1.2.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực học sinh

1.2.1.1 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của người học

“Giáo viên phải chú ý hình thành cho học sinh cách học tự học, từ phương pháp tiếp cận, phương pháp đọc hiểu đến cách thức tạo lập văn bản

và nghe – nói, thực hành luyện tập và vận dụng nhiều kiểu loại văn bản khác nhau để sau khi rời nhà trường các em có thể tiếp tục học suốt đời và có khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống”

GV đóng vai là người tổ chức, hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ để các em tưng bước lĩnh hội kiến thức và hình thành phát triển năng lực, phẩm chất mà giáo dục mong đợi

Bên cạnh đó GV còn phải là người khơi gợi, vận dụng vốn hiểu biết và những kinh nghiệm đã có sẵn ở bản thân học sinh về vấn đề đang tìm hiểu, từ

đó để cho các em có cơ hội tìm tòi và khám phá để tự bản thân các em bổ xung, hoàn thiện những điều ấy GV đồng thời phải là người khuyến khích, giống như chất xúc tác để các em tranh luận và trao đổi, tự đặt câu hỏi cho mình và người khác

1.2.1.2 Nguyên tắc dạy học tích hợp và phân hóa

Dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên trước hết hiểu được mối quan hệ trong nội môn (nghe, nói, đọc, viết), từ đó nội dung bài học có liên quan sẽ được lặp lại ở các nội dung

Cùng với yêu cầu tích hợp nội môn, trong khi dạy giáo viên còn phải biết tận dụng các cơ hội để lồng ghép các yêu cầu giáo dục liên môn: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân

Trang 20

Dạy học phân hóa có thể thực hiện bằng nhiều cách: nêu câu hỏi, bài tập theo các mức độ khác nhau, yêu cầu học sinh đều phải làm và được lựa chọn yêu cầu phù hợp với khả năng của mình

1.2.1.3 Nguyên tắc đa dạng hóa các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học

“Theo nguyên tắc này giáo viên cần tránh máy móc dập khuôn, không tuyệt đói hóa sử dụng một phương pháp trong dạy học mà vận dụng các phương pháp phù hợp với đối tượng, bối cảnh, nội dung và mục đích của giờ học”

Cần mở rộng không gian dạy học, không chỉ giới hạn trong lớp học mà

mở rộng ra một số nơi như thư viện, sân trường, bảo tàng, khu lịch sử di tích,

…Có thể cho các em đi tham quan, dã ngoại, cho các em tự ghi chép những gì các em đã được nhìn thấy, đã tìm hiểu được sau đó viết báo cáo và trình bày

Tổ chức các hoạt động dạy học sao cho khi kết thúc mỗi giờ học, các em đạt được những yêu cầu cần đạt mà chương trình đã đề ra

1.2.2 Một số biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh

1.2.2.1 Biện pháp tổng quan về văn bản

Mục tiêu: Nhằm phát triển một yếu tố trong cấu trúc bề sâu của năng lực đọc hiểu văn bản là khả năng sẵn sàng huy động và vận dụng các tri thức nền để quan sát tổng thể nhằm phỏng đoán và đánh giá nội dung và hình thức của văn bản trước khi HS bước vào hoạt động đọc Áp dụng biện pháp này,

GV sẽ giúp HS biết sử dụng khoảng thời gian cần thiết để nhận ra đối tượng mình chuẩn bị đọc hiểu thuộc thể loại nào, từ đó cho mình cách tìm hiểu phù hợp Ngoài ra, biện pháp này còn tạo tâm thế đọc, kích hoạt những tri thức cần thiết để biết về văn bản để hoạt động đọc có thể diễn ra dễ dàng và hiệu quả hơn

1.2.2.2 Biện pháp kết nối, trải nghiệm

Một trong những yếu tố quan trọng của cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản là khả năng hệ thống những tri thức nền liên quan đến văn bản Áp dụng biện pháp kết nối, trải nghiệm chính là biện pháp để phát triển thành tố năng

Trang 21

lực quan trọng đó Thông qua biện pháp này, GV sẽ giúp HS huy động những tri thức, trải nghiệm, để liên hệ, kết nối với những điều đang được học

1.2.2.3 Biện pháp đóng vai

Mục tiêu của biện pháp là giúp học sinh nhập vai vào tác giả để thảo luận và trả lời những câu hỏi liên quan đến văn bản đang đọc hiểu như quá trình sáng tác, mục đích, ý tưởng, …nghĩa là phát triển yếu tố nhận biết các thông tin về tác giả và đặc điểm văn bản trong cấu trúc bề nổi của năng lực đọc hiểu văn bản

Biện pháp này tạo nên sự hấp dẫn, sinh động cho giờ học, giúp học sinh khám phá văn bản từ vị trí của nhà văn từ đó HS có thể hiểu đúng hơn, sâu hơn những thông điệp nhà văn phản ánh trong văn bản

1.3 Văn bản tự sự và đặc điểm văn bản tự sự của Kim Lân

1.3.1 Khái niệm văn bản tự sự

Mặc dù là thể văn phổ biến được sử dụng thông dụng nhưng không nhiều người nắm được khái niệm, định nghĩa văn bản tự sự là gì “Văn bản tự

sự còn gọi là văn bản kể chuyện, là phương thức trình bày các chuỗi sự việc, hiện tượng, từ sự việc hiện tượng này dẫn đến sự việc hiện tượng kia cuối cùng dẫn đến một kết quả thể hiện một ý nghĩa nào đó” [7]

“Nhân vật: Nhân vật trong văn tự sự là kẻ thực hiện các sự việc và là

kẻ được thể hiện trong văn bản Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng của văn bản, nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động Nhân vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm” [7]

“Sự việc: Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: sự

việc xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả, … Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt” [7]

“Chủ đề: Mỗi câu chuyện đều mang một ý nghĩa xã hội nhất định Ý

nghĩa đó được toát lên từ những sự việc, cốt truyện Mỗi văn bản tự sự thường

Trang 22

có một chủ đề; cũng có văn bản có nhiều chủ đề, trong đó có một chủ đề chính” [7].

“Lời văn tự sự: chủ yếu là kể người, kể việc Khi kể người thì có thể

giới thiệu tên, lai lịch, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật Khi kể việc thì

kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại” [7]

“Thứ tự kể: Khi kể chuyện, có thể kể các sự việc liên tiếp nhau theo thứ

tứ tự nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cho đến hết” [7]

“Ngôi kể: Người đứng ra kể chuyện có thể xuất hiện dưới nhiều hình

thức khác nhau, với những ngôi kể khác nhau Ngôi kể trong văn tự sự có thể

là ngôi thứ nhất, bộc lộ được những tâm tư tình cảm, suy nghĩ trực tiếp của nhân vật một cách sâu sắc; có thể được kể theo ngôi thứ ba, thể hiện được sự khách quan với câu chuyện được kể, phạm vi câu chuyện được kể trong không gian lớn hơn và có thể cùng lúc Người kể giấu mình nhưng lại có mặt khắp nơi trong văn bản” [7]

“Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, như giới thiệu nhân vật tình huống, tả người, tả cảnh, đưa ra các nhận xét, đánh giá hay bộc lộ thái độ, cảm xúc trước những điều được kể” [7]

1.3.2 Đặc điểm của văn bản tự sự của Kim Lân

Kim Lân là một cây bút thành công trong sáng tác thể loại truyện ngắn

tự sự Tuổi thơ của ông khá vất vả, nhà nghèo, ông không được học hành đến nơi đến chốn, phải nghỉ học đi phụ việc để giúp đỡ gia đình Ông ham học hỏi

và quan sát từ nhỏ nên vốn hiểu biết khá đa dạng Chính sự hiểu biết của ông, khi bắt tay vào viết văn ông đã gặt hái được nhiều thành công Ông thành công nhất khi viết về đề tài người nông dân với những con người bé nhỏ với

vẻ đẹp chân chất, bình dị và những phong tục tập quán độc đáo của làng quê Phong cách sáng tác văn của ông nổi bật ở hai giai đoạn đó là trước Cách mạng Tháng Tám và sau Cách mạng Tháng Tám

 Trước Cách mạng Tháng Tám

Trang 23

Kim Lân thành công bởi những “truyện ngắn viết về phong tục tập quán” của vùng quê Kinh Bắc.Thành công ở đề tài này vì ông đã có vốn am hiểu cặn kẽ Mỗi trang văn ông viết ra vừa quen lại vừa mới lạ Con người trong tác phẩm của ông dù nghèo nhưng không không thô kệch như phong cách sáng tác của những tác giả khác Những sáng tác của ông mang đậm tính

tự nhiên nhưng vẫn độc đáo và mới lạ Tác phẩm của ông như mang đến làn gió mới cho đề tài người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám, đồng thời cũng giúp người đọc hiểu thêm về phong tục tập quán của vùng Kinh bắc cũng như yêu mến con người nơi đây

 Sau Cách mạng Tháng Tám

Đây được coi như một giấu mốc lịch sử của đất nước Đánh dấu bước chuyển mình của dân tộc Văn học ở thời kì này cũng có những thay đổi lớn Các nhà văn từ tên tuổi đến chưa tên tuổi đều thay đổi về suy nghĩ, từ đó phong cách sáng tác cũng có nhiều điểm mới Kim Lân cũng nằm trong những nhà văn như vậy Ông ý thức được sâu sắc hơn trách nhiệm của nhà văn Những trang viết của ông có sự thay đổi xuất sắc về nhận thức, tình cảm cũng như sự đổi đời của người nông dân, người lao động nghèo Tác phẩm được coi là tiêu biểu nhất trong gia đoạn này là 2 tác phẩm “Làng” và “Vợ nhặt” Đây là hai tác phẩm xuất sắc trong số truyện ngắn hiện đại Vì vậy mà

cả hai tác phẩm đều được đưa vào chương trình SGK hiện hành

Kim Lân cũng viết về đời sống nông thôn Việt Nam sau cách mạng nhưng ông không giống như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan Ông chủ yếu viết về làng quê bình dị từ khía cạnh phong tục, sinh hoạt văn hóa, những câu chuyện bình dị hằng ngày Truyện ngắn của ông miêu tả rất chân thực, tinh tế, làm cho những tác phẩm có cách hấp dẫn riêng

Khi đọc truyện “Vợ nhặt”, chúng ta như đang cảm nhận, như nhìn thấy được làng xóm, cỏ cây, nhuộm trong màu chết chóc của đói nghèo Con người hiện lên trên bờ vực của cái chết, tranh giành nhau từng gang tấc để có được

sự sống “Vợ nhặt” đã làm nổi bật lên số phận bi thảm của người nông dân,

họ sống không khác nào những ngọn đèn leo lét chỉ trực tắt

Trang 24

“Vợ nhặt” khẳng định khả năng viết truyện ngắn của Kim Lân.Với những dòng miêu tả chân thực, khắc họa chi tiết và nhân vật sinh động Truyện ngắn đã tố cáo tội ác của thực dân khiến hàng triệu người dân lao động rơi vào cảnh cơ cực Giá trị con người trở nên rẻ mạt như “nhặt” được ngoài chợ “Vợ nhặt” xứng đáng là một tác phẩm tự sự hay nhất về cái đói, về cuộc sống nghèo khổ của người dân lao động Việt Nam lúc bấy giờ

1.3.3 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vợ nhặt của Kim Lân trong nhà trường THPT hiện nay

“Vợ nhặt” có thể nói là một trong những văn bản có đóng góp về mặt giá trị cả về nội dung và hình thức, đồng thời có một chỗ đứng khá vững chắc trong lòng người đọc Song song với nó đây cũng là một văn bản nằm trong chương trình giáo dục hiện hành được giảng dạy và đưa vào các kì thi cho học sinh khối 12 Vì vậy việc dạy làm sao để học sinh vừa hiểu được những đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật là rất cần thiết Cũng từ đây hình thành cho học sinh cách thức, năng lực đọc hiểu những văn bản tự sự khác ngoài sách giáo khoa

Tuy nhiên việc truyền tải tác phẩm này còn có một số những hạn chế sau:

Thiết kế bài học: Xuất phát từ thực tế khi được tham gia dự giờ ở trường THPT Lạng Giang 3 (Lạng Giang – Bắc Giang) bản thân tôi thấy việc thiết kế bài học của giáo viên vẫn đi theo khuôn mẫu mang tính áp đặt rất nặng GV là người phát hiện và nêu ra vấn đề từ đây yêu cầu người học đọc hiểu tác phẩm theo sự định hướng sẵn có của GV

Có thể thấy cả câu hỏi trong SGK và thiết kế dạy học của giáo viên đều hướng cho người học đi tới một trình tự lần lượt Chính điều này dễ gây cho người học và thậm chí là người dạy cảm thấy nhàm chán, không tạo được sự hứng thú và tư duy sáng tạo của người học Những câu hỏi trong SGK và cả phần câu hỏi của giáo viên, học sinh có thể hoàn toàn sử dụng sách tham khảo

và sách học tốt để giải quyết chứ không nhất thiết phải đọc trước văn bản Lúc này, việc chuẩn bị bài ở nhà chỉ là việc phải làm trước khi đến lớp đối phó với

sự kiểm tra của giáo viên Thời lượng mỗi tiết học theo quy định là 45 phút,

Trang 25

thời lượng này là không đủ để GV thực hiện hoạt động đọc trên lớp đối với văn bản dài như văn bản “Vợ nhặt” này Vậy nếu không đọc ở nhà mà chỉ giải quyết theo kiểu đối phó như học sinh hiện nay thì hoàn toàn các em sẽ không nắm bắt được hết những kiến thức cơ bản chứ chưa đề cập đến những kiến thức nâng cao hơn

Phương pháp dạy học của GV: Các tiết học đọc hiểu văn bản cụ thể là văn bản “Vợ nhặt” thay vì người dạy tổ chức cho người học chủ động tiếp cận tìm hiểu văn bản từ chính con mắt của các em thì GV thường là người trình bày, giảng những kiến thức và cảm xúc cá nhân của mình về tác phẩm HS chỉ nghe và chép lại những gì mà người dạy đã đọc Kết quả là HS được hình thành thói quen tiếp thu tác phẩm một cách thụ động, không có ý kiến riêng, không phản biện

Đây là thực tế chung trong dạy học đọc hiểu văn bản cụ thể là văn bản

“Vợ nhặt” trong nhà trường phổ thông hiện nay

1.3.4 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” theo định hướng phát triển năng lực

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh ở các nhà trường tại các địa phương diễn ra khá phong phú và đa dạng dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau Đa số các nhà trường đều thực hiện tổ chức trải nghiệm ngoài giờ học chính khóa, với việc lên kế hoạch, lịch trình và nội dung hoạt động cụ thể Nhờ vậy, mỗi chuyến trải nghiệm đều diễn ra hiệu quả, nhanh gọn Trước đây, để tổ chức trải nghiệm cho học sinh là một việc làm rất khó khăn đối với các nhà trường vì liên quan đến nhiều yếu tố như kinh phí, thời gian, lực lượng

Những năm gần đây, nhờ sự linh hoạt và mục đích trải nghiệm nên các nhà trường đã tổ chức khá hiệu quả Các trường kết hợp với phụ huynh tổ chức các chuyến trải nghiệm gắn với đặc thù vùng miền, nhằm đưa học sinh

về với những giá trị thực tiễn ngay trên mảnh đất mà các em sống Nhờ đó, mỗi hoạt động trải nghiệm đã mang lại kết quả thiết thực, bổ ích

1.3.4.1 Thuận lợi

Trang 26

Có sự quan tâm của nhà trường gắn với các mô hình giáo dục mới Ở các tỉnh vùng cao, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được các nhà trường gắn với mô hình “Trường học đa văn hóa”, “Trường học gắn với thực tiễn” Nhờ

đó, hoạt động trải nghiệm được các nhà trường tổ chức có kế hoạch cụ thể, có mục đích và có sự phối hợp chặt chẽ với các địa phương nhằm đưa học sinh đến gần với thực tiễn, những giá trị văn hóa, những phong tục, tập quán để các em thêm yêu quê hương qua việc tìm hiểu bản sắc văn hóa cổ truyền

Trong mỗi chuyến trải nghiệm, nhà trường xác định, trải nghiệm không chỉ là quan sát, chiêm ngưỡng hay nghe giảng giải mà học sinh cần được tự tay mình làm những công việc thường ngày của cuộc sống Tuy có thể không thành thạo nhưng việc tự làm những công việc dù là nhỏ, các em sẽ cảm nhận được sự vất vả, khó nhọc và rèn luyện đức tính yêu lao động

Hoạt động trải nghiệm mang lại nhiều giá trị thực tiễn đối với các em học sinh nhà trường

1.3.4.2 Khó khăn

Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được khuyến khích tại các nhà trường phổ thông hiện nay Tuy vậy, đây là công việc không dễ thực hiện Khi các trường học bắt tay vào thực hiện sẽ gặp phải không ít khó khăn

“Thứ nhất là sự khó khăn về thời gian tổ chức Chương trình dạy học hiện nay thường kín về thời gian dạy học; nếu muốn tổ chức một hoạt động trải nghiệm bổ trợ cho môn học, chương trình học thì rất khó bố trí vào khoảng thời gian giữa các tiết học, buổi học Không thể tiến hành một hoạt động trải nghiệm trong vòng một tiết học khi phải lấy quỹ thời gian của tiết học khác Vì vậy, việc sắp xếp quỹ thời gian hợp lý cho hoạt động trải nghiệm cần được nghiên cứu và phân bố hợp lý”

“Thứ hai là yếu tố không gian, địa lý Thông thường, các địa điểm như khu di tích, bảo tàng, các địa danh hay các khu công nghiệp, nông trại thường khá xa trường học Không phải trường học nào cũng có sự thuận lợi về khoảng cách khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm, có nơi cách xa địa điểm trải nghiệm tới hàng trăm cây số Vì vậy, sẽ rất khó khăn khi tổ chức cho học

Trang 27

sinh đến học tập, thực tế khi khoảng cách địa lý không thuận lợi Một vướng mắc nữa là kinh phí thực hiện Việc tổ chức học tập trải nghiệm dù ở đâu cũng cần có khoản kinh phí nhất định để phục vụ cho hoạt động như tiền thuê

xe đưa đón, nước uống… Tuy nhiên, kinh phí dành cho hoạt động học tập trải nghiệm ở các trường phổ thông hiện nay khá eo hẹp, nhất là các nhà trường ở miền núi, vùng sâu, vùng xa”

“Thứ ba khó khăn còn xuất phát từ phía người học Khái niệm học tập trải nghiệm đối với học sinh ở nhiều địa phương hiện nay khá mới bởi lâu nay chúng ta vẫn chú trọng những tiết học trên lớp, qua kênh sách giáo khoa và kênh hình bằng các phương tiện hỗ trợ Vì vậy, nếu tổ chức các hoạt động trải nghiệm mà không có sự chuẩn bị về tâm lý và phương pháp, chắc chắn học sinh sẽ bị động khi tiếp cận đối tượng trải nghiệm hoặc sẽ biến buổi học trải nghiệm thành một chuyến tham quan”

“Thứ tư là khó khăn trong việc bảo đảm an toàn trong quá trình tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm”

“Vì vậy, để đạt được mục đích, yêu cầu và hiệu quả của hoạt động học tập trải nghiệm, cần xây dựng chương trình, kế hoạch và phương pháp tổ chức thật sự khoa học và phù hợp”

1.3.4.3 Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc tổ chức các hoạt động

trải nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12) theo

hướng phát triển năng lực

Thứ nhất: “Dạy học đọc hiểu văn bản tự sự phải tiến hành theo hướng phát triển năng lực cho HS Trong đó đọc hiểu văn bản tự sự là năng lực đặc thù Việc người dạy tiến hành thực hiện hoạt động hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản cần phải hướng tới mục đích là trau dồi và phát triển cho người học kĩ năng tự đọc hiểu một văn bản tự sự tương tự có thể nằm trong chương trình hoặc ngoài chương trình Bất kì một tác phẩm nào được học trong chương trình nhà trường đều là phương tiện để kiến tạo và phát triển năng lực đọc hiểu cho HS Vì vậy mục đích quan trọng nhất của dạy học đọc hiểu văn bản tự sự không chỉ là ghi nhớ những nội dung kiến thức cần đạt về mặt nội dung, nghệ thuật và giá trị mà còn phải hình thành cho học sinh những kĩ

Trang 28

năng để có thể đọc hiểu bất kì một văn bản tự sự nào đó tương tự với văn bản

đã được học” [5]

Thứ hai: “Khi GV tiến hành dạy đọc hiểu văn bản tự sự phải bám sát vào đặc trưng của thể loại để tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS Khi biên soạn SGK, người biên soạn đã cân nhắc và chọn lựa ra những tác phẩm được coi là tiêu biểu nhất cho từng thể loại khác nhau Tiếp nhận văn bản tự sự từ đặc trưng thể loại người học sẽ dễ dàng tiếp nhận một cách có hệ thống Từng thể loại sẽ có những đặc trưng khác nhau để khu biệt, nhưng trong một thể loại lớn sẽ chia làm nhiều thể loại nhỏ hơn bao hàm trong thể loại lớn đó HS

từ đó có thể vận dụng những kiến thức về thể loại để tiếp cận những văn bản khác cùng thể loại đó Ở hoạt động này, GV cung cấp những kiến thức cần thiết về thể loại để HS dựa vào đó đọc hiểu văn bản sẽ nâng cao được năng lực cho học sinh Việc này cũng giống như giáo viên cung cấp cho các em

“một chiếc cần câu” để các em tự lao động để có được thành quả, tránh được thực tế thụ động của HS hiện nay Từ đó học sinh có thể hiểu sâu được vấn

đề trong tác phẩm, có thể vận dụng nó để giải quyết những vấn đề tương tự trong cuộc sống” [5]

Thứ ba: “Việc GV bám sát quá trình tổ trức hoạt động trải nghiệm cho học sinh đọc hiểu văn bản là vô cùng quan trọng Nếu như theo truyền thống,

GV giảng bình thơ, truyền đạt kiến thức theo phương pháp cũ là đọc chép thì nhiệm vụ của GV hiện nay là người đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức hoạt động trải nghiệm dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực cho học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của giờ học” [5]

Thứ tư: “Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp trong tổ chức hoạt động trải nghiệm dạy học văn bản tự sự Có hai cách tích hợp kiến thức Đầu tiên là tích hợp nội môn: Đọc văn với Tiếng Việt và Làm văn tạo cho học sinh những năng lực cơ bản Năng lực đọc hiểu, năng lực tạo lập ngôn ngữ và tạo lập văn bản Quá trình mã hóa văn bản là hướng để hình thành và phát triển năng lực cho HS một cách toàn diện Khi thiết kế bài học, GV không cần chú trọng quá vào trong sách giáo khoa quá nhiều để thiết kế thành từng bài độc lập mà có thể thiết kế tích hợp các nội dung thành bài nhất định theo chủ đề nhất định

Từ bài đã thiết kế mà sẽ xác định được những năng lực có thể hình thành và

Trang 29

phát triển cho học sinh Thứ hai là tích hợp liên môn Đây là kiểu tích hợp theo hướng kết nối văn bản đang học với những lĩnh vực có liên quan như lịch sử, địa lý, giáo dục công dân…hướng tích hợp này sẽ đem đến cho HS những kiến thức sâu rộng và phong phú đồng thời hình thành năng lực tổng hợp kiến thức” [5]

Thứ năm: “Nguyên tắc cuối cùng chính là gắn đời sống thực tiễn với việc tổ chức hoạt động trải nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản tự sự Nguyên tắc này sẽ làm cho HS hiểu được những giá trị và ý nghĩa của văn bản đối với cuộc sống cả về hiện tại và trong tương lai Đó là cách đối nhân xử thế, những đạo lý cơ bản trong cuộc sống hằng ngày hoặc đơn giản hơn có thể là những kinh nghiệm được đúc rút qua bài học Hoạt động thực tiễn chính là thước đo của năng lực Để có được điều này, GV là người đóng vai trò định hướng phải tăng cường nhiều những tình huống ứng xử dưới dạng bài tập luyện tập để học sinh giải quyết vấn đề Hoạt động này có thể tiến hành độc lập thành một phần riêng hoặc đan xen vào bài dạy tùy thuộc vào khả năng của người tổ chức” [5]

1.4 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12)

1.4.1 Năng lực chung

Hiện nay việc dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh qua hoạt động tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” hình thành cho người học các năng lực chung sau:

Một là: “năng lực giao tiếp Trong đặc thù của môn học Ngữ Văn thì

năng lực này được xem như mục tiêu quan trọng và thế mạnh chung Văn bản

“Vợ nhặt” là một văn bản nghệ thuật, gặt hái được nhiều thành tựu cả về mặt nôi dung và nghệ thuật Năng lực giao tiếp xuyên suốt văn bản giúp học sinh

có thể lĩnh hội được kiến thức, phân tích được nhan đề và tình huống truyện, phân tích nhân vật của tác phẩm Thông qua năng lực giao tiếp này, học sinh

có thể vận dụng trong thực tế cuộc sống, các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết luôn luôn được luyện tập trong quá trình người học tương tác với giáo viên và chính các em với nhau khi giải quyết một vấn đề được đặt ra”

Trang 30

Hai là: “năng lực hợp tác Năng lực là là khả năng tương tác với nhau,

giữa cá thể với cá thể, cá thể với tập thể, cũng có thể là sự hỗ trợ lẫn nhau để

đi đến một kết quả cuối thống nhất về một vấn đề được đặt ra nào đó Một trong những phương pháp để hình thành năng lực này chính là phương pháp thảo luận nhóm Ở phương pháp này học sinh ở trong nhóm có cơ hội được làm việc với nhau, cùng được đưa ra ý kiến của riêng các nhân mình để mọi người xem xét và đóng góp Sản phẩm của nhóm chính là biểu hiện của năng lực này”

Năng lực này được đánh giá trên sự quan sát hoạt động nhóm của giáo viên và sản phẩm mà các em có được khi kết thúc hoạt động

1.4.2 Năng lực đặc thù

Văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ Văn 12) là văn bản tự sự nên chúng tôi hướng tới phát triển năng lực đọc hiểu văn bản tự sự, đây là một năng lực đọc hiểu quan trọng cho HS THPT

Năng lực đọc hiểu văn bản tự sự gắn với văn bản “Vợ nhặt” gồm những biểu hiện:

- HS nắm được những kiến thức trọng tâm cơ bản và cách để đọc hiểu một văn bản tự sự

- HS tiến hành đọc văn bản qua đó nắm được và chỉ ra những tình huống nghệ thuật đặc sắc của văn bản

- HS hiểu được ý nghĩa nhan đề và phân tích được hình tượng nhân vật xuất hiện trong tác phẩm

- HS qua bài học hiểu được những thông điệp, ý nghĩa, quan niệm mà tác giả gửi gắm

- HS biết cách bày tỏ ý kiến, tình cảm, thái độ của bản thân trước các khía cạnh của nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Qua văn bản HS có thể liên hệ, vận dụng vào thực tế, giải quyết các nhiệm vụ mà thực tế đặt ra

- HS hình thành được khả năng chủ động, biết cách làm việc cá nhân và hợp tác nhóm khi cần thiết để giải quyết vấn đề và nhiệm vụ đọc hiểu

- HS biết trân trọng tình cảm, có những suy nghĩ tích cực vào cuộc sống, vào tương lai cho dù trước mắt có khó khăn

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Ở chương này, tôi đã đi tìm hiểu một số vấn đề về lí luận mang tính chung và khái quát cho đề tài nghiên cứu của mình, cụ thể đó là “hoạt động trải nghiệm”, “văn bản tự sự”, “dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh” gắn với văn bản “Vợ nhặt” Có nhiều quan điểm thể hiện khác nhau nhưng tôi đã thể hiện một cách cụ thể nhất có thể

Những năng lực cần hình thành cho học sinh khi dạy học đọc hiểu văn bản này cũng bao gồm cả năng lực chung và năng lực đặc thù Khi tiến hành

tổ chức hoạt động trải nghiệm, GV với vai trò là người định hướng và hướng dẫn HS khám phá tìm hiểu văn bản sẽ phải linh hoạt để khi bước vào bài và khi kết thúc bài đạt được thành công không chỉ về mặt kiến thức mà còn về năng lực và kĩ năng Cách đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực này là biến học sinh làm trung tâm của giờ học, các em có thể phát huy hết tất cả những khả năng, kĩ năng để bày tỏ quan điểm của cá nhân, phản biện và đi đến một kết quả cuối cùng

Trang 32

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN

12) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

2.1 Văn bản Vợ nhặt của Kim Lân trong chương trình Ngữ văn lớp 12

Văn bản “Vợ nhặt” của Kim Lân được đưa vào chương trình SGK hiện

hành Ngữ Văn 12 tập 2 Kim Lân một trong những nhà văn viết truyện ngắn

từ năm 1941 Sáng tác của ông tập trung phản ánh bức tranh của nông thôn

Việt Nam và hình tượng người nông dân Dưới nòi bút tài hoa của Kim Lân,

bức tranh hiện thực của nông thôn Việt Nam cũng như nỗi niềm, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dân được thể hiện chân thực và sinh

động Vợ Nhặt là một trong những tác phẩm thành công của Kim Lân với cốt

truyện độc đáo cùng với lối dẫn chuyện hóm hỉnh hấp dẫn người đọc

Lấy cảm hứng từ nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Lân đã tái hiện lại hiện

thực bức tranh ngày đói ám ảnh trong từng câu chữ, từng trang văn của

ông Bằng ngòi bút tả thực Kim Lân đã tái hiện cảnh vật xác xơ, heo hút của

làng quê Ngòi bút của ông đã tô đậm lên bức tranh u tối, với cảnh sống đói nghèo của nông thôn Bắc Bộ những năm 1945 Ở đó không chỉ có cảnh vật mà con người cũng hiện lên lụi tàn cùng cái đói, cái nghèo Cái chết cũng được ghi lại trong âm thanh thảm thiết, tạo nên sự ghê sợ, rợn người ở đó như đang dồn đuổi sự sống của con người đến đường cùng Chỉ vậy thôi mà nhà văn như tô lại hiện thực tố cáo sự tàn ác của bọn phát xít, đế quốc thực dân với những chính sách vô cùng tàn bạo, rẻ rúng mạng sống của con người

Trong cái không gian ấy, hình ảnh con người được khắc họa lại khiến người đọc không khỏi bàng hoàng về cái đói năm 1945 ấy Sử dụng những

câu văn dài nhiều vế, kết hợp với biện pháp liệt kê Kim Lân đặc tả hình ảnh

con người sống đang lay lắt, dật dờ, sống một cuộc sống không phải cuộc

sống của con người Người chết thì “như ngả rạ” và cái chết trở thành nỗi ám

ảnh, đau đớn và nhức nhối của biết bao con người Có lẽ, chính vì thế mà nó

thôi thúc Kim Lân phản ánh lại bằng những trang văn đầy ám ảnh như vậy

Cũng từ bức tranh đói khổ ấy, câu chuyện mà Kim Lân muốn kể với

người đọc là câu chuyện của nhân vật Tràng “nhặt” được cô vợ trong những

Trang 33

ngày đói khổ như thế Kim Lân đã rất tài tình trong việc khắc họa từng tâm

trạng của nhân vật chính xoay quanh cốt truyện độc đáo Sự thay đổi tâm lý rất phù hợp từ lúc gặp thị (vợ Tràng), trên đường đưa thị về nhà, về đến nhà Đặc biệt là tâm trạng sáng ngày hôm sau và tâm trạng trong bữa cơm đều

được Kim Lân tái hiện lại chân thực Bằng những ngôn ngữ giản dị, hình ảnh

gần gũi, mộc mạc nhà văn đã cho người đọc thấy rõ nhất được hiện thực cuộc

sống thê thảm qua câu chuyện “cưới vợ” của Tràng trong ngày đói Cũng từ

cái hiện thực đấy mà qua đó, người đọc vẫn nhìn nhận được niềm tin của nhà văn Ông tin tưởng vào tương lai, dù họ có bị đẩy vào bước đường cùng thì vẫn le lói sự sống bằng tình yêu thương sự đùm bọc lẫn nhau giữa con người qua hình ảnh “lá cờ đỏ bay phấp phới” hiện lên trong đầu Tràng Đồng thời cũng cho thấy được khát khao hạnh phúc gia đình mãnh liệt của người dân lao động

Sau hình ảnh nhân vật Tràng thì nhân vật thị cũng hiện lên với bản lí lịch trích ngang hoàn toàn trắng xóa Không gia đình, không người thân, không nhà cửa, không tên tuổi Thị hiện lên khốn khổ, một con số không tròn trĩnh trong cơn lốc xoáy của cuộc đời Chỉ qua lời bông đùa đơn giản, thị nghiễm nhiên trở thành vợ của Tràng Và như những người khác khi về nhà chồng, thị cũng trải qua đầy đủ mọi cảm xúc, sự e thẹn, xấu hổ, đến niềm vui,

sự bần thần lo lắng cùng Tràng và bà mẹ chồng về cái đói, cái nghèo bủa vây Nhưng trong đó, vẫn là niềm vui, khát vọng sống của từng ấy con người Từ

bức tranh hiện thực ấy mà Kim Lân một lần nữa ca ngợi khát vọng sống, khát

vọng hạnh phúc của con người như một giá trị tốt đẹp

Xây dựng một kết thúc mở cùng với lối kể truyện độc đáo, lời văn giản

dị, chân thành, mộc mạc nhưng rất có sức gợi hình, Kim Lân đã rất tài tình

trong việc phản ánh chân thực nạn đói của xã hội Việt Nam những năm 1945

Số phận của người lao động bị rẻ rúng, thấp hèn, bị cái nghèo đói bủa vây cùng vô số những chính sách hà khắc của chế độ thực dân Qua đó ông cũng thể hiện giá trị nhân đạo đó là ngợi ca khát vọng sống, trân trọng và gieo vào lòng người đọc một niềm tin thay đổi hoàn cảnh Đồng thời tố cáo xã hội đen tối, tố cáo những chính sách khiến người dân càng lâm vào cảnh lầm than

Việc tổ chức hoạt động dạy theo giáo án đã thiết kế:

Trang 34

Văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12) viết về đề tài người nông dân trước cách mạng tháng Tám 1945, phản ánh cuộc sống đói khổ đồng thời cũng nói lên khát vọng sống mạnh mẽ của họ Đây là một đề tài không còn mới lạ đối với các em HS, tạo điều kiện cho các em tiếp cận tác phẩm một cách dễ dàng hơn Đồng thời GV cũng có thể so sánh với các tác phẩm đã học có đề tài tương tự, đối chiếu mở rộng nâng cao vốn hiểu biết cho các em

Thực tế hiện nay ở một số giáo án thiết kế, GV vẫn thiết kế bài học theo lối mòn, vận dụng những phương pháp đã cũ Những phương pháp này

cụ thể như đọc – chép, người giáo viên là đối tượng trung tâm, là người tìm hiểu tác phẩm rồi đúc kết lại kiến thức và truyền đạt tới HS Giáo án vẫn triển khai theo khuôn mẫu cũ, những phần cụ thể mô típ, truyền thống hóa hệ thống kiến thức Như vậy, khi HS tiếp nhận văn bản sẽ bị thụ động, giáo viên chốt lại ý nào thì ghi vào vở ý đó Các em không có ý kiến riêng của bản thân, không bày tỏ quan điểm cá nhân về vấn đề cần được giải quyết Vì vậy đôi khi việc dạy và học tác phẩm gặp không ít những khó khăn Tất cả những khó khăn và hạn chế đó đã kìm hãm sự phát triển năng lực của HS

Với mục tiêu tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” “lấy người học làm trung tâm”, tôi nghĩ rằng GV cần đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình các hoạt động để nhằm phát triển tối đa năng lực cho học sinh

2.2 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực

2.2.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học

2.2.1.1 Phương pháp 1: Đọc phân vai diễn cảm phát triển năng lực ngôn ngữ

 “Dạy học môn Ngữ Văn nói chung trong nhà trường THPT đặc biệt là phần truyện ngắn nói riêng có thể nói là một vấn đề khó Khó đối với

cả người dạy lẫn cả người học Cái khó đối với GV là làm sao có thể tạo ra bầu không khí hứng thú khi học bài Giờ học sẽ biến thành một giờ lên lớp thực sự tẻ nhạt nếu nó đơn thuần chỉ là một giờ truyền đạt kiến thức, cô nói trò ghi Xuất phát từ chính thực trạng này mà những năm gần đây số lượng các em HS yêu thích môn học này không còn

Trang 35

nhiều như trước nữa Đến bây giờ, việc coi trọng dạy học môn Ngữ văn sao cho hiệu quả là rất quan trọng Bên cạnh những phương pháp khởi động, tạo tâm thế cho giờ học, hiện nay đổi mới phương pháp bằng phương pháp đọc phân vai diễn cảm đã có tác dụng rất hiệu quả

trong việc đọc hiểu văn bản Vợ nhặt Đọc phân vai diễn cảm trở thành

một phương pháp hữu ích trong việc tiếp cận văn bản, cảm thụ sâu hơn

về văn bản” [4]

 Khái niệm: “Đọc phân vai là HS tự phân vai cho nhau theo nhân vật trong tác phẩm Đọc phân vai diễn cảm tức là đọc theo vai và đọc sao cho đúng với tính cách nhân vật và bật lên được ý nghĩa thông điệp qua mỗi vai” [4]

 Nội dung: “Đọc phân vai diễn cảm không đơn giản là đọc đúng nội dung, đúng ngữ âm, ngữ pháp, rõ ràng và mạch lạc trôi chảy mà ở đó người đọc phải hiểu được nội hàm tư tưởng mà tác giả muốn truyền tải thông qua mỗi nhân vật” [4]

 Hình thức tổ chức: “GV tổ chức cho HS đọc phân vai diễn cảm theo các nhân vật: Người dẫn chuyện, Tràng, thị, bà cụ Tứ, mấy đứa trẻ Sau khi đọc phân vai diễn cảm xong cho HS phát biểu cảm nghĩ về các nhân vật mà mình vừa đóng vai” [4]

“Đọc phân vai diễn cảm chứa đựng khả năng phát triển tính tích cực sáng tạo ở HS Khi thực hiện phương pháp này, người học đã thổi vào tác phẩm một khía cạnh mới mang đặc trưng của thời đại tiếp nhận và hoàn cảnh cá nhân Đọc phân vai diễn cảm là hoạt động tri giác, nó kích thích liên tưởng, tưởng tượng giúp HS nhập thân vào tác phẩm Mỗi học sinh khi nhập vai đều mang đặc trưng riêng của chủ thể cá nhân Đọc phân vai diễn cảm làm cho sự cảm thụ của người đọc, người nghe trở nên sâu sắc và thấm thía hơn, đồng thời gia tăng hiệu quả tiếp nhận Văn chương là câu chuyện “xuất tâm” và

“nhập tâm” Thông qua tác phẩm mà tác giả xuất tâm tư tưởng, thái độ và tình cảm đến với những tâm hồn đồng điệu khác Người đọc lại từ văn bản văn chương “nhập tâm” vào thế giới nghệ thuật của nhà văn cảm thụ những ý nghĩa thông quá tác phẩm ấy” [4]

 Năng lực hình thành sau hoạt động

Trang 36

Sau hoạt động này hình thành cho HS những năng lực sau: Đọc phân vai diễn cảm đỏi hỏi người đọc, người nghe phải tích cực, sáng tạo, phát huy vai trò của chủ thể Nên khi kết thúc hoạt động này chủ yếu sẽ hình thành cho học sinh năng lực ngôn ngữ Đọc phân vai yêu cầu phải có sự phối hợp của nhiều người, hình thành cho học sinh năng lực giao tiếp và hợp tác

2.2.1.2 Phương pháp 2: Phương pháp chuyên gia phát triển năng lực giải quyết vấn đề

 Khái niệm: “Phương pháp chuyên gia là phương pháp được sử dụng khi GV cần mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức của người học

về một vấn đề hay một nội dung nào đó trong chương trình giảng dạy” [4]

 Nội dung: “Để phương pháp này phát huy hiệu quả, người học là người phải nắm bắt được một cách cơ bản những kiến thức đó Người học thường ít khi đặt ra câu hỏi sau khi kết thúc mỗi một tiết học Nhưng nếu GV áp dụng phương pháp này, hạn chế đó sẽ được khắc phục và qua đó sẽ bổ xung thêm được kiến thức” [4]

 Cách thức tiến hành:

+ Nêu chủ đề:

Nêu rõ mục đích của cuộc trao đổi: Mở rộng kiến thức đã được học về tác phẩm “Vợ nhặt”

Làm rõ nội dung cần trao đổi

Định hướng để người học thấy cần thiết và muốn hỏi về chủ đề đã đưa

ra

+ Giới thiệu chuyên gia (nếu cần)

Chuyên gia có thể là giáo viên, khách mời bên ngoài hay có thể là chính người học có kiến thức chuyên sâu Nếu GV đồng thời là chuyên gia thì không cần giới thiệu Nếu chuyên gia là khách mời ngoài thì cần phải giới thiệu đầy đủ, ngắn gọn về chuyên gia

Trang 37

+ Đề nghị người học đặt câu hỏi GV giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho người học khi yêu cầu đặt câu hỏi như: Chủ đề, số lượng câu hỏi, thời gian suy nghĩ, ghi câu hỏi vào đâu?

Sau đó người dạy hiển thị những yêu cầu này lên bảng, lên giấy để người học quan sát Người học có thể yêu cầu các thành viên trong lớp đặt câu hỏi

+ Thu thập câu hỏi:

Giáo viên phân loại, sắp xếp các câu hỏi theo từng nhóm vấn đề để xác định các lĩnh vực mà người học quan tâm đến Sau đó chuyên gia sẽ trả lời theo từng nhóm vấn đề đã phân loại ở trên để tránh sự trùng lặp

+ Trả lời câu hỏi:

Phần trả lời cần ngắn gọn, đúng trọng tâm, làm chủ thời gian

Sau mỗi câu trả lời người dạy nên hỏi lại người học xem còn điều gì chưa rõ ràng không

Nên đánh dấu vào câu trả lời đã xong để tránh trùng lặp về sau

Có thể nhờ một người học hoặc chính giáo viên ghi tóm tắt các câu trả lời của chuyên gia lên một chiếc bảng khác hoặc giấy khổ lớn để tất cả có thể theo dõi tiến trình hay là ghi chép lại

+ Giáo viên tổng kết

Giáo viên tổng kết ngắn gọn, khái quát lại các câu hỏi và câu trả lời

 Năng lực hình thành sau hoạt động

Sau hoạt động này hình thành cho HS những năng lực sau: năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

2.2.1.3 Phương pháp 3: Thảo luận nhóm phát triển năng lực hợp tác

 Khái niệm: “Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của người học Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày

tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan

Trang 38

điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện

kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn” [4]

 Cách thức tiến hành: Có hai hình thức sau:

1 Nhóm lớn: 10 người trở lên

2 Nhóm nhỏ (6-8 người)

+ Bước chuẩn bị: “đề tài, mục tiêu, câu hỏi, hình thức trình bày, thời gian thảo luận”

Cụ thể đề tài, câu hỏi nằm trong phạm vi của văn bản “Vợ nhặt”

Câu hỏi thảo luận phải là câu hỏi:

Câu hỏi thảo luận thường là những câu:

– Hãy nêu: “ Cảm nhận của em về diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng và

“thị”?”

– Hãy cho biết: “ Cảm nhận của em về tâm trạng bà cụ Tứ khi Tràng có vợ?” – Hãy trình bày: “ Đề tài của truyện ngắn “Vợ nhặt””

+ Thực hiện thảo luận nhóm:

THV giao bài tập: nội dung, đề tài, những việc cần làm

Xác nhận lại các HS đã nắm rõ yêu cầu hay chưa, nếu chưa thì giải thích cho những người chưa hiểu

Chia nhóm (6-8 người/nhóm hoặc 9-10 người/nhóm), nơi thảo luận cho mỗi nhóm, thời gian thực hiện (trong bao lâu) GV chia lớp thành 4 nhóm Thời gian thực hiện trong vòng 5 phút Nhóm 1 và 3: “Cảm nhận của em về diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng và thị?” Nhóm 2 và 4: “Cảm nhận của em về

Trang 39

tâm trạng bà cụ Tứ khi Tràng có vợ?” Mỗi nhóm có phân công trách nhiệm: điều hành, thư ký ghi chép trên giấy lớn/nhỏ, người báo cáo kết quả

Chú ý:

“Khi các nhóm thảo luận, THV không dừng lại lâu ở một nhóm nào Khi các nhóm trình bày nếu là chủ đề giống nhau, không nhất thiết các nhóm đều trình bày, hoặc các nhóm chỉ trình bày các ý kiến quan điểm mà khác với nhóm trước Nhóm 1 và 3 chủ đề giống nhau thì chỉ cần 1 nhóm trình bày, nhóm còn lại có thể trình bày những ý khác với nhóm 1 THV ngồi sang một bên khi các nhóm trình bày” [4]

Điều hành hoạt động của nhóm nhỏ là đảm bảo:

“Mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia bàn luận, được lắng nghe và tôn trọng, tránh tranh cãi căng thẳng hoặc người nói quá nhiều Những băn khoăn về ý nghĩa, kết quả của bài tập được giải đáp kịp thời Thời gian làm bài tập phải phù hợp với thực tế khả năng làm việc của học viên và yêu cầu của bài tập Mọi học viên đều tích cực làm việc Tạo thêm công việc,

cơ hội cho các nhóm, cá nhân trong trường hợp họ hoàn thành bài tập trước và phải chờ các nhóm” [4]

 Năng lực được hình thành sau khi đọc hiểu văn bản:

Hoạt động thảo luận nhóm giúp HS hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề Các thành viên trong nhóm hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề được đặt ra, đi đến một kết quả thống nhất cuối cùng Đồng thời hoạt động này cũng giúp HS hình thành và phát triển năng lực tự học, năng lực sử dụng ngôn ngữ

2.3.1.4 Phương pháp 4: Phương pháp đàm thoại phát triển năng lực giao tiếp

 Khái niệm: “Phương pháp đàm thoại là phương pháp mà giáo viên căn

cứ vào nội dung bài học khéo léo đặt ra câu hỏi, để học sinh căn cứ vào kiến thức đã có kết hợp với sự hướng dẩn của giáo viên qua các thiết bị giảng dạy để làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những tri thức mới; nhằm củng

cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã tiếp thu được” [4]

Trang 40

 Phân loại: “Đàm thoại gồm: Đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích minh họa và đàm thoại ơrixtic” [4]

“Đàm thoại tái hiện: GV đặt ra câu hỏi mục đích chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa trên kiến thức đã biết, không cần suy luận sâu xa Phương pháp này thường được sử dụng khi muốn liên

hệ kiến thức đã học với kiến thức chuẩn bị học hoặc khi cần củng cố kiến thức đã học

Đàm thoại giải thích minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, GV nêu ra câu hỏi kèm theo ví dụ minh họa giúp HS dễ nhớ Phương pháp sẽ có hiệu quả hơn khi kết hợp cả phương tiện nghe nhìn Đàm thoại ơrixtic: GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí

để HS từng bước phát hiện ra bản chất sự việc, kích thích được ham muốn khám phá Kết thúc cuộc đàm thoại HS có sự hứng khởi, trưởng thành hơn trong suy nghĩ và tư duy” [4]

 Hình thức tổ chức:

Bước 1: Chuẩn bị: Hình thức đàm thoại: GV – HS, HS – HS Mục đích: Củng cố, mở rộng những kiến thức đã học sau khi đã đọc hiểu văn bản

“Vợ nhặt” Lựa chọn nội dung, câu hỏi của cuộc đàm thoại: Các câu hỏi phải nằm trong phạm vi của văn bản “Vợ nhặt”

Bước 2: Tiến hành đàm thoại: Giới thiệu và hướng dẫn HS đàm thoại, sau đó GV và HS tiến hành đàm thoại GV đưa ra câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi về tác phẩm “Vợ nhặt”, ở đây câu hỏi có thể là các câu hỏi đơn giản mang tính tái hiện hoặc câu hỏi có yếu tố minh họa, cũng

có thể là một hệ thống các câu hỏi được sắp xếp hợp lí

Bước 3: Kết luận: HS đưa ra kết luận của mình, GV tổng kết đưa ra kết luận cuối cùng

 Năng lực được hình thành sau hoạt động:

Hoạt động này giúp cho HS hình thành và phát triển năng lực giao tiếp

2.2.2 Hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học

2.2.2.1 Hoạt động 1: Trình bày nhận thức bản thân sau khi học văn bản “Vợ

nhặt” (Ngữ văn 12)

Ngày đăng: 28/08/2019, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w