Trong đó, giờ học đọc – hiểu sẽ do “trò tự khám phá ra cái hay cái đẹp theo ý mình; tập trung khai thác vẻ đẹp nội dung qua hình thức văn bản; bám sát câu chữ của văn bản để chỉ ra nội d
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Bùi Minh Đức Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
VĂN BẢN SÓNG (NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ QUẾ ANH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN SÓNG (NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS BÙI MINH ĐỨC
Trang 3Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Tạ Quế Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận với đề tài “Tổ chức hoạt động học cho học
sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Sóng (Ngữ văn 12)” là của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Minh Đức Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG HỌC VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “SÓNG” (NGỮ VĂN 12) 8
1.1 Hoạt động học 8
1.1.1 Khái niệm hoạt động học 8
1.1.2 Bản chất của hoạt động học 8
1.1.3 Sự hình thành hoạt động học của học sinh 9
1.2 Tổ chức hoạt động học của học sinh 13
1.3 Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản 15
1.3.1 Khái niệm đọc hiểu 15
1.3.2 Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản 16
1.4 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh 1.4.1 Khảo sát thực trạng dạy học đọc - hiểu văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh qua các giáo án và thiết kế dạy học 22
1.4.2 Khảo sát thực trạng học văn bản “Sóng” của HS tại trường THPT Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) qua phiếu khảo sát 23
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “SÓNG”(NGỮ VĂN 12) 28
Trang 72.1 Hoạt động của học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng” trong
trường THPT 28
2.1.1 Hoạt động trước giờ học 28
2.1.2 Hoạt động trong giờ học 28
2.1.3 Hoạt động sau giờ học 29
2.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng” 30
2.2.1 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trước giờ học 30
2.2.2 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trong giờ học 32
2.2.3 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS sau giờ học 37
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM 39
3.1 Mục đích 39
3.2 Thiết kế bài học 39
Tiểu kết chương 3 57
KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8“Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Bảo đảm sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình, sách giáo khoa phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau.” Vì thế
kỉ XXI là thế kỉ của xã hội toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp với đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn mới
1.2 Học sinh chưa hứng thú trong học đọc hiểu văn học nói chung và
“Sóng” nói riêng
Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông M Gorki - nhà văn Nga đã từng cho rằng Văn học là nhân học, môn văn ngoài
Trang 9cung cấp cho con người kiến thức mà cái cao cả hơn nó mang thiên chức tác động vào tâ hồn con người, những nơi khuất lấp thầm kín nhất, nó giúp con người có niềm tin, lạc quan, yêu đời hơn Ngày nay, việc xem nhẹ học môn Ngữ văn đối với giáo viên và học sinh khá phổ biến Giáo viên không sáng tạo, đổi mới trong cách dạy, học sinh thì thờ ơ, chỉ chăm chăm vào sách học tốt, sách tham khảo mà quên đi cách đọc và tìm hiểu một tác phẩm văn học, một văn bản trữ tình Điều mà giáo viên quan tâm hiện nay là hiện tượng học sinh không hứng thú đón nhận môn Ngữ văn, học một cách đối phó
Đọc hiểu tác phẩm trữ tình nói chung và đọc hiểu văn bản “Sóng” nói riêng nhiều học sinh không thích tìm hiểu, cũng như không thấy có tác dụng trong cuộc sống Nguyên nhân không chỉ về phía học sinh mà còn về phía giáo viên chưa tạo hứng thú cũng như phương pháp giảng dạy chưa thật sự phù hợp với từng đối tượng học sinh Vậy điều quan trọng là tổ chức và thiết
kế hoạt động trong việc dạy văn bản văn học sao cho mỗi bài học, mỗi giờ học là một giờ khám phá văn học Sau mỗi giờ học, học sinh hình thành những kỹ năng, năng lực cơ bản, cần thiết, tư duy sáng tạo
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt
động học cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản Sóng ( Ngữ văn 12)”
Chúng tôi hi vọng với sự đóng góp này sẽ giúp học sinh hứng thứ và yêu thích bộ môn Ngữ văn hơn
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Một số nghiên cứu về văn bản “ Sóng” của Xuân Quỳnh
+ Nhà thơ Vũ Cao, chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội: "Xuân Quỳnh viết bài này “bợm” thật”!
+ GS TS Trần Đăng Suyền: “Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm dến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở”
+ GS Phong Lê: “Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu thương để lại nhiều ấn tượng hơn cả Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự nhiên, bài Sóng thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong
Trang 10giấc mơ Dù có những gian truân cách trở , nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đến được tận cùng của hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với biển xa”
+ Lê Nhật: “Bài thơ Sóng không dài nhưng những bài viết về Sóng như những dòng sông đổ ra biển lớn Thời gian trôi cứ trôi, Sóng lấp lánh trong dòng thi ca dân tộc Sóng ra đời trong chiến tranh nhưng không có một câu chữ nào nói về đau thương, gian khổ, mất mát Có phải Sóng là khoảng lặng
trong dòng chảy “văn học đánh giặc”, chân chất tình cảm chân thành, da diết,
mà ngẫm sâu xa nó lên án chiến tranh, thấm đẫm tư tưởng Nhân văn sâu sắc?
Và đó chính là lý do Sóng vượt thời đại, vượt biên giới đồng hành cùng nhân loại”
2.2 Những công trình nghiên cứu về dạy đọc hiểu văn bản ở trường THPT
Đọc - hiểu được nhắc đến từ 200 năm nay trong hoạt động giáo dục của các quốc gia phát triển Ở Việt Nam thuật ngữ này mới xuất hiện trong vài năm trở lại đây và được coi là khâu đột phá trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Văn Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề đọc -hiểu:
+ Trong một cuốn tạp chí Văn học và tuổi trẻ Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã so sánh sự khác nhau giữa giờ giảng văn và giờ tổ chức dạy đọc – hiểu Trong đó, giờ học đọc – hiểu sẽ do “trò tự khám phá ra cái hay cái đẹp theo ý mình; tập trung khai thác vẻ đẹp nội dung qua hình thức văn bản; bám sát câu chữ của văn bản để chỉ ra nội dung tư tưởng; học sinh bắt buộc phải đọc văn bản; Có phương pháp đọc – hiểu các tác phẩm cùng loại” còn giờ giảng văn “Nghiêng về công việc của người thầy; Thầy giảng cái hay, cái đẹp cho học sinh nghe; nghiêng về công việc khai thác nội dung, nghệ thuật của văn bản; ít chú ý ngôn từ và hình thức nghệ thuật cụ thể; nhiều khi không cần đọc văn bản; chỉ biết văn bản được học; tổ chức cho trò thực hiện”
Phương diện so sánh trên tuy không tạo được phần nhiều sự đồng tình nhưng cũng phần nào chỉ ra được bản chất của việc dạy học đọc – hiểu có ưu điểm hơn rất nhiều
Trang 11+ Trong bài viết “Đọc – hiểu văn bản là thế nào?” - tạp chí Văn học và tuổi trẻ số 151 (2007) chi tiết từng thao tác đọc và hiểu đã được ông phân tích cặn kẽ: “Sự hiểu văn bản được đánh dấu bằng việc người đọc biến văn bản của nhà văn thành văn bản của người đọc, hay nói cách khác là người đọc chồng văn bản của mình lên văn bản của tác giả Ông đưa ra các luận điểm: mọi cách hiểu văn bản là “hiểu lầm” Và có hiểu lầm đúng và hiểu lầm sai” Quan điểm này, ông đã khẳng định rõ: “Dạy học đọc – hiểu là dạy học sinh năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn bản của tác giả kiến tạo nên văn bản của mình, đem “chồng” lên văn bản ấy”
+ Trong cuốn “Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường Trung học phổ thông” - NXB giáo dục việt nam, 2015, TS Bùi Minh Đức (chủ biên)
đã nói rõ hoạt động dạy học đọc – hiểu thì việc đọc đóng vai trò thiết yếu Từ đây, mới quyết định rằng giờ giảng dạy ấy có thành công hay không đặc biệt
là HS được “sống” trong giờ học Văn: “Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường là quá trình GV tổ chức HS hoạt động tiếp nhận tác phẩm Đọc văn, học văn trong nhà trường, xét cho cùng, là việc HS cảm thụ văn học và học cách tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV Cho nên, nếu không có lao động cảm thụ thật sự ở HS thì việc dạy học văn đích thực vẫn chưa diễn ra Điều này, cũng có nghĩa là chừng nào HS còn đứng ngoài vòng đời của một tác phẩm, còn chưa phải là bạn đọc thì chừng đó giờ văn vẫn chỉ là giờ của thầy giáp, chỉ thầy là độc giả của nhà văn Bởi vậy, coi HS
là bạn đọc tức là đã xác nhận đúng vị trí, vai trò của người học văn trong nhà trường”
+ Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn Trung học phổ thông”, NXB Đại học Sư Phạm, 2018, Đỗ Ngọc Thống (Tổng chủ biên) - Bùi Minh Đức (Chủ biên), đã đưa ra nhiều luận điểm về “yêu cầu và quy trình dạy đọc hiểu văn bản văn học” thì luận điểm “Bám sát văn bản đọc hiểu, tranh dạy học văn bằng “thế bản” khẳng định rằng việc giảng văn chỉ là lối học đi theo đường mòn gây cản trở cho việc HS tiếp thu kiến thức, còn “dạy học đọc
– hiểu” chính đang “mở đường” cho HS đến gần hơn với thế giới văn học”
Khác với giảng văn – đường lối dạy học một chiều, coi trọng việc truyền thụ
Trang 12hiểu biết về văn học của GV cho học sinh, dạy đọc hiểu lấy văn bản và hoạt động đọc hiểu văn bản của học sinh làm trung tâm Nếu trong mô hình giảng văn, giáo viên cảm thụ văn rồi giảng lại cho học sinh nghe về tác phẩm, tức là cho học sinh tiếp xúc với “thế bản” (văn bản đã được tiếp nhận của giáo viên) thì trong dạy đọc hiểu, học sinh phải làm việc trực tiếp với văn bản của nhà văn dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên Ngay cách định danh “dạy đọc hiểu văn bản văn học” cũng thể hiện rõ yêu cầu đổi mới này vì theo lí thuyết tiếp nhận, văn bản chưa phải là tác phẩm, chỉ khi nào thông qua sự tiếp nhận của độc giả, văn bản mới trở thành tác phẩm
Các công trình nghiên cứu tổ chức dạy đọc – hiểu nhìn chung còn ít, phần lớn là các sách chuyên khảo, biên soạn của các trường Đại học hoặc các giáo trình do Bộ Giáo dục đào tạo ban hành để phục vụ cho các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và đáp ứng nhu cầu cho việc học của những sinh viên có quan tâm đến môn học Phương pháp dạy học
2.3 Một số công trình nghiên cứu về dạy học đọc - hiểu văn bản thơ trong nhà trường THPT
Vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy đọc thơ trữ tình nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Nhưng riêng nghiên cứu về vấn đề thiết kế
và tổ chức dạy học tác phẩm thơ thì không nhiều Sau đây, chúng tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu chủ yếu
Trước hết là công trình Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại
[3, tr17] của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Đàm Gia Cần, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai Công trình này đã giới thiệu một số kiến thức cơ bản nhất về loại thể văn học chủ yếu trong chương trình bậc THPT
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương trong bài viết Giảng dạy thơ trữ tình hiện đại trong nhà trường [6, tr38] đã chỉ ra sự khác biệt giữa thơ và các thể
Trang 13Trên Tạp chí Giáo dục số 345(kì 1- 11/2014), tác giả Phan Ngọc Thanh
có bài báo: Vận dụng đặc điểm loại hình tác giả- loại hình cái tôi trữ tình của Thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học Bài viết vận dụng lý thuyết
về loại hình tác giả - loại hình “cái tôi” để khám phá những biểu hiện của “cái tôi” trong Thơ mới,dưới góc độ lí thuyết thi pháp học , gắn với thực tế dạy học ở trừng phổ thông
Cuốn Rèn luện kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh qua bài dạy học đọc-hiểu trữ tình hiện đại ở lớp 9 của Lê Thị Luyến [8, tr61] Theo đó, tác gải
này đề ra một số biện pháp dòi hỏi tính tự giác cao độ của học sinh
Trong bài viết của Lý Thiên Diệu: Phương hướng bồi dưỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do cho học sinh trung học phổ thông [2, tr13] có đề ra
phương pháp nâng cao năng lực đọc hiểu thơ ca cho học sinh phổ thông
Từ những điều đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi nhằm hướng đến vấn đề:
- Tổ chức hoạt động học cho HS trong một giờ dạy học đọc – hiểu theo nguyên tắc chủ động, tích cực là vấn đề cốt lõi của việc đổi mới dạy học Ngữ văn
- Đề ra những hoạt động học cho Học sinh trong một văn bản cụ thể trong chương trình lớp 12: “Sóng” dựa theo đặc trưng loại thể
- Tổ chức một giờ dạy học đọc – hiểu tác phẩm “Sóng” dung hòa được giữa kiến thức và thời lượng dạy học
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các hoạt động học và các biện pháp tổ chức hoạt động học cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng”
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động học đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản thơ nói riêng
Đề xuất các biện pháp hoạt động và tổ chức hoạt động cho học sinh trong dạy học đọc-hiểu văn bản “Sóng”
Thiết kế giáo án thực nghiệm bài “Sóng”
5 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Biện pháp tổ chức hoạt động học của học sinh trong giờ dạy đọc hiểu văn bản “Sóng”
6 Phạm vi nghiên cứu
Văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh trong SGK Ngữ văn 12 (tập 1)
7 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng” (Ngữ văn 12)
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm
- Kết luận
Trang 15CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG HỌC VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“SÓNG” (NGỮ VĂN 12) 1.1.Hoạt động học
1.1.1.Khái niệm hoạt động học
Có thể hiểu, hoạt động học: “Là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị” [5, tr106]
1.1.2 Bản chất của hoạt động học
1.1.2.1 Đối tượng của hoạt động học
Là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó Đích mà hoạt
động học hướng tới chính là việc chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Nếu trong quá trình học, người học chỉ là người bị động, những kĩ năng, kĩ xảo chỉ truyền cho người học theo cơ chế “máy phát” thì hoạt động học không thực hiện được
1.1.2.2 Hoạt động học là hoạt động thay đổi chính mình
Nếu các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng của hoạt động) thì hoạt động học lại làm cho chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển Tri thức mà loài người đã tích lũy được là đối tượng của hoạt động học Hoạt động học có thể “làm thay đổi khách thể như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học, mà chính là phương tiện không thể thiếu của hoạt động này nhằm đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể hoạt động Chỉ có thông qua đó người học mới dành được điều kiện khách quan để ngày càng tự hoàn thiện mình” [5, tr107]
1.1.2.3 Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Trang 16Hoạt động học, trước hết là hoạt động tiếp thu những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, tiếp thu cả nội dung và hình thức của chúng Sự tiếp thu thường gắn vào từng hoàn cảnh cụ thể, vào từng mục đích riêng lẻ mà nó hướng tới Thường thì những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó mang tính chất kinh nghiệm
Trái lại, sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động học là sự
tiếp thu có tính tự giác cao “Đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của
hoạt động học là sự tiếp thu có tính tự giác cao Đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của hoạt động học Những tri thức đó đã được chọn lọc tinh
tế và tổ chức lại trong hệ thống nhất định (thông qua khái quát hóa và hệ thống hóa) bằng cách vạch ra cái bản chất, phát hiện những mối liên hệ mang tính quy luật quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Đó là con đường lý luận trong việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo” [5, tr108]
1.1.2.4 Hoạt động học hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động
Nội dung và tính chất của hoạt động học được hình thành sẽ quyết định nội dung và chất lượng của lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Vì thế, trong dạy học, nội dung và tính chất phải được tiến hành đồng thời Đến một thời điểm nhất định, những kiến thức về bản thân hoạt động học sẽ là công cụ, phương tiện cho HS tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
1.1.3 Sự hình thành hoạt động học của học sinh
1.1.3.1 Hình thành động cơ học tập
Động cơ học tập của học sinh thể hiện ở đối tượng của hoạt động học,
là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực mà giáo dục
sẽ đưa lại cho họ
Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng có hai loại động cơ: Những động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội
Trang 17Loại động cơ hoàn thiện tri thức, ở động cơ này HS luôn có niềm khát
khao, say mê, hứng thú trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập Việc
HS phát hiện cái mới ở đối tượng học thì HS cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức của bản thân thỏa mãn một phần Trong loại động cơ này, chủ thể của hoạt động học tập thường không có những căng thẳng tâm lý Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi loại động cơ này là tối ưu theo quan điểm sư phạm
“Loại động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy học sinh say sưa học tập nhưng sự say sưa đó lại vì sức hấp dẫn, lôi cuốn của “cái khác” ở những mục đích khác của việc học tập Những cái đó lại chỉ có thể đạt được trong điều kiện mà các em chiếm lĩnh được tri thức khoa học Những “cái khác” đó có thể là đe dọa và yêu cầu; thưởng và phạt; sự hài lòng của cha mẹ,
sự khâm phục của thầy cô Khác với động cơ trên, ở động cơ này những tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ
là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác” [5,tr111]
“ Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở một mức độ nào dấy mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như là một vật cản cần khắc phục trên con đường đi tới mục đích cơ bản”[5, tr112] Nét đặc trưng của hoạt động này là có những lực chống đối nhau (như kết quả học tập không đáp ứng mong ước về địa vị của cá nhân tròn xã hội sau này), đôi khi
nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lý đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, đôi khi cả sự đấu tranh với chính bản thân mình Chẳng hạn khi có mâu thuẫn, căng thẳng học sinh thường có những hiện tượng vi phạm nội quy (quay cóp, phá bĩnh), thờ ơ với học tập hay bỏ cuộc
Thông thường cả hai loại động cơ học tập này cũng được hình thành
ở học sinh.Trong những hoàn cảnh, điều kiện xác định nào đó của dạy và học
Trang 18thì loại động cơ học tập nào được hình thành mạnh mẽ hơn và chiếm địa vị ưu thế trong sự sắp xếp theo thứ bậc của hệ thống các động cơ
1.1.3.2 Mục đích học tập
Mục đích của hành động cũng được hình thành dần trong quá trình diễn ra hành động Khác với con vật, trước khi con người bắt tay vào hành động thì hình ảnh về sản phẩm tương lai đã có trong đầu Đối tượng học tập là nơi hiện thân của động cơ Mỗi khái niệm của môn học thể hiện trong từng chi tiết, từng bài là những mục đích của hoạt động học tập: “Trên đường đi tới chiếm lĩnh đối tượng học tập luôn luôn diễn ra sự chuyển hoá giữa mục đích
và phương tiện Mục đích bộ phận (chiếm lĩnh từng khái niệm ) được thực hiện đầy đủ, nó lập tức trở thành phương tiện cho sự hình thành mục đích bộ phận tiếp theo Chính vì lẽ đó mà mục đích cuối cùng sẽ được hình thành một
hệ thống các hành động học tập” [5,tr114]
1.1.3.3 Hình thành các hành động học tập
Để làm sáng tỏ sự hình thành hành động học tập cần làm rõ các nội
dung sau:
* Hình thành tồn tại khái niệm
Có ba hình thức tồn tại cơ bản cho một khái niệm:
+ “ Hình thức vật chất: ở đây khái niệm được khách quan hóa, trú ngụ trên các vật chất hay vật thay thế
+ Hình thành “mã hoá”: logic của khái niệm chuyển vào trú ngụ ở một vật liệu khác (kí hiệu, mô hình, sơ đồ, lời nói )
+ Hình thức tinh thần: cư ngụ trong tâm lý cá thể.” [5,tr115-116]
- Hình thành hành động học tập Ứng với ba hình thức tồn tại của khái niệm có ba hình thức của hành động học tập Đó là:
+ Hình thức hành động vật chất trên vật thật (hay vật thay thế)
Trang 19+ Hình thức hành động với các hình thức “mã hóa” khác tương ứng với đối tượng, lời nói, sẽ chuyển logic của khái niệm đã phát hiện ở hành động vật chất vào trong tâm lí chủ thể của hoạt động
+ Hình thức hành động tinh thần: logic của khái niệm được chuyển hẳn vào trong (tâm lý)
Qua ba hình thức này của hành động học tập, cái vật chất đã chuyển thành cái tinh thần, cái bên ngoài thành cái bên trong tâm lý con người
* Hành động học tập
Ở đây có những quan niệm khác nhau về vai trò của các hành động học
tập khác nhau V.V Đavưđốp xuất phát từ quan niệm, muốn hình thành tư duy
lý luận cho học sinh phải hình thành hệ thống khái niệm theo nguyên lý phát triển Theo tinh thần ấy “V.V Đavưđốp xem các hành động phân tích, mô hình hoá và cụ thể hoá là những hành động học tập quan trọng nhất Và, trong dạy học, trước hết những hành động đó phải được xem như đối tượng lĩnh hội, sau khi được hình thành trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức”[5, tr117]
+ “Hành động phân tích: nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của
khái niệm cũng như cấu tạo logic của nó Nó là phương tiện quan trọng nhất
dể đi sâu vào đối tượng
+ Hành động mô hình hóa: giúp con người diễn đạt logic khái niệm
một cách trực quan Qua mô hình, các mối quan hệ của khái niệm được quá
độ chuyển vào trong(tinh thần) Ta cỏ thể xem mô hình như “cầu nối” giữa
vật chất và cái tinh thần
- Hành động cụ thể hóa: giúp học sinh vận dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực” [5,tr117-118]
Trang 20Trong dạy học, ba hành động nêu trên được hình thành và phát triển chính trong quá trình hình thành khái niệm Do đó, ta có thể nói, quá trình hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo (với tư cách là sản phẩm giáo dục) nhất thiết phải thông qua quá trình hình thành các hành động học tập, phải lấy hành động học tập làm cơ sở
1.2 Tổ chức hoạt động học của học sinh
Trong dạy học Ngữ văn theo định hướng đánh giá năng lực, việc giáo viên tổ chức các hoạt động học cho học sinh là điều kiện tất yếu Bởi những hoạt động này giúp việc học môn Văn hấp dẫn và sẽ đánh giá được năng lực của học sinh Việc tổ chức hoạt động học cho HS bắt đầu từ trình độ tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo khi HS bắt đầu nghiên cứu môn học đến trình độ nghiên cứu
kĩ năng, kĩ xảo khi HS hoàn thành xong nghiên cứu môn học Hoạt động học
sẽ gồm các hoạt động:
+ Hoạt động trước giờ học: là hoạt động học sinh sẽ thực hiện ở nhà, việc chuẩn bị trước khi đến lớp ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng học tập của HS trong suốt buổi học Ở đây HS phải tự đưa ra những câu hỏi: Đã biết những gì liên quan đến bài học? Bài học gồm những nội dung gì? Giáo viên
sẽ giao hệ thống câu hỏi, phiếu học tập để học sinh tìm hiểu trước khi đến lớp Hoạt động này giúp học sinh tìm hiểu những tri thức nền: tác giả, tác phẩm, đặc trưng thể loại Đây là bước tiếp cận đầu tiên của học sinh với văn bản Sau quá trình thực hiện, học sinh sẽ thu được kết quả là sản phẩm cụ thể Giáo viên có thể đánh giá học sinh có tích cực hay không tích cực thông qua sản phẩm mà học mang đến lớp Hoạt động trước giờ học có thể thực hiện ở mỗi
cá nhân hoặc một nhóm
+ Hoạt động trong giờ học: là hoạt động bắt buộc thực hiện trên lớp Nếu như hoạt động trước giờ học được thực hiện ở nhà thì hoạt động trong giờ học thực hiện trong mỗi tiết dạy Đây là hoạt động đảm bảo cho HS lĩnh
Trang 21hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo một cách có kế hoạch, có hệ thống, phù hợp với những yêu cầu của tâm lí học
Ở hoạt động này học sinh sẽ phải thực hiện các hoạt động sau:
- Hoạt động tạo tâm thế: đây là hoạt động mở đầu tiết dạy, kích thích
HS học tập Hoạt động này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Nó giúp tiết học Văn hứng thú và hấp dẫn hơn
- Hoạt động tìm hiểu tri thức nền (tiểu dẫn): là hoạt động học sinh tìm hiểu các yếu tố về tác giả, tác phẩm, thể loại Hoạt động này có thể được giáo viên giao cho học sinh làm dưới hình thức bài tập nhóm Khi ở trên lớp, hoạt động này sẽ được học sinh trình bày, phát biểu, giáo viên sẽ chốt lại ý
- Hoạt động văn bản: đây là hoạt động quan trọng trong việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương Nó giúp học sinh có những cái nhìn đầu tiên về tác giả, tác phẩm Hoạt động này cần được diễn ra bởi tâm lý nhiều học sinh ngại đọc, lười đọc văn bản Điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình học sinh tìm hiểu, phân tích tác phẩm
- Hoạt động phân tích, cắt nghĩa: đây là hoạt động quan trọng nhất của một giờ học văn Ở hoạt động này, học sinh phải phân tích, tìm hiểu đặc sắc
về nội dung, sáng tạo về nghệ thuật: có thể là câu, từ Chính những tri thức
mà hoạt động này cung cấp sẽ là hành trang để học sinh phân tích, tìm hiểu các tác phẩm cùng thể loại
- Hoạt động vận dụng, liên hệ thực tiễn: là hoạt động đang được chú ý
và thực hành nhiều ở các trường học Hoạt động này giúp học sinh phát triển
sự sáng tạo, năng lực tư duy Từ những tri thức trên sách vở giờ đây học sinh
có thể vận dụng vào thực tế cuộc sống, biến những con chữ vô tri thành những tác phẩm khác nhau Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những hoạt động vận dụng, liên hệ thực tế Chẳng hạn, tại trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 nói chung và khoa Ngữ văn nói riêng, hằng năm sau mỗi kì
Trang 22học thường tổ chức cuộc thi nghiệp vụ sư phạm Trong đó có phần trải nghiệm sáng tạo: đó có thể là từ một bài như “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, học sinh chuyển thể thành kịch, thành thơ hoặc một bức tranh, điều đó phát huy sự sáng tạo đồng thời giúp học sinh say mê, hăng say với môn học Hoặc
đó có thể là những buổi trải nghiệm thực tế Chẳng hạn, sau khi học xong “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ”, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh đi tham quan thành Cổ Loa Việc tận mắt chứng kiến ngôi thành, tượng vua An Dương Vương, giếng ngọc mà đáng lẽ chỉ xuất hiện trong sách vở sẽ làm học sinh hiểu thêm về tác phẩm, hứng thú hơn với bộ môn
- Hoạt động đọc mở rộng, liên hệ thực tiễn: đây là hoạt động giúp học sinh mở rộng vốn kiến thức Hoạt động này học sinh có thể thực hiện ở nhà hoặc trên lớp Nếu trên lớp, sau khi học xong tác phẩm học sinh có thể đọc thêm các tác phẩm của chính nhà văn đó, đọc những tác phẩm của những tác giả cùng thời hoặc những tác phẩm cùng thể loại Nó giúp học sinh có cái nhìn bao quát về một thời kì văn học Song song với việc đọc là việc vận dụng những kiến thức sách vở vào thực tế cuộc sống Thực hiện hoạt động này tốt, học sinh sẽ nâng cao được tầm hiểu biết của bản thân
1.3 Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản
1.3.1 Khái niệm đọc hiểu
Theo giáo sư Nguyễn Thanh Hùng, “đọc là một hành động của con người nhàm mục đích hình thành và nắm vững ý nghĩa từ văn bản trong quá trình nhận thức của việc đọc để mở rộng cảm giác và xúc cảm bằng sự nếm trải của người đọc; đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”
Như vậy đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Đọc - hiểu không chỉ là tái tạo âm thanh, từ và chữ viết mà còn là quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chưa mã hóa đồng thời với việc huy
Trang 23động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân của người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của văn chương
1.3.2 Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
1.3.2.1 Các hoạt động dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung
Dạy học đọc hiểu văn bản là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các thao tác, phương pháp dạy học để HS có thể cảm nhận được về nhửng vẻ đẹp
về giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật của văn bản Đọc hiểu vừa là phương pháp, vừa là tri thức, vừa là mục đích, kết quả của việc học văn và cần luyện tập thành những kĩ năng cơ bản Dạy văn là việc dạy cho HS phương pháp, kĩ năng đọc, năng lực đọc để HS có thể đọc bất kì một văn bản nào cùng loại Theo đổi mới chương trình giáo dục, chuyển từ định hướng nội dung sang chương trình định hướng phát triển năng lực Cụ thể trong dạy đọc hiểu văn bản thơ, GV cần phải hướng dẫn HS sau khi tham gia vào các hoạt động có thể hình thành kỹ năng đọc hiểu tất cả các văn bản thơ khác ngoài chương trình; vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Theo định hướng phát triển năng lực, quá trình dạy học đọc hiểu phải được hoạt động hóa, trong đó giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và giao nhiệm vụ đọc cho học sinh theo một quy trình đã được thiết kế, còn học sinh
là người tiếp nhận và thực thi các nhiệm vụ đọc hiểu Việc xác định quy trình dạy học đọc hiểu với hệ thống các hoạt động đọc hiểu văn bản văn học của học sinh được xem xét trên các căn cứ cơ bản sau:
1) “Từ yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn
học nói riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh để biên soạn giáo
án và tổ chức hoạt động trên lớp
2) Dựa vào đặc trưng chung của văn bản văn học với cấu trúc ba tầng/lớp (tầng ngôn từ, tầng hình tượng và tầng ý nghĩa),GV cần tổ chức cho
Trang 24học sinh các hoạt động đọc hiểu ngôn từ, đọc hiểu hình tượng và đọc hiểu ý nghĩa của văn bản
3) Dựa vào đặc điểm tâm lí cảm thụ văn học, GV trong quá trình dạy học cần tạo tâm thế cho học sinh trước khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu về ngôn ngữ, tưởng tượng tái tạo hình tượng, phân tích, lí giải các chi tiết nghệ thuật và khái quát hóa tư tưởng nghệ thuật của người viết
4) Dựa vào mô hình đọc hiểu trong SGK, hoạt động dạy học đọc hiểu cần có các hoạt động thành phần: tìm hiểu tri thức đọc; đoạc văn bản và tìm hiểu chú thích; đọc hiểu văn bản theo các câu hỏi hướng dẫn; khái quát hóa, xác định những giá trị nội dung và nghệ thuật cần nắm vững ở bài học; thực hành, luyện tập và vận dụng thực tiễn”[10, tr50-51]
Từ những điều trên, quá trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học nói chung được xác định theo hướng tổ chức các hoạt động học tập sau:
- Tổ chức hoạt động tạo tâm thế/ khởi động cho học sinh:mục đích của hoạt động này là thu hút sự chú ý, gợi sự tò mò, khơi gợi vốn sống, kinh nghiệm đọc văn của học sinh và đặt ra các vấn đề cần giải quyết trong giờ học Hoạt dộng này cần được diễn ra hấp dẫn, sống động và ngắn gọn Giáo viên đưa ra các bài tập, trò chơi, cuộc thi, thước phim, sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế phần khởi động sao cho sáng tạo, lôi cuốn được học sinh vào giờ học
- Tổ chức học sinh tìm hiểu tri thức công cụ cần thiết cho việc đọc hiểu văn bản: mục đích của hoạt động này giúp học sinh nắm được những tri thức
cơ bản trong giờ học Đây là bước trang bị cho học sinh những tri thức công
cụ để học sinh sử dụng vào tìm hiểu văn bản, đồng thời giúp các em có cách tìm hiểu đúng đắn về thế giới nghệ thuật của nhà văn Bên cạnh những tri thức về bối cảnh thời đại, tác giả, tác phẩm, giáo viên cần lưu ý học sinh tìm
Trang 25hiểu các tri thức về thể loại và Giáo viên cần đưa ra các bài tập nhóm cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà
- Tổ chức học sinh đọc văn bản và tìm hiểu chú thích: mục đích của hoạt động này là giúp học sịnh trực tiếp bắt tay tìm hiểu văn bản Trong quy trình dạy học giáo viên thường giao cho học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp Nhưng thực tế, có nhiều bạn học sinh chưa chuẩn bị bài nếu có chỉ đọc tác phẩm một cách qua loa, chống đối Từ đó học sinh chưa có cái nhìn, hiểu biết nhất định về văn bản Chính vì vậy, hoạt động đọc văn bản là vô cùng cần thiết Ở hoạt động này, bên cạnh mục tiêu cho những con chữ nằm im trên trang giấy sống lại, nhảy múa, chuyển vào tâm trí của mỗi học sinh, thì việc tìm hiểu chú thích sẽ hướng tới việc giúp học sinh hiểu nghĩa cá từ khó trong văn bả, nhận ra bố cục của văn bản, cảm nhận được âm điệu, giọng điệu chung toát lên từ văn bản, có những ấn tượng đầu tiên về tác phẩm và bước đầu hình dung thế giới hình tượng qua lớp ngôn từ trong văn bản Để hoạt này đạt được kết quả cao, giáo viên cần chuyển giao nhiệm đọc ở nhà cho học sinh gắn liền với những sản phẩm cụ thể Ở trên lớp, tùy theo điều kiện dạy học, giáo viên tổ chức học sinh đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc phân vai, đọc diễn cảm Giáo viên cũng có thể đưa ra những tranh ảnh, video có liên quan đến bài học để học sinh có những cảm nhận rõ hơn về văn bản
- Tổ chức học sinh đọc hiểu nội dung ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật của văn bản: mục đích của hoạt động này giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của văn bản và hiểu được cái hay trong hình thức nghệ thuật của nhà văn Ý nghĩa của văn bản nằm trong hình tượng, trong câu chữ và trong các biện pháp nghệ thuật mà nhà văn đã sáng tạo và sử dụng Vì thế để đọc hiểu ý nghĩa của văn bản phải bắt đầu từ việc đọc hiểu các yếu tố nghệ thuật Ở đây, yếu tố thể loại cần được chú ý đến vì mỗi thể loại lại có đặc tính riêng về hình thức nghệ thuật Chẳng hạn, với truyện, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc hiểu
Trang 26theo mạch cốt truyện hoặc đọc hiểu theo nhân vật (phân tích nhân vật chính, nhân vật phụ); với thơ, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu theo bố cục, theo cấu tứ hay theo mạch vận động của cảm xúc, suy tư mà nhân vật trữ tình giãi bày một cách trực tiếp qua ngôn từ Không chỉ căn cứ vào đặc điểm hình thức nghệ thuật của từng văn bản theo thể loại, giáo viên còn phải dựa vào đặc tính riêng của từng bài học, mục đích và thời lượng đê lựa chọn một số yếu tố nổi bật để hướng dẫn học sinh đọc hiểu Chẳng hạn, trong nhóm bài về truyện Việt Nam giai đoạn 1945-1975, có bài ta sẽ đi đọc hiểu theo cốt truyện, có bài sẽ đọc hiểu theo nhân vật, có bài lại đọc hiểu theo tình huống truyện Sau những bài học như thế, học sinh sẽ hiểu được nhiều con đường, nhiều cách tiếp cận khác nhau trong quá trình đọc hiểu tác phẩm văn học
Ở hoạt động đọc hiểu văn bản văn học, giáo viên cũng cần tránh áp đặt
về nội dung dọc hiểu thể hiện ở việc đưa ra các đề mục trong bài dạy Điều này vô tình đã trói học sinh vào những giới hạn ý nghĩa cho sẵn, hạn chế sự sáng tạo về nghĩa của học sinh lẫn lượng nghĩa dồi dào của văn bản Chẳng hạn, khi giáo viên đưa ra một dề mục: Bức tranh xóm ngụ cư khi nạn đói (Vợ nhặt) hay Chí Phèo - sự hồi sinh bản chất người (Chí Phèo), tức là đã khoanh vùng cho học sinh nội dung đọc hiểu, khiến việc tiếp nhận về sau chỉ là chứng minh cho điều đã mặc định này, trong khi học sinh có thể hiểu ra nhiều ý nghĩa khác của văn bản Chính vì thế giáo viên cần lưu ý cách đọc thẩm mĩ Trong giờ đọc hiểu, nên khuyến khích, động viên học sinh trực tiếp tham gia, đặt mình vào nhân vật, liên hệ và huy động trí tưởng tượng, kinh nghiệm và vốn hiểu biết của bản thân đề phát hiện, đề xuất các cách hiểu khác nhau về ý nghĩa của văn bản
- Tổ chức học sinh củng cố vận dụng thực tiễn Để tiến hành hoạt động này, giáo viên nên kết hợp bài tập trắc nghiệm với bài tập tự luận, giữa
tự luận ngắn với tự luận dài, giữa bài tập sử dụng ngữ liệu vừa học với bài tập
Trang 27sử dụng ngữ liệu mới tương tự (cùng thể loại, cùng giai đoạn) Cùng với đó là vận dụng tri thức vừa học vào thực tế cuộc sống Những tri thức mà học sinh học là tri thức về tác giả, tác phẩm, tri thức về thể loại, tri thức về nội dung ý nghĩa bài học, về các thủ pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng Thực tiễn được áp dụng ở đây có thể là những tình huống trong cuộc sống hàng ngày khi giao tiếp với những người xung quanh, của việc đọc sách, đọc văn hoặc những tình huống trong học tập khi phải tự mình đọc hiểu các văn bản theo yêu cầu mở rộng của giáo viên, theo yêu cầu của bài thi, kì thi Cần khéo léo giữa việc vận dụng thực tiễn các nội dung ý nghĩa của văn bản bởi nếu không
sẽ dẫn đến sự miễn cưỡng Để hoạt động liên hệ, vận dụng thực tiễn có hiệu quả, giáo viên cần lưu ý đến đặc trưng tâm lí của giáo dục mĩ cảm Tình cảm, cảm xúc của con người được khơi gợi trong một tình huống cụ thể gắn với bối cảnh riêng của mỗi cá nhân Không tìm ra mối liên hệ giữa những nội dung giáo dục trong văn bản văn học với sự hiểu biết, trải nghiệm của mỗi học sinh thì giáo viên sẽ khó trong việc giúp học sinh liên hệ, vận dụng thực tế đạt hiệu quả cao
Xu hướng chung đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, giáo viên cần thiết kế các hoạt động trước giờ đọc hiểu theo các nhiệm vụ cụ thể với các sản phẩm kèm theo Cùng với đó là các bài tập củng
cổ, luyện tập kiến thức, kĩ năng đọc hiểu sau khi giờ học kết thúc
Những hoạt động trên cần được giáo viên vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo Tùy theo kế hoạch của mỗi nhà trường, theo bối cảnh dạy học cụ thể, giáo viên sẽ tiến hành tổ chức hoạt động phù hợp theo trình tự, kết hợp hoặc lồng ghép ở trên lớp hay ở nhà, cá nhân hoặc nhóm
1.3.2.2 Các hoạt động dạy đọc hiểu văn bản thơ
Nếu truyện phản ánh hiện thực cuộc sống và thể hiện ý đồ, tư tưởng của người viết qua việc kể một câu chuyện tưởng tượng về con người, đồ vật, cây
Trang 28cối thì thơ lại là việc giãi bày những cung bậc cảm xúc làm nội dung và phương thức biểu đạt tư tưởng của người viết Nhân vật trong thơ là nhân vật trữ tình, nhân vật đó không có ngoại hình, diện mạo, cử chỉ, điệu bộ mà chủ yếu hiện ra với những cảm xúc, suy nghĩ Nếu ngôn ngữ của truyện là ngôn ngữ văn xuôi, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người thì ngôn ngữ thơ là kiểu ngôn ngữ giàu nhạc tính, nhạc điệu Thơ có nhiều thể loại Dù là thơ thơ cách luật hay thơ tự do, ngôn ngữ thơ đều đã được cách điệu hóa để tạo thành những khổ thơ, đoạn thơ giàu sức biểu cảm, có khả năng làm rung động trái tim người đọc Nhắc đến thơ là nhắc đến: nội dung trữ tình, nhân vật trữ tình, tứ thơ, ngôn ngữ thơ, biểu tượng thơ
Với việc dạy đọc hiểu văn bản thơ, ta cần chú ý đến đặc trưng thể loại
và đặc tính riêng của mỗi bài thơ Vì ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu nhạc điệu, nhạc tính và hình ảnh nên cần tổ chức cho học sinh đọc thành tiếng, đọc diễn cảm để những hình ảnh, âm điệu ấy đọng lại trong tâm trí người đọc, người nghe “Đọc văn bản thơ không chỉ có nhiệm vụ tượng thanh các con chữ mà còn tượng hình lên trong “nội quan” của người đọc thế giới hình tượng và chủ thể trữ tình - người phát ngôn , bộc bạch, thổ lộ, giãi bày”[10,
tr62] Sau đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kĩ từng khổ thơ, câu thơ,
cắt nghĩa từng hình ảnh thơ, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật đặc biệt phát hiện
ra ý thơ và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ Trong quá trình đọc hiểu, cần khơi gợi nơi học sinh những liên tưởng, tưởng tượng và những trải nghiệm của bản thân để lí giải, đồng cảm với nhân vật trữ tình Kết hợp với các tư liệu ngoài sách giáo khoa để rút ra những nhận định về tình cảm, thái
độ, tư tưởng của người viết “Cũng như dạy đọc hiểu văn bản truyện, tùy theo thể loại đặc trưng nghệ thuật của văn bản thơ và ý đồ sư phạm của giáo viên,
“dường vào thơ” có thể “men” theo một hoặc một số “lối đi” như bố cục, cấu
tứ, thi luật, điểm nhìn nhân vật trữ tình”[10, tr62]
Trang 29Từ đặc trưng của việc dạy đọc hiểu văn bản văn học, kết hợp với đặc tính riêng về thể loại thơ, có thể xác định những hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản thơ như sau:
“ Hoạt động 1: Tạo tâm thế
Hoạt động 2: Tìm hiểu tri thức đọc (chú ý tri thức về thơ nói chung, văn bản thơ được dạy nói riêng )
Hoạt động 3: Đọc hiểu văn bản thơ: đọc văn bản và cảm nhận chung
về giọng điệu thơ; đọc hiểu ý nghĩa của thơ qua một/một số yếu tố hình thức nghệ thuật (bố cục, cấu tứ, thi luật, điểm nhìn của nhân vật trữ tình ) gắn liền với việc phân tích ngôn từ, hình ảnh, biểu tương, các biện pháp nghệ thuật
và sự huy động vốn sống, trải nghiệm cá nhân, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh để các em có được sự thấu cảm của người viết)
Hoạt động 4: Củng cố và vận dụng kết quả đọc hiểu văn bản thơ” [10, tr56]
1.4 Thực trạng dạy học đọc-hiểu văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh
1.4.1 Khảo sát thực trạng dạy học đọc - hiểu văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh qua các giáo án và thiết kế dạy học
Bằng việc khảo sát các giáo án trên mạng cùng với các giáo án mà tôi tìm hiểu được thì tôi nhận thấy một số ưu và nhược điểm như sau:
+ Với một số giáo án thiết kế mới phát hành: Cụ thể cuốn: “Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông” của PGS.TS Bùi Minh Đức đã xây dựng các hoạt động dạy bài “ Sóng” hợp lí, sáng tạo đáp ứng được quá trình đổi mới Giáo dục, dạy học theo hướng phát triển năng lực
+ Bên cạnh ưu điểm thì đa số các giáo án còn đi theo lối mòn truyền thống Nhược điểm của người soạn giáo án là chưa theo kịp việc xây dựng các hoạt động học Ở các giáo án đó, đơn thuần giáo viên đưa ra câu hỏi và học
Trang 30sinh trả lời, chưa xây dựng các hoạt động để học sinh thảo luận, tự tham gia, sáng tạo vào tiết học văn
1.4.2 Khảo sát thực trạng học văn bản “Sóng” của HS tại trường THPT Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) qua phiếu khảo sát
gì cho anh (chị)?
a Giáo viên cho học sinh nghe bài hát “Thuyền và biển” sau
đó liên hệ đến bài thơ “Sóng”
b Giáo viên tổ chức trò chơi: mảnh ghép, vượt chướng ngại vật với chủ đề về Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng”
c Giáo viên nêu về tác giả Xuân quỳnh và bài thơ “Sóng”
d Đáp án khác Với hoạt động mà giáo viên đã triển khai anh(chị) có hứng thú không?Lí do thích hoặc không thích
………
………
Trang 31Câu 3: Trong giờ học, giáo viên đã dùng các phương pháp, kĩ thuật dạy học gì để khơi gợi kiến thức giúp anh(chị) tìm hiểu tác phẩm?
a Đóng vai ( Đóng vai là kỹ thuật HS làm thử một một công việc hoặc thực hiện một ứng xử trong tình huống giả định )
b Từ bài thơ chuyển thể thành một bài hát
c Tìm một số bài thơ cùng chủ đề viết về sóng , từ đó tìm ra điểm khác nhau
d Tìm tranh ảnh, các bài báo viết về Xuân Quỳnh và bài thơ
“Sóng”
e Vẽ tranh
Trang 32f Đáp án khác 1.4.2.2 Kết quả khảo sát
Khảo sát này được thực hiện vào ngày 28/3/2019 bởi tôi:
Tại lớp: 12C1 Trường: THPT SƠN DƯƠNG - TUYÊN QUANG
Số lượng học sinh tham gia khảo sát: 37
Nội dung khảo sát: Các hoạt động dạy học bài thơ “ Sóng” - Xuân Quỳnh
Sau đây là bảng thống kê kết quả khảo sát:
0 (0)
24 (64,8)
5 (13,7)
(0)
4 (10,8)
29 (78,4)
4 (10,8)
(10,8)
24 (64,8)
5 (13,5)
2 (5,4)
2 (5,4)
(67,5)
0 (0)
4 (10,8)
0 (0)
8 (21,6)
Từ bảng thống kê trên ta có thể dễ dàng nhận thấy:
+ Tại lớp học này, GV bước đầu áp dụng các hoạt động dạy học, cụ thể
ở câu 1 (đáp án d chiếm 64,8%), hoạt động khởi động, tạo tâm thế đã được thực hiện
Trang 33Học sinh rát hứng thú và hào hứng khi GV áp dụng nhiều hình thức
khác nhau trong hoạt động tạo tâm thế Phương pháp dạy học chủ yếu là hoạt
động nhóm( chiếm 64,8%) Nhưng nhìn chung các kĩ thuật dạy học, phương
pháp dạy học chưa thực sự được áp dụng một cách thuần thục và thường
xuyên Giáo viên chưa sử dụng nhiều các hoạt động dạy học tích cực mà chỉ
dạy theo hình thức truyền thống Như vậy yêu cầu đặt ra ở đây, giáo viên cần
tổ chức cho học sinh nhiều hoạt động đọc hiểu với các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực Điều đó sẽ đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay
Trang 34Tiểu kết chương 1
Như vậy, ở chương 1 qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài chúng tôi đã đưa ra cái nhìn tổng thể về tổ chức hoạt động học dạy học đọc hiểu Những hoạt động này hướng tới hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung và đọc hiểu văn bản thơ nói riêng
Trong bộ môn Ngữ văn việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mục tiêu hàng đầu Mỗi HS sau khi tham gia các hoạt động đọc hiểu văn bản văn học (cụ thể văn bản thơ) dưới sự hướng dẫn của GV có thể hình thành các kĩ năng tự đọc hiểu các văn bản thơ khác và vận dụng các kiến thức
đã học vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Dạy học đọc hiểu văn bản thơ cần gắn với đặc trưng thể loại
Từ việc tìm hiểu được thực trạng của việc dạy và học văn bản “Sóng” tại trường phổ thông và các tài liệu: giáo án, sách thiết kế yêu cầu đặt ra cần
tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS
Trang 35CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “SÓNG”(NGỮ VĂN 12)
2.1 Hoạt động của học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng” trong trường THPT
Việc xây dựng các hoạt động trong dạy học nói chung và trong dạy học trong môn Ngữ văn nói riêng là vô cùng cần thiết Cụ thể, những hoạt động dạy học này cần được làm trong ba thời điểm sau:
2.1.1 Hoạt động trước giờ học
Như đã trình bày ở phần 1.2, hoạt động trước giờ học là hoạt động học sinh sẽ thực hiện ở nhà Với bài thơ “ Sóng”, tôi sẽ đưa ra cho học sinh các hoạt động cụ thể sau đây:
+ Đọc văn bản ở nhà trước khi đến lớp
+Tìm hiểu tri thức nền: về tác giả, tác phẩm, thể loại bằng cách cho học sinh làm câu hỏi nhóm
+ Đọc và trả lời các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm trong sách giáo khoa
Đây là những hoạt động bước đầu mà học sinh có thể tiếp cận gần giũ văn bản Từ đó, các em có cái nhìn, hiểu biết về tác giả cũng như tác phẩm
2.1.2 Hoạt động trong giờ học
Những hoạt động trong giờ học là những hoạt động được thực hiện trên lớp Theo chương trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, ở trên lớp giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản, còn học sinh là trung tâm của hoạt động Nghĩa là, học sinh sẽ là người làm chủ bài, tham gia vào quá trình học văn bản
+ Hoạt động tạo tâm thế/ khởi động: Hoạt động này giúp HS huy động những kĩ năng, kiến thức đã học để vận dụng hoàn thành yêu cầu của GV;