Dạy học đọc hiểu văn bản truyện chú trọng về mặt nội dung khiến cho GV bị áp lực về mặt thời gian bởi thời lượng tiết học có 45 phút thì không đủ đảm bảo cung cấp đủ các nội dung kiến th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN MINH KHUÊ
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN VỢ NHẶT
(NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS BÙI MINH ĐỨC
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Bùi Minh Đức - người hướng dẫn khoa học
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các quý thầy, cô trong khoa Ngữ Văn
và bộ môn Phương pháp dạy học Ngữ văn đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Minh Khuê
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận với đề tài “Tổ chức hoạt động học cho
học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản Vợ nhặt (Ngữ văn 12)” là của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Bùi Minh Đức Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Minh Khuê
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Hoạt động học 7
1.1.1 Khái niệm hoạt động học 7
1.1.2 Bản chất của hoạt động học 7
1.1.3 Sự hình thành hoạt động học của học sinh 8
1.1.4 Tổ chức hoạt động học của HS 9
1.2 Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu 11
1.2.1 Khái niệm đọc hiểu 11
1.2.2 Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản 11
1.3 Thực trạng dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt” của Kim Lân 17
1.3.1 Khảo sát thực trạng dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt”của Kim Lân qua các giáo án và thiết kế dạy học 17
1.3.2 Khảo sát thực trạng học văn bản “Vợ nhặt” của HS tại trường THPT Hàn Thuyên qua phiếu khảo sát 19
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN 12) 22
2.1 Hoạt động học của HS trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” 22
2.1.1 Hoạt động trước giờ học 22
2.1.2 Hoạt động trong giờ học 22
2.1.3 Hoạt động sau giờ học 24
2.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” 25
Trang 72.2.1 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trước giờ học 27
2.2.2 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trong giờ học 27
2.2.3 Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS sau giờ học 38
Tiểu kết chương 2 36
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM 37
3.1 Mục đích thiết kế 37
3.2 Bài học thiết kế 37
Tiểu kết chương 3 51
KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ xu thế xã hội hiện nay: toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn mới
Để đáp ứng được nhu cầu cùng với những thay đổi nhanh chóng của thời đại
mà nền Giáo dục ở Việt Nam đã có những sự thay đổi kịp thời để thích ứng với những biến đổi như vũ bão của khoa học công nghệ mới và sự toàn cầu hóa
Nền giáo dục của nước ta đã yêu cầu có những đổi mới từ chương trình giáo dục phổ thông Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là: “ Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” đồng thời văn bản yêu cầu “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương trình sách giáo khoa; tăng cường tình thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh”
Trong những năm vừa qua, nước ta đã có nhiều thay đổi và sự biến chuyển không chỉ trong việc dạy học mà cả trong thi cử Một giờ học có hiệu quả hay không thì phương pháp dạy học là rất quan trọng, Talleyrand (một nhà chính trị, một nhà ngoại giao thời cận đại có ảnh hưởng to lớn trên vũ đài chính trị nước Pháp và thế giới ) đã nói: “ Phương pháp là thầy của các thầy” Không chỉ trong các môn học khác, ngay trong bản thân môn Ngữ Văn cũng đã có nhiều biến chuyển Nếu như theo phương pháp truyền thống, thì GV là “trung tâm” của giờ học, mọi cảm thụ Văn Học đều theo định hướng của GV đề ra, còn HS chỉ là đối tượng tiếp nhận mà không được
“thể nghiệm” với những gì mình đã học thì bây giờ thay vì thế “người học” làm “trung tâm”, là người chủ động trong quá trình chiếm lĩnh các tri thức
Trang 91.2 Giáo viên chưa có hướng đi đúng đắn, thiết thực, hiệu quả cho việc thiết kế hoạt động học
Chương trình Giáo dục hiện nay đã chuyển từ chỗ Giáo viên là người “cảm thụ”
hộ tác phẩm cho HS thì bây giờ vị trí tráo ngược lại HS là “trung tâm” của giờ học còn Giáo viên chỉ là người định hướng kiến thức chứ không phải áp đặt kiến thức Để đạt được mục đích này cần phải đổi mới từ việc thiết kế và tổ chức dạy học đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả HS của GV và chương trình SGK cụ thể là bộ môn Ngữ Văn sau 2018 Là một vấn đề còn mới, lý thuyết chưa được phổ cập, ít tài liệu nên
GV còn gặp nhiều khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn dạy học Ngữ văn cụ thể là dạy học đọc hiểu văn bản nói chung và dạy học đọc hiểu văn bản truyện nói riêng Nguyên
do đầu tiên là GV lâu nay dạy học theo kiểu truyền thống tức chú trọng phát triển nội dung và khi đổi mới dạy theo định hướng đặt HS làm trung tâm, hình thành và phát triển các kỹ năng, năng lực cho HS thì không định hình được Một số GV hiểu sai về cách dạy này, đó là chỉ áp dụng những phương pháp tích cực chứ về bản chất vẫn áp đặt kiến thức cho HS Thứ hai, một phần cũng do SGK hiện hành: hệ thống câu hỏi chỉ dừng lại ở mức độ tái hiện kiến thức hay nhận xét mà chưa phát huy được tính chủ động tích cực, sáng tạo ở HS Dạy học đọc hiểu văn bản truyện chú trọng về mặt nội dung khiến cho GV bị áp lực về mặt thời gian bởi thời lượng tiết học có 45 phút thì không đủ đảm bảo cung cấp đủ các nội dung kiến thức cho HS, đảm bảo về thời lượng và tiến độ chương trình mà không chú ý vào xem HS đã học được gì trong hoạt động học Trước thực trạng trên, chúng tôi thấy cần có nghiên cứu để GV có thể giải quyết vấn đề đổi mới trong việc dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học văn bản truyện nói chung
1.3 “Vợ nhặt” là văn bản đang được giảng dạy trong chương trình nhà trường phổ thông hiện nay
“Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân là một văn bản được đưa vào CT SGK Ngữ
Văn lớp 12 từ năm 2008 Đây là một trong những văn bản trọng tâm trong chương trình bởi đây là một văn bản mang tính nhân văn, giá trị nhân đạo sâu sắc và những thông điệp ý nghĩa mà tác giả gửi gắm Mỗi GV sẽ có những hướng tiếp cận văn bản
và hướng giảng dạy khác nhau để truyền tải kiến thức đến HS nhưng vẫn đơn thuần
là chú trọng về nội dung chứ chưa có cách tiếp cận nào thống nhất trong việc khám phá văn bản để hình thành và phát triển kỹ năng, năng lực HS mặc dù được giảng dạy trong nhà trường PT cụ thể là lớp 12 cho đến nay gần 10 năm Tổ chức và thiết kế hoạt động học trong dạy học văn bản “Vợ nhặt” nói riêng và văn bản nói chung để
Trang 10làm sao cho “HS tích cực hóa trong giờ học”, sau mỗi giờ học HS đã hình thành được những kỹ năng, năng lực cơ bản, cần thiết, trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tổ chức hoạt động học cho học
sinh trong dạy đọc hiểu văn bản Vợ nhặt (Ngữ Văn 12)” làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Một số công trình nghiên cứu về Kim Lân và tác phẩm “Vợ nhặt”:
Nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá khác nhau đã bàn về cuộc đời và sự nghiệp của Kim Lân từ trước đến nay Đông đảo bạn đọc, giới văn nghệ sĩ, phóng
viên, nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm đến Kim Lân đặc biệt từ sau Tuyển
tập Kim Lân (in năm 1996) do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn
Đó là những bài báo, bài phỏng vấn về Kim Lân xoay quanh cuộc sống văn chương, quan điểm viết văn và một số tác phẩm trong đó có “Vợ nhặt”, tiêu biểu là các bài:
+ Hương Giang: Phỏng vấn “Vợ nhặt”-Báo Văn nghệ số 19/1993
+Hà Minh Đức: Về truyện “Vợ nhặt”- trích trong Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn Học, 1998
+Trần Ngọc Hiến: Một chi tiết hay trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân –Báo Giáo dục thời đại, số 22/1999
+Nguyễn Thế Vinh: Chân dung văn nghệ sĩ: Nhà văn Kim Lân- Báo Người Hà Nội, số 29,1993
Ngoài ra, không thể thiếu đó là những bài viết phân tích, bình giảng những chi tiết đặc sắc trong các tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân, được in trong các sách giảng văn cho HS phổ thông và các tài liệu tham khảo môn Văn là chủ yếu Ở đây, các bài tiêu biểu viết về “Vợ nhặt” chúng tôi xin được điểm lại:
+ Cuốn Phân tích- bình giảng tác phẩm văn học 12-Nxb Giáo dục, 2000, tác
giả Nguyễn Quang Trung đã tìm thấy: “Thông điệp của Kim Lân là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn Vợ nhặt là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ đã
“biết sống” như con người ngay giữa thời túng đói quay quắt”[15-tr 77]
+Còn PGS.TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương trong nhà trường-Nxb Giáo dục, 2009 việc phân tích tác phẩm đã được
Trang 11chú trọng nhiều hơn Tác giả khẳng định: “Dạy học loại truyện này không thể không phân tích sự vận hành của tình huống truyện, quá trình hình thành, diễn biến tâm trạng nhân vật Những điểm nút của tình huống truyện luôn có phẩm chất thẩm mỹ nghệ thuật cao nhất Câu hỏi hình dung tưởng tượng sẽ phát huy tác dụng xen kẽ với câu hỏi phân tích lí giải Đan xen con đường theo bước tác giả và theo nhân vật”.[4-tr27]
2.2 Những công trình nghiên cứu về dạy học đọc – hiểu văn bản trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT
Về mọi phương diện đổi mới của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường thì
“Đọc –Hiểu” là khái niệm được đưa vào nghiên cứu và các giáo trình giảng dạy Tính chất và tiến trình dạy học trong giờ “giảng văn” với giờ “đọc- hiểu” được nhiều tác giả phân biệt sự khác nhau với các luận điểm, từ đó việc thiết kế và tổ chức một hoạt động học trong dạy học đọc – hiểu
+ Trong một cuốn tạp chí Văn học và tuổi trẻ Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã
so sánh sự khác nhau giữa giờ giảng văn và giờ tổ chức dạy đọc – hiểu
Phương diện so sánh trên tuy không tạo được phần nhiều sự đồng tình nhưng cũng phần nào chỉ ra được bản chất của việc dạy học đọc – hiểu có ưu điểm hơn rất nhiều
+ Trong cuốn Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường Trung học phổ
thông -nxb giáo dục việt nam,2015, TS Bùi Minh Đức (chủ biên ) đã nói rõ hoạt
động dạy học đọc – hiểu thì việc đọc đóng vai trò thiết yếu từ đây, mới quyết định rằng giờ giảng dạy ấy có thành công hay không đặc biệt là HS được “sống” trong giờ học Văn: “ Dạy học TPVC trong nhà trường là quá trình GV tổ chức HS hoạt động tiếp nhận tác phẩm Đọc văn, học văn trong nhà trường, xét cho cùng, là việc HS cảm thụ văn học và học cách tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV Cho nên, nếu không có lao động cảm thụ thật sự ở HS thì việc dạy học văn đích thực vẫn chưa diễn ra Điều này, cũng có nghĩa là chừng nào HS còn đứng ngoài vòng đời của một tác phẩm, còn chưa phải là bạn đọc thì chừng đó giờ văn vẫn chỉ là giờ của thầy giáp, chỉ thầy là độc giả của nhà văn Bởi vậy, coi HS là bạn đọc tức là đã xác nhận đúng vị trí, vai trò của người học văn trong nhà trường.”[6-tr.5]
Từ những điều đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi nhằm hướng đến vấn đề:
Trang 12- Tổ chức và thiết kế hoạt động học cho HS trong một giờ dạy học đọc – hiểu theo nguyên tắc chủ động, tích cực là vấn đề cốt lõi của việc đổi mới dạy học Ngữ văn
- Đề ra những hoạt động học cho Học sinh trong một văn bản cụ thể trong chương trình lớp 12: “Vợ nhặt” dựa theo đặc trưng loại thể
- Tổ chức một giờ dạy học đọc – hiểu tác phẩm “Vợ nhặt” dung hòa được giữa kiến thức và thời lượng dạy
3 Mục đích nghiên cứu
Xác định các hoạt động học và đề xuất các biện pháp thiết kế hoạt động học cho
học sinh trong dạy học truyện Vợ nhặt
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động học cho HS
Đề xuất các hoạt động và biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trong dạy học đọc-hiểu văn bản “Vợ nhặt”
Thiết kế giáo án thực nghiệm bài “Vợ nhặt”
5 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động học của HS trong giờ dạy học đọc –hiểu văn bản
Nội dung: gồm 3 chương:
+Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trang 13+Chương 2: Biện pháp và tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt” (Ngữ văn 12)
+Chương 3: Thiết kế thực nghiệm
Kết luận
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Hoạt động học
1.1.1 Khái niệm hoạt động học:
“Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định.” [9-tr.106]
1.1.2 Bản chất của hoạt động học:
1.1.2.1 “Đối tượng của hoạt động học”
Chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân
là cái đích mà hoạt động học hướng tới Việc này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm Muốn học có kết quả thì người học cần học bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của mình Vậy đối tượng ở đây là “ tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó” [9-tr.106] 1.1.2.2 “Hoạt động học là hoạt động thay đổi chính mình”
Nội dung tri thức mà con người tích lũy chính là đối tượng hoạt động học
Tâm lí của chủ thể thay đổi, phát triển nhờ sự chiếm lĩnh này Những biến đổi trong bản thân học sinh diễn ra trong hoạt động học: kĩ năng, tri thức, kỹ xảo biến đổi ở cấp
độ phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, học tập cho đễn mức độ năng lực trí tuệ và nhân cách
1.1.2.3 “Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo”
Trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể, chủ thể hoạt động tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Những điều này mang tính kinh nghiệm, tích lũy nhưng không mang tính hệ thống và không có cơ sở khoa học Ngược lại, trong hoạt động học lại có tính
tự giác cao Vì vậy, hoạt động dạy phải tạo được ở người học những hoạt động thích hợp với mục đích tiếp thu Hoạt động học của người lớn được điều khiển một cách
có ý thức thì sự tiếp thu này mới diễn ra
Trang 151.1.2.4 “Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu được cả phương pháp giành tri thức đó (cách học)” Biết cách học là điều mấu chốt của bản thân hoạt động học Nó diễn ra cùng lúc với việc tiếp thu tri thức, kĩ năng, kỹ xảo Cho nên, người dạy cần ý thức được những kỹ năng, tri thức nào cần thiết cho học sinh khi tổ chức hoạt động học Mục đích của hoạt động học được quyết định bởi nội dung và tính chất hoạt động học Cho nên, trong dạy học, hai công việc này phải được tiến hành đồng thời
1.1.3 Sự hình thành hoạt động học của học sinh
Gồm ba cấu trúc: Hình thành động cơ học tập, các mục đích học tập và các hành động học tập
1.1.3.1 Hình thành động cơ học tập
Có hai loại động cơ: động cơ hoàn thiện tri thức (động cơ bên trong) và động
cơ quan hệ xã hội (động cơ bên ngoài)
+ Động cơ bên trong: Các em cảm thấy thỏa mãn với nguyện vọng hoàn thiện tri thức của mình Một phần là do sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức cũng như phương pháp dành lấy tri thức đó…Chủ thể hoạt động không có những căng thẳng tâm lý Đây là động cơ tối ưu theo quan điểm sư phạm
+ Động cơ bên ngoài: Cái này nằm ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập
Nó giống như chất xúc tác khiến HS say sưa học tập bởi sức hấp dẫn, lôi cuốn của chất xúc tác này Những cái đó chỉ đạt được trong điều kiên các em chiếm lĩnh được tri thức khoa học
VD: Danh hiệu, phần thưởng, xếp hạng, áp lực, đe dọa,…
1.1.3.2 Mục đích học tập
Trong quá trình diễn ra hành động mục đích được hình thành dần dần Khi chủ thể bắt tay hành động thì mục đích mới thực sự có Lúc này, chủ thể thâm nhập vào đối tượng, nội dung của mục đích ngày càng được hiện hình, lại càng định hướng cho hành động và nhờ đó chủ thể chiếm lĩnh được tri thức mới, năng lực mới Mục đích thực ra ban đầu chưa hình thành, nó mới chỉ là biểu tượng đầu tiên về mục đích, do trí tưởng tượng tạo ra để định hướng cho hành động
1.1.3.3 Hình thành các hành động học tập
Trang 16là đối tượng lĩnh hội
1.1.4 Tổ chức hoạt động học của HS
Theo học thuyết Mác – Lênin: “ Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển, nó vận động và phát triển được là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập” Như vậy: thúc đẩy mọi hoạt động của con người thì yếu tố chính là mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn Hoạt động học cũng vậy, động lực của quá trình dạy học chính là các mâu thuẫn bên trong và việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học Việc tổ chức hoạt động học của HS bắt đầu kể từ trình
độ tri thức kĩ năng, kĩ xảo khi HS bắt đầu nghiên cứu môn học (một phần, một chương hay một bài) đến trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo khi HS hoàn thành xong việc nghiên cứu môn học (một phần, một chương hay một bài) Quá trình này không chỉ vận động theo logic môn học được quy định trong chương trình và sách giáo khoa mà trong quá trình dạy học GV còn phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của HS và quy luật nhận thức của HS Quá trình đó được diễn ra theo các hoạt động sau:
Đầu tiên, là hoạt động trước giờ học của HS:
Đây là hoạt động bước đầu tiếp cận tri thức mới Để tiếp thu được nhiều nhất
từ những giờ học, bài giảng, những buổi thảo luận…HS phải dành thời gian để chuẩn
bị tư duy Đó chính là trả lời cho câu hỏi: Đã biết những gì liên quan đến bài học? Bài học gồm những gì? Cần biết những gì khi học bài học này? Và sau khi học sẽ rút
ra được điều gì?
Thứ hai, là hoạt động trong giờ học (trên lớp) của HS: Đây là bước cần thiết bởi hoạt động này đảm bảo cho HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo một cách
có kế hoạch, có hệ thống, phù hợp với những yêu cầu của tâm lí học, giáo dục học và
vệ sinh học đường; Tạo điều kiện đào tạo hàng loạt HS, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của
Trang 17nền sản xuất vì vậy hiệu quả kinh tế cao; Đảm bảo sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc tế chương trình và nội dung dạy học; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục tinh thần tập thể và những phẩm chất đạo đức khác cho HS
cơ bản của quá trình dạy học Có các mức độ giải quyết mâu thuẫn sau:
Một là: Thầy giải quyết mâu thuẫn, trò nghe, hiểu và ghi nhớ
Hai là: Thầy và trò cùng giải quyết mâu thuẫn
Ba là: Trò tự lực giải quyết mâu thuẫn dưới sự hướng dẫn của thầy
Bốn là: Trò tự hình thành mâu thuẫn và tự giải quyết mâu thuẫn dưới sự hướng dẫn của GV
Hoạt động 3: Tổ chức hình thành cho HS những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Hoạt động 4: Tổ chức cho HS ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Sự phân chia các khâu của quá trình dạy học trên chỉ là tương đối GV không nhất thiết phải thực hiện theo trình tự những khâu trên trong quá trình dạy học, tùy theo trình độ GV mà các hoạt động trên được thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo
Thứ ba, là hoạt động sau giờ học: Đây là bước tiếp diễn của khâu học trên lớp,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa kiên thức HS đã học trên lớp; Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức vào để giải quyết những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra…
GV giao nhiệm vụ bài tập cho HS về nhà hoàn thành, cá biệt hóa bài tập về nhà cho HS, có hướng dẫn chu đáo để HS có thể hoàn thành được bài tập ở nhà Đảm bảo những nhiệm vụ học tập của HS có tính đa dạng: bài tập định tính, bài tập vận dụng vào nhiều tình huống khác nhau…Trong đó, chú ý các bài tập vận dụng vào những tình huống gắn liền với thực tiễn cuộc sống của HS
Trang 18GV đặt ra cho HS những tình huống liên quan đến bài học tạo cơ hội để HS tự bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, tính tự giác, độc lập suy nghĩ, tính kỉ luật, tính kế hoạch trong học tập, có sự sáng tạo, màu sắc riêng…
1.2 Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu
1.2.1 Khái niệm đọc hiểu
Khái niệm đọc hiểu văn bản là vấn đề được đưa ra trao đổi rất nhiều ở Việt Nam, trước hết là vấn đề về bản chất của khái niệm này
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Đọc là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu”
Khái niệm đọc – hiểu là một phương pháp dạy học mang tính đặc thù Tuy vậy,
để hoạt động này diễn ra đúng với bản chất thì người dạy cần tổ chức được hướng học sinh giải mã được tác phẩm rồi vận dụng vào phân tích, áp dụng vào những văn bản giống thể loại, chủ đề và tự rút ra cho mình những bài học thực tế
1.2.2 Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
1.2.2.1.Khái niệm dạy học đọc hiểu
Hoạt động học bản chất của nó là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị; mà lĩnh hội chính là vận dụng những cái trên vào trường hợp cụ thể rồi hình thành những năng lực và phẩm chất riêng của từng HS, nhờ đó, tạo nên sự phát triển của các em cho nên đó là lí do chúng tôi sẽ hướng tới “các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển năng lực học sinh”
Dạy học đọc hiểu văn bản là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các thao tác, phương pháp dạy học để học sinh có thể cảm nhận được những vẻ đẹp về giá trị
Trang 19nội dung tư tưởng, nghệ thuật của văn bản đó Đọc- hiểu Văn ở nhà trường phổ thông
là một quy trình, một hệ thống hoạt động bao gồm phương pháp đọc mang tính đặc thù của bộ môn với những biện pháp cụ thể chỉ dẫn HS đọc văn nhằm khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật, cái thẩm mĩ, tinh hoa của tác phẩm Đọc – hiểu vừa là phương pháp, vừa là tri thức, vừa là mục đích, kết quả của việc học văn và cần luyện tập thành những kĩ năng cơ bản Dạy văn là dạy cho HS phương pháp, kĩ năng đọc, năng lực đọc để HS có thể đọc – hiểu bất kì văn bản nào cùng loại Theo mô hình đổi mới từ chương trình giáo dục định hướng nội dung sang chương trình định hướng phát triển năng lực cụ thể trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện cần phải làm như thế nào để HS sau khi tham gia vào hoạt động học dưới sự tổ chức của GV có thể hình thành kỹ năng đọc hiểu tất cả các văn bản truyện khác ngoài chương trình; vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Cụ thể là hình thành cho HS năng lực đọc hiểu văn bản truyện để từ đó hình thành
cho HS các năng lực khác khi học đọc hiểu văn bản truyện
1.2.2.2.Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Quá trình dạy học đọc hiểu phải được hoạt động hóa, trong đó GV là người tổ chức, hướng dẫn và giao các nhiệm vụ đọc cho HS theo một quy trình đã được thiết
kế, còn HS là người tiếp nhận và thực thi các nhiệm vụ đọc hiểu Việc xác định quy trình dạy học đọc hiểu được xét trên các yếu tố cơ bản sau:
1) Yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản nói chúng và văn bản văn học nói riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh để biên soạn giáo án và tổ chức dạy học trên lớp
2) Đặc trưng của văn bản văn học với ba tầng cấu trúc: tầng ngôn từ, tầng hình tượng, tầng ý nghĩa
3) Đặc điểm tâm lí cảm thụ văn học, cần chú ý việc tạo tâm thế đọc cho HS trong quá trình dạy học đọc hiểu trước khi tổ chức cho HS tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tượng, phân tích, lí giải các chi tiết nghệ thuật và khái quát hóa tư tưởng nghệ thuật của người viết
4) Mô hình bài học đọc hiểu trong SGK, hoạt động dạy học đọc hiểu cần có những hoạt động thành phần: tìm hiểu tri thức đọc; đọc văn bản và tìm hiểu chú thích; đọc hiểu văn bản theo các câu hỏi hướng dẫn; khái quát hóa, xác định những giá trị nội dung và nghệ thuật cần nắm vững ở bài học; thực hành, luyện tập và vận dụng thực tiễn
Trang 20Dựa vào những căn cứ trên mà quá trình hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học nói chung ở trường THPT sẽ được tổ chức như sau:
1 Ổn định tổ chức lớp
2 Kiểm tra bài cũ
3 Bài mới
- Lời vào bài
- Nội dung bài mới
4 Củng cố, dặn dò
Cụ thể trong phần bài mới sẽ có những hoạt động:
1 Tìm kiếm ở văn bản các thông tin về tác giả, cốt truyện, hoàn cảnh sáng tác, thông điệp, ý tưởng,…:
+Nhận biết về tác giả từ tiểu sử, phong cách nghệ thuật, qua các mối quan hệ khác, hoàn cảnh sáng tác,…
+Nhận biết ngôn từ, chi tiết, đề tải, chủ đề của văn bản
+Xác định các luận điểm chính của văn bản như cốt truyện, nhân vật, cảm xúc, thông điệp,…của văn bản
2 Phân tích, liên kết các thông tin đã tìm được để xác định giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của văn bản:
+Liên kết các ý từ trong thông tin ở văn bản (như đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật, mạch cảm xúc, mạch lập luận, các từ ngữ, phép tu từ trong văn bản, kiến thức về các vấn đề xã hội, văn học, kiến thức về kinh nghiệm thực tế,…) để giải nghĩa ý tưởng cơ bản của văn bản
+So sánh, phân tích, đối chiếu những thông tin, ý chính của văn bản qua kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân
+Thâu tóm những cái có tính chất chung về nội dung và nghệ thuật từ các thông tin của văn bản
3 Phản hồi và đánh giá văn bản: nếu văn bản là đầu vào thì việc phản hồi chính
là đầu ra được thông qua từ những kỹ năng, năng lực mà các em đã áp dụng khi đọc hiểu văn bản:
Trang 21+Đưa ra nhận xét, đánh giá của bản thân với giá trị của văn bản, ý tưởng, cảm hứng của tác giả qua việc kết nối, so sánh, đối chiếu với các mối liên hệ ngoài văn bản và kinh nghiệm sẵn có của bản thân
+Phê phán, đánh giá văn bản trong mối liên hệ giữa Văn bản với hiện thực đời sống; với các Văn bản cùng tác giả, đề tài, chủ đề; cùng những trải nghiệm, cuộc sống của độc giả trong ngữ cảnh đọc cụ thể
+Rút ra được bài học cho bản thân và thông điệp mà tác giả gửi gắm
+Phản hồi, đánh giá giữa ý kiến, nhận xét của mình với người đọc khác
4 Vận dụng thông tin từ văn bản vào thực tế:
+Sử dụng các thông tin trong văn bản đã học vào việc giải quyết những vấn đề của cá nhân và cuộc sống; giải thích được cơ sở của sự vận dụng
+Vận dụng những kĩ năng, thao tác đọc hiểu văn bản đã học để đọc hiểu những văn bản khác có cùng đặc trưng thể loại
+Rút ra được ý nghĩa tư tưởng, những giá trị sống của cá nhân từ văn bản Bốn bước trên là các hoạt động đọc hiểu văn bản mà GV hướng dẫn HS tiến hành để giúp HS đạt được mục tiêu phát triển năng lực Có một vấn đề cần chú ý, các hoạt động đọc hiểu trước khi đến lớp và sau khi đến lớp chưa được chú trọng mà chủ yếu là trả lời các câu hỏi đọc hiểu và sau khi giờ học kết thúc là những dặn dò chung chung, thiếu tính kết nối với bài học vừa hoàn thành (nhưng chưa hoàn tất) Vì thế,
mà hoạt động trước giờ học đọc hiểu có ý nghĩa rất thiết thực GV cần giao cho các
em bài tập cụ thể, nhiệm vụ cụ thể như sưu tầm tài liệu liên quan, hoạt động nhóm chuẩn bị cho dự án liên quan đến bài học,… Những hoạt động và sản phẩm của các hoạt động này được coi là một phần trong hồ sơ học tập – căn cứ đánh giá quá trình
và kết quả học tập của các em
Những hoạt động nêu trên cũng cần được triển khai một cách linh hoạt và sáng tạo GV sẽ tiến hành tổ chức các hoạt động này theo trình tự hay lồng ghép, kết hợp trên lớp với ở nhà, tổ chức cho cá nhân hay nhóm HS…
1.2.2.3.Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo đặc trưng thể loại Thể loại văn học đóng vai trò quan trọng đặc biệt
Theo “Từ điển thuật ngữ Văn học”: “ Thể loại là dạng thức tồn tại của tác
phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình lịch sử
Trang 22của văn học thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng được miêu tả về tính chất của mối quan hệ nhà văn với các hiện tượng đời sống” [8-tr299]
Khi thực hiện việc tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường GV cần nắm vững đặc trưng thể loại để rút ra phương pháp của thể loại bởi đó chính là sự cụ thể hóa cho nguyên tắc dạy học theo đặc trưng bộ môn Sự hiện diện này làm thay đổi quan niệm cứng nhắc về trình tự các bước trong giờ học văn, khắc phục tính khuôn mẫu, tránh sự đánh đồng đọc hiểu thơ ca với văn xuôi, đọc hiểu truyện ngắn với trích đoạn tiểu thuyết…
Thể loại: Truyện và đặc trưng của thể loại
Khái niệm về truyện
Truyện thuộc “tác phẩm tự sự”:
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng
cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện tương đối hoàn tr385]
chỉnh”.[12-Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên
cạnh hai phương diện trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để pơhaan loại tác phẩm văn học” [8-tr385]
Đặc trưng của thể loại truyện
Truyện là một thể loại văn học và có những đặc trưng sau:
- Phản ánh đời sống trong tính khách quan
-Cốt truyện là thế giới của nghệ thuật và sáng tạo
-Nhân vật được mô tả chi tiết, sinh động trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh và môi trường xung quanh
-Không gian và thời gian không bị hạn chế về phạm vi miêu tả
-Ngôn ngữ được sử dụng dưới nhiều hình thức, gắn với ngôn ngữ đời sống
Dựa trên những đặc điểm của thể loại truyện ngắn và lý thuyết đọc hiểu, chúng tôi xin đưa ra một quy trình cho hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học thể loại truyện:
1 Ổn định tổ chức lớp
Trang 232 Kiểm tra bài cũ
3 Bài mới
- Lời vào bài
- Nội dung bài mới
4 Củng cố, dặn dò
Cụ thể trong phần bài mới sẽ có những hoạt động:
Hoạt động 1: Tạo tâm thế:
Vào bài mới với việc dùng lời dẫn dắt hoặc cho HS khởi động tạo tâm thế sử dụng trò chơi, câu hỏi, hình ảnh, sự chuẩn bị của HS ở nhà có liên quan tới bài học mới
Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức mới
- Hoạt động tìm hiểu tri thức đọc văn bản truyện
1 Đọc thông tin về tác giả, về các sáng tác của tác giả
2 Đọc thông tin về hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng sáng tác
3 Đọc thông tin về loại thể, đặc trưng của loại thể và cách tiếp cận
-Đọc văn bản, tìm hiểu kết cấu văn bản
1 Đọc văn bản, đọc chú thích, giải nghĩa tên văn bản, nhận diện các nhân tố giao tiếp trong văn bản
2 Xác định bố cục văn bản
3 Xác định các phương thức biểu đạt trong văn bản
4 Tóm tắt cốt truyện, xác định tình huống truyện, xung đột truyện
- Đọc hiểu nội dung văn bản
Cách 1: Đọc hiểu theo kết cấu
Cách 2: Đọc hiểu theo nhân vật
Cách 3: Đọc hiểu theo khía cạnh chủ đề
- Đọc hiểu ý nghĩa văn bản
1 Ý nghĩa mà tác giả gửi gắm vào văn bản (Thông điệp của nhà văn)
2 Ý nghĩa của mối quan hệ giữa văn bản và cuộc sống đặt ra
Trang 243 Ý nghĩa do người đọc “đồng sáng tạo” với tác giả, đặt ra và đề xuất ( HS có thể tự khẳng định mình trước những gì các em tiếp nhận được, không còn sự áp đặt,
bó hẹp ý nghĩa tác phẩm )
-Tổng kết, đọc hiểu ghi nhớ
Hoạt động 3: Hoạt động luyện tập
Thực hiện các bài tập trong SGK hoặc GV cho HS vận dụng kiến thức vừa học giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Để GV có biết HS đã nắm kiến thức ở mức độ nào?
1.3 Thực trạng dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt” của Kim Lân
1.3.1 Khảo sát thực trạng dạy học đọc – hiểu văn bản “Vợ nhặt”của Kim Lân qua các giáo án và thiết kế dạy học
-Sách giáo khoa và thiết kế bài học giáo viên:
+SGK: Công cụ để thực hiện chương trình đổi mới giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất cho học sinh chính là chương trình
PT tổng thể, chương trình môn học và SGK Phần “hướng dẫn đọc bài” trong SGK là vấn đề bất cập mà chúng tôi muốn nói đến Đây là phần định hướng tìm hiểu kiến thức bài học mới cho học sinh dựa vào đó mà học sinh có thể soạn bài Trong văn bản
cụ thể là văn bản “Vợ Nhặt” trong SGK có 6 câu hỏi trong phần “hướng dẫn học bài”
3 “Dựa vào nội dung truyện, giải thích nhan đề Vợ nhặt Qua hiện tượng “nhặt
được vợ” của Tràng, anh(chị) hiểu gì về tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945?” [2-tr.33]
4 “Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng (lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ
về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ)?” [2-tr.33]
Trang 255 “Phân tích tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ Qua đó, anh (chị) hiểu
gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?” [2-tr.33]
6 “Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân: cách kể chuyện hấp dẫn, cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên.” [2-tr.33]
Ta có thể thấy, hệ thống câu hỏi đơn thuần chỉ dừng lại ở những câu hỏi tái hiện hay nhận xét chưa phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh trong việc đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt”
+Thiết kế bài học: Giáo viên theo một khuôn mẫu áp đặt trong thiết kế dạy học: Thầy là người định hướng cảm thụ còn học sinh sẽ đọc hiểu theo định hướng đó khiến học sinh ỷ lại Ta có thể thấy rất nhiều trong các thiết kế bài học của các giáo viên với khuôn mẫu này cụ thể qua các giáo án đã khảo sát (Phụ lục)
+Sách tham khảo cho việc dạy – học: trong cuốn Chuyên đề dạy – học Ngữ Văn
12 Vợ nhặt (Kim Lân) – NXB Giáo Dục- Tác giả Lê Thị Ba định hướng khám phá
nội dung bài học với các vấn đề sau:
• “Tâm trạng ngạc nhiên của người dân xóm ngụ cư”[3-tr.29]
• “Cảnh Tràng và người đàn bà gặp gỡ, quen biết nhau”[3-tr.31]
• “Bà cụ Tứ”[3-tr.33]
• “Khung cảnh gia đình buổi sáng ngày đầu tiên Tràng có vợ”[3-tr.35]
Cuốn sách Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12 tập 2 do TS Phạm Minh Diệu (chủ
biên) – NXB Đại học Quốc gia Hà nội định hướng khám phá nội dung bài học như sau:
HS Vì những câu hỏi ngay cả trong quyển Bài tập Ngữ Văn 12 tập hai của NXB
Giáo Dục do Phan Trọng Luận (chủ biên) cũng là những câu hỏi chỉ ở mức độ nhận biết, thông hiểu chưa có mức độ vận dụng cao và gần gũi thiết thực với cuộc sống thực tế rút ra từ bài học
Trang 26Những câu hỏi này và những câu hỏi hướng dẫn học bài, câu hỏi GV đặt ra cho
HS đều có thể trả lời dễ dàng khi có sự hỗ trợ của sách tham khảo, nguồn thông tin trên mạng internet mà không cần đọc trước văn bản Khi đó, việc soạn bài ở nhà chỉ mang tính chất đối phó, là trách nhiệm phải hoàn thành trước khi đến lớp để qua được
sự kiểm tra của GV Và do 45 phút là thời gian quá ngắn để trên lớp GV có thể tổ chức đủ mọi thao tác, hoạt động đọc văn bản trước lớp nên việc đọc văn bản phải được tiến hành khi ở nhà soạn bài Nếu không được trước bài ở nhà mà chỉ soạn văn cho hoàn thành nhiệm vụ trả bải thi HS sẽ gặp những khó khăn, khó có thể hiểu được bài học một cách dễ dàng
+Phương pháp dạy học của giáo viên: giáo viên chỉ giảng những kiến thức, cảm xúc của mình về văn bản cho học sinh nghe và học sinh chỉ xoay vòng lặp hoạt động nghe và chép lại những gì giáo viên nói đến làm cản trở không ít sự sáng tạo, khả năng tư duy, hình thành và phát triển những kĩ năng cơ bản như: đọc, phân tích, liên tưởng…bị hạn chế Từ đó, hệ quả kéo theo học sinh “thụ động” tiếp thu kiến thức, tiếp thu theo lối một chiều mà không hề có dấu ấn cá nhân của các em trong việc cảm thụ văn bản Trong văn bản “Vợ nhặt” sau khi học xong giá trị mà học sinh nắm bắt
sẽ theo lối mòn: “Từ câu chuyện về tình huống nhặt được vợ và một bức tranh với khung cảnh nạn đói: không gian và con người mang một màu u ám Đằng sau đó, tác giả đã gửi gắm thông điệp: khát khao về mái ấm gia đình, là tình yêu thương, đùm bọc“một miếng khi đói bằng một gói khi no” của người dân lao động” Đây chính là
hệ quả của việc dạy học theo phương pháp truyền thống: phương pháp diễn giảng
trong dạy học đọc hiểu văn bản Việc hạn chế trong phương pháp dạy học một phần cũng do thời gian khá hạn chế mà khi đó giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật hàm chứa rất nhiều ý nghĩa Do nặng về kiến thức cùng với việc giảng dạy trong có chọn lọc, tham kiến thức của giáo viên mà chưa có phương pháp dạy học phù hợp để từ đó học sinh hình thành phát triển năng lực đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” và các văn bản khác cùng thể loại
1.3.2 Khảo sát thực trạng học văn bản “Vợ nhặt” của HS tại trường THPT Hàn Thuyên qua phiếu khảo sát
Để có tính thực tế, hướng đi giải quyết vấn đề cho phù hợp và khắc phục được những hạn chế của việc dạy học hiện hành vì thế chúng tôi đã khảo sát một lớp 12
của trường THPT Hàn Thuyên, khảo sát xem tác phẩm Vợ Nhặt được giảng dạy ở
trường THPT như thế nào Với những câu hỏi chúng tôi đưa ra khảo sát như sau:
Trang 271 Em có đọc trước bài ở nhà không? Thì có 10 HS trả lời rằng: không học bài chiếm 30.3%
2 Thầy (cô) đã dạy tác phẩm Vợ Nhặt cho các em bằng phương pháp gì? Thì
33 HS trả lời rằng: dạy học bằng phương pháp truyền thống chiếm 100%
3 Em có hứng thú học Vợ Nhặt không? Thì 7 HS trả lời rằng là không thích học
chiếm 21.2% với lí do em không thích học Văn, còn lại 78.8% là rất hứng thú bởi: nó phản ánh tình trạng xã hội nước ta 1945; tình huống truyện đặc sắc; giá trị nhân văn sâu sắc
4 Em muốn đề xuất gì để bài học thú vị và đạt hiệu quả hơn không? Thì có nhiều ý kiến nhưng hầu hết là ý kiến: cần có nhiều hình ảnh sinh động, trực quan; GV cần giao tiếp với HS nhiều hơn; Việc dạy cần gắn liền với thực tế cuộc sống; chuyển thể tác phẩm bằng hình thức đóng Kịch
Từ đây, để thấy rằng việc dạy học truyền thống đã một phần khiến các em nhàm chán chỉ đơn giản là đọc và chép không có những hoạt động khiến HS được tư duy, phát huy những năng lực của riêng mình Chất văn sẽ bị một màu không mang màu sắc cá nhân Phần lớn HS đều cảm thấy hứng thú với “Vợ nhặt” để cho thấy một điều: văn bản này có sự hấp dẫn của riêng nó Việc đọc ở nhà HS chưa thực sự phát huy, duy trì cũng bởi GV chưa có định hướng đúng đắn mới là soạn bài tập mà HS thường chép trên mạng hoặc sách tham khảo dẫn đến việc đến lớp không hiểu kiến thức, viết văn một cách sáo rỗng Việc đề xuất của HS, để cho thấy rằng đó chính là những hạn chế lớn của việc dạy học truyền thống mà trong nghiên cứu này chúng tôi cần khắc phục
Trang 28Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã đưa ra cái nhìn tổng thể về tổ chức và thiết kế hoạt động học trong giờ dạy học đọc hiểu là hướng đến việc “tích cực hóa hoạt động học của HS” bản chất là: hình thành và phát triển năng lực của HS cụ thể ở đây là đọc hiểu văn bản truyện Tuy nhiên, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực nhưng chúng ta có thể hiểu đó chính là sự vận dụng thuộc tính khách quan và chủ quan để giải quyết hiệu quả công việc đem ý nghĩa nào
đó, không chỉ dừng lại ở biết và hiểu Hành động thực hiện phải gắn với ý thức, thái
độ phải có kiến thức, kỹ năng chứ không đơn thuần làm một cách “dập khuôn” và
“vô thức”
Chương trình giáo dục đổi mới hướng tới phát triển năng lực nay còn được gọi
là kết quả đầu ra, là mô hình nhằm phát triển phát triển tối đa năng lực của người học, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ dưới sự dẫn dắt, tổ chức của GV dựa trên nguyên lí: học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Trong bộ môn Ngữ văn và cụ thể ở đây là văn bản truyện cũng đổi mới theo hướng hình thành và phát triển cho HS các năng lực chung/ cốt lõi và đặc biệt là năng lực đặc thù (Năng lực đọc hiểu văn bản truyện) Nghĩa là để sau khi HS tham gia vào hoạt động học đọc hiểu dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV có thể hình thành cho mình được kĩ năng tự đọc hiểu các văn bản truyện khác và vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề trong cuộc sống Dạy học đọc hiểu văn bản truyện cần gắn với đặc trưng thể loại truyện
Từ kết quả khảo sát lí luận và thực tiễn cho thấy xu hướng mới trong việc dạy học hiện đại là theo định hướng phát triển năng lực HS cần phát triển rộng rãi
Trang 29CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TRONG DẠY
HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỢ NHẶT” (NGỮ VĂN 12)
2.1 Hoạt động học của HS trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt”
Việc dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” nằm trong cấu trúc của việc tổ chức
và thiết kế hoạt động học nên sẽ có ba thời điểm như sau:
2.1.1 Hoạt động trước giờ học
a Mục đích của hoạt động này là giúp HS: Huy động được những kĩ năng, kiến thức đã học để vận dụng vào việc chuẩn bị bài trước ở nhà như: tóm tắt văn bản tự
sự, phân tích nhân vật trong văn bản tự sự, hợp tác (nếu có hoạt động nhóm),…
b Nội dung và hình thức : Câu hỏi, bài tập, sưu tầm tài liệu liên quan đến bài học, thiết kế phiếu học tập
2.1.2 Hoạt động trong giờ học
*Hoạt động 1: Hoạt động khởi động
a Mục đích của hoạt động này là giúp HS: Tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới bằng việc huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có; Để cho HS bước vào bài học mới với một tâm thế tích cực, hứng thú; Giúp GV nắm bắt được những hiểu biết của HS những vấn đề về cuộc sống có liên quan đến nội dung của bài học
b Nội dung và hình thức khởi động: Trò chơi, bài tập, câu hỏi
*Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức mới
a Mục đích của hoạt động: Giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các hoạt động, bài tập, nhiệm vụ
b Nội dung và hình thức các hoạt động, bài tập, nhiệm vụ được tiến hành theo trình tự sau:
-Hoạt động tìm hiểu tri thức đọc văn bản truyện:
+ Kiến thức về tác giả: tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp văn chương
+ Kiến thức về văn bản: Hoàn cảnh sáng tác, thể loại, đề tài, chủ đề,…
+ Tìm hiểu bố cục của văn bản: tóm tắt tác phẩm, chia đoạn, xác định ý chính + Tìm hiểu nhan đề văn bản
+ Tìm hiểu mục đích, ý nghĩa qua tình huống truyện, hình tượng nhân vật, chi tiết nghệ thuật của văn bản: trình bày phiếu học tập đã được chuẩn bị ở nhà
Trang 30+ Tìm hiểu phong cách nghệ thuật, tư tưởng của tác giả
-Hoạt động đọc hiểu văn bản truyện:
+ Đọc văn bản sau đó dựng lại cốt truyện và hệ thống các nhân vật của văn bản truyện
+ Đọc hiểu văn bản theo các phân đoạn với nội dung tương ứng thông qua các câu hỏi, nhiệm vụ
+ Tìm hiểu vai trò và điểm nhìn của người kể chuyện trong việc thể hiện chủ đề của truyện
+ Tổng kết giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật văn bản và cách đọc hiểu một văn bản truyện
*Hoạt động 3: Hoạt động luyện tập
a Mục đích của hoạt động: Yêu cầu HS vận dụng những kiến thức vừa được học để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong bài Giúp GV kiểm tra được HS đã nắm được kiến thức hay chưa và ở mức độ nào?
b Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ: Hướng tới các kĩ năng sau đây: -Nội dung:
+ Đọc hiểu về tác giả, tác phẩm, những kiến thức, thông tin liên quan để hiểu nội dung văn bản
+ Phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản
+ Cảm thụ, thưởng thức, nhận xét, đánh giá được vẻ đẹp, ý nghĩa của văn bản + Trình bày được ý kiến của mình về một vấn đề trong văn bản dưới hình thức: ngôn ngữ nói và viết( một đoạn, bài)
-Hình thức: Các bài tập trên lớp hoặc về nhà HS có thể làm được phù hợp với điều kiện, khả năng, sở thích của HS dưới những câu hỏi, kế hoạch của GV
*Hoạt động 4: Hoạt động ứng dụng/ vận dụng
a Mục đích của hoạt động: Giúp HS huy động kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ thực tế với các môi trường: nhà trường, gia đình và cuộc sống
b Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ:
Trang 31+ Vận dụng các kiến thức, kĩ năng đọc hiểu để tiếp cận, đọc hiểu những văn bản truyện ngắn khác trong và ngoài chương trình
+ Biết cách phân tích những phương diện của một văn bản theo đặc trưng của thể loại truyện ngắn như hình tượng nhân vật, cốt truyện, những chi tiết nghệ thuật quan trọng, tình huống truyện, nghệ thuật kể chuyện…
+ Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực hành để giải quyết được những vấn đề trong cuộc sống như: tình cảnh khốn cùng thời kì 1945 nạn đói mùa xuân năm
Ất Dậu (hoàn cảnh khó khăn) nhưng con người luôn lạc quan, vui vẻ, không bị khuất phục trước hoàn cảnh; Bạn không thể thay đổi hoàn cảnh, nhưng có thể thay đổi tâm thái của chính mình; tình yêu, niềm thương yêu, đồng cảm hay vẻ đẹp tâm hồn luôn
là vị thuốc diệu kì trước bất kì mọi thời kì lịch sử hay bất cứ thế hệ nào khiến con người sống dậy, “Trên trời, đẹp nhất là các vì sao; trong nhân gian, đẹp nhất là sự chân tình” ; muốn thoát khỏi “nghèo đói” chỉ có con đường duy nhất là đấu tranh vượt lên hoàn cảnh thậm chí là chính bản thân mình; cần có niềm tin vào cuộc sống:
“trước bình minh luôn là đêm tối”, “Trên đời này thứ gì cũng có thể để mất nhưng đừng để mất hy vọng và niềm tin”; biết rung động và cảm nhận cái đẹp mới trong cuộc sống đương đại: thấu hiểu, tình yêu thương và biết đồng cảm trước những bất hạnh con người và dám chia sẻ, giúp đỡ những con người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh
2.1.3 Hoạt động sau giờ học
Hoạt động mở rộng, bổ sung, phát huy ý tưởng sáng tạo
a Mục đích của hoạt động:
Giúp HS tiếp tục mở rộng kiến thức và kĩ năng Bởi quá trình nhận thức của HS
là không ngừng vì thế cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện không bị ngắt quãng sau mỗi bài học cụ thể
b Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ:
+ Đọc thêm toàn văn bản truyện
+ Đọc thêm các bài phê bình hay, các đoạn trích, văn bản giới thiệu tác giả và tác phẩm; Tìm đọc sách báo; mạng internet…một số yêu cầu theo nội dung
+ Chuyển thể tác phẩm bằng nhiều hình thức khác nhau: hội họa, âm nhạc, sân khấu hóa tác phẩm, mô hình, thơ,…
Trang 32+ Đọc thêm các tác phẩm cùng thể loại, cùng đề tài trong văn học thời kì trước Cách Mạng tháng Tám
+ Trao đổi với bạn bè, người thân về nội dung bài học như: đưa ra nhận định rồi cùng thảo luận, hỏi những băn khoăn hay thắc mắc về nội dung của tác phẩm, kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học,…
2.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động học trong dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt”
Xác định rõ mục tiêu thì làm việc gì cũng có kết quả tốt Khi thiết kế một bài học, muốn nâng cao chất lượng dạy học, người thầy phải trả lời được câu hỏi: Dạy bài học này để làm gì? (Để hiểu về một thời đại hay một trào lưu văn học? Để hình thành năng lực đọc hiểu văn bản theo thể loại văn học? Để đáp ứng yêu cầu của các
kì thi hay ứng dụng vào cuộc sống? ) Mục tiêu dạy sẽ quy định cách thức lựa chọn nội dung, thiết kế bài học, tổ chức các hoạt động học tập khác với mục đích dạy chỉ nắm kiến thức…Việc xác định rõ mục tiêu sẽ giúp học bài học có tính định hướng Mục tiêu bài học:
-Vận dụng được những hiểu biết về các văn bản truyện đã học vào việc xác định
cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện và ngôi kể trong văn bản Vợ nhặt của tác giả
Kim Lân
-Phân tích, đánh giá được tình huống truyện (tình huống nhận thức) và nhân vật chính trong truyện( Tràng, Thị), từ đó trình bày một cách thuyết phục ý nghĩa và những nét đặc sắc nghệ thuật cơ bản của truyện
-Nêu và giải thích được (những) bài học kinh nghiệm cho bản thân rút ra từ nội dung ý nghĩa của truyện
Xác định nội dung dạy học chính là trả lời câu hỏi “dạy cái gì?” (kiến thức) và bằng cách nào? (phương pháp, kĩ năng, năng lực) Lựa chọn các đơn vị kiến thức và việc sử dụng các thao tác, kĩ năng tương ứng cho mỗi bài học nhằm hướng đến một mục tiêu cụ thể trong quá trình học là việc lựa chọn nội dung chính
Tài liệu tập huấn GV hè 2017 ở phần 2 “Lựa chọn nội dung, xây dựng bài học
và một số phương pháp, kĩ thuật dạy học Ngữ Văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh” đã chỉ ra trong quá trình lựa chọn nội dung dạy học, cần lưu ý
những điểm sau:
-Nội dung bài học phải nhất quán với mục tiêu chương trình đề ra
Trang 33-Nội dung bài học phải được tinh giản để tránh sự ôm đồm
-Nội dung dạy học phải kết hợp giữa tính tiêu biểu và trường hợp ngoại lệ
-Nội dung bài học phải phù hợp với đối tượng tiếp nhận
Dựa vào những yêu cầu nêu trên, chúng tôi xin đưa ra nội dung dạy học được lựa chọn khi dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” bao gồm:
Tình huống
truyện
Giá trị hiện thực -Nạn đói
-Một đám cưới trong ngày đói -Hình ảnh đoàn người phá kho thóc của Nhật
-Thân phận người lao động +Bèo bọt: Thị
+Gia cảnh nhà Tràng
Giá trị nhân đạo -Nhân vật Tràng – niềm khát khao mái
ấm gia đình, tấm lòng nhân hậu -Nhân vật Thị - khát khao được sống, được yêu thương
- Nhân vật bà cụ Tứ
- tấm lòng người
mẹ
Thông điệp
-“Có gì đẹp trên đời hơn thế Người với người sống để yêu nhau”
(Tố Hữu) -Tình người sẽ làm cải biến tất cả
- Thái độ sống quyết định mọi thứ (khát khao, hy vọng, tin vào tương lai,…) -Đời sống tinh thần có sức mạnh rất lớn -Hoàn cảnh quyết định cách sống