1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học bài “thao tác lập luận bình luận” (ngữ văn 11)

70 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy để nâng cao kĩ năng tổ chức lập luận khi tạo lập VBNL, HS cần phải sử dụng thành thạo, sáng tạo các TTLL như phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ...Tuy nhiên, trong thực tế giảng

Trang 1

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP LUẬN

TRONG DẠY HỌC BÀI

“THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”

(NGỮ VĂN 11)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

TẠ THỊ LAN

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP LUẬN

TRONG DẠY HỌC BÀI

“THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”

(NGỮ VĂN 11)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Phạm Kiều Anh, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình em nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn – Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện để giúp

đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến, phản hồi, tiếp tục xây dựng đề tài để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Phúc, ngày 16 tháng 04 năm 2019

Sinh viên thực hiện

TẠ THỊ LAN

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Vĩnh Phúc, ngày 16 tháng 04 năm 2019

Sinh viên thực hiện

TẠ THỊ LAN

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BT : Bài tập

GV : Giáo viên

HS : Học sinh KHGD : Khoa học giáo dục NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông

Tr : Trang TTLL : Thao tác lập luận XHCN : Xã hội chủ nghĩa VBNL : Văn bản nghị luận

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẨU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Các phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc khóa luận 7

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lý luận về kĩ năng và công cụ rèn kĩ năng trong dạy học 9

1.1.1 Kĩ năng và quá trình rèn kĩ năng 9

1.1.2 Bài tập và vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng 10

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của bài tập trong quá trình giáo dục 10

1.1.2.2 Vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng 11

1.2 Lập luận và kĩ năng lập luận trong dạy học làm văn nghị luận 12

1.2.1 Lập luận trong văn bản nghị luận 12

1.2.2 Kĩ năng lập luận trong dạy học Làm văn nghị luận 13

1.3 Thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận 15

1.3.1 Quan niệm về thao tác lập luận trong văn bản nghị luận 15

1.3.2 Thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận 16

1.4 Cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học TTLL bình luận 18

1.4.1 Nội dung dạy học thao tác lập luận bình luận trong chương trình Ngữ văn THPT 18

Trang 7

1.4.2 Điều tra, khảo sát thực trạng rèn kĩ năng tổ chức lập luận trong

trong dạy học “Thao tác lập luận bình luận” ở trường THPT 19

1.4.3 Điều tra, khảo sát khả năng tổ chức lập luận trong quá trình học tập “Thao tác lập luận bình luận” ở trường THPT 20

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP SỬ DỤNG KHI RÈN KĨ NĂNG TỔ CHỨC LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” (SGK NGỮ VĂN 11) 21

2.1 Mục đích dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” (SGK Ngữ văn 11) 21

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận 21

2.2.1 Nguyên tắc khoa học 21

2.2.2 Nguyên tắc hướng vào mục tiêu rèn luyện kĩ năng sử dụng TTLL 22

2.2.3 Nguyên tắc vừa sức 23

2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo phối hợp rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận và năng lực tư duy cho HS 25

2.3 Hệ thống bài tập được sử dụng để rèn luyện kĩ năng tố chức lập luận trong dạy học “Thao tác lập luận bình luận” cho học sinh THPT 25

2.3.1 BT nhận diện 26

2.3.2 BT thông hiểu 27

2.3.3 BT phân tích, đánh giá 28

2.3.4 BT vận dụng viết đoạn 31

2.4 Cách thức sử dụng hệ thống bài tập 34

2.4.1 Sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu khi hướng dẫn HS thực hiện một số dạng BT 34

2.4.2 Sử dụng phiếu học tập 35

2.4.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm 35

Trang 8

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 38

3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 38

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 38

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 39

3.4 Nội dung thực nghiệm 39

3.5 Cách thức tiến hành thực nghiệm 39

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 40

3.6.1 Về giáo viên thực hiện 40

3.6.2 Về phía học sinh thực nghiệm 41

KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẨU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong phiên họp của Ủy ban quốc gia đổi mới Giáo dục & Đào tạo giai đoạn 2016 - 2020 và Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 - 2020 chiều 29/5/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã

khẳng định: “Chúng ta đang xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chúng ta không chạy theo xã hội thị trường Phát triển kinh

tế rất cần thiết, nhưng cuối cùng phục vụ người dân là giáo dục và y tế, vì nó liên quan đến mọi người, mọi nhà, là nền tảng quan trọng của sự phát triển đất nước Chúng ta xây dựng những thế hệ công dân toàn cầu nhưng mang văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam, không phải công dân toàn cầu của

xã hội thị trường Những vấn đề như vậy liên quan đến Giáo dục & Đào tạo trong giai đoạn sắp tới…Vấn đề giáo dục, tinh thần học tập suốt đời là vô cùng quan trọng, để chống sự trì trệ của đất nước, chống lại sự kém sáng tạo trong công việc Vì vậy, phương pháp dạy và học cần thay đổi; nội dung học quan trọng nhưng phương pháp, kĩ năng học và xử lý thông tin quan trọng hơn” Lời khẳng định trên cho thấy: Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp

thiết cho những người làm công tác giáo dục ở các cấp Theo đó, việc đổi mới phương pháp dạy học phải đặc biệt chú trọng tới việc hình thành và rèn luyện những

kĩ năng cơ bản cho chủ thể học tập, để các em có thể chủ động giải quyết những yêu cầu nảy sinh trong thực tế cuộc sống Tạo lập văn bản là một hoạt động mà con người thường xuyên phải thực hiện hàng ngày Muốn các em có thể tạo ra những văn bản chuẩn mực, có giá trị, việc rèn luyện kĩ năng – trong đó có kĩ năng tổ chức lập luận là điều không thể thiếu

1.2 Việt Nam đang trong xu thế hội nhập cùng với thế giới Theo đó, ngành giáo dục của nước ta cũng đã có sự phát triển và đổi mới toàn diện với mục tiêu là đào tạo ra những còn người toàn diện, tích cực và chủ động Việc thay đổi và cải biến phương pháp dạy và học của giáo viên (GV) lẫn học sinh (HS) đang là vấn đề mấu chốt của toàn ngành giáo dục hiện nay Việc dạy học phải gắn với thực tiễn, dạy học phải hình thành và rèn luyện những năng lực thiết yếu, là tiền đề để HS có thể giải quyết được những bài toán nảy sinh từ trong thực tế cuộc sống đang là tâm điểm của mọi khâu trong giáo dục

Trang 10

Không là ngoại lệ, việc dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học tạo lập văn bản nghị luận (VBNL) nói riêng cũng đang có những bước chuyển đổi để theo kịp

xu thế và nhu cầu của xã hội

1.3 Thao tác lập luận (TTLL) trong chương trình Ngữ văn THPT là nội dung kiến thức thể hiện rõ bản chất của kĩ năng tổ chức lập luận Mục đích của việc dạy học nội dung này là trang bị cho HS có những hiểu biết và kĩ năng lập luận khi biểu đạt nội dung nghị luận Vì vậy để nâng cao kĩ năng tổ chức lập luận khi tạo lập VBNL, HS cần phải sử dụng thành thạo, sáng tạo các TTLL như phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy phần làm văn nghị luận ở trường phổ thông, việc dạy học các bài liên quan đến TTLL chưa thực sự đạt hiệu quả Trong nhiều bài viết của HS,

có thể nhận thấy một thực tế là các em chưa biết cách thực hiện, chưa biết kết hợp các TTLL để làm nổi bật vấn đề cần bàn luận Như vậy, việc dạy học các TTLL trong chương trình Ngữ văn THPT còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ những lý do trên, cùng với mong muốn giúp HS THPT có thể nâng cao kĩ năng lập luận trong quá trình tạo lập VBNL, chúng tôi lựa chọn đề tài:

Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11)

2 Lịch sử nghiên cứu

Ngay từ thời xưa, khi bàn luận về thuật hùng biện, Aristote đã trình bày những hiểu biết của ông về lập luận một cách rõ ràng và sâu sắc nhất Theo đó, lập luận được xác định là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật hùng biện Lập luận là phương pháp dẫn dắt người nghe (người đọc) tiếp nhận để nắm bắt được một sự việc, hiện tượng, quan điểm nào đó của thế giới khách quan, của xã hội loài người Để có thể dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với những chân lí khách quan, đi đến với những nhận thức và hiểu được thái độ, quan điểm của người bàn luận trong VBNL, người nghị luận phải sử dụng TTLL bình luận Cho đến nay, lập luận bình luận vẫn luôn được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và tìm hiểu một cách sâu sắc

Có thể nhắc tới một số công trình nghiên cứu về TTLL này như sau:

Trong cuốn “Lí luận văn học”, tác giả Phương Lựu cùng với nhiều tác

Trang 11

giả khác đã nói đến bình luận với tư cách là một dạng thức của lập luận Theo

đó họ cho rằng: “Bình luận là đánh giá, xem xét cái đúng, cái sai, mặt hay, mặt dở (tức là bình) của một hiện tượng, một sự vật, một quan niệm… đồng thời đào sâu, mở rộng thêm (luận) nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những mặt tiêu cực, sai trái” [Tr.444] Không những vậy, họ còn chỉ ra rằng bình luận còn liên đới với cả những phương pháp lập luận khác như chứng minh, giải thích và phân tích

Trong cuốn “Làm văn nghị luận như thế nào”, nhiều tác giả đã nói

đến bình luận chính là một trong ba kiểu bài văn nghị luận cơ bản Giống như

quan đểm của các tác giả trong cuốn sách “Lí luận văn học”, những tác giả

trong cuốn sách này cũng nêu lên được bản chất thực sự của bình luận nhưng

nó đã có sự mở rộng và đưa ra những yêu cầu cụ thể hơn so với bài văn bình

luận: “Bình luận là kiểu bài nghị luận đòi hỏi người viết phải xác định công khai luận đề đúng hay sai, đúng sai ở chỗ nào, vì sao lại đúng sai như thế… Kiểu bài bình luận luôn luôn nêu yêu cầu nâng cao vấn đề, mở rộng vấn đề,

từ vấn đề này bàn sang vấn đề khác có liên quan Phải lật xuôi lật ngược vấn

đề, rào đón những thắc mắc của người đọc, người nghe; kiên quyết đấu tranh, gạt bỏ những nhận thức sai trái, có hại; khẳng định những nhận thức đúng đắn” [20,Tr 22] Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra những yêu cầu cụ

thể về giọng văn bình luận là phải “Sôi nổi, hùng hồn, giàu tính chiến đấu” Nói cách khác “Người viết bình luận phải bộc lộ chủ quan của mình bằng tất

cả trí tuệ và cảm xúc”

Một số cuốn sách khác cũng đóng góp rất lớn vào việc hình thành kĩ

năng làm văn bình luận như là cuốn “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận”

của tác giả Bảo Quyến Ở đây, Bảo Quyến không những nói đến bình luận như là một trong những thao tác tổ chức lập luận để làm nên nội dung bài văn nghị luận mà còn nói đến bình luận như một bài văn nghị luận cụ thể Cũng giống như các kiểu bài phân tích, chứng minh, giải thích và bình giảng, Bảo Quyến đã chỉ ra được những đặc điểm, yêu cầu và đã đề xuất phương pháp làm bài đối với từng phần cụ thể như thế nào trong bài văn bình luận Trong bài văn bình luận, ngoài hai phần đặt vấn đề và kết thúc vấn đề thì trong phần còn lại là giải quyết vấn đề tác giả Bảo Quyến đã nhấn mạnh cần phải thực

Trang 12

hiện 3 thao tác là “Giải thích luận đề”, “Bình luận đề” và “Luận luận đề” [17, 21].Vì vậy, chúng ta có thể thấy, tác giả Bảo Quyến cũng như nhiều tác giả khác mặc dù đã nhìn nhận bình luận trên rất nhiều phương diện khác nhau nhưng đều đi đến nhận định: “Bình luận có hai thao tác cơ bản là đánh giá (bình) và bình luận (luận)” Đặc biệt tác giả còn nhận thấy rằng bình luận không phải là một kiểu bài văn nghị luận riêng biệt mà là “Một kiểu bài tổng hợp vì trong nó có cả giải thích, phân tích, chứng minh” [17, 20] Quan điểm này của tác giả Bảo Quyến là một quan điểm vô cùng tiến bộ khác với nhiều tác giả khác bởi vì trong thực tế không có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng đơn thuần một thao tác nào đó mà nó là sự kết hợp của nhiều TTLL khác nhau

Hiện nay, các tác giả biên soạn SGK Ngữ Văn đã tách các TTLL thành từng bài riêng với mục đích giúp HS hiểu được đúng bản chất chúng, từ đó giúp các em biết vận dụng linh hoạt các thao tác này vào viết bài văn nghị luận Trong SGK Ngữ Văn, các tác giả khi triển khai nội dung dạy học về

TTLL này đã quan niệm như sau: “Bình luận nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình

về một hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học” [3,tr 73]

Trên cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra cách thực hiện TTLL này nhằm mục đích hình thành và rèn kĩ năng thực hiện và sử dụng nó khi tạo lập VBNL cho cả

GV và HS Hơn nữa, SGK Ngữ văn đã khẳng định rằng: “TTLL bình luận không chỉ có mặt trong các kiểu bài mà thao tác này còn có mối liên hệ mật thiết với các thao tác khác: phân tích, so sánh, bác bỏ”… Quan điểm này vừa hoàn toàn phù hợp với thực tế viết văn lại vừa là điều kiện để luyện tập cho

HS biết cách vận dụng TTLL này vào trong suốt quá trình học văn nghị luận

từ THCS đến THPT và ứng dụng vào việc học tập cũng như trong cuộc sống sau này Từ những công trình nghiên cứu về VBNL và TTLL bình luận, chúng tôi thấy rằng, cho đến nay TTLL này chỉ mới được đề cập mang tính định hướng chung trong bộ sách giáo viên (bộ cơ bản và bộ nâng cao) và trong Tài liệu bồi dưỡng GV lớp 11 môn Ngữ văn song chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về vấn đề này Đây là những gợi dẫn để chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này, với mục

Trang 13

đích phần hình thành và rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản

để các em có thể làm việc suốt đời

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về kĩ năng, kĩ năng lập luận,

TTLL, vận dụng vào dạy các thao tác lập luận khác, đặc biệt là thao tác lập luận bình luận trong chương trình Ngữ văn 11

- Đề xuất các biện pháp để có thể sử dụng khi tổ chức dạy học TTLL bình luận, cần đặc biệt chú trọng đến rèn kĩ năng lập luận cho HS

- Thực nghiệm sư phạm

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Đề xuất một số biện pháp có thể sử dụng để rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS khi dạy thao tác lập luận bình luận trong SGK Ngữ văn 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là: các bài học “Thao tác lập luận bình luận” và các bài có mối quan hệ với TTLL này như: “Thao tác lập luận bình luận”, “Luyện tập thao tác lập luận bình luận”… Giới hạn chủ yếu là

nghiên cứu dạy học TTLL bình luận theo SGK Ngữ Văn 11 chương trình chuẩn (có liên hệ với chương trình SGK Ngữ Văn 11 nâng cao) áp dụng đối

Trang 14

với HS THPT

5 Các phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong

đó, có các phương pháp chính như sau:

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết

5.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Phân tích là “nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng”

5.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn

5.1.3 Phương pháp mô hình hóa

Là phương pháp nghiên cứu các đối tượng bằng xây dựng gần giống với đối tượng, tái hiện lại đối tượng theo các cơ cấu, chức năng của đối tượng

5.1.4 Phương pháp giả thuyết

Là phương pháp đưa ra các dự đoán về quy luật của đối tượng sau đó đi chứng minh dự đoán đó là đúng

Trang 15

Là các phương pháp tác động trực tiếp vào đối tượng có trong thực tiễn

để làm rõ bản chất và các quy luật của đối tượng

5.2.1 Phương pháp quan sát khoa học

Quan sát khoa học là phương pháp tri giác đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin đối tượng Có 2 loại quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp

5.2.2 Phương pháp điều tra

Điều tra là “phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng

để phát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của đối tượng”

5.2.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học

Là phương pháp các nhà khoa học chủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến sự kiện mà đối tượng tham gia để hướng sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến của mình

5.2.4 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm

Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học

5.2.5 Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, tìm ra một giải pháp tối ưu

5.3 Các phương pháp xử lí thông tin

Trong nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp cơ bản sau để thu thập thông tin:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phi thực nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp chuyên gia

6 Cấu trúc khóa luận

Trang 16

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của khóa luận được triển

khai trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Hệ thống bài tập sử dụng khi rèn kĩ năng lập luận trong quá

trình dạy học Thao tác lập luận bình luận (SGK Ngữ văn 11)

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận về kĩ năng và công cụ rèn kĩ năng trong dạy học

1.1.1 Kĩ năng và quá trình rèn kĩ năng

vấn đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm khi nghiên cứu sự phát triển nhận thức loài người Bàn về nó, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Kĩ năng được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế [Tr.644] Cũng bàn về kĩ năng, tác giả Trần Trọng Thủy lại cho rằng: “Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách thức hành động, tức kĩ thuật hành động là có kĩ năng” (theo Tâm lí học đại cương, Tr

87, NXB Giáo dục) Quan điểm của tác giả Trần Trọng Thủy được đề xuất dựa trên những quan điểm về kĩ năng của nhà tâm lý học A.V Petrovxki Tuy

nhiên, khi bàn về vấn đề này, nhà nghiên cứu A.V Petrovxki nhấn mạnh: “Kĩ năng là giai đoạn nắm vững các hành động dựa trên một quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định” Từ những quan điểm về kĩ năng như trên, chúng ta có thể khẳng định:

Kĩ năng là khả năng con người dùng để thực hiện hành động nào đó, mang tính chất kĩ thuật, được rèn luyện thông qua việc thực hành luyện tập thường xuyên Nó là một trong những nhân tố giúp con người có thể bộc lộ nhận thức

và năng lực riêng của bản thân Cũng vì thế, trong quá trình giáo dục, một trong những nhiệm vụ mà mỗi GV phải thực hiện là hình thành và phát triển những kĩ năng thiết yếu cho người học Những kĩ năng đó được người học thực hiện trong quá trình học tập Mỗi môn học sẽ có những kĩ năng riêng tương ứng với nội dung và đặc trưng của môn học đó Theo các nhà giáo dục học, quá trình hình thành kĩ năng thường phải trải qua quá trình sau:

Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mục đích, cách

thức, điều kiện của hành động Đây là bước trang bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thành kĩ năng Có thể nói, trong quá trình hình

Trang 18

thành và rèn luyện kĩ năng, đây chính là nhiệm vụ quan trọng nhất Bởi lẽ, đây là bước có vai trò trang bị cho con người có những hiểu biết về nội dung, đặc trưng của kĩ năng cần rèn luyện Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc này thì chưa có kĩ năng vì nó chỉ được thể hiện ở trên mặt lí thuyết về hành động chứ chưa thể hiện được về mặt kĩ thuật, thao tác thực hiện hành động để đạt được mục đích

Bước 2: Quan sát mẫu và làm theo mẫu: “Đây là bước quan sát kĩ lưỡng các

động tác thực hiện hành động, đối chiếu lý thuyết để từ đó hình thành được kĩ năng

Ở bước 2, làm thử theo mẫu cũng rất quan trọng bởi nó có ý nghĩa cung cấp cách thức thực hiện kĩ năng của con người Từ đó, con người mới nắm được quy trình thực hiện hành động Ở giai đoạn này, con người thực hiện các thao tác kĩ thuật theo mẫu Kết hợp với việc đối chiếu tri thức về hành động Điều chỉnh các thao tác hành động nhằm giảm bớt các sai sót trong quá trình hành động Trong giai đoạn này, các tri thức về hành động được củng cố vững chắc, các hành động cũng trở nên thành thục hơn Đến đây có thể khẳng định rằng kĩ năng là được hình thành cho chủ thể học tập”

Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều

kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra Đây là bước giúp con người hoàn thiện kĩ năng, phát triển thành năng lực riêng của bản thân Muốn kĩ năng được ổn định và người ta có thể hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau thì phải thực hiện bước thứ 3 là luyện tập Chỉ trong luyện tập thực hành nhiều lần thì kĩ năng mới được phát triển và nâng cao Thông qua bước 3, mỗi cá nhân có điều kiện rèn luyện kĩ năng và có thể phát triển thành

kĩ xảo của bản thân

1.1.2 Bài tập và vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của bài tập trong quá trình giáo dục

Theo quan điểm đổi mới giáo dục, bài tập (BT) là “một công cụ được chú ý sử dụng nhằm hướng tới nhiệm vụ hình thành phát triển khả năng nhận thức có gắn tới đặc điểm của chủ thể học tập để phát triển kĩ năng, có thể xây dựng luyện tập thực hành theo các kiểu bài tập sau: Phân tích, nhận diện, vận dụng và sáng tạo”

Trang 19

Trong quá trình dạy học, BT là phương tiện quan trọng, nói một cách khác, những kiến thức và kĩ năng tạo là công cụ giúp GV có thể định hướng và triển khai những nội dung học tập cụ thể và từ đó hình thành kiến thức, kĩ năng thiết yếu cho người học Thông qua quá trình giải quyết BT, HS vừa rút ra được tri thức khoa học trong những tình huống cụ thể, vừa có cơ hội vận dụng những điều

đã biết vào giải quyết các yêu cầu của thực tiễn Có thể nói, khi giải quyết BT ở các mức độ nhận thức khác nhau, biểu hiện dưới những hình thức khác nhau, chủ thể học tập sẽ có điều kiện tự biến những cái đã có, bên trong để chủ động giải quyết các nhiệm vụ học tập

Hơn nữa, mỗi BT còn gắn liền với một tình huống thực tiễn cụ thể Nội dung ấy chỉ được tường minh trong một hoàn cảnh, với một đối tượng và hướng tới một mục đích nào đấy Như vậy, BT dù ở dạng cho nào cũng là cơ sở để GV tạo ra định hướng học tập cho HS

Hệ thống BT trong giờ học (đặc biệt là BT yêu cầu HS phải vận dụng tri thức vào tạo ra những sản phẩm mới) còn là những tình huống học tập đòi hỏi các

em phải phát huy khả năng sáng tạo của bản thân Như vậy, hệ thống BT ở các cấp độ, hình thức khác nhau là những hoàn cảnh cụ thể tạo điều kiện cho HS có thể bộc lộ bản thân một cách trực tiếp, thẳng thắn Từ đó, GV sẽ tìm ra những biện pháp giáo dục toàn diện con người HS

Mặt khác, khi giải quyết BT, HS phải sử dụng các hoạt động của tư duy như phân tích, chứng minh, phán đoán, khái quát, tổng hợp Vì vậy, hướng dẫn

HS giải quyết các BT là điều kiện tốt để GV phát triển tư duy, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy luận, hình thành ý thức nghiêm túc, khoa học trong học tập cho HS

Tóm lại, trong quá trình dạy học, hệ thống BT là bộ công cụ thiết yếu đối với cả GV và HS Nhờ đó, GV có thể điều chỉnh, bổ sung hoặc củng cố kiến thức,

kĩ năng cần thiết để các em nắm chắc tri thức, biến nó thành cái riêng của mỗi cá nhân Mặt khác, hệ thống BT thực hành là cầu nối gắn kết GV và HS - cơ sở để tạo ra không gian học tập thân thiện, một yếu tố quan trọng trong việc gây dựng hứng thú khi học tập đối với các em

1.1.2.2 Vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng

Trang 20

Trong quá trình học tập của HS, BT đóng một vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu đối với việc học tập người học Với hệ thống BT đa dạng, phong phú, sẽ là điều kiện vô cùng thuận lợi để giúp chủ thể học tập có thể hiểu sâu rộng, vận dụng một cách triệt để những tri thức chiếm lĩnh được vào làm những dạng bài tập chuyên sâu và khó khăn hơn, từ đó giúp các em

có vốn kiến thức sâu sắc, cũng có thể liên hệ được với chính bản thân mình để rút ra được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống

Khi HS thực hiện các BT, các em biết cách phân tích, đánh giá và tìm

ra những phương án giải quyết phù hợp Đồng thời, các em cũng biết đưa ra những quan điểm của mình, biết bảo vệ quan điểm đó và thuyết phục người nghe (người đọc) bằng những dẫn chứng và lí lẽ sắc sảo nhất Vì vậy mà hệ thống BT là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy và học của GV lẫn HS

Nó có vai trò quyết định tới việc người học có tiếp nhận đầy đủ vốn tri thức

mà GV truyền đạt hay không BT chính là yếu tố quyết định tới quá trình rèn luyện kĩ năng cho HS

1.2 Lập luận và kĩ năng lập luận trong dạy học làm văn nghị luận

1.2.1 Lập luận trong văn bản nghị luận

“Lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiện qua cả phương diện nội dung và phương diện cấu trúc hình thức Bởi vì, trong ngôn ngữ, lập luận là một chiến lược hội thoại được con người diễn đạt nhằm dẫn dắt người nghe (người đọc) đi tới một mục đích hoặc một kết luận nào đó mà người nói (người viết) muốn đạt được Nói một cách khác, lập luận thực chất là một hành động ngôn ngữ được con người thực hiện thông qua những phát ngôn cụ thể nhằm hiện thực hóa nhận thức”

“VBNL là một kiểu văn bản được con người thực hiện nhằm bàn bạc, đánh giá và dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với một chân lí khoa học nào đó

Để đạt được mục đích, người tạo lập văn bản cần phải thực hiện hành động lập luận” Cũng bởi vậy, VBNL còn có tên là văn bản lập luận Lập luận chính là phương thức biểu đạt quan trọng nhất của kiểu văn bản này Nó giúp cho người tạo lập văn bản thể hiện được khả năng suy luận, năng lực thuyết phục của bản thân mình Đồng thời, nó cũng là yếu tố khẳng định hiệu quả,

Trang 21

giá trị cho VBNL Bởi lẽ, trong bài văn nghị luận, lập luận được thể hiện qua việc người tạo lập sử dụng những lý lẽ dẫn chứng để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, từ đó thuyết phục và dẫn dắt người nghe tới kết luận mà đã được định

ra ngay từ đầu Vì thế, lập luận còn là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên sự lôgic, độ chính xác, sức thuyết phục cao, lí lẽ sắc bén, tính nghệ thuật đặc sắc của nghị luận Nói khác đi, giá trị của VBNL được đánh giá nhằm dựa vào ý nghĩa của văn bản thông qua phương pháp lập luận Nhằm khẳng định vai trò của lập luận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống, khi tiếp cận với văn nghị luận

cho rằng: “Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục” [19, Tr 189]

Khi tạo lập các văn bản nghị luận, người tạo lập thực hiện việc tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận một cách logic và mạch lạc để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân lý khoa học nào đó nhằm đạt được các mục đích khác nhau như giáo dục, nhận thức, Dù mục đích tạo lập có sự khác nhau, nội dung nghị luận cũng không giống nhau, nhưng thông qua những hành động lập luận đó, người nói, người viết có thể dẫn dắt cho người đọc, người nghe tiếp cận tới nội dung bình luận một cách tự nhiên và khéo léo nhất Bằng việc tổ chức các yếu tố của lập luận khi biểu đạt vấn đề cần bàn luận, người tạo lập có thể biểu đạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác Như vậy,

“Lập luận còn là một yếu tố thể hiện năng lực suy lý, năng lực thuyết phục của người viết, cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sự logic, độ chính xác, sắc bén và tính nghệ thuật của bài nghị luận”

1.2.2 Kĩ năng lập luận trong dạy học Làm văn nghị luận

Mục đích chính của dạy Làm văn là hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng tạo lập các kiểu văn bản Một trong những kĩ năng đó là kĩ năng lập luận Khi dạy tạo lập văn bản nghị luận cũng hướng tới mục tiêu đó là rèn kĩ năng cho HS Trong một VBNL, các yếu tố quan trọng nhất chính là luận đề, luận điểm, luận cứ và lập chứng Để lập luận đạt hiệu quả thì HS phải có những kĩ năng, kĩ xảo Muốn phát triển được kĩ năng lập luận trước hết và quan trọng nhất là phải qua

Trang 22

thực hành Qua thực hành, HS có điều kiện vận dụng và bộc lộ con người các em trong những tình huống cụ thể Lập luận đóng vai trò quan trọng trong VBNL Cái hay, cái đẹp của bài văn nghị luận là ở chỗ nói lý, nói lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập luận lôgic, chặt chẽ Vì thế khi dạy kiểu văn bản này, một trong những nhiệm vụ không thể thiếu chính là rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS

Ba thành tố cơ bản làm nên một lập luận trong bài văn nghị luận là luận điểm, luận cứ và luận chứng Không xác định được các luận điểm, không tìm được các luận cứ thích đáng để làm sáng tỏ luận điểm thì không thể làm sáng

tỏ vấn đề cần nghị luận Nhưng nếu chỉ có luận điểm, luận cứ thôi thì chưa

đủ Bởi lẽ, luận điểm, luận cứ mới chỉ đáp ứng được yêu cầu cung cấp chất liệu cho bài để đảm bảo khâu lập ý Công việc còn lại là người tạo lập văn bản phải tổ chức lập luận tức là kết nối, sắp xếp các luận điểm, luận cứ thành một mối liên kết lôgic chặt chẽ, làm cho quan điểm ý kiến của người viết trở nên

rõ ràng thuyết phục Để thực hiện lập luận trong quá trình biểu đạt vấn đề cần bàn luận, người tạo lập phải được tiến hành theo trình tự Quá trình đó phải đảm bảo đúng với các yêu cầu “kĩ thuật” về lí lẽ, dẫn chứng nhằm thể hiện

được quan điểm và mục đích của bản thân Theo SGK Ngữ văn 10, tập 2 thì

thông thường để xây dựng một lập luận, người viết cần phải tiến hành ba bước Đó là:

Bước 1: Xác định luận điểm chính xác, minh bạch

Luận điểm chính là ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề cần nghị luận Xác định luận điểm thực chất là quá trình vận động của tư duy, qua

đó làm nảy sinh hoặc tái hiện trong đầu những phán đoán những tư tưởng, ý kiến liên quan trực tiếp tới luận đề do chính đề bài gợi ra Trong quá trình xây dựng lập luận, việc xác định luận điểm chính là việc xác định kết luận cho lập luận Việc xác định các luận điểm một cách chính xác có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, hệ thống luận điểm chính là nền tảng, là cơ sở của nội dung văn bản, được ví như cái khung cốt lõi của cấu trúc tòa nhà

Bước 2: Tìm các luận cứ

Luận cứ là những lý lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm dẫn đến luận điểm như là kết luận của lý lẽ, dẫn chứng đó Luận cứ bao gồm lý lẽ và dẫn chứng hỗ trợ nhau

Trang 23

Bước 3: Lựa chọn phương pháp lập luận hợp lý

“Phương pháp lập luận là cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận

cứ sao cho lập luận chặt chẽ và thuyết phục” [Tr.110]

Rèn kĩ năng lập luận không chỉ giúp HS học tốt, viết tốt bài văn nghị luận mà còn góp phần nâng cao năng lực cảm nhận các tác phẩm nghị luận trong phân môn văn học Từ đó sẽ góp phần phát triển năng lực tư duy, rèn luyện nhân cách, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Việc rèn kĩ năng lập luận trong dạy học VBNL cho HS cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Trong quá trình dạy học VBNL, GV phải giúp HS có hiểu biết về lập luận và kĩ năng lập luận để từ đó chủ thể học tập có thể vận dụng vào quá trình tạo lập văn bản Bên cạnh đó, GV cũng cần hướng dẫn HS nhận thấy cách tổ chức lập luận trong những văn bản cụ thể, cách người tạo lập văn bản thực hiện, vận dụng và kết hợp các TTLL khi biểu đạt vấn đề nghị luận nhằm đạt được mục đích giao tiếp đạt hiệu quả Hơn nữa, khi dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học Làm văn nghị luận nói riêng, GV cần đặc biệt chú trọng tới hoạt động thực hành bởi thông qua hoạt động này, GV có nhiều cơ hội và điều kiện để rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS

Như vậy có thể thấy rằng khi dạy học tạo lập VBNL, chương trình Ngữ văn thể hiện rất rõ mục tiêu đó là rèn kĩ năng lập luận cho HS Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, GV cần tìm ra những biện pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS trong từng vùng miền, từng điều kiện dạy học cụ thể

1.3 Thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận

1.3.1 Quan niệm về thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

Hoạt động nghị luận của con người cũng được tiến hành theo cấu trúc của con người Muốn đạt được mục đích nghị luận, người viết phải sử dụng tới các thao tác lập luận trong đó có TTLL bình luận

Tiếp cận VBNL, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rõ sự quan trọng của các thao tác như phân tích, chứng minh, bình luận Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm chung đó là thao tác lập luận

Thao tác chính là “thuật ngữ được đề ra từ tâm lý học hoạt động của

Trang 24

con người” Theo A.A.Leonchiep, con người thực hiện hoạt động nhằm thỏa mãn nhu nhiều cầu nào đó của bản thân Để thỏa mãn thì con người vận dụng các thao tác cụ thể Thao tác là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động “Thao tác là phương tiện để thực hiện hành động Nó chỉ đơn giản hiểu một cách thuần túy

đó là cơ cấu kĩ thuật, máy móc của hành động Trong hoạt động, thao tác chính là nhân tố quan trọng để tạo nên sự vận hành của hoạt động, nhằm đạt tới những mục đích nhất định Xuất phát từ những đặc điểm của cấu trúc hoạt động và từ những biểu hiện trong hoạt động nghị luận của con người, chúng tôi cho rằng tạo lập VBNL là một hoạt động Hoạt động đó được con người thực hiện nhằm đáp ứng được những nhu cầu riêng của chính bản thân họ Muốn đạt được nhu cầu ấy, con người phải thực hiện các hành động cụ thể - hành động lập luận Và để thực hiện hành động ấy, người lập luận phải sử dụng các TTLL Như vậy, TTLL chính là việc tổ chức, sắp xếp các động tác

có tính chất kĩ thuật để dẫn dắt, bày tỏ, thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó và giúp họ nhận thức được vấn đề cần bàn luận Cũng nhờ

có các TTLL mà con người có thể trình bày một vấn đề một cách chính xác và khoa học” Theo đó, ta có thể hiểu TTLL như sau:

“Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kĩ thuật mà người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện các hoạt động nghị luận”

TTLL trong chương trình Ngữ văn THPT là một hệ thống kĩ năng Bản chất của nó là trang bị cho các em học sinh những hiểu biết, kiến thức và cách

tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung cảu bài văn nghị luận Vì thế, trang bị

hệ thống kiến thức về TTLL là hình thành cho HS những kĩ năng thiết yếu về cách tổ chức lập luận, từ đó giúp các em biết vận dụng một cách thành thạo kĩ năng ấy vào thực tế tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản của HS

1.3.2 Thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận

Theo Từ điển tiếng Việt, bình luận là bàn về những điều hay, lẽ dở, việc nên hay không nên như: bình luận về thời cuộc xưa và nay, viết bài bình luận… Trong những trường hợp này, bình luận có nghĩa là bàn bạc, đánh giá

Trang 25

nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với những ý kiến, nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn đề) trong đời sống

Chương trình Ngữ văn hiện hành coi bình luận là một thao tác Trong VBNL, bình luận là “TTLL được người nghị luận thực hiện nhằm đánh giá

và bàn luận” Đã gọi là đánh giá thì phải xác định được phải trái, hay dở, đúng sai Hơn nữa, đã gọi là bình luận thì phải có sự trao đổi ý kiến với người đối thoại Nói một cách khái quát hơn, bình luận chính là một TTLL, trong đó người viết (người nói) bàn luận, đánh giá về một vấn đề để đi đến việc đưa ra quan điểm, nhận định đầy đủ, sâu sắc về vấn đề đó và những điều do vấn đề

đó gợi ra để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng đắn Bình luận gồm hai thao tác cụ thể là: Bình (đánh giá) và luận (bàn bạc và mở rộng vấn đề) Luận là quá trình người bàn luận đưa ra những quan điểm nhận định về đối tượng cần nghị luận Trên cơ sở của những nhận định đó, thì người nghị luận sẽ đánh giá vấn đề Muốn đánh giá vấn đề bằng một cách thuyết phục nhất thì người nói (người viết) phải có một lập trường vững vàng, đúng đắn và quan trọng nhất là phải có tiêu chí rõ ràng Khi thực hiện TTLL này, người nghị luận cần chú ý quan sát đối tượng và nhìn nhận những vấn đề một cách đúng đắn, toàn diện hơn, khách quan và đưa ra những lập trường tư tưởng cho phù hợp, rõ ràng và sâu sắc Dưới đây

là một đoạn văn có sử dụng TTLL này

“Theo Bác, thực hành tiết kiệm là vô cùng quan trọng Một dân tộc biết tiết kiệm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần và vững vàng trước mọi chế độ xã hội Không những dân tộc nghèo cũng phải tiết kiệm mà nước giàu cũng phải tiết kiệm Biện pháp để thực hành tiết kiệm là tẩy sạch bệnh tham ô, quan liêu, lãng phí Mà nguyên nhân của tham ô, lãng phí là bệnh quan liêu.”

Vấn đề được đưa ra bình luận ở đây chính là bệnh quan liêu của một đất nước Đoạn văn trên bàn về vai trò, tác dụng của việc thực hành tiết kiệm, đưa ra yêu cầu cấp thiết về việc tiết kiệm Chỉ ra được nguyên nhân của sự lãng phí Đưa ra biện pháp để thực hành tiết kiệm

Ở đây TTLL bình luận đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ ra nguyên

Trang 26

nhân của sự lãng phí và biện pháp để tiết kiệm TTLL bình luận giúp cho lời văn rõ ràng, mạch lạc và logic với nhau hơn Bên cạnh đó, bình luận cũng đã giúp đánh giá và bàn bạc vấn đề một cách minh bạch hơn, khiến vấn đề được

mở rộng và khách quan hơn rất nhiều Để từ đó, mọi người có cách nhìn nhận vấn đề đúng đắn

1.4 Cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học TTLL bình luận

Hiện nay, chương trình Làm văn được triển khai theo quan điểm tích hợp và theo đó Làm văn có vị trí là một trong "tam vị nhất thể" tạo nên chỉnh thể thống nhất trong SGK Ngữ văn Mục đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông cho HS chính là giúp các em học sinh có thể độc lập một cách dễ dàng để tạo ra các văn bản theo đúng phương thức biểu đạt trong sự sáng tạo Vì vậy, trong chương trình hiện hành ngày nay, ngoài việc cung cấp tri thức lý thuyết cho HS, người ta còn chú ý đến việc hình thành, củng cố và rèn luyện cho các em kĩ năng thực hiện tạo lập văn bản, trong đó

có những kỹ năng về sử dụng các TTLL khi tạo lập VBNL

1.4.1 Nội dung dạy học thao tác lập luận bình luận trong chương trình Ngữ văn THPT

Trong SGK Ngữ văn 11 (Bộ cơ bản) có 3 bài liên quan mật thiết và chặt chẽ với việc rèn luyện kĩ năng lập luận bình luận là:

+ Thao tác lập luận bình luận

+ Luyện tập TTLL bình luận

+ Luyện tập vận dụng kết hợp các TTLL

Đối với những bài học trên, SGK đã đưa ra những kiến thức về lí thuyết vô cùng cần thiết (Bài học - ghi nhớ) và hệ thống những bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận bình luận, hướng dẫn từ yêu cầu cho đến những cách bình luận đúng đắn Ở những tiết học này, HS được giới thiệu và luyện tập về TTLL bình luận, chủ yếu là luyện tập kĩ năng để viết về đoạn văn, bài văn nghị luận Theo phân phối chương trình, TTLL này được triển khai thành một tiết và một tiết luyện tập thực hành Cách triển khai như vậy vừa thể hiện sự

Trang 27

tôn trọng tính chất thực hành của Làm văn, vừa quan tâm tới việc rèn luyện

kỹ năng sử dụng TTLL này cho HS

Với SGK Ngữ văn 11, chúng tôi tập trung vào khảo sát hệ thống BT được sử dụng khi dạy học TTLL bình luận Cơ sở để khảo sát hệ thống BT là dựa vào mục đích sử dụng BT để phân loại Theo khảo sát, có thể nhận thấy, SGK sử dụng những dạng BT cơ bản như BT nhận diện, BT vận dụng giải thích, BT vận dụng sáng tạo Ngoài ra, SGK có bố trí một số BT yêu cầu HS sưu tầm những văn bản, đoạn văn có TTLL này Dạng BT này thường được triển khai trong những giờ thực hành BT đó được triển khai nhằm mục đích kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đồng thời cũng hướng tới mục đích là tạo điều kiện để các em có cơ hội học tập, từ đó vận dụng vào thực tế Trong SGK, hệ thống BT được sắp xếp từ dễ đến khó, từ BT nhận diện, BT phân tích đánh giá đến BT tạo lập Điều đó đã thể hiện mục đích rèn luyện năng lực

sử dụng TTLL bình luận cho HS Tuy nhiên, SGK SGK Ngữ văn 11 chưa giới thiệu dạng BT chữa lỗi khi sử dụng TTLL này

1.4.2 Điều tra, khảo sát thực trạng rèn kĩ năng tổ chức lập luận trong trong dạy học “Thao tác lập luận bình luận” ở trường THPT

Trong giờ dạy bài “Thao tác lập luận bình luận”, GV đã đáp ứng đủ

những nội dung của một bài giảng cho HS, đủ những kiến thức về thao tác lập luận bình luận Bên cạnh đó, GV còn đã rất sáng tạo trong cách thức tổ chức các hoạt động dạy học của mình, có sử dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật giảng dạy tích cực khác nhau như đặt và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, mảnh ghép Điều thuận lợi nhất trong bài dạy của GV chính là HS đã có sự hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, có thái độ tích cực trong việc xây dựng bài học Nhưng song, đôi khi GV lại mất kiểm soát hoạt động học của người học vì sử dụng quá nhiều phương pháp dạy học tích cực, khiến các em mất trật tự trong lớp học Trong toàn bài dạy, GV cũng đã rất chú trọng tới việc luyện kỹ năng cho HS GV đã đưa ra nhiều ví dụ về TTLL bình luận và cũng hướng dẫn chủ thể học tập khá chi tiết để các em hiểu rõ hơn thế nào là bình luận Từ đó các em đã hiểu được TTLL này và có thể áp dụng vào làm các bài tập tương tự hoặc khó hơn liên quan đến bình luận

Trang 28

1.4.3 Điều tra, khảo sát khả năng tổ chức lập luận trong quá trình học tập

“Thao tác lập luận bình luận” ở trường THPT

Đối với bài “Thao tác lập luận bình luận”, GV đã giảng dạy rất chi tiết

kiến thức của bài theo đó cũng chính là thái độ nghe giảng rất tích cực của HS trong lớp Các em thể hiện thái độ hăng say tiếp thu bài giảng của GV, từng ví

dụ GV đưa ra các em vô cùng hứng thú để giải quyết ví dụ đó, rất có tinh thần ham hỏi hỏi, sự cầu tiến trong giờ học Mỗi HS cũng có những thắc mắc của riêng mình nếu như không hiểu bài, có yêu cầu GV giải đáp ngay trên lớp học HS cũng rất tích cực trong việc ghi chép bài cẩn thận để lấy đó làm vốn kiến thức cho riêng mình Tuy nhiên vẫn còn một số HS nhận thức còn kém nên vẫn chưa hiểu bài sâu Tuy nhiên, một số bài giảng của GV vẫn được đánh là đạt hiệu quả

Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học, chúng tôi khảo sát bài viết của

HS để đánh giá khả năng vận dụng của các em Thông qua một số bài viết các đoạn văn khác nhau, và qua một số bài viết văn nghị luận được tập hợp, chúng tôi khảo sát khả năng sử dụng TTLL bình luận Với khoảng hơn 60 bài đạt kết quả từ trung bình tới giỏi, trong tổng số 84 bài viết văn nghị luận được tập hợp ngẫu nhiên để kiểm tra, chúng tôi nhận thấy phần nhiều HS đã làm đúng theo như yêu cầu mà GV đề ra 64 bài viết thể hiện rõ khả năng hiểu vấn

đề và biết cách vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tế viết văn của của các em Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số ít HS thể hiện sự chưa hiểu đúng kiến thức về TTLL bình luận, vì vậy mà các em đã viết các đoạn văn lại sử dụng các thao tác chính khác như: so sánh, giải thích Như vậy, việc dạy học TTLL này ở trường phổ thông chưa thực sự đạt hiệu quả

Trang 29

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP SỬ DỤNG KHI RÈN KĨ NĂNG

TỔ CHỨC LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC “THAO TÁC LẬP LUẬN

BÌNH LUẬN” (SGK NGỮ VĂN 11)

2.1 Mục đích dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” (SGK Ngữ văn

11)

Về kiến thức: TTLL bình luận đã giúp HS tiếp nhận được những tri thức

về TTLL bình luận một cách sâu sắc và biết cách vận dụng một cách thành thạo, sáng tạo nó trong quá trình tạo lập VBNL TTLL bình luận bao gồm: Khái niệm, mục đích, yêu cầu của TTLL bình luận và đặc biệt là cách thức bình luận Các hoạt động này, đều nhằm hướng tới một mục đích của việc dạy học Làm văn cho HS THPT Bên cạnh việc trang bị các kiến thức lý thuyết làm nền thì việc cho chủ thể học tập luyện tập bằng hệ thống các BT thực hành nhằm củng cố lại những kiến thức lý thuyết và đặc biệt là hình thành cho HS kĩ năng làm các dạng bài tập Thông qua việc giúp HS có được những kiến thức

cơ bản về TTLL bình luận, GV có được những sơ sở khoa học cần thiết để hình thành kĩ năng thực hiện và sử dụng TTLL này cho cá nhân HS

Về kĩ năng: Giúp HS có những kĩ năng để thể tạo lập văn bản có sử

dụng TTLL bình luận với hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng

HS biết vận dụng TTLL này với các TTLL khác khi tạo lập VBNL

Về thái độ: Giúp HS có thái độ nghiêm túc, chú ý nghe giảng các giờ học,

chuẩn bị BT trước khi đến lớp, thực hiện nghiêm túc việc tự nghiên cứu tra tài liệu để trau dồi kiến thức đặc biệt giúp HS có ý thức tạo lập văn bản một cách sáng tạo có sử dụng TTLL này khi tạo lập văn bản

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình rèn luyện kĩ

năng tổ chức lập luận

2.2.1 Nguyên tắc khoa học

Khoa học là nguyên tắc cơ bản trong việc dạy học các TTLL nói chung

và “Thao tác lập luận bình luận” nói riêng Nguyên tắc này, một mặt đòi hỏi

việc dạy học, mặt khác phải đảm bảo đúng những yêu cầu khoa học của quá trình dạy học, đồng thời cũng phải đảm bảo đúng những đặc trưng của phần

Trang 30

Làm văn cũng như mục đích rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS Vì

vậy trong quá trình dạy bài “Thao tác lập luận bình luận” cần chú ý tới các

định hướng sau đây:

Hệ thống kiến thức và bài tập rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận phải luôn được sắp xếp theo một trình tự từ dễ đến khó, để từ đó nó phù hợp với con đường nhận thức của con người Theo đó, hệ thống kiến thức sẽ được triển khai trong hệ thống BT được dùng nhằm rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận, từ đó phải đảm bảo đúng yêu cầu của việc tạo lập văn bản Trong quá trình tạo lập văn bản, tổ chức lập luận là kĩ năng có liên quan mật thiết tới việc biểu đạt nội dung cần trình bày Mỗi kiểu văn bản lại gắn với một phương thức biểu đạt riêng Vì thế, khi rèn luyện TTLL bình luận cho HS,

GV cần phải xây dựng một hệ thống BT phù hợp mà trong những BT, các đơn

vị kiến thức phải gắn liền với đặc trưng của kiểu VBNL, gắn liền với những kiến thức, kĩ năng cách tổ chức lập luận

Vì thế muốn phát triển kĩ năng sử dụng TTLL, GV cần quan tâm tới những yêu cầu cũng như các mức độ đạt được trong quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của con người

2.2.2 Nguyên tắc hướng vào mục tiêu rèn luyện kĩ năng sử dụng TTLL

Đối với nguyên tắc này, trước tiên phải xác định được mục tiêu rèn luyện năng lực lập luận cho HS khi tạo lập VBNL Nguyên tắc này hướng tới nhiệm vụ hình thành và rèn luyện khả năng sử dụng TTLL bình luận khi tạo lập văn bản Vì thế, khi lựa chọn hệ thống BT rèn luyện, GV cẩn chú ý tới những BT đảm bảo được sự định hướng về tri thức cần thiết, cách thực hiện,

và cách áp dụng những tri thức đó vào đời sống thực tiễn từ đó có thể rút ra được những kinh nghiệm cho chủ thể học tập Nguyên tắc ngày giúp cho cả

GV và HS nhận thấy được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng TTLL bình luận Theo đó, hệ thống BT đối với nguyên tắc này cũng phải gắn liền với đặc điểm nhận thức của HS THPT BT sẽ không quá dễ mà cũng không quá khó để các em có thể giải quyết vấn đề một cách thuận lợi Bên cạnh đó hệ thống BT cũng phải phát huy được tính sáng tạo và tư duy của chủ thể học tập

Trang 31

2.2.3 Nguyên tắc vừa sức

Khi rèn kĩ năng lập luận cho học sinh thì các hoạt động trang bị tri thức, luyện tập phải thật phù hợp với đặc điểm tư duy nhận thức của chủ thể tiếp nhận Đối với HS lớp 11, các em đã có sự hoàn thiện về đặc điểm tâm lý

và tư duy Các em có thể độc lập suy nghĩ, phát hiện để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng Muốn các em dễ dàng nhận ra quy trình tổ chức lập luận,

GV phải thực hiện theo từng bước Từ các bước đó, bằng khả năng phân tích, tổng hợp… HS sẽ giải quyết được các vấn đề đặt ra Vì thế, hệ thống BT phải phù hợp với khả năng, nhận thức của HS Không quá khó, hay quá dễ sẽ dẫn đến sự chán nản BT phải phát huy được tính chủ động, sáng tạo, HS có thể độc lập trong suy nghĩ, quan sát, phân tích BT để đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết HS cũng có thể đưa ra kết quả hoặc phương hướng giải quyết

BT theo cách riêng Vì vậy khi rèn luyện, GV cần tôn trọng cách làm riêng

đó, từ đó điều chỉnh cho phù hợp với tri thức khoa học Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS tìm hiểu về mục đích, yêu cầu của TTLL bình luận, và cũng để giúp các em có thể vận dụng được kiến thức đã học vào giải quyết các bài tập thì

GV có thể sử dụng dạng bài tập như nhận diện và thông hiểu Thông qua việc cho các em giải các bài tập này, chủ thể học tập từng bước hình thành được cho mình cách thực hiện TTLL bình luận Ngoài ra, GV có thể sử dụng thêm dạng bài tập vận dụng trong bài dạy của mình để các em có thể thành thạo trong việc sử dụng TTLL bình luận

Ví dụ, cho đoạn văn sau:

“Người ta thường chia thời gian mỗi ngày thành ba phần: tám giờ làm việc, tám giờ ngủ và tám giờ nhàn rỗi, mặc dù không phải ai cũng có được tỉ

lệ đều đặn như thế Hai tiếng: nhàn rỗi, gây cho ta ấn tượng tám giờ không làm gì, có vẻ vô thưởng vô phạt, không quan trọng

Kì thực thời gian nhàn rỗi là cực kì quý báu Đó là thời gian để mọi người sống cuộc sống của riêng mình Đó là thời gian để đọc sách báo, tự học, xem ti vi, chơi thể thao, đàn hát, múa nhảy, vẽ tranh, làm thơ, đi mua sắm, giao lưu với bạn bè, thăm viếng người ruột thịt… Thời gian nhàn rỗi làm cho người ta giàu có hơn về trí tuệ, tăng cường thêm về sức khỏe, phát triển

Trang 32

thêm về năng khiếu,cá tính,phong phú thêm về tinh thần, quan hệ Thiếu thời gian nhàn rỗi, đời sống con người sẽ nghèo nàn, thậm chí là không có cuộc sống riêng nữa!

Đánh giá đời sống mỗi người cao hay thấp hãy nhìn vào thời gian nhàn rỗi của họ Có người làm việc: đầu tắt mặt tối, không có lấy chút nhàn rỗi.Có người phung phí thời gian ấy vào các cuộc nhậu nhoẹt triền miên Có người biết dùng thời gian ấy để phát triển chính mình Phải làm sao để mỗi người có thời gian nhàn rỗi và biết sử dụng hữu ích thời gian ấy là một vấn đề lớn của

xã hội có văn hóa

Đánh giá đời sống một xã hội cũng phải xem xã hội ấy đã tạo điều kiện cho con người sống với thời gian nhàn rỗi như thế nào Công viên, bảo tàng, thư viện, nhà hát, nhà hàng, câu lạc bộ, sân vận động, điểm vui chơi… là những cái không thể thiếu Xã hội càng phát triển thì các phương tiện ấy càng nhiều, càng đa dạng và hiện đại

Xã hội ta đang chăm lo các phương tiện ấy, nhưng vẫn còn chậm, còn

sơ sài, chưa có sự quan tâm đúng mức, nhất là ở các vùng nông thôn

Thời gian nhàn rỗi chính là thời gian của văn hóa và phát triển Mọi người và toàn xã hội hãy chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người.”[14,91]

Yêu cầu học sinh xác định đoạn văn trên sử dụng thao tác lập luận nào?

Và nêu các bước thực hiện thao tác bình luận trong đoạn văn?

Như vậy, để HS nhận diện được TTLL bình luận, GV phải căn cứ vào những đặc điểm cơ bản, căn cứ vào cách thực hiện của thao tác đó Chính vì thế, việc nhận diện TTLL này thường gắn liền với quá trình phân tích ngữ liệu Ví dụ, trong đoạn văn trên cần xác định:

+ Mục đích bình luận: thể hiện và làm sáng tỏ luận điểm “Ý nghĩa của thời gian nhàn rỗi”

+ Để thể hiện quan điểm của mình về ý nghĩa của thời gian nhàn rỗi,

trước hết tác giả khẳng định “Thời gian nhàn rỗi là cực kì quý báu”, là

“Thước đo để đánh giá mức sống của mỗi người”, “Đánh giá đời sống của xã hội” Bên cạnh đó tác giả còn mở rộng vấn đề bằng cách đưa ra hiện trạng sự

Trang 33

chăm lo của xã hội đối với thời gian nhàn rỗi của mỗi người Cuối cùng

khẳng định rằng thời gian nhàn rỗi là “Thời gian của văn hóa và phát triển”

Nhiệm vụ của mọi người và toàn xã hội là phải chăm lo thời gian nhàn rỗi của mỗi người

Như vậy, để nhận diện được TTLL bình luận, GV cần phải xuất phát từ các tri thức cơ bản về thao tác lập luận này để từ đó định hướng cho HS các bước tiến hành hoạt động nhận diện

2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo phối hợp rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận và năng lực tư duy cho HS

“Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quá trình giáo dục Theo các nhà tâm lý học giáo dục, não bộ của con người liên tục hoạt động, luôn luôn vận động chính vì thế cần phải rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS ngay trong quá trình học tập Học Ngữ văn nói chung và Làm văn nói riêng, hoạt động tư duy là điều quan trọng nhất Để có một bài văn nghị luận hoàn chỉnh, mà cách tổ chức lập luận chặt chẽ, đầy sức thuyết phục không phải là

dễ, nó yêu cầu người tạo lập cần phải đặt tư duy của mình vào trong sản phẩm học tập của mình sao cho có sự logic, sáng tạo, cách triển khai ý rõ ràng, cách kết hợp các TTLL phù hợp Chính vì thế, trong quá trình dạy học nói chung,

GV cần phải rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS bằng việc cho các em tham gia các nhiệm vụ học tập cụ thể Hệ thống BT chính là công cụ hữu hiệu nhất có thể thực hiện nhiệm vụ đó Khi triển khai bộ công cụ này theo các mức độ nhận thức từ dễ đến khó, các đơn vị kiến thức được xây dựng từ thấp lên cao

sẽ giúp các em có cơ hội vận dụng và rèn luyện kĩ năng tư duy Mặt khác, cần phải để chủ thể học tập độc lập trong suy nghĩ của mình.Có thể khẳng định nguyên tắc này giữ vai trò không thể thiếu trong quá trình dạy học Làm văn”

2.3 Hệ thống bài tập được sử dụng để rèn luyện kĩ năng tố chức lập luận

trong dạy học “Thao tác lập luận bình luận” cho học sinh THPT

Đối với phân môn Làm văn, BT không chỉ là tiêu chuẩn để đánh giá tình hình nhận thức của HS mà còn là phần quan trọng nhất của mỗi bài học Học Làm văn cốt là ở thực hành viết văn, việc nắm vững lý thuyết chỉ là một phần, HS phải làm bài tập rèn luyện, càng làm nhiều BT thì mới thành thạo,

Trang 34

mới có kĩ năng lập luận tốt để đáp ứng yêu cầu của một bài văn Nói như tác

giả Hà Thúc Hoan trong cuốn “Làm văn nghị luận: lý thuyết và thực hành”:

“Dạy Làm văn, học Làm văn, dù không thể bỏ qua phần lý thuyết, nhưng thầy

cô giáo và HS phải đặc biệt chú trọng phần thực hành để rèn luyện kỹ năng Học Làm văn cũng giống như học bơi, vấn đề không phải là đứng ở trên bờ

để mà bàn luận về cách thức bơi mà vấn đề là phải nhảy xuống nước và làm

đi làm lại một số động tác” [Tr.8] Vì lẽ đó, để rèn kĩ năng tổ chức lập luận cho HS trong dạy học TTLL bình luận chúng tôi cũng sử dụng hệ thống BT

Dựa vào con đường hình thành và phát triển nhận thức của con người, trong khóa luận này, chúng tôi giới thiệu hệ thống BT được sử dụng khi rèn kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học TTLL bình luận gồm: (1) BT nhận diện; (2) BT thông hiểu; (3) BT phân tích đánh giá; (4) BT viết đoạn văn có sử dụng TTLL bình luận kết hợp với các TTLL khác; (5) BT chữa lỗi Về đặc điểm, các kiểu BT, các dạng BT đều có đặc điểm tương đồng với nhau Theo đó, các dạng BT có cấu trúc như sau:

BT này, HS sẽ thấy rõ mục đích, đặc điểm cũng như cách người tạo lập thực hiện các TTLL này nhằm thể hiện mục đích bàn luận của bản thân Từ đó, HS vừa nhận rõ được cách thực hiện, vừa có điều kiện để phân tích và tìm ra con đường thực hiện kĩ năng tổ chức lập luận bình luận

Dạng BT này gồm hai phần: cung cấp ngữ liệu và phần trình bày yêu

Trang 35

cầu Ngữ liệu có thể là một đoạn văn nghị luận hoặc cũng có thể là cả một văn bản nghị luận Sau phần trình bày ngữ liệu là phần nêu yêu cầu bài tập Phần

yêu cầu thường được thể hiện bằng cách diễn đạt như: “Xác định những thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn (bài văn)? Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn văn trên?”

Ví dụ: Cho đoạn văn sau:

"Một con người cũng vậy, tư tưởng, đạo đức, cái quyết định không phải

là hình thức bên ngoài mà là phẩm chất tư tưởng, đạo đức của người đó Hình thức bên ngoài: Đẹp hay xấu, giảm dị hay diêm dúa… ta dễ nhận ran gay, qua một cái nhìn nhưng còn phẩm chất bên trong, người đó nhân hậu hay ích kỉ, cao cả hay thấp hèn, trung thực hay giả đối… thì phải sống lâu với nhau mà biết được Mà đã là con người thì cuộc sống tồn tại chủ yếu là thông qua các mối quan hệ giữa người với người Trong các mối quan hệ này, muốn sống lâu dài với nhau được, quả thực con người phải tôn trọng nhau, yêu thương nhau… Không thể sớm nắng, chiều mưa! Thực tế có những người, son phấn lòe loẹt chưng diện hết mốt này đến mốt khác, nói năm xem ra cũng nhẹ nhàng, quyến rũ… nhưng tiếp xúc và gần gũi một thời gian ta sẽ thấy họ thuộc loại ăn xổi, ở thì, lừa thầy, dối bạn, coi thường cả bố mẹ."

a Hãy xác định thao tác lập luận chính trong đoạn văn trên?

b Hãy cho biết nội dung chính của đoạn văn trên là gì?

Khi làm bài tập này, GV sẽ hướng dẫn HS thực hiện theo những bước sau:

- Bước 1: Cho HS đọc kĩ nội dung ngữ liệu

Ngày đăng: 28/08/2019, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán (1996), “Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt”
Tác giả: Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
2. Lê A – Nguyễn Trí (2001), “Làm văn”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn”
Tác giả: Lê A – Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “SGV Ngữ văn lớp 11”, (tập 2), Bộ cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn lớp 11”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “SGK Ngữ văn lớp 11”, (tập 2), Bộ nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn lớp 11”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “SGV Ngữ văn lớp 11”, (tập 2), Bộ nâng cao, (2007), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn lớp 11”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “SGV Ngữ văn lớp 11”, (tập 2), Bộ nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Đình Cao – Lê A (1989), “Làm văn” (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn”
Tác giả: Đình Cao – Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
8. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) (2007), “Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học” (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Phạm Thị Quý Dậu (2017), “Tổ chức lập luận cho học sinh THPT trong dạy học” bài „Thao tác lập luận so sánh” Ngữ văn 11,(Khóa luận tốt nghiệp) – Trường ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lập luận cho học sinh THPT trong dạy học” bài „Thao tác lập luận so sánh” Ngữ văn 11,(
Tác giả: Phạm Thị Quý Dậu
Năm: 2017
10. Vương Tất Đạt (1997), “Lôgic học đại cương”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic học đại cương”
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
11. Nguyễn Thị Đậu (2018), “Rèn luyện kĩ năng lập luận cho học sinh lớp 11 trong dạy học thao tác lập luận so sánh, bác bỏ”, (Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục), Trường ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Rèn luyện kĩ năng lập luận cho học sinh lớp 11 trong dạy học thao tác lập luận so sánh, bác bỏ”
Tác giả: Nguyễn Thị Đậu
Năm: 2018
12. Tạ Đức Hiền – Nguyễn Việt Nga – Phạm Minh Trí (2004), “Yêu văn và học văn”, (tập 2), NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu văn và học văn”
Tác giả: Tạ Đức Hiền – Nguyễn Việt Nga – Phạm Minh Trí
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004
13. Trần Bá Hoành (2007), “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK”, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK”
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
14. Phan Trọng Luận (1996), “Phương pháp dạy học Văn”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Văn”
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1996
15. Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống – Lưu Đức Mạnh (1999), “Muốn viết được bài văn hay”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay”
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống – Lưu Đức Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Bảo Quyến, (2007), “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận”, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận”
Tác giả: Bảo Quyến
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
18. Nguyễn Quốc Siêu (2001), “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Quốc Siêu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
19. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), “Dạy và học Nghị luận xã hội”, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học Nghị luận xã hội”
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
20. Nguyễn Quang Tuyên -Trần Phúc Tưởng (1987), “Làm văn nghị luận như thế nào (tập 1)”, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Làm văn nghị luận như thế nào (tập 1)”
Tác giả: Nguyễn Quang Tuyên -Trần Phúc Tưởng
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1987
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn lớp 11, (tập 2) (Bộ cơ bản), NXB Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w